HOT – THỜI SỰ NÓNG


Danlambao 8/1/2013

8/1: 14 người yêu nước ra tòa tại Nghệ An

Danlambao – Sáng mai, 8/1/2013, 14 công dân yêu nước sẽ bị đưa ra xét xử tại Trụ sở Tòa án Nghệ An với cáo buộc “Hoạt động lật đổ chính quyền”. Đây là một trong những vụ đàn áp nhân quyền lớn nhất tại Nghệ An trong nhiều năm trở lại.

Thư gửi cha mẹ của bạn Trần Minh Nhật trước khi bị bắt

Danlambao – Các bạn thân mến,

Bạn Trần Minh Nhật là một trong số 14 người sẽ ra tòa vào sáng mai, 8/1/2013 tại trụ sở Tòa án tỉnh Nghệ An. Tin cho biết, Nhật đã chính thức từ chối luật sư và sẽ tự đứng ra bào chữa trước Tòa, với lời khẳng định: “Dù bị tù đày, bị bách hại, bị chết thì không bao giờ nhận tội mà hoàn toàn mình không có”.

Kỹ nghệ tuyên truyền Cộng Sản

 
Minh Văn (Danlambao) -  Nhân có câu: “Trăm nghe không bằng một thấy”. Chỉ khi nào được chứng kiến sự việc thì chúng ta mới thực sự thấm thía và thấu hiểu nội tình. Không nên chỉ vì nghe một ai đó nói mà vội tin, nhất là trong xã hội Cộng Sản bấy giờ. Hãy xem họ làm gì và làm như thế nào, thay vì nghe họ nói như thế nào. Tốt nhất là kết hợp cả hai, để xem lời nói có đi đôi với việc làm hay không.

VN diễn tập bắn đạn thật ‘quy mô lớn’

Nguồn Video: BBC Tiếng Việt


BBC - Việt Nam vừa tiến hành tập trận bắn đạn thật trên bộ trong dịp cuối năm, được cho là lần diễn tập quy mô nhất kể từ 1975 trở lại đây, với sự hiện diện của xe tăng, xe thiết giáp và máy bay chiến đấu SU-30.

Mai lịch sử chẳng quên ai cả

Thân Tăng mười bốn thanh niên công giáo bị chính quyền bắt và xử ngày 8/1/2013
Dòng sông Lam hiền hoà con nước chảy
mây đèo ngang êm ả mấy ngàn đời
miền quê nghèo cát trắng Nghệ An ơi
nơi xét xử mười bốn người công giáo
Tám tháng một có phiên toà vu cáo
bao người con ưu tú của Việt Nam

Trung Quốc là mẫu quốc?


Huỳnh Ngọc Chênh – Đến liệt sỹ chống Trung cộng trong chiến tranh biên giới phía bắc năm 1979 cũng bị viết thành là do bọn côn đồ nào đó sát hại thì hết chỗ nói. Mà không phải chỉ có một tờ báo tránh né vì sợ úy kị mẫu quốc thiên triều mà có rất nhiều tờ báo gọi là chính thống của đảng đều né tránh như vậy. Bằng chứng về sự chỉ đạo từ cấp cao đã rõ ràng ràng. Chẳng lẽ nghi vấn đặt ra trong bài viết dưới đây đăng trên blog nầy hồi tháng 4.2012 đã trở thành xác thực

Ra quy định: Không cho nhìn mặt người đã khuất 

Toàn Phong (Sống Mới) - Thiết tưởng quy định là phải mang tính bao quát chung, theo một khung cơ bản. Thế nhưng, các quy định ban hành thời gian gần đây lại ngày càng chi tiết, ràng buộc tính linh hoạt, thậm chí, cấm cả những việc thuộc về tình cảm thiêng liêng của mỗi gia đình, mà Quy định chung của Nghị định 105, điều 4 về tổ chức tang lễ của Bộ VH-TT&DL mới công bố, là một ví dụ cụ thể. (LB: thời mạt vận của 1 đất nước thường xuất hiện 1 lũ quan tham bất tài vô lại…)

‘Cấm’ lắp kính trên quan tài, nghị định 105 sẽ dẹp bỏ lăng Ba Đình?

Bảng Đỏ (Danlambao) – Hôm 17/12/2012, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa ký ban hành nghị định số 105 quy định việc “không để ô cửa có lắp kính trên nắp quan tài”. Nếu những điều trong nghị định này được thi hành nghiêm túc, liệu di hài của ông Hồ Chí Minh cùng lăng Ba Đình có bị dẹp bỏ?

Danlambao 7/1/2013

Minh triết Việt Nam

Nguyễn Nghĩa 650 (Danlambao) – Minh triết của 1 quốc gia, dân tộc là trí thông minh chính trị, là ngọn đuốc cả thần thánh, thiêng liêng bùng sáng soi đường, mỗi khi quốc gia, dân tộc gặp tình huống phải trả lời câu hỏi: Tồn tại hay không tồn tại ? Lựa chọn nào: tự vệ hay khuất phục? Nhượng bộ lãnh thổ quốc gia hay bảo vệ đến cùng? Nô lệ hay độc lập?…

Ông mô thì cũng rứa!

Lĩnh Nguyên (Danlambao) – Trong những ngày đầu năm mới dư luận trong cũng như ngoài nước bàn tán xôn xao hiện tượng Nguyễn Bá Thanh.

Dấu chỉ hùng hồn cho sự cáo chung của Đảng cộng sản!

Anthony Thiên Ân (Danlambao) - Như vậy, sau gần hai năm giam giữ, cuối cùng nhà cầm quyền Việt Nam cũng phải đem 14 Thanh Niên Công Giáo Và Tin Lành ra xét xử vào ngày 8/1/2013 tới đây. Và một lần nữa, vở kịch bị ổi lại một lần nữa được dựng lên để kết tội những người con ưu tú của Mẹ Việt Nam.

Giáo xứ Nghi Lộc cầu nguyện cho anh Thái Văn Dung

Thiên Khải Đường & BBT Giáo xứ Nghi Lộc…Ngày lễ Chúa Hiển linh 06.01.2013, giáo xứ Nghi Lộc đã dâng thánh lễ và tổ chức buổi cầu nguyện cho anh JB Thái Văn Dung cùng các thanh niên Công giáo, Tin lành đang bị bắt giữ trái pháp luật. Tại xứ đạo quê nhà, anh Dung là một người nhiệt thành với công việc nhà Chúa. Đặc biệt các hoạt động của giới trẻ, học sinh, sinh viên. Với những việc anh làm, mọi người nhìn thấy nơi anh là một thanh niên năng nổ, luôn hy sinh nhiều cho lợi ích chung. Anh là người yêu chuộng sự thật, công lý và luôn lên tiếng để bảo vệ những lý tưởng đó. Tình yêu quê hương đất nước trở thành động lực để anh tham gia vào các hoạt động bảo vệ chủ quyền Tổ quốc tại Hoàng Sa, Trường Sa trước đây…

Bơm vá, sửa hiến pháp

Biếm họa Babui (Danlambao)

‘Cấm’ lắp kính trên quan tài, nghị định 105 sẽ dẹp bỏ lăng Ba Đình?

Bảng Đỏ (Danlambao) – Hôm 17/12/2012, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa ký ban hành nghị định số 105 quy định việc “không để ô cửa có lắp kính trên nắp quan tài”. Nếu những điều trong nghị định này được thi hành nghiêm túc, liệu di hài của ông Hồ Chí Minh cùng lăng Ba Đình có bị dẹp bỏ?

Đảng CS và những liều doping kéo dài sự sống

Không An Tâm (Danlambao- Ở thời nào, hay mô hình quản trị nào cũng có sự thay đổi lớn khi: “mâu thuẫn trong và ngoài quá lớn; mâu thuẫn giữa cai trị và bị trị quá lớn, giàu nghèo chênh lệch quá lớn,.. Mâu thuẫn càng càng lớn bao nhiêu, sự that đổi lớn càng nhanh và nhiều bấy nhiêu.”

Khi mâu thuẫn lên gần đạt đỉnh, mà thù trong giặc ngoài cùng phối hợp thì mâu thuẫn sẽ sớm được giải quyết. Ở Việt Nam (VN) ta hiện nay, ai ai cũng biết “giặc ngoài” là ai, khỏi cần nói ra. (không phải là anh Sam đâu, vì anh ta là kẻ tử tế cả thế giới tiến bộ đều công nhận nhiều cái tốt của anh ta; “Hữu xạ tự nhiên hương”)

Thư gửi các anh, các chú dân phòng, công an các xã

Thái Quốc Tuấn (Danlambaovn) - Các chú thân mến!
Cháu là một sinh viên năm cuối của trường Đại học Vinh, cháu muốn gửi đến các anh các chú một vài suy nghĩ sau:

CNXH Made in China

Kuốc Kuốc (Danlambao)

Giáo xứ Thái Hà thắp nến cầu nguyện cho công lý – hòa bình

Thái Hà 06/01/2013 – Chúa Nhật Lễ Chúa Hiển Linh, cầu nguyện cho công lý – hòa bình.
Trong không khí khởi đầu một năm mới, các Kitô hữu tới nhà Chúa cầu nguyện cho thế giới, cho quê hương đất nước được bình an. Người người cầu xin Chúa và cầu chúc cho nhau sự bình an, ơn sức mạnh, lòng can đảm; chúc cho nhau sự thành công, thành đạt, thành tài và cuộc sống luôn luôn hạnh phúc. Tuy nhiên, chúng ta thấy: xã hội chúng ta vẫn còn đó những bất công, bất tín, bất trung. Ở đó, bạo lực, hung tàn, độc ác vẫn đang ngang nhiên hoành hành. Gần đây, nhiều người đã bị bắt, bị bách hại, bị kết án bất công mà không rõ lý do. Mới ngày mùng 03 vừa rồi, Sở Y tế Hà Nội lại tiếp tục phá dỡ Tu viện kín Camêlô, số 72 Nguyễn Thái Học, Hà Nội. Đây là cơ sở tôn giáo thuộc sở hữu hợp pháp của Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội (có bằng khoán điền thổ số 34 Đường Thành) và Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội khẳng định chưa bao giờ “bàn giao” hay “cống hiến” cho nhà nước bất cứ 1 cơ sở nào trong 95 cơ sở của giáo phận trong TP Hà Nội mà nhà nước đang sử dụng (Xem, THÔNG BÁO, số 3, V/v: Sở Y tế Hà Nội tiếp tục phá dỡ Tu viện kín Camêlô – 72 phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội). Với những ý nguyện đó, lúc 20g hôm nay, giáo xứ Thái Hà đã dâng lễ và thắp nến cầu nguyện cho Tu viện kín Camêlô đang bị Sở Y tế Hà Nội phá dỡ để xây dựng Nhà điều trị Nội khoa, cầu nguyện cho các dân oan, các người là nạn nhân của các tệ nạn quan liêu, tham nhũng, bất công…

Dân đến nhà máy phản đối vì ô nhiễm

(Báo Lao Động) – Khoảng 11h ngày 6.1, nhiều người dân địa phương đã tập trung đến Nhà máy tinh bột Long Giang (đóng tại xã Vĩnh Ninh, H.Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình- thuộc Cty CP tư vấn và đầu tư Long Giang Thịnh) để phản đối về vấn đề ô nhiễm.

Quan xã mở tiệc cưới trong khu thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực

(NLĐO) – Nhiều khách mời đều khá bất ngờ khi nhận thiệp mời đám cưới con của ông Lâm Văn Hùng, bí thư Đảng ủy xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ – Long An, ghi rõ địa điểm tổ chức là khu di tích vàm Nhựt Tảo, nơi thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.

Vụ công an đập đầu gà chọi: Coi chừng lạm quyền!

(Petrotimes) – Ý kiến của luật sư xung quanh vấn đề gà chọi bị cơ quan chức năng tịch thu, đập đầu rồi mang đi tiêu hủy là có dấu hiệu lạm quyền. Người dân cần khiếu nại hoặc khởi kiện vụ việc trên ra tòa để được bồi thường.

Thêm tin về vụ việc: “Hàng trăm học sinh bất ngờ bị… lấy máu”

Sự thật về chuyện “hàng trăm học sinh bất ngờ bị…lấy máu”

(Dân trí) – Tiến sỹ Nguyễn Trọng Tài – Hiệu trưởng trường ĐH Y Khoa Vinh thừa nhận có “thiếu sót” về tuyên truyền trong việc tổ chức lấy mẫu máu của hơn 200 học sinh trường THCS Châu Hồng và Châu Tiến, huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) khiến học sinh, phụ huynh hoang mang, phản ứng.

Quay trở lại thời tem phiếu: Quản lý trang sức bằng vàng!

Vàng trang sức cũng sẽ bị kiểm soát nghiêm ngặt

Thanh Bình (VNExpress) – Sắp tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ ban hành quy định mới siết chặt hoạt động kinh doanh vàng trang sức, các cửa hàng muốn hoạt động tiếp phải đăng ký lại.

Bắc Giang: Chồng thai phụ tố CSGT “ra gậy” bị công an… triệu tập!

(Dân trí) – Trong khi anh Nguyễn Văn Tài (người kêu cứu việc bị một chiến sĩ CSGT huyện Yên Dũng vụt gậy trọng thương) đang phải chăm sóc vợ tại BV đa khoa tỉnh Bắc Giang thì nhận được giấy triệu tập của Công an huyện Yên Dũng lên làm việc.

GS Nguyễn Văn Tuấn:Trọc phú mới tin ’kim ngân phá lệ…’

(ĐVO)- “Phần nhiều người có tính ham học, song thích văn chương phù hoa hơn là thực học, thích thành sáo và hình thức hơn là tư tưởng hoạt động. … Tính khí cũng hơi nông nổi, không bền chí, hay thất vọng, hay khoe khoang trang hoàng bề ngoài, ưa hư danh và thích chơi cờ bạc”.

Trích lời Nhà văn hóa Đào Duy Anh như một viện dẫn giải thích sự “chơi ngông”, tiêu xài xa xỉ của nhiều đại gia Việt mới nổi trong thời gian gần đây, GS Nguyễn Văn Tuấn, Viện Garvan, Úc cho rằng, vì văn hóa thấp nên người ta dùng đồng tiền một cách hợm hĩnh. Ông cũng đứng trên quan điểm khoa học để nhận xét về sự trái khoáy khi những biểu hiện vô cảm xuất hiện song song với sự xa xỉ đến choáng váng của nhiều đại gia Việt

GS Nguyễn Văn Tuấn
GS Nguyễn Văn Tuấn

Văn hóa thấp nên dùng tiền hợm hĩnh!

PV:- Thời gian gần đây, dư luận trong nước xôn xao về cách xài tiền đặc dị của các đại gia: thuê máy bay, diễu dàn xe tiền tỷ đi đón dâu, nuôi chó triệu đô… Sống ở một đất nước có mức thu nhập bình quân đầu người cao gấp khoảng 40 lần Việt Nam (năm 2009 đã là 39.500 USD/người/năm), GS bình luận gì về sự “chơi ngông” của những đại gia này?

GS Nguyễn Văn Tuấn:- Tôi đã từng nói, tôi rất choáng với nhiều kiểu tiêu tiền có thể nói rất xa hoa của một vài đại gia ở Việt Nam. Không chỉ tôi, nhiều bạn bè người Úc đang làm chung với tôi cũng vậy. Sau khi đi du lịch ở Việt Nam, họ tỏ ra rất ngạc nhiên với sự xa xỉ của người mình.

Một bác sĩ ở Viện Garvan nói với tôi rằng, chị không lý giải được tại sao một đất nước còn rất nghèo, đường xá chật hẹp và chất lượng kém mà có những chiếc xe rất đắt tiền.

Rồi mới đây, báo chí phản ánh chuyện tổ chức đám cưới “khủng”, hoặc chi ra vài trăm triệu đồng để xây nhà cho… chó, v.v… càng gây sự chú ý của công chúng.

Theo thói quen, tôi thường đặt câu hỏi tại sao: tại sao một vài đại gia Việt lại tiêu tiền quá xa xỉ như vậy? Dĩ nhiên, có người muốn xem việc mua những món hàng xa xỉ là một cách khẳng định đẳng cấp. Đó cũng có thể là một cách tiếp thị hoặc làm PR cho doanh nghiệp của họ.

Cũng có thể là cách tiêu tiền theo kiểu “chơi nổi” là một cách khoe khoang, rất phù hợp với nhận xét của Nhà văn hoá Đào Duy Anh trước đây: ”[…] Phần nhiều người có tính ham học, song thích văn chương phù hoa hơn là thực học, thích thành sáo và hình thức hơn là tư tưởng hoạt động. … Tính khí cũng hơi nông nổi, không bền chí, hay thất vọng, hay khoe khoang trang hoàng bề ngoài, ưa hư danh và thích chơi cờ bạc”.

Cả ba lý do đều có chung một mẫu số: văn hoá thấp. Vì văn hoá thấp nên người ta dùng đồng tiền một cách hợm hĩnh.

Nhưng cũng có thể còn một lý do, không nằm trong lĩnh vực văn hoá, đó là lý do tâm lý. Chúng ta biết rằng, một vài đại gia tiêu tiền xa xỉ trong khi mắc nợ chồng chất. Rất khó lý giải cho những trường hợp này, nhưng không loại trừ khả năng họ mắc hội chứng tâm thần mà giới y học gọi là rối loạn lưỡng cực (bipolar disorder). Những người mắc hội chứng rối loạn lưỡng cực cũng có thể tiêu tiền một cách phi lý trí.

Tôi được biết, có người còn áp dụng lý thuyết tiến hoá để giải thích những hành vi tiêu tiền xa xỉ, nhưng theo tôi, lý thuyết này chưa ứng dụng ở đây.

Chà xát vào nỗi đau của người nghèo

PV:- Công luận hầu như không đồng tình về cách đốt tiền chơi ngông của các đại gia này, theo GS, có phải là do phản ứng tiêu cực của người nghèo với người giàu, hay do nghi vấn về tiền sạch, tiền bẩn hoặc nhân tâm bỗng nhiên thấy có sự cắc cớ khi nhìn ra xung quanh còn đói khổ?

GS Nguyễn Văn Tuấn:- Rất khó biết tại sao dư luận phản ứng tiêu cực với những kiểu ăn xài xa hoa của một vài đại gia. Chúng ta cần có nghiên cứu xã hội học để tìm hiểu, tuy nhiên, theo tôi biết, chúng ta còn thiếu những nghiên cứu như thế.

Thực ra, trong bối cảnh xã hội hiện nay, tôi nghĩ phản ứng của công chúng không khó hiểu. Thứ nhất, với tình trạng tham nhũng, hối lộ tràn lan khắp nơi thì người ta có lý do để nhìn những đại gia tiêu xài xa hoa vô lối như là những người không ít thì nhiều có liên quan đến những vụ tham ô, hối lộ. Nhìn theo cách như thế thì họ là những người trộm cắp, và do đó đồng tiền của họ là đồng tiền bẩn.

Thứ hai, công chúng nghĩ đến những bóc lột công sức của người lao động. Họ nghĩ rằng các đại gia nhờ bóc lột hay lợi dụng người nghèo khó để làm giàu, và do đó, đồng tiền của họ là đồng tiền phi đạo đức.

Dĩ nhiên, đó chỉ là những ấn tượng. Trên thực tế, có thể đó là các đại gia làm giàu một cách chính đáng. Có điều, người làm giàu chính đáng, làm giàu từ sự lao động cật lực của chính mình thì ít ai tiêu xài xa xỉ như vậy.

Cũng nên ghi nhận ở đây một thực tế là người Việt Nam có “văn hoá” chuộng cái nghèo (thanh bần) và không ưa người giàu. Điểm qua các tác phẩm văn học xưa và nay, chúng ta dễ dàng thấy người ta ca ngợi người nghèo khó và có ý chí phấn đấu, nhưng lại rất ác cảm với người giàu có.

Đọc Thạch Lam sẽ thấy ông có xu hướng ca ngợi và thi vị hoá cái nghèo, nhưng chỉ trích những người giàu sang mà ích kỉ và xấu xa.

PV:- Dư luận có phần “phẫn nộ” với sự xa hoa của một vài đại gia Việt kể trên nhưng lại ngưỡng mộ việc những siêu sao ở Mỹ mua nhà trị giá hàng chục triệu đô hoặc vợ chống Tom Cruise sắm cho cô con gái chưa tới 6 những món đồ hàng chục ngàn đô la. Xin GS hãy lý giải vì sao lại có sự phản ứng khác nhau như vậy?

GS Nguyễn Văn Tuấn:- Không ai lại xây một biệt thự đắt tiền mà chung quanh toàn những căn nhà lá; tương tự, tiêu tiền một cách xa xỉ trong khi đại đa số đồng hương còn nghèo khó là một việc làm dễ gây sốc. Đúng là ở Mỹ cũng có nhiều người tiêu tiền một cách xa xỉ, và vợ chồng Tom Cruise là một ví dụ.

Công chúng Mỹ ít ai đặt vấn đề về cách tiêu tiền của những tài tử điện ảnh này, vì ai cũng biết họ là những người rất giàu và họ làm giàu một cách chính đáng, làm giàu từ tài năng của họ. Vả lại, ở Mỹ, với thu nhập trung bình 40.000 đến 50.000 USD một năm, thì việc người giàu chi ra vài chục ngàn USD cho một món quà cũng chẳng làm ai sốc.

Còn ở nước ta, với thu nhập trung bình chỉ 1000 USD (hoặc thấp hơn) mà có người bỏ ra 20.000 USD xây nhà cho chó, hay 10.000 USD cho một cái điện thoại di động, hay 5.000 USD cho một chai rượu thì lại là một chuyện khác. Những cách tiêu tiền như thế rất phản cảm. Cách tiêu tiền phải tùy vào bối cảnh kinh tế.

Thử tưởng tượng ta uống một li cà phê giá 80 ngàn đồng, hay ăn một tô phở giá 800 ngàn đồng, và bên cạnh ta là những người bán vé số lam lũ với thu nhập một ngày chưa đến 30 ngàn đồng. Tiêu tiền xa xỉ như thế chẳng khác gì chà xát vào nỗi đau khổ của người nghèo khó. Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ. Tôi nghĩ một người có văn hoá không bao giờ hành xử một cách “dã man” với đồng hương của mình dù chỉ là gián tiếp.

Tôi còn nhớ vài năm trước ở Mỹ có hai vợ chồng người Việt bị giết chết, chỉ vì họ tậu một chiếc xe hiệu Hummer rất đắt tiền. Kẻ giết hai vợ chồng (là người Mỹ) sau này thú nhận là chỉ đơn giản vì ghét kiểu “chơi nổi” của hai vợ chồng người Việt.

Người ta lý giải rằng, khu vực họ sống là khu vực mà đa số dân là người lao động, nên cách sống của hai vợ chồng Việt làm cho người chung quanh thấy khó ưa. Tiêu tiền không đúng hoàn cảnh có khi cũng nguy hiểm.

Người giàu thường hay hành xử trái với đạo lý xã hội

PV:- Cùng lúc với những sự rước dâu bằng dàn xe tiền tỷ, máy bay hay nuôi chó triệu đô… là những hành xử bị dư luận lên án là vô cảm, coi rẻ giá trị con người như đại gia nước đá trả con dâu chỉ vì nghi con dâu mất trinh hay một gia đình đuổi người thân là người nước ngoài ra đường chỉ vì ông ta… nghèo. GS có thể bình luận gì về những hiện tượng trái khoáy nhưng diễn ra đồng thời như vậy?

GS Nguyễn Văn Tuấn:- Tôi không biết những hành động xa hoa trên có là vô cảm hay không, vì chỉ có đương sự mới có câu trả lời. Xin nói thêm rằng theo tôi được biết, trường hợp cô dâu ở Cần Thơ là do nghi ngờ vô cớ về một thước phim sex.

Còn đứng trên quan điểm khoa học, việc người giàu có hành xử “trái khoáy” có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên. Một nghiên cứu mới đây cho thấy người giàu có thường hay hành xử trái với đạo lý xã hội, hay phạm luật pháp. Có thể lý giải những hành động trái với đạo đức trong giới giàu có qua sự độc lập của họ.

Những người có nhiều tiền và quyền cao chức trọng tương đối độc lập và ít bị ràng buộc với người chung quanh họ, nên có nhận thức thấp về rủi ro liên quan đến những hành vi thiếu đạo đức của họ. Ngoài ra, người giàu tự tin rằng “kim ngân phá luật lệ”, họ dư thừa phương tiện và tài lực để đối phó khi họ vi phạm luật.

Người có quyền thế và giàu có cũng có khi suy nghĩ rằng họ “có quyền” thỉnh thoảng vi phạm luật pháp hay có những hành vi trái với đạo lý, vì họ nghĩ họ có công, họ chính là những người xây dựng nên qui chuẩn đạo đức.

Cũng có thể lý giải vì họ xa rời với những người chung quanh, họ sống trong giai tầng của họ, và tỏ ra xem thường những người nghèo hèn. Một lần nữa, những cách hành xử xem thường người nghèo cũng là một thể hiện của sự thiếu nền tảng văn hoá, và có khi thiếu kĩ năng sống.

Cũng cần nhắc đến một vài sự kiện gần đây khi có những đại gia mua đấu giá những món hàng đắt tiền dưới danh nghĩa làm từ thiện nhưng họ thật ra không mua. Đó không chỉ là một hành động gian trá mà còn là một giễu cợt vô cùng vô giáo dục trên nỗi khổ của người khác.

  • Hoàng Hạnh (thực hiện)

Khoa học VN kẹt trong phi chuẩn mực, tư duy ăn xổi

HỐ SÂU CŨNG TƯƠNG ỨNG VỚI ĐỈNH CAO ĐàDỰNG

 Nguoilotgach

HỐ SÂU CŨNG TƯƠNG ỨNG VỚI TAI ƯƠNG ĐÃ DỰNG
Tô Văn Trường
Để quản lý đất nước xã hội phát triển bền vững, điều kiện đơn giản mà ai cũng thấy là cần có một hệ thống tốt và cả những con người có tâm và tầm. Hệ thống tốt thì sẽ đảm bảo công việc chạy tốt mà không quá phụ thuộc vào các cá nhân vận hành hệ thống đó. Hệ thống tốt còn có khả năng tự bảo vệ (loại trừ các cá nhân không tốt như là PC có cài đặt hệ thống diệt virus tự động). Hệ thống tốt cũng là một sự đảm bảo cho các cá nhân tốt ( các mắt xích của nó) có được lợi thế và phát huy tối đa năng lực cũng như các yếu tố lành mạnh. Về mặt phòng chống tham nhũng thì đó là bộ máy mà “không ai muốn/ dám/ có thể tham nhũng”… Đó sẽ là mảnh đất màu mỡ cho các cá nhân có tâm, có tài và có các phẩm chất cống hiến cho cái chung. Một hệ thống không tốt thì ngược lại. Đáng tiếc là với các “lỗi hệ thống” mà công luận nhắc đến lâu nay, một hệ thống tốt của ta vẫn là cái đích còn rất xa. Trong điều kiện đó, các cá nhân dù xuất sắc đến đâu cũng khó có thể xoay chuyển thế cục.
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 và 6 Khóa XI, hai Ban Nội chính Trung ương và Ban Kinh tế Trung ương đã được lập lại. Việc thành lập trở lại 2 Ban đã từng bị giải tán có thể được nhìn nhận ở các góc độ khác nhau. Thay đổi về 2 Ban này chắc chắn gây ra phản hồi đối lập nhau: Người thì nhìn như một quyết tâm “nói đi với làm”; Người thì cho là Đảng can thiệp sâu. Việc tái lập hai Ban là một bước lùi về thể chế. Nhưng trong tình thế sau Nghị quyết 4 và 5 của TW thì đây là việc làm vớt chót. Hy vọng thành công dù rất mong manh.
Về tổng thể, cũng là một bước lùi  vì xu hướng cải cách là không nên để tình trạng chồng chéo chức năng nhiệm vụ giữa Đảng và Nhà nước/ Chính phủ. Tuy nhiên, trong tình trạng tham nhũng tràn lan và quyền lực không được kiểm soát như trong thời gian qua thì đây có lẽ là một bước lùi chiến thuật cần thiết trong ngắn hạn. Nói cách khác, vấn đề lỗi hệ thống của ta vẫn sẽ nan giải chừng nào chưa đảm bảo được dân chủ và quyền của người dân một cách thực chất theo xu thế tiến bộ của thời đại là Nhà nước pháp quyền, Xã hội dân sự và Kinh tế thị trường theo đúng nghĩa của nó.
          Thực tế, vai trò cá nhân đối với lịch sử cũng vô cùng quan trọng như các ông Võ Nguyên Giáp, Võ Văn Kiệt, Kim Ngọc, và cả những lãnh tụ tưởng như rất thủ cựu như ông Trường Chinh…khi quan điểm “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” được lấy làm cơ sở. Mặt khác, rủi ro là dù có đi hết cuộc đời như các vị lãnh đạo đáng kính nói trên thì vẫn không sửa được lỗi hệ thống mà họ dường như ít khi ở vị trí thuận lợi nhất. Khi họ không còn quyền lực hoặc thành người thiên cổ thì số phận dân tộc vẫn còn dở dang và nếu những người kế tiếp không có phẩm chất tương đương hoặc thậm chí là “phú quý giật lùi” thì đất nước còn gặp nhiều rủi ro, bất hạnh.
          Ông Vương Đình Huệ được bổ nhiệm là Trưởng ban kinh tế TW, con đường “quan lộ” rất hanh thông ( “vo tròn” để mà lăn). Khi làm Bộ trưởng Bộ Tài chính lời nói và việc làm của ông chẳng để lại dấu ấn gì đáng nhớ trong dân chúng. Ông còn trẻ, được học hành bài bản, rất biết túi tiền, thưng gạo của ngân khố, người dân mong ông biết vượt lên chính mình ở cương vị mới.
Trên công luận cả báo chính thống của Nhà nước và báo mạng đều nói nhiều về ông Nguyễn Bá Thanh Bí thư thành phố Đà Nẵng, tân Trưởng ban Nội chính TW được coi là một trong số ít các vị Trung ương ủy viên tâm huyết với vận nước, có chính kiến (qua một số phát biểu), để lại dấu ấn cá nhân, có nhiều việc làm khiến cho công luận có thể hy vọng.
Ở tầm địa phương, theo tôi biết có ông Trương Đình Tuyển (Nghệ An), ông Nguyễn Minh Nhị (An Giang) để lại dấu ấn rõ nét như ông Bá Thanh nhưng đến nay chỉ còn ông Bá Thanh là đang tại chức và bay bổng ở tầm cao hơn. Bất kỳ ai nếu có một lần đến Đà Nẵng, cũng có nhiều cảm xúc tốt về một thành phố phát triển nhanh, trật tự, có điểm PCI luôn trong top đầu. Có báo còn coi ông Thanh là Triệu Tử Long  trên chính trường. Nếu vậy thì cần phải  xem vậy ai là “Lưu Bị và Á Đẩu” của ông ấy!  Có ai đó nhân trận đá bóng gây quỹ từ thiện ở Đà Nẵng coi ông Nguyễn Bá Thanh là trung phong có hạng và kết luận là trận bóng quan trọng nhất của ông còn ở phía trước trên sân Mỹ Đình. Trong vai trò mới mà dường như ai cũng cho rằng ông là một người phù hợp nhất, chắc là ông Bá Thanh sẽ phải sớm thể hiện bản lĩnh chính trị và năng lực của mình trong môi trường đầy thử thách cam go mới! Trải nghiệm mới này chắc chắn ở một tầm cao hơn nhiều so với kinh nghiệm đã qua của ông ở cấp địa phương.
 Nhìn lại con đường “kinh bang tế thế” của ông Nguyễn Bá Thanh ở địa phương cũng trải qua nhiều khó khăn, sóng gió. Tôi nhớ cách đây đã lâu, có lần được nghe ông Võ Văn Kiêt trực tiếp kể lại câu chuyện ông Nguyễn Bá Thanh từ Đà Nẵng vào thành phố Hồ Chí Minh tham vấn ông Kiệt về việc Trung ương dự kiến điều ông ra đảm nhiệm chức Phó ban ngoài Hà Nội. Ông Kiệt khuyên đại ý : ”Đã làm quản lý không ai tránh được “đụng chạm”, kiện tụng. Nếu chấp nhận ra Hà Nội lúc này thì mang theo cây vợt tennit làm “bầu bạn”! Phải ở lại để sửa sai nếu có và khẳng định dấu ấn của mình…”.  Ông Kiệt hiểu rõ ông Bá Thanh năng nổ, gần dân, quyết đoán và sáng tạo …Tất nhiên cái cách làm việc của người quyết đoán trong hệ thống của ta khó tránh khỏi gây ấn tượng độc đoán, thế nhưng con người như Bá Thanh rất cần cho đất nước. Người ta nói khá nhiều về Bá Thanh và cùng sự đi lên của Đà Nẵng với rất nhiều hi vọng tràn trề nhưng chưa ai nói được tầm và thế của ông trong phạm vi rộng của cả nước. Lúc này, nếu có linh thiêng ở cõi vĩnh hằng, ông Kiệt sẽ chúc mừng việc ông Thanh ra Hà Nội làm Trưởng ban nội chính để tạo ra những cú hích nhằm thay đổi hiện trạng trì trệ và nguy hiểm hiện nay nhưng ông cũng sẽ  lo lắng cho người bạn đồng tâm vì “Hố sâu cũng tương ứng với tai ương đã dựng”!
Ông Bá Thanh là người con của đất Quảng cho nên mang đặc chất Quảng. Ông là con liệt sỹ, lại lặn lội từ cương vị chủ nhiệm hợp tác xã đi lên, luôn gắn liền gần như trực tiếp với đời  sống của người lao động nên cũng có thể tin ông hiểu họ như hiểu chính mình. Ông thừa biết rằng chỉ cần ông hiểu họ, đứng về phía họ, bảo vệ họ những người lao động đất Quảng đầy gan góc, cần cù, sáng tạo và giàu truyền thống cách mạng thì sóng gió nào cũng sẽ vượt qua. Ông mang tiếng độc đoán mà không run sợ vì ông đồng nghĩa là người đại diện thực sự cho dân đất Quảng người dân tin ông, bảo vệ ông dù có những lúc họ phải hi sinh quyền lợi. Đó là lợi thế của ông, cái lợi thế này đôi khi cứu ông vượt qua cái tầm của ông vốn có. Ông là con người của hành động, nhưng ông chỉ hành động khi ông nhìn thấy, sờ thấy, cảm thấy …Sự nghiệp của ông không phải là một khối pha lê trong suốt, nếu soi kỹ lại hành trình ông đã đi thì đúng là thế và hiểu như thế để khỏi ảo tưởng nhưng quả thật nếu tìm một ai đó vào cương vị Trưởng ban Nội chính ở thời điểm này thì người xứng đáng nhất vẫn là Nguyễn Bá Thanh.
Một người bạn của tôi biết ông Bá Thanh từ thời hàn vi, mừng cho ông một phần thì lo cho ông mười phần. Anh bạn kể lại câu chuyện nhớ lần “Hội  Trỗi” trang bị cho bệnh viện đa khoa Đà Nẵng máy chụp cắt lớp đầu tiên vào năm 1996, ông ở đâu sồng sộc đi vào quát ầm ầm: “Máy chi mà mắc quá trời, mấy trăm ngàn đô la, Đà Nẵng lấy đâu tiền mua?”.  Sau biết không phải trả tiền ông mừng lắm, kéo tất cả về nhà ông nhậu. Trời sui đất khiến thế nào ông vừa được người bạn  học sinh miền Nam lấy vợ Bắc mới cho một can rượu làng Vân gần 10 lít . Sáu anh em đi hết cả can, làm sạch nồi cá kho nhà ông và say túy lúy vv… Đặc điểm của Bá Thanh là  biết hòa đồng, cảm thông chia sẻ với mọi đối tượng trong xã hội.
Đọc các bài báo nói về Bá Thanh, trao đổi với người bạn đồng tâm, được xác nhận họ viết về ông là đúng nhưng không khỏi giật mình. Dư luận xã hội chưa từng có thêm sức mạnh cho những nhân tố mới nảy nở như nó vốn có mà phần nhiều là ngược lại.  Chết yểu!. Dư luận (báo chí) chỉ có ca ngợi công lao, tài đức lúc đương thời của những người đã về hưu, thất sủng hoặc đã là mồ ma để an ủi họ … thì đều là những nhân vật thành công thấy rõ như ca ngợi ông Bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc. Từ sân chơi chủ nhà Đà Nẵng đến sân chơi Mỹ Đình là bất lợi lớn, rất khó lường thành bại nhưng có điều chắc chắn nó liên quan mật thiết tới trí tuệ, bản lĩnh của người nhập cuộc, sự ủng hộ của nhân dân và sự “thức tỉnh” của một số người có thực quyền đang điều hành quản lý đất nước. Lúc này, ca ngợi nhiều quá sẽ nguy hiểm cho Bá Thanh. Bởi vì cuộc sống là bất phương trình, các “bầy sâu” đang nở rộ sẽ tìm mọi cách để chống lại ông với các thủ đoạn khó lường. Để khẳng định mình, ông Thanh cần mạnh mẽ không chỉ trực tiếp vạch trần các “bày sâu” mà còn phải khéo léo, tránh thỏa hiệp, không đi theo “vết xe đổ” mượn cớ lấy “tinh thần nhân văn” để hành xử như có người đã từng bộc bạch!  Thử thách và “cạm bãy” đối với ông Nguyễn Bá Thanh trong cương vị mới là rất nhiều. Phép thử đầu tiên là ông cần tỏ rõ thái độ vì dân của mình thông qua vụ án Đoàn Văn Vươn. Dư luận có quyền hy vọng ở ông, các fan của ông đang mong ông sẽ tiếp tục tỏa sáng trên sân bóng chính trị và sẽ có những “bàn thắng để đời” trên chảo lửa Mỹ Đình hiểu theo nhiều nghĩa. Nếu đoạn đường phía trước có trắc trở, không vượt qua được thì sẽ là tai họa mà hố sâu cũng sẽ tương ứng tai ương đã dựng. Cha ông ta đã dạy đi vào đường đời thành công thường chưa chắc tương ứng với ”đồng vốn” bỏ ra, vì vốn không tự sinh lãi. Còn cá nhân làm nên lịch sử thì theo tôi, bây giờ lịch sử chưa trao cho ai và cũng không có ai có khả năng làm nên lịch sử - Trừ phi lịch sử!
  Nhìn xa hơn, không chỉ chống tham nhũng, mọi việc vẫn còn ở phía trước, mà anh hùng cái thế thì không phải học đâu xa. Hãy nhìn sang Myanmar một đất nước quân phiệt, lòng dân ly tán, mất dân chủ, kinh tế xã hội trì trệ đã chuyển mình, cải cách mạnh mẽ cả đối nội và đối ngoại chủ yếu nhờ vai trò của 2 người hùng Tổng thống Thein Sein và bà Aung San Suw Kyi.  Ở tầm thấp hơn chỉ mong sao 2 ông tân Trưởng ban “Bá – Vương” cứ lấy câu “Lấy dân làm gốc” làm căn cứ vững chắc cho mọi hoạt động của mình.

(Bản gốc của tác giả)

Kế hoạch cho lần trỗi dậy

Ông Đặng tiểu Bình “phá thối” chơi kiểu “xài cả mèo đen lẫn mèo trắng”,chứ không thì với tính “ưu việt ” của CNCS  ,lãnh đạo CS của Trung cộng đã đưa Người Dân Trung hoa đến “thiên đường CS” từ hồi cuối Thiên niên kỷ trước- Uổng thật,hàng tỉ người lên thiên đường nên chật hẹp quá chúng ta khỏi lên.

Anna Loll

Phan Ba dịch

Sau cái chết của Mao, kinh tế của Trung Quốc kiệt quệ, Trung Quốc thuộc trong những nước nghèo nhất thế giới. Do vậy mà giới lãnh đạo Trung Quốc quyết định thay đổi đường lối một cách triệt để: họ mở cửa đất nước cho Chủ nghĩa Tư bản.

Trung Quốc 1978: một đất nước to lớn như Hoa Kỳ, với gần một tỉ người dân, với một chương trình nguyên tử riêng của mình và với những giàn máy công nghiệp cao vút ngay cả trong những vùng đất hẻo lánh. Nhưng cũng là một đất nước mà trong đó tiền lương không tăng; việc xây dựng mở rộng đường sắt được xem là phi sản xuất; người nông dân không được phép bán rau cải của họ trong thành phố hay còn dọn đến đấy ở; ngũ cốc, dầu và xà phòng được chia phần một cách nghiêm ngặt. Và là một đất nước mà trong đó có hơn 100 triệu người bị nạn đói đe dọa.

Một doanh nghiệp ca ngợi sản phẩm của mình trên một tấm áp phích quảng cáo trước tường của Cấm Thành. Chỉ vài năm trước đó, quảng cáo được xem là "xấu xa của tư bản". Ảnh: GEO Epoche.

Một doanh nghiệp ca ngợi sản phẩm của mình trên một tấm áp phích quảng cáo trước tường của Cấm Thành. Chỉ vài năm trước đó, quảng cáo được xem là “cái xấu xa của tư bản”. Ảnh: GEO Epoche.

Nước Cộng hòa Nhân dân thuộc trong số những nước nghèo nhất thế giới. Trong vòng hai thập niên, chế độ quanh Mao Trạch Đông với những chiến dịch  như “Đại Nhảy Vọt” và “Cách mạng Văn hóa” đã hủy diệt tất cả mọi sự thịnh vượng trong trứng nước. Vào giữa những năm 1950, người dân còn có nhiều ngũ cốc để ăn hơn là bây giờ; thu nhập trung bình một năm của một người Trung Quốc còn chưa tới 200 US dollar – ít hơn là ở Uganda, Malawi hay Afghanistan. Hơn một phần tư người dân sống trong cảnh nghèo nàn cùng cực.

Trung Quốc tàn tạ và kiệt quệ: về kinh tế, chính trị, trí thức. Nếu như giới lãnh đạo nhà nước còn thành lập đại học và trường học sau chiến thắng trong nội chiến, làm giảm con số những người mù chữ, thì bây giờ có một thế hệ mới đang trưởng thành, thế hệ mà trong thời của cuộc Cách mạng Văn hóa đã bị cố tình không cho học tập.

Vì thế mà bây giờ Trung Quốc thiếu lực lượng có khả năng cho hành chính nhà nước, để quản lý một cách có hiệu quả những nhà máy hóa học, nhà máy luyện thép, dự án xây dựng. Thêm vào đó, nền kinh tế kế hoạch không có hiệu quả trong sản xuất: nhân viên nhà nước ra lệnh cho doanh nghiệp phải sản xuất cái gì và bao nhiêu – nhà nước thâu lấy hàng hóa và lợi nhuận. Nếu một nhà máy thua lỗ, Bắc Kinh sẽ bù đắp cho họ.

Hầu như không có gì khuyếnkhích các giám đốc quan tâm đến chi phí. Do không được trả lương theo năng suất nên công nhân viên hay vắng mặt và làm việc ít.

Nhưng rồi trong một hội nghị của giới lãnh đạo Đảng trong tháng 12 năm 1978, một quan chức cao cấp xuất hiện và tuyên bố điều hầu như không thể tin được. Tên của ông ấy: Đặng Tiểu Bình. Thông điệp của ông ấy: Đảng phải rời bỏ điều không tưởng và trong tương lai phải “tìm sự thật trong thực tế”. Trong tăng trưởng kinh tế.

HAI NĂM SAU CÁI CHẾT CỦA MAO, Đặng – một người đồng đội cũ và cũng là người cạnh tranh của Đại Chủ tịch – đã thành công trong việc tước quyền lực người kế tục nhà độc tài, Hoa Quốc Phong, và giật lấy quyền lãnh đạo Đảng và nhà nước về cho mình. Trong lúc đó, ông ấy đứng ở hậu trường, nhưng bổ nhiệm người thân cận vào các chức vụ cao nhất. (Cho tới 1981, Hoa vẫn còn là Tổng bí thư Đảng – nhưng Đặng và những người đồng minh với ông ấy đã cầm quyền trong đất nước này từ lâu.)

Người lãnh tụ mới của Trung Quốc là một người thực tế. “Mèo đen hay mèo trắng không quan trọng”, ông ấy nói: “miễn là nó bắt được chuột.” Điều quan trọng là mục đích. Và để thực hiện điều đấy, Đặng sẵn sàng mở cửa đất nước của mình: cho nền kinh tế thị trường và cho các nhà đầu tư từ Phương Tây. Cho tới năm 2000, bây giờ ông ấy yêu cầu như thế trong mùa Thu 1979, thu nhập năm của người Trung Quốc cần phải tăng lên gấp năm lần – lên 1000 dollar trên đầu người.

Ngay từ giữa 1960, các nhà lãnh đạo Đảng thuộc phe cải tổ như cố thủ tướng Chu Ân Lai đã phát triển một kế hoạch cho tăng trưởng: “bốn hiện đại hóa”. Cho tới cuối thiên niên kỷ, nông nghiệp, công nghiệp, quốc phòng cũng như khoa học và kỹ thuật cần phải được cải mới – trước hết là với tư bản và bí quyết từ nước ngoài. Ngược lại, Mao theo đuổi cuộc cách mạng liên tục như là điều được ưu tiên cao nhất. Mãi bây giờ, sau cái chết của Mao, Đặng mới có thể thực hiện được viễn tưởng của nhà cải cách.

Và nó là triệt để – ngay cả khi Đặng Tiểu Bình không bãi bỏ hoàn toàn nền kinh tế kế hoạch. Ông ấy khuyến khích các doanh nghiệp xã hội chủ nghĩa làm việc có hiệu quả: ông ấy cho phép nhiều công ty nhất định giữ lại lợi nhuận cho họ bắt đầu từ một con số nào đó. Nếu như họ đã cung cấp cho nhà nước một lượng sản phẩm đã được định trước, họ có thể bán phần còn lại trên thị trường để thu lợi nhuận về cho họ.

Giới lãnh đạo cũng quyết định cho nền nông nghiệp một cuộc cải tổ rộng lớn: họ cho phép các gia đình trong những vùng nghèo được phép sản xuất cho riêng họ trên những cánh đồng thuê lại từ nhà nước .

Tuy vậy, về mặt chính trị, Đặng và những người theo ông ấy vẫn trung thành với di sản của Mao: khi sinh viên và giới khoa học gia yêu cầu một cuộc “hiện đại hóa thứ năm” – dân chủ – trên các tấm áp phích, Đặng cho người bắt giam họ. Dưới quyền của ông ấy, dưới thời của nhà thử nghiệm lớn, nhiều thứ được phép khuấy lên, nhưng quyền lực tuyệt đối của Đảng Cộng sản thì không.

Nhờ cuộc cải cách mà rất nhiều doanh nghiệp tư nhân nhỏ được thành lập. Nông dân chào bán hàng hóa của họ ở chợ, nhà hàng quán trọ được khai trương. Tiệm may quần áo và thẩm mỹ viện mời khách, cửa hàng đầy máy truyền hình cạnh tranh với những cửa hàng quốc doanh.

Trung Quốc thành lập bốn đặc khu kinh tế mà người nước ngoài được phép đầu tư vào đó. Nhưng cả Bắc Kinh cũng bùng nổ: ngày càng có nhiều người từ bỏ đồng phục Maoít như những người đàn ông này. Ảnh: GEO Epoche.

Trung Quốc thành lập bốn đặc khu kinh tế mà người nước ngoài được phép đầu tư vào đó. Nhưng cả Bắc Kinh cũng bùng nổ: ngày càng có nhiều người từ bỏ đồng phục Maoít như những người đàn ông này. Ảnh: GEO Epoche.

NHƯNG CHẲNG BAO LÂU SAU ĐÓ đã có vấn đề: trong năm đầu tiên của cuộc cải cách, Trung Quốc mắc nợ cao chưa từng có – trước hết là vì đầu tư nhiều và nhà nước thu nhập quá ít. Thêm vào đó lại thiếu  điện cho các doanh nghiệp mới. Đường sá, đường sắt và kênh đào không theo kịp sự tăng trường kinh tế.

Nhưng Đặng tiếp tục mở rộng cuộc cải cách: năm 1979, ông ấy cho thành lập bốn “vùng đặc quyền kinh tế” để thu hút tư bản và kiến thức Phương Tây, ví dụ như ở Thâm Quyến gần biên giới với Hongkong. Ở đấy, người nước ngoài được phép đầu tư, xây dựng và chào bán hàng hóa của họ. Doanh nghiệp từ Hongkong thành lập xí nghiệp may mặc, sản xuất đồ chơi và giày dép.

Lương thấp hơn 75% so với trong phần đất là thuộc địa của Anh quốc, giá mướn nhà thường còn rẻ hơn tới 95%. Chẳng bao lâu sau đó, Thâm Quyến có một sân chơi golf, nhà chọc trời vươn cao lên trên những con đường  mới được xây dựng.

Ngay từ năm 1985, thành phố cảng này hầu như không còn khác biệt gì khi so với những vùng ngoại ô của Hongkong nữa. Những gì mà Singapore, Đài Loan và Nam Hàn đã đạt được dường như bây giờ cũng có khả năng ở Trung Quốc: một điều kỳ diệu về kinh tế. Tổng sản lượng quốc gia của Trung Quốc tăng mỗi năm gần 9% kể từ 1978.

Cả Bắc Kinh cũng bùng nổ: thay cho những bộ đồng phục kiểu Maoít, bây giờ đàn ông đề tóc dài mặc áo khoác thời trang. Nông dân rút ra hàng tập tiền giấy để mua máy truyền hình cho gia đình của họ ở quê.

Chủ nghĩa Thực dụng của Đặng mang lại thu nhập cao hơn cho nhiều người Trung Quốc. Thế nhưng với tiêu dùng tăng lên, giá cả cũng tăng cao – hơn 26% trong năm 1988. Sản xuất ngũ cốc giảm lại càng làm cho tình hình thêm tồi tệ. Người nông dân bây giờ thích trồng đường và thuốc lá hơn, vì họ có thể bán chúng lấy lợi nhuận nhiều hơn là với lúa mì.

Mức sống bây giờ lại giảm xuống, đặc biệt là trong thành phố, tỷ lệ thất nghiệp tăng sau khi các nhà máy quốc doanh cho thôi việc. Để hiện đại hóa, Đặng chấp nhận đất nước bị chia cắt ra về mặt xã hội. “Một vài người sẽ giàu lên trước”, ông ấy viết ngắn gọn.

Thế nhưng khác với dưới thời của Mao, bây giờ người Trung Quốc không còn sẵn sàng lặng lẽ chấp nhận những việc như thế nữa. Trong tháng 12 năm 1986, 30.000 sinh viên ở Thượng Hải đã yêu cầu trên các biểu ngữ “Hãy cho chúng tôi dân chủ!”. Cả trong công nghiệp cũng có sự phản đối; công nhân đình công ở nhiều nơi – vì họ bị cho thôi việc hay không được trả lương.

Sự tức giận lại càng được khuếch đại, vì nhiều chính khách địa phương nhận hối lộ từ doanh nghiệp. Con cái của các quan chức lãnh đạo, được gọi là “nhóm hoàng tử”, bây giờ thường nhận được các công việc làm tốt nhất theo một cách thật kỳ lạ.

Tuy vậy, nền kinh tế ngày càng tăng trưởng nhanh hơn. Và lời hứa hẹn của Đặng không những được hiện thực – mà còn vượt quá nữa: trong năm 2000, mỗi một người Trung Quốc trung bình thu nhập được gần 1000 dollar. Và mười năm sau đó nữa, trong đất nước này sẽ có 393 tỉ phú và 1,1 triệu triệu phú, người dân sẽ có thu nhập 4393 dollar trên đầu người.

Nhiều gấp 20 lần của năm 1979.

Anna Loll

Phan Ba dịch

Trung Quốc đang đưa châu Á đi về đâu?

Bảo Anh chuyển ngữ, CTV Phía Trước
Mahani Zainal Abidin, East Asia Forum

Gần đây Trung Quốc đã tỏ ra quyết đoán hơn đối với các tranh chấp tại Biển Đông và tiếp tục phô trương lực lượng quân sự của họ. Việc này dẫn tới tình trạng tiến thoái lưỡng nan mà các nước trong khu vực phải đối mặt: làm thế nào để các nước ở châu Á có thể mở rộng và thắt chặt thêm các liên kết kinh tế và phụ thuộc lẫn nhau khi căng thẳng chính trị đang tiếp tục gia tăng?

CHINA-POLITICS-NEW YEAR

Trung Quốc là một nước rất quan trọng khi nói đến tăng trưởng kinh tế, sản xuất và những hoạt động thương mại đối với khu vực [châu Á] cũng như nhiều nước khác. Mạng lưới sản xuất trong khu vực và chuỗi cung ứng đã gắn bó Trung Quốc với các nước khác với nhau đến mức bất cứ điều gì xảy ra tại một trong những nước này sẽ sớm đưa đến hiệu ứng dây chuyền ảnh hưởng đến một nước khác. Vì vậy, hành động gây căng thẳng chính trị và quân sự gần đây của Trung Quốc cần phải được xem xét một cách nghiêm trọng.

Lập trường cứng rắn của Trung Quốc vào đầu năm nay tại vùng biển có tranh chấp được coi là một nỗ lực nhằm đánh lạc hướng sự chú ý từ các vấn đề nội bộ như tham nhũng dai dẳngtình trạng khoảng cách giàu nghèo [tính theo thu nhập đầu người] ngày càng trầm trọng. Chủ nghĩa dân tộc hiện đang gia tăng, đặc biệt trong giới trẻ Trung Quốc, cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến các hành động trong giới lãnh đạo Trung Quốc. Điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi Chủ tịch Hồ Cẩm Đào phát biểu tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 18, kêu gọi ‘kiên quyết bảo vệ quyền hàng hải và lợi ích của Trung Quốc, và xây dựng Trung Quốc thành một cường quốc hàng hải’.

Việc chuyển đổi lãnh đạo một cách êm thắm đã không giảm tính quyết đoán của  Trung Quốc đối với lợi ích chiến lược của họ tại Biển Đông. Lãnh đạo mới của nước này thông báo rằng kể từ ngày 1 tháng Một năm 2013, lực lượng cảnh sát ở tỉnh Hải Nam sẽ tiến hành kiếm soát và bắt giam các tàu thuyền đi vào vùng [Biển Đông] mà Trung Quốc cho là thuộc chủ quyền lãnh hải của họ. Trung Quốc cũng cho biết sẽ gửi thêm các tàu khảo sát biển tuần tra đến khu vực Biển Đông.

Các chính sách về vận chuyển đường biển trước đây đã làm vấn đề này trở nên trầm trọng hơn giữa các tàu thuyền Việt Nam và Philippines với phía Trung Quốc. Quyền di chuyển tự do và an toàn dọc theo tuyến đường vận chuyển quốc tế trong vùng Biển Đông rất quan trọng đối với các mối thương mại quốc tế bởi vì đây là động mạch chính kết nối Đông Á với Ấn Độ Dương. Hoa Kỳ có thể bắt buộc phải lên tiếng nếu đường vận chuyển này bị gián đoạn. Gần đây Trung Quốc cũng đã gây thêm căng thẳng khi họ phát hành phiên bản hộ chiếu mới có in bản đồ [lưỡi bò] bao gồm cả khu vực đang tranh chấp ở Biển Đông.

Liệu tất cả những động thái này chỉ là một phần trong quá trình chuyển giao quyền lực, và có thể được dự kiến ​​sẽ được giải quyết trong quý đầu tiên của năm 2013? Mặc dù việc này sẽ rất hấp dẫn để theo dõi và hy vọng điều tốt đẹp nhất sẽ diễn ra, nhưng chúng ta cũng nên nhớ rằng các hành động quân sự của Trung Quốc từ lâu đã có những tác động lâu dài đến nền kinh tế.

Trung Quốc hiện đang phát triển sâu và rộng hơn với các nền kinh tế ở khu vực này. Sự liên kết đang trong giai đoạn rất phức tạp và lan rộng, với các công ty nước ngoài thiết lập nhiều hoạt động ở Trung Quốc cũng như đầu tư vào các kỹ năng nâng cấp và chuyển giao công nghệ. Trung Quốc hoan nghênh sự hội nhập với nền kinh tế toàn cầu bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở sản xuất và hậu cần, xây dựng cơ sở hạ tầng và cung cấp nguồn lao động.

Trung Quốc hiện đang muốn ASEAN trở thành đối tác kinh tế trọng điểm của họ và Nam Ninh, thủ phủ thuộc khu vực tự trị tại Nam Quảng Tây, đã được đề cử để dẫn đầu sáng kiến ​​này. Hội chợ triển lãm Trung Quốc–ASEAN diễn ra hàng năm với sự tham dự của các lãnh đạo từ Trung Quốc cũng như ASEAN đã cung cấp một địa điểm để các bên có thể thảo luận về hợp tác trong lĩnh vực thương mại, cơ sở hạ tầng, đầu tư và du lịch. Trong năm 2011, Malaysia đã thành lập Khu công nghiệp Qinzhou tại Nam Ninh. Một khu công nghiệp khác cũng sẽ sớm được phát triển ở Kuantan, tạo thành một phần trong dự án lớn hơn nhằm thiết lập mối liên kết giữa Trung Quốc và ASEAN thông qua sự phát triển ở khu vực Pan Beibu.

Việc mở rộng quan hệ kinh tế Trung Quốc–ASEAN cần được tạo điều kiện bằng cách làm sâu sắc thêm các thỏa thuận thương mại tự do giữa các nước. Hiện nay việc tự do hóa thương mại vẫn chưa đủ và cần phải làm nhiều hơn nữa để mở rộng thương mại dịch vụ, thống nhất về tiêu chuẩn y tế và tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi hơn. Những cam kết bổ sung này sẽ giúp nâng cao tính hiệu quả của Hiệp định thương mại tự do Trung Quốc–ASEAN. Vì hiện tại các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhận thức và hấp thu các cơ hội trong các thỏa thuận thương mại không được khuyến khích và Indonesia đã dấy lên những lo ngại về tác động tiêu cực có thể có từ việc tự do hóa các ngành công nghiệp trong nước. Trung Quốc và ASEAN cần phải nổ lực chặt chẽ với nhau để tạo ra một môi trường khuyến khích quan hệ kinh tế mạnh mẽ hơn.

Trung Quốc cũng nhìn thấy chính họ là một phần không thể tách rời, và nguồn gốc của sự tăng trưởng và thịnh vượng đối với nền kinh tế trong khu vực. Trong bối cảnh này, Trung Quốc nên lưu tâm rằng họ không thể tách rời kinh tế ra khỏi các chính sách chiến lược. Nhưng với việc thiếu thận trọng trong việc phô trương sức mạnh quân sự tại Biển Đông, Trung Quốc chắc chắn sẽ tạo ra một môi trường kinh tế bất ổn định. Một môi trường hòa bình và ổn định phải được nuôi dưỡng: các hoạt động kinh tế và thương mại chỉ có thể phát triển trong một môi trường tự do, không có căng thẳng.

Cách mà Trung Quốc phát triển về kinh tế cũng như sử dụng quân sự của họ sẽ có tác động lớn đối với cả khu vực. Các quốc gia khác trong khu vực đang phải đi bên cạnh một ranh giới mong manh giữa sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế và bảo vệ các lợi ích chiến lược của riêng họ. Các quyết định mà giới lãnh đạo mới của Trung Quốc đưa ra phần lớn sẽ mang tính quyết định của cả khu vực trong tương lai nhưng các quốc gia khác trong vùng châu Á cũng như các đối tác của họ cũng cần phải chơi lá bài đúng đắn.

Mahani Zainal Abidin là Giám đốc điều hành Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế tại Malaysia.

Luận lý Hiện tại sinh động: Vì một Luận lý Hình thức và Biện chứng

05/01/2013 /- Phiatruoc

Trần Đức Thảo (1993)
Nguyễn Hoài Vân dịch từ Pháp Văn

Dẫn nhập: Bạn đang có trước mặt di chúc triết học của Trần Đức Thảo. Trong những tháng cuối cùng của cuộc đời ông ở Paris, một người bạn tôi là Phan Tấn Phùng hàng ngày lui tới với ông và được giao cho đánh máy tài liệu « La Logique du Présent Vivant » này. Ít lâu sau, Trần Đức Thảo mệnh chung. Bạn Phùng cũng từ giã đời thường, xuất gia đi tu. Bạn đưa cho tôi biên khảo quý giá này. Tôi lập tức có ý định dịch ra tiếng Việt, nhưng trải qua nhiều năm, mãi đến bây giờ mới thực hiện được.

Trần Đức Thảo. Ảnh: Dong Duc Thanh

Trần Đức Thảo. Ảnh: Dong Duc Thanh

Có lẽ Trần Đức Thảo là người trí thức đúng nghĩa hiếm có của Việt Nam. Ông đã cống hiến cả cuộc đời mình cho Triết Học, mặc dù những quan tâm của ông rất ít được sự hưởng ứng của xã hội chung quanh. Người ta thường coi sự hiểu biết mênh mông của ông như « không dùng làm gì ». Ông sống trong nghèo khổ, để mãi đến cuối cuộc đời mới có điều kiện trở lại đất Pháp, nơi mà, vào một thuở xa xưa, ông từng được ngưỡng mộ như một thiên tài triết học, với tương lai đầy hứa hẹn. Tiếc thay, thời huy hoàng ấy đã quá ngắn ngủi để người ta còn nhớ đến ông, khi ông quay lại Paris, lúc tuổi già …

Triết lý của Trần Đức Thảo không dễ hiểu. Đề tài được bàn đến trong bài này càng không dễ bước vào. Người đọc không chuyên môn cần trang bị cho mình một chút kiên nhẫn, và đừng ngần ngại tra cứu thêm bên ngoài, cũng như đọc sang phần chú thích, với những tóm tắt về một số khái niệm mà Trần Đức Thảo chỉ gợi qua, mặc dù chúng không thể thiếu cho sự thông hiểu đề tài. Ngoài ra, khi cần thiết, người dịch đã mạn phép lồng vào giữa các câu văn một vài giải thích ngắn , trong ngoặc đơn, với  ký hiệu « NHV ».

Độc giả đọc được tiếng Pháp có thể tìm xem nguyên bản trên trang nhà của người dịch : http://nguyenhoaivan.com/default.asp?do=news_detail&id=707&kind=0.

Trong phần đầu của bài này, trước khi thực sự đi vào chủ đề « Hiện Tại Sinh Động », Trần Đức Thảo đã vẽ lên một phương pháp suy luận mới, kết hợp hai phạm trù vốn được coi như đối nghịch nhau của luận lý học, là luận lý hình thức : « A là A HAY không là A », và luận lý biện chứng : « A là A không là A, vì A chuyển biến ». Luận lý hình thức hoàn toàn phù hợp với suy nghĩ và cảm nhận thông thường, nên có tính cách đương nhiên. Luận lý biện chứng thì cần sự « chuyển biến » để biện minh cho nó. Chuyển biến lại đòi hỏi thời gian. Vì thế thời gian là vấn đề liền được đặt ra sau đó.

Suốt nhiều thế hệ, thời gian là vốn một trăn trở của triết học. Thánh Augustin từng nói : “Thời gian là gì ? Nếu không ai hỏi đến, thì tôi biết, nhưng nếu phải cắt nghĩa nó, thì tôi không còn biết nữa”. Nếu sống ở thế kỷ 20, Augustin sẽ được nghe Merleau Ponty trả lời : “Thời gian không phải là một đối tượng của hiểu biết, mà là một chiều kích của hiện hữu” (Phénoménologie de la Perception). Đối với Platon, thì : « thời gian là hình ảnh di động của vĩnh hằng bất động ». Ngôn ngữ thông thường cho là “thời gian trôi”, nhưng nó có “trôi” thật không, hay chỉ sự vật “trôi” trong nó ?

Trần Đức Thảo thì chọn khởi đi từ quan điểm của Aristote : “thời gian là con số của sự chuyển động từ trước đến sau”. Nhưng chỉ để lập tức vạch ra chỗ bế tắc của quan điểm này : nó không thể hình dung được sự chuyển động. Thật vậy thời gian của Aristote là một chuỗi giây lát bất động nối tiếp nhau, mỗi giây lát phân định một sự “trước – sau”. Sự chuyển động được đặt vào một chuỗi giây lát bất động như thế, liền trở thành một chuỗi vị thế, cũng tự nó bất động. Thế thì làm sao cắt nghĩa được những bước chuyển từ vị thế bất động này sang vị thế bất động khác ? Làm sao hình dung được một mũi tên đang bay, nếu nó chỉ liên tục nằm ở những vị thế bất động nối tiếp nhau ?

Lý thuyết “Hiện Tại Sinh Động” được đề ra như một giải đáp cho bài toán ấy. Trần Đức Thảo không quan niệm một Hiện Tại trừu tượng, biến vào quá khứ ngay vào lúc nó nảy sinh, tức hiện hữu để không còn hiện hữu, nằm giữa một tương lai không hiện hữu vì chưa xảy đến, và một quá khứ cũng không hiện hữu vì đã qua đi. Hiện Tại ở đây được gọi là Sinh Động, vì nó hoàn toàn gắn liền với một hiện hữu cụ thể. Người ta không phải băn khoăn về sự hiện hữu của Hiện Tại ấy. Nó hiện hữu hay không, không còn là vấn đề. Có một hiện hữu cụ thể ở trong nó, thuộc về nó, “hội nhập” nó. Quan niệm “hội nhập thời gian” được hiểu theo nghĩa ấy, vì, hội nhập “Hiện Tại sinh động” chính là hội nhập vào “dòng thời gian”.

Thời gian, được hiện hữu “hội nhập” vào, liền tự nó mang một động lực, để trong mỗi giây lát, đã sẵn có một sự lôi cuốn “sinh động”, hút nó vào giây lát tiếp theo. Đó là “áp lực hướng tiền”. Đồng thời, sự “hội nhập” của một hiện hữu vào mỗi giây lát cũng chính là sự lắng đọng của nó trong giây lát ấy. Mọi giây lát đều lắng đọng trong giây lát kế tiếp, nên trong mỗi giây lát có sự “tồn đọng” của toàn thể quá khứ. Tồn đọng và hướng tiền là cặp mâu thuẫn cơ bản của sự hội nhập thời gian.

Công trình kết hợp luận lý hình thức và luận lý biện chứng cho phép hình dung một hiện hữu bao gồm cặp mâu thuẫn ấy. Ở mỗi giây lát, một mặt nó “là” nó, với tất cả những tồn đọng của quá khứ trong nó, đồng thời không còn là nó, vì áp lực hướng tiền trong nó, bắt nó trở thành cái khác. Trở thành cái khác trong giây lát tiếp theo, nhưng lại vẫn là nó, vì các giây lát trước (với tất những gì đã “là” nó),  đều tuần tự tồn đọng trong nó. Nói cách khác, sự thống nhất của cặp mâu thuẫn “tồn đọng” và “hướng tiền” mô tả hiện trạng của hiện hữu, cho thấy “nó là nó”, tức vừa mang sự tồn đọng của quá khứ, vừa hàm chứa áp lực hướng tiền đẩy đến tương lai. Sự đối kháng giữa cặp mâu thuẫn ấy thì cho ra sự triệt tiêu của cái hiện hữu kia : nó biến đi, không còn là nó, để bước vào tương lai. Trần Đức Thảo khai triển rất kỹ vấn đề này.

Thế nhưng, hiện hữu mà ta đang nói, là gì trong cụ thể ? Nó có thể là bạn, là tôi, là một con amibe, con sứa, con mực, con mèo, một hài nhi, như Trần Đức Thảo sẽ lần lượt mô tả, đồng thời cũng có thể là một đoàn thể, một xã hội, một khu rừng, toàn bộ thiên nhiên, hay đơn thuần là một hòn sỏi. Sự chuyển biến sẽ rất chậm trong trường hợp một hòn sỏi, và nhanh hơn trong trường hợp con amibe, nhưng luận lý trên luôn áp dụng được. Đó chính là “biện chứng tổng quát” của sự “hội nhập thời gian”, đề tài của phần II.

Vấn đề bây giờ là những hiện hữu lồng trong hiện hữu khác. Như những cá nhân trong một xã hội, tạng phủ, cơ quan, trong một cơ thể, những tế bào trong tạng phủ, cơ quan ấy, v.v… Tất cả đều là những hiện hữu chuyển trôi trong dòng thời gian. Chúng đều có sự vận động riêng, đồng thời với những liên hệ phức tạp giữa chúng với nhau, và với các hiện hữu bao trùm chúng. Trong tất cả sự chuyển biến và không ngừng tiến hóa trên nhiều tầng, nhiều lớp, phân thành nhiều hệ thống, tiểu hệ thống, liên hệ chằng chịt với nhau như thế, làm sao nhận ra được Cá Tính của mỗi hiện hữu, và  quan niệm sự chuyển biến của nó trong dòng thời gian ? Đó là đề tài của phần III.

Trần Đức Thảo nhận xét là truyền thống khoa học nhìn cá thể như một tập hợp của những tương quan giữa cá thể ấy với môi trường. Người ta mô tả một con amibe với toàn bộ cấu trúc thấy được của nó trong một điều kiện nhất định của môi trường quanh nó, rồi mô tả những thay đổi của cấu trúc này, khi thêm hoặc bớt một vài yếu tố trong môi trường ấy (vài hóa chất, bạch huyết cầu, vi khuẩn khác v.v…). Vào mỗi giây lát, Amibe được coi như trung tâm của những tương tác với môi trường, hay, một cách chính xác hơn, như một giao điểm của các tương tác ấy. Chúng ta gặp lại vấn đề đã được đặt ra cho giây lát, khi nhìn giây lát như một “điểm thời gian”. Làm sao quan niệm được sự chuyển hóa của amibe trong dòng thời gian, nếu trong mỗi giây lát, cá thể này chỉ được nhìn như một điểm tự nó bất động ? Làm thế nào để nối liền con bướm với con sâu, phôi bào với trẻ nhỏ, bé sơ sinh với cụ già, vài anh dân quân nơi thượng du hẻo lánh, với một “quân đội nhân dân” hùng cường, vài ngôi làng họp nhau chống lại một lãnh chúa, với Liên bang Thụy Sĩ ngày nay, một sinh vật đơn bào với con người, một điểm cực nóng có tỷ trọng cực cao (lúc Big Bang) với vũ trụ hiện thấy. Người ta có thể mô tả vô số những trạng thái trung gian, một cách tỉ mỉ nhất có thể được, nhưng các trạng thái trung gian ấy vẫn chỉ là những “điểm”, như những tấm hình chụp mũi tên đang bay, không cho phép quan niệm được một cách thuần lý, sự vận động, chuyển hóa, từ điểm này sang điểm khác. Lý thuyết Hiện tại Sinh Động cho phép điều ấy, bằng một sự hiểu biết tổng quát, được gọi là sự “hiểu biết cảm thông”, không cần dùng đến những mô tả, những phân giải, vô cùng tận.

Để vạch rõ điều này, Trần Đức Thảo tự giới hạn trong lĩnh vực sinh học để mô tả sự chuyển hóa của một sinh vật. Một mặt nó hấp thụ những chất nuôi dưỡng từ môi trường chung quanh, để biến chúng thành chính nó, thêm vào cho cái cấu trúc mà nó đã sẵn có. Đó là chức năng tồn đọng, cho phép “nó là nó” trong dòng thời gian. Đồng thời nó đào thải ra ngoài những chất liệu vốn thuộc về nó, cũng như một sự chuyển biến, vì khi ấy “nó không còn là nó” của giây lát trước, mà trở thành một cá thể mới. Trần Đức Thảo áp dụng tổng hợp luận lý hình thức và biện chứng, tiền đề của lý thuyết Hiện Tại Sinh Động, để mô tả rất tỉ mỉ sự “chuyển động bao hàm đối kháng” này.

Ở trên, chúng ta đã đề cập đến những cá thể kết hợp nhiều cá thể khác, như cơ thể con người kết hợp  hàng chục ngàn tỷ tế bào, hay một xã hội kết hợp nhiều triệu thành viên. Phần IV của bài này khảo sát vào tận bản tính của sự kết hợp ấy.

Vẫn giữ thí dụ sinh học, Trần Đức Thảo chuyển từ sinh vật đơn bào đến những loài đa bào đơn giản như loài “Bọt Biển” và loài “Ruột Khoang” (như con sứa). Chúng ta đều biết sự kết hợp trong một sinh vật đa bào không chỉ đơn thuần là ghép nối các tế bào với nhau. Có những khía cạnh khác cần được nhận  thức như khi sinh vật ấy thu nạp những chất nuôi dưỡng từ môi trường vào trong thân thể, thì những thành tố ấy liền kết hợp với chính nó, để trở thành một phần của nó (đã nói ở trên). Bọt Biển lấy các chất nuôi dưỡng vào một cách thụ động, bằng sự thâm nhập qua cơ thể. Loài Ruột Khoang thì chủ động thu bắt các thành tố nằm giữa các “chân – tua” của nó. Qua việc thu bắt ấy, cùng với sự tống xuất các cặn bã và đẩy lùi các vật nguy hại, Trần Đức Thảo nhận ra sự hình thành của hành vi đầu tiên trong lịch sử các sinh vật. Đó là sự co thắt. Hành vi ấy có được là nhờ sự “chuyên môn hóa” của một số tế bào của hệ “thần kinh – cơ”, với hai chức năng đối nghịch kết hợp với nhau, là : trương lực và từng kỳ. Sự thống nhất của hai yếu tố đối nghịch này cho ra hiện trạng của sinh vật, tức trạng thái co thắt. Sự đối kháng giữa chúng,  triệt tiêu hiện trạng ấy, và cho ra trạng thái thư giãn. Kết hợp nhìn dưới khía cạnh này, chính là tương quan biện chứng giữa những thành phần có chức năng đối nghịch, hay nói rộng ra khác biệt nhau, trong một tổng thể.

Rồi Trần Đức Thảo nhảy một bước dài trong dòng tiến hóa để mô ta một bước nhảy khác, bước nhảy của mèo vồ chuột. Các diễn viên của vở kịch vẫn không thay đổi. Hệ thống thần kinh và cơ bắp được phân thành hai loại, trương lực và từng kỳ, vẫn đóng vai trò then chốt. Một yếu tố có vẻ mới mẻ, được phát hiện. Đó là hình ảnh của con chuột, từ trong hệ thần kinh của mèo, được mèo phóng chiếu ra ngoài thân thể nó, đến đúng vị trí mà nó sẽ vồ chuột. Đó là một hình ảnh “tiềm năng”, vì không có thật, và “mang xu hướng”, vì đã chứa sẵn trong nó, những chỉ đạo cho các tư thế rình chuột, và động tác vồ lấy chuột. TĐT cho thấy là thật ra, « hình ảnh tiềm năng mang xu hướng » đã hiện hữu từ loài Ruột Khoang, cùng với sự phân chia của hệ “thần kinh – cơ” thành hai loại trương lực và từng kỳ. Sự phóng chiếu hình ảnh này cho phép con vật tác động vào một “vùng phụ cận”, bên ngoài nó, nhưng có thể được nó “trưng dụng”.

Tóm lại, mâu thuẫn “trương lực – từng kỳ” chính là khởi điểm trên đó Trần Đức Thảo áp dụng Lý Thuyết Hiện Tại Sinh Động vào tính kết hợp của các động vật, kể từ loài Ruột Khoang, để đem lại một cái nhìn nhất quán về hành vi của chúng, cho đến hành vi có ý thức nơi con người.

Ông thêm vào nhận xét về Trò Chơi, để cho thấy một khía cạnh quan trọng của lịch sử tiến hóa. Qua  trò chơi, con vật dùng đến những sự vật trung gian để tăng cường hiệu năng tác động vào môi trường quanh mình. Với loài người, trung gian ấy sẽ trở thành dụng cụ lấy từ thiên nhiên một cách trực tiếp, trước khi được chế biến, bằng thủ công, rồi kỹ nghệ.

Đến đây, tôi xin kính cẩn nhường lời cho Trần Đức Thảo, và hẹn gặp lại bạn ở “Lời Cuối”.

—–0—–

Dàn bài :

I)            Vì một Luận lý Hình Thức và Biện Chứng

II)          Biện Chứng Luận Lý như biện chứng tổng quát của Hội Nhập Thời Gian

III)         Lý Thuyết Hiện Tại Sinh Động như Lý Thuyết của Cá Tính

III)         Lý Thuyết Hiện Tại Sinh Động như Lý Tuyết của Tính Kết Hợp

—–0—–

I) Vì một Luận lý Hình Thức và Biện Chứng

Các nhà phát minh ra biện chứng pháp đã xây dựng học thuyết của họ để chống lại Luận Lý Hình Thức. Điều này đem lại cảm tưởng rằng những nguyên lý của biện chứng pháp đi ngược lại với những thói quen của suy tư thông thường, được áp dụng trong luận lý hình thức. Kết quả là thành kiến cho rằng biện chứng pháp tối tăm, khó hiểu, khiến phương pháp lý luận này chậm phổ biến và không phát huy được đầy đủ những lợi ích mà nó có thể đem lại.

Luận Lý Hình Thức tóm tắt các quy luật của tư duy thông thường trong ba nguyên lý nền tảng :

I – Nguyên lý đồng nhất : cái gì hiện hữu, thì hiện hữu

II- Nguyên lý không mâu thuẫn : cái gì không hiện hữu, thì không hiện hữu. Hay nói cách khác : A không thể vừa là A vừa là « không A ».

III- Nguyên lý triệt tam :  một sự vật chỉ cò thể là A hoặc « không A », không có giải pháp thứ ba.

Luận Lý Biện Chứng chống lại những khẳng định có vẻ như đương nhiên ấy, nhân danh sự chuyển động và trở thành. Nó đề ra ba nguyên lý ngược lại :

I) Mọi sự vật hiện hữu, đồng thời không hiện hữu, vì nó lưu chuyển

II) Điều không hiện hữu, cũng hiện hữu, vì quá khứ không còn hiện hữu, thành tựu  trong hiện trạng của lúc này, và tương lai chưa hiện hữu, đã bắt đầu hiện lên,  cũng từ cái hiện trạng lúc này ấy.

III) Mọi sự vật đều là chính nó và là cái khác, vì nó tự biểu hiện như một cái khác trong sự xuất hiện của tương lai đã bắt đầu trong lúc này.

Nói tóm lại, Luận Lý Hình Thức trung thành với tri giác thông thường, coi giây lát hiện tại như tự nó bất động, khiến cho sự chuyển động chỉ có thể thực hiện được qua những bước chuyển từ một giây lát sang giây lát kế tiếp. Điều này cho ra những nghịch lý như Achille không thể qua mặt con rùa, hay mũi tên bay, nhưng bất động trong mỗi giây lát. Thời điểm Achille qua mặt con rùa có thể được tính ra một cách dễ dàng, cũng như đường bay của mũi tên. Nhưng (với cách nhìn giây lát  tự nó bất động – NHV) người ta khó quan niệm được những chuyển động ấy như đang diễn ra.

Lý do vì các nguyên lý của Luận Lý Hình Thức giả định sự vật tự nó bất động trong mỗi giây lát, biệt lập với sự chuyển động từ giây lát này sang giây lát sau đó. Vì thế, khi thời gian chỉ là một chuỗi giây lát tự nó bất động, làm sao hình dung được các sự bất động ấy có thể chuyển lưu từ cái này sang cái khác ?

Trước quan niệm siêu hình rất khó hiểu ấy về sự vật, trong đó sự chuyển động của chúng bị coi như một chuỗi trạng thái bất động, biện chứng pháp trả lời rằng một giây lát có thể chuyển sang giây lát sau đó, vì sự vận động và khuynh hướng chuyển biến đã có sẵn trong nó. Hiện tại chính là sự chuyển biến từ quá khứ đến tương lai, một sự chuyển biến liên tục, trong mỗi giây lát, với quá khứ lắng đọng trong nó, và với tương lai nẩy mầm từ nó. Quá khứ gặp gỡ tương lai trong hiện tại, như giây lát của sự chuyển biến, và sự chuyển biến của giây lát.

Chính trong động lực của sự trở thành nơi mỗi giây lát, mà người ta có thể diễn đạt những nguyên lý truyền thống của biện chứng pháp :

« Mọi sự vật vừa hiện hữu, vừa không hiện hữu – hay : hiện hữu là hư vô. Điều không hiện hữu, lại hiện hữu – hay : hư vô là hiện hữu. Mọi sự vật đều là chính nó và là cái khác ».

Điều quan trọng cần vạch rõ là ý nghĩa thực sự của những công thức có bề ngoài nghịch lý này. Không những chúng không xóa bỏ, mà ngược lại, dựa trên những nguyên lý của Luận Lý Hình Thức như nền tảng xuất phát ra chúng.

Thật vậy, nói : « điều gì hiện hữu, thì hiện hữu », chính là vì giây phút hiện tại thực sự hiện hữu, trong lúc này. Nhưng khi người ta thêm rằng : cùng lúc,  nó biến mất, thì điều ấy mang ý nghĩa : « nó hiện hữu, và không hiện hữu ». Hai phát biểu này không mâu thuẫn, mà trong căn bản, bổ túc lẫn nhau, vì : « giây phút hiện tại hiện hữu, đồng thời cũng biến mất ».

Tuy nhiên sự biến mất ấy không phải là « không hiện hữu », mà là chuyển động từ hiện hữu sang không hiện hữu, trong ý nghĩa « không còn hiện hữu ». Để nhấn mạnh sự chuyển biến bên trong  hiện hữu như thế, cần nói rõ là :

1) Cái gì hiện hữu, thì hiện hữu

Đồng thời, nó hiện hữu và không hiện hữu, với ý nghĩa nó không còn hiện hữu

Công thức của Heraclite, được Hegel chữa lại : « Mọi sự vật hiện hữu và cũng không hiện hữu », quá ngắn gọn, đưa đến một sự ngộ nhận đáng tiếc, vì nó gợi lên ý tưởng rằng sự hiện hữu tự nó không hiện hữu, như một thách thức đối với lý lẽ thông thường.

Một thi sĩ, trong ý thơ lai láng, có thể kêu lên : « giây phút tôi đang tự tình, đã biến tan !». Nhưng triết gia cần phải chính xác hơn.

Sự hiện hữu của giây lát là một sự thực : « cái gì hiện hữu, thì hiện hữu ». Đồng thời nó hàm chứa trong hiện hữu của nó sự chuyển động đưa nó đến tan biến, tức là : « đồng thời nó hiện hữu và không hiện hữu, trong ý nghĩa nó không còn hiện hữu ». Tức là không phải nó biến mất, như công thức mơ hồ của Heraclite và Hegel có thể gợi ý như một sự phóng đại đầy thi vị.

Vì thế, cần phân biệt sự hiện hữu với cái giây lát làm nền tảng cho nó : « nó hiện hữu », nhưng vì sự chuyển động sang tan biến thuộc về bản chất của nó, cho nên : « đồng thời nó hiện hữu và không hiện hữu, trong ý nghĩa nó không còn hiện hữu ».

Tương tự như vậy, « hư vô như hiện hữu » được Hegel trình bày trong đoạn đầu của tác phẩm Luận Lý Học của ông, mang ý nghĩa : cái quá khứ không còn nữa, nhưng trôi đến và thành tựu trong những lắng đọng vào giây lát hiện tại. Nơi giây lát hiện tại, chính trong sự chuyển động đưa nó đến tan biến (hư vô), mà cái quá khứ ấy vẫn còn hiện hữu.

Cũng như thế, tương lai, tuy chưa hiện hữu (hư vô), nhưng hiện lên trong hiện tại như một điều sắp xảy ra, như thể nó đã hiện hữu.

Sự vận động bao gồm hai mặt ấy của Hiện Tại vừa dẫn nó đến tan biến trong khi nó vẫn còn hiện hữu, đồng thời đem nó tiếp cận với tương lai sắp hiện lên đến trong nó, như thể tương lai ấy đã hiện hữu. Hai động lực này, một mặt biến mất và mặt khác hiện lên trong giây lát hiện tại, khiến hiện tại trở thành giây lát của sự chuyển biến, và sự chuyển biến của giây lát. Hai sắc thái : vẫn còn hiện hữu, và sẽ hiện hữu, của giây lát hiện tại, không phản lại nguyên lý « không mâu thuẫn » của luận lý hình thức, vì nguyên lý này chỉ áp dụng trong cái giây lát được chỉ định một cách trừu tượng, trên căn bản tự nó bất động.

Như thế, nguyên lý thứ hai của Luận Lý Biện Chứng cần khởi đi từ nguyên lý thứ hai của Luận Lý Hình Thức, tức nguyên lý « không mâu thuẫn ». Nguyên lý này, cũng như toàn thể Luận Lý Hình Thức, luôn giữ nguyên giá trị trong  mọi suy tư thuần lý, kể cả trong biện chứng pháp :

2) Điều gì không hiện hữu thì không hiện hữu. A không thể vừa là A, vừa là không A. Nhưng trong thực tế cụ thể của giây lát hiện tại, như giây lát của chuyển biến và chuyển biến của giây lát, sự vận động bao gồm hai mặt, hiện lên và tan biến, thể hiện qua hai sắc thái : đưa đến tan biến và đưa đến xuất hiện. Nghĩa là, cái không còn hiện hữu nữa, vẫn hiện hữu, vì sự lắng đọng của những thành tố của nó trong giây lát hiện tại. Và cái chưa hiện hữu, đã bắt đầu hiện hữu, bởi sự xuất hiện của nó, cũng trong giây lát hiện tại.

Sau hết, nguyên lý « một sự vật chỉ có thể là A hoặc không A, không có giải pháp thứ ba » được xác nhận nếu giây lát được quan niệm một cách trừu tượng như bất động. Nhưng đồng thời cũng phải thêm rằng, sự vật ấy, lồng trong cùng một giây lát, khi được nhìn như giây lát của chuyển biến, và chuyển biến của giây lát, thì lại « vừa là chính nó, vừa là cái khác ».

3) Một sự vật là A, hay là không A, không có giải pháp thứ ba, trong cái giây lát được quan niệm trong nền tảng của nó, một cách trừu tượng,  như bất động.

Đồng thời, cũng sự vật ấy, trong cùng một giây lát, nhưng được nhìn như giây lát của chuyển biến, và chuyển biến của giây lát, thì lại vừa là chính nó, vừa là cái khác.

Tóm lại, những nguyên lý của Luận Lý Biện Chứng, kế thừa từ Heraclite và Hegel dưới một dạng  thức khó hiểu, có thể được nắm bắt dễ dàng hơn nếu sử dụng một cách nói luôn lấy những nguyên lý của Luận Lý Hình Thức làm tiền đề.

Trên căn bản của một Luận Lý vừa Hình Thức vừa Biện Chứng như thế, chúng ta có thể quan niệm thế giới như một tập hợp vô tận của những hình thái lịch sử.

Một hình thái lịch sử là một tập hợp trong thời gian và không gian của những thực thể tương tác với nhau trong vô số giây lát không ngừng chuyển động và tự trở thành. Các giây lát ấy cũng đồng thời tương liên qua những giai tầng bao gồm những hệ thống chủ đạo, và những yếu tố hay tiểu hệ thống, cùng tham gia vào một sự tiến hóa được phân phối và cấu thành trong những giai tầng vừa nói, tùy theo các tương quan biện chứng bên trong và bên ngoài chúng.

Sự khảo sát một hình thái lịch sử được khai triển trước tiên trong phạm vi của Luận Lý Hình Thức bằng cách truy tìm những quy luật của sự chuyển biến từ một giây lát sang giây lát kế tiếp. Kế đến, kể từ một giới hạn nào đó, như khi bước sang các lãnh vực khoa học xã hội và nhân văn, thì sự khảo sát buộc phải vượt qua phạm vi của Luận Lý Hình Thức, để tiến vào lãnh vực tương quan biện chứng, nhưng vẫn dựa trên hệ thống quy luật đã được công nhận (bởi Luận Lý Hình Thức – NHV).

Việc khảo sát các quy luật biện chứng dựa trên Luận Lý Hình Thức và Biện Chứng, nhắm vào hai mặt của sự chuyển biến tự thân của mỗi giây lát trong hiện tại, với quá khứ lắng đọng trong nó, và áp lực đẩy nó vào tương lai, khiến giây lát hiện tại trở thành giây lát kế tiếp.

Hệ thống quy luật (của Luận Lý Hình Thức – NHV) cho ra trí năng, để dẫn dắt các ứng dụng kỹ thuật trong thế giới khách quan.

Vạch rõ các quy luật biện chứng trong các hình thái chuyển biến song phương, thì mang một vai trò chỉ đạo cho việc khảo cứu – trong những trường hợp nằm ngoài ranh giới của khoa học khách quan (tức khi bước sang khoa học xã hội, nhân văn – NHV) – và đồng thời cho phép hiểu biết thế giới khách quan cũng như chủ quan một cách thuần lý, mở đường cho việc giải đáp những vấn đề của liên hệ, của đạo đức và thẩm mỹ.

17-9-1992

Còn tiếp…

Ân nghĩa Trung Cộng?

Ngô Nhân Dụng -Nguoiviet

Dư luận công dân mạng ở Việt Nam đang công kích những ý kiến sư phụ Trung Cộng với một thái độ rất khiếp nhược của một viên đại tá tại Học Viện Chính Trị thuộc Bộ Quốc Phòng.

Trong một bài lên lớp cho các cán bộ giáo dục, ông đại tá này than phiền rằng khi bàn đến vấn đề biển Ðông, dư luận người Việt, tức là đồng bào của ông ta, cứ “chĩa mũi dùi vào một phía”, cứ tập trung vào mỗi ông Trung Quốc! Ông ta nói: “Nếu chúng ta chỉ tập trung vào mỗi một mình Trung Quốc là hoàn toàn chưa đúng, chưa chính xác mà phải đặt trong mối quan hệ tổng thể Việt Nam với Trung Quốc, Việt Nam với Mỹ, và Việt Nam với các nước ASEAN.”

Nghe bài giảng này, nếu không phải là người Việt Nam thì phải bật cười. Nhưng là người Việt Nam thì phải khóc. Khóc, bởi vì những ý tưởng ngô nghê này cho thấy một người Việt đã lên tới chức đại tá mà còn tối tăm đến như thế!

Ở vùng biển Ðông của nước ta, khi “đặt trong mối quan hệ tổng thể Việt Nam với Trung Quốc, Việt Nam với Mỹ, và Việt Nam với các nước ASEAN” thì phải hỏi: Quốc gia nào chủ mưu gây ra những khó khăn cho nước mình? Quốc gia nào đã đem quân tới đánh, chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974? Có phải Mỹ hay một nước Ðông Nam Á nào không? Bọn cướp biển nào đã tấn công các tàu đánh cá của người Việt? Bọn giặc nào đã bắn giết, đánh, cướp của và bắt cóc ngư dân Việt Nam đòi tiền chuộc? Tàu thuyền nước nào đã vào hải phận nước ta đâm thẳng vào các con thuyền đánh cá của đồng bào Việt Nam? Ai cho người đi cắt dây cáp những con tàu thăm dò đáy biển của Petro Việt Nam? Có phải người Mỹ, người Philippines, người Malaysia hay từ một nước Ðông Nam Á nào không?

Chỉ cần nhìn vào sự thật để tìm ra câu trả lời đúng nhất, chính xác nhất thì chỉ thấy có một thủ phạm! Là chính quyền công! Nhắm mắt không nhìn sự thật đó, chứng tỏ viên đại tá này chỉ ba hoa để tung hỏa mù, cốt đánh lừa tất cả đồng bào, nhằm che đậy tội ác của Cộng Sản Trung Quốc. Ðó là một thủ đoạn dối trá đang được đảng Cộng Sản Việt Nam sử dụng để che đậy thái độ khiếp nhược của họ trong lúc lòng dân sôi sục trước mối nhục ngàn năm đang khơi dậy.

Không những che đậy, bào chữa cho thủ phạm gây ra những tội ác đối với đồng bào, ông đại tá còn lên giọng dậy dỗ rằng: “Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa.”

Ơn với nghĩa gì ở đây? Ông ta bèn nhắc nhở trong thời gian Cộng Sản Việt Nam đánh miền Nam, “Nhân dân Trung Quốc, nhà nước Trung Quốc đã từng nhường cơm xẻ áo dành cho chúng ta từ hạt gạo, từ khẩu súng, từ đôi dép…”

Từ năm 1954 cả miền Bắc Việt Nam sống nhờ viện trợ kinh tế và quân sự của Trung Cộng; hơn 300 ngàn lính Trung Cộng đã sang nước ta. Ông Dương Danh Dy, cựu đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh, cũng từng kể: “Những viện trợ to lớn của nhân dân Trung Quốc anh em cho chúng ta.” Với các chi tiết: “Từ vũ khí đạn dược đến gạo ăn vải mặc, từ ô tô, tàu thủy, máy bay đến chiếc xe đạp, máy khâu, từ gói mì chính đến cái kim sợi chỉ… không sao kể hết.” Nếu không có những “viện trợ to lớn” đó thì bây giờ chắc vẫn còn một chế độ Việt Nam Cộng Hòa, cũng như vẫn còn Ðại Hàn Dân Quốc. Trong 20 năm chiến tranh, người dân miền Bắc hàng ngày được những cái loa (Made in China) oang oang nhắc nhở rằng Mao chủ tịch là bậc thầy vĩ đại, yêu thương dân Việt Nam như con cái. Khi quân Trung Cộng chiếm Hoàng Sa thì họ giải thích rằng đó là đàn anh chiếm để giữ hộ, mai mốt sẽ trả lại! Toàn dân đã bị lừa gạt, không ai dám nói ra sự thật. Một nhạc sĩ sống ở miền Nam mới dám đặt bài hát mở đầu bằng lời nhắc nhở: “Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu;” nếu ai ở miền Bắc nói đến chuyện đó chắc đã được đưa đi Cổng Trời.

Nhưng tại sao Trung Cộng đem cho những “viện trợ to lớn từ hạt gạo, từ khẩu súng, từ ô tô, tàu thủy, máy bay đến chiếc xe đạp, từ gói mì chính đến cái kim sợi chỉ” cho người Việt Nam giết lẫn nhau như vậy?

Câu trả lời đã được ông Lê Duẩn nói ra trong một phút thành thật: “Ta đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc…”

Tất nhiên, cả Trung Cộng lẫn Nga Xô đều biết như vậy. Cho nên phải “viện trợ to lớn” cho những người Việt đi đánh giết đồng bào của mình! Nhưng Lê Duẩn không phải là người đầu tiên khởi xướng việc “đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc”.

Năm 1963, trong một cuộc gặp gỡ với các đại biểu đảng Lao Ðộng Việt Nam ở Vũ Hán, Mao Trạch Ðông đã hứa hẹn: “Tôi sẽ làm chủ tịch của 500 triệu bần nông đưa quân xuống Ðông Nam Châu Á.”

Tháng Chín năm đó, Trung Cộng đã triệu tập Hồ Chí Minh đến gặp Chu Ân Lai và Aidit, lãnh tụ đảng Cộng Sản Indonesia, lúc đo có hơn 3 triệu đảng viên, tại miền Nam Trung Quốc; để bày kế hoạch phối hợp giữa hai đảng Cộng Sản đàn em. Sau đó, đảng Cộng Sản Indonesia bành trướng hoạt động, đảng Cộng Sản Việt Nam thúc đẩy cuộc chiến chiếm miền Nam lên mức độ khốc liệt hơn, là nguyên nhân khiến Mỹ phải đổ quân vào miền Nam Việt Nam.

Năm 1965, Mao Trạch Ðông đã nói với Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Quốc một câu được dẫn ra trong một cuốn sách của nhà xuất bản Sự Thật: “Chúng ta phải giành cho được Ðông Nam Châu Á, bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Ðiện, Malaysia và Singapore… Một vùng như Ðông Nam Châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản… xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy. Sau khi giành được Ðông Nam Châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô-Ðông Âu, gió Ðông sẽ thổi bạt gió Tây…” Mao đã thất bại ở Indonesia, vì Tháng Chín năm đó, Aidit cùng các cố vấn Trung Cộng đặt kế hoạch bắt cóc và ám sát các tướng lãnh Indonesia để Tổng Thống Sukarno sẽ nắm quân đội và đưa đảng Cộng Sản vào chính quyền. Âm mưu này bị lộ, Tướng Suharto không nằm trong danh sách bị bắt giết vì không có địa vị quan trọng; ông chờ cho một số tướng lãnh khác bị bắt rồi mới ra tay, âm mưu đảo chính thất bại khiến tới nửa triệu đảng viên Cộng Sản và cả dân lành cũng bị sát hại vì bị nghi là thân cộng. Trước khi Cộng Sản Indonesia hành động, họ đã có dịp tiếp đón phái đoàn Cộng Sản Việt Nam do Lê Duẩn cầm đầu, ăn tiệc với nhau chờ giờ phút chiến thắng.

Mao thất bại ở Indonesia nhưng thành công tại Việt Nam. Khi Lê Duẩn nói, “Ta đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc…” thì chính ông ta đang thực hiện mục tiêu “giành cho được Ðông Nam Châu Á” của Mao Trạch Ðông. Năm 1970, ông Lê Duẩn đã nói với Mao Trạch Ðông rằng: “Tại sao chúng tôi giữ lập trường bền bỉ chiến đấu cho một cuộc chiến kéo dài ở miền Nam? Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chủ Tịch… Nếu các đồng chí nhiệt tâm giúp đỡ thì chúng tôi có thể hy sinh 2, 3 triệu người… Miền Nam chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản!”

Ðến khi “tinh thần quốc tế vô sản” giữa Bắc Kinh và Mát Cơ Va bị vỡ, bị Trung Cộng “cho một bài học” vì dại dột bám đuôi Liên Xô, năm 1979 Lê Duẩn mới sai nhà xuất bản Sự Thật in cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua”. Ở trang 73 họ viết thế này: “Những người cầm quyền Trung Quốc, xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ có giúp Việt Nam khi nhân dân Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, nhưng cũng xuất phát từ lợi ích dân tộc… họ chỉ muốn Việt Nam yếu, lệ thuộc Trung Quốc… Họ lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam để buôn bán với Mỹ…”

Người Việt Nam bây giờ ai cũng hiểu câu “Họ lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam để buôn bán với Mỹ”. Nhờ bán hàng cho Mỹ và các nước Tây phương, kinh tế Trung Quốc đã sống lại sau khi bị Mao làm cho kiệt quệ cho tới khi ông ta chết. Từ năm 1979 đến nay kinh tế Trung Quốc tăng trưởng trung bình 9% mỗi năm, nhờ đảng biết bóc lột dân lao động làm hàng hóa rẻ tiền bán cho các nước khác. Những người Cộng Sản cầm quyền ở Trung Quốc được chia phần hưởng thụ với các nhà tư bản đỏ. Hiện nay ở Thượng Hải, số đại gia với tài sản đầu tư trên 30 triệu Mỹ kim là 1,318 người trong khi Los Angeles chỉ có 950 người.

Nhờ buôn bán với Mỹ, nên các xí nghiệp Trung Quốc phát đạt; nhưng khi hàng hóa Trung Quốc thừa mứa không đổ đi đâu được, họ có thể vận chuyển qua đường lậu sang tràn ngập thị trường Việt Nam, giết chết các nhà sản xuất người Việt mới chập chững vào nghề! Không những đổ hàng lậu, họ còn cho xâm nhập cả các công nhân lậu vào cướp việc làm của người lao động Việt Nam nữa.

Trước cảnh “lấn sân” đó, chính quyền Cộng Sản Việt Nam không dám tích cực kiểm soát biên giới để ngăn chặn hàng lậu! Cũng không dám có hành động phản kháng khi Trung Cộng lấn áp từ các ngư phủ đến các tàu thăm dò đáy biển Việt Nam. Công trình “Ta đánh miền Nam là đánh cho Trung Quốc” đưa tới những hậu quả nhãn tiền đó. Nói đến ân nghĩa của Trung Cộng là sỉ nhục dân tộc Việt Nam, là xúc phạm vong hồn hai triệu người Việt Nam đã chết trong cuộc chiến tranh “đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc!”

Ði tìm một biểu tượng cho Việt Nam thời Cộng Sản

Tạp ghi Huy Phương – Nguoiviet

Hễ nói đến chiếc lá phong màu đỏ Mùa Thu là người ta nghĩ đến quốc kỳ Canada, hay nói đến con Kangaroo thì không ai còn lạ đó là biểu tượng của nước Úc. Rồi hoa anh đào phải chăng là hình ảnh của nước Nhật, Vạn Lý Trường Thành là hình ảnh của Trung Hoa, nhìn tháp Eiffel người ta nghĩ đến nước Pháp. Còn nói đến cái búa, cái liềm màu đỏ máu thì khó quên Liên Xô cũ và các chư hầu của nó. Còn bao nhiêu biểu tượng trên thế giới này đã gắn liền với tên tuổi của những đất nước ấy.

Người chồng Kim Choong-Hwan, người Nam Hàn, một tài xế xe truck 40 tuổi, và cô vợ Ngô Ngọc Quý Hồng, người Việt Nam, 21 tuổi, tại ngôi nhà của họ ở Osan, cách Seoul 55 cây số về phía Nam. (Hình: JUNG YEON-JE/AFP/Getty Images)

Từ lâu đã có nhiều người muốn đi tìm một hình ảnh nào đó có thể làm biểu tượng cho đất nước Việt Nam thời Cộng Sản độc đảng. Làm sao để khi nhìn thấy nó thì người ta nghĩ đến VNCS, mà nói đến VNCS thì phải liên tưởng ngay đến “cái đó”.

Ði tìm cái gì quý giá, độc đáo nhất của Việt Nam thường đem ra phơi bày ở nước ngoài, thì ra đó là món “duyên dáng Việt Nam,” như lãnh tụ Cộng Sản đã từng hãnh diện khoe “con gái Việt Nam đẹp lắm!” Vậy nói đến đất nước ấy bây giờ, người ta không thể không nghĩ đến món “đặc sản đàn bà”.

Các viên chức ngành du lịch Việt nam đang cãi nhau về chuyện quảng cáo cho du lịch, ai cũng than không có ngân quỹ để quảng cáo cho ngành du lịch. Ông Nguyễn Mạnh Cường, phó tổng cục trưởng du lịch Việt Nam, cho rằng cần có tiền thêm để quảng cáo, cục này đã bỏ $50,000 chỉ để làm một đoạn phim chiếu ở Pháp. Ông Vũ Thế Bình, một cựu nhân viên, cũng của cục này, nhắc lại là đạo diễn Việt Nam quá kém, nên đã bỏ ra $50,000 thuê Trung Quốc làm một đoạn phim 10 phút chiếu tận Bắc Kinh. Ông Nguyễn Ðức Quỳnh ở Ðà Nẵng thì sang tận Singapore bỏ $60,000 thuê làm mấy đoạn phim ngắn. Một hình ảnh trong các đoạn phim này là hai cô thiếu nữ Việt Nam mặc “bikini” tên bãi biển, món “câu khách” cổ điển.

Trong khi người ta than phiền thiếu tiền làm quảng cáo thì thực tế là theo tài liệu của Tổng Cục Du Lịch, chỉ trong 9 tháng đầu của năm 2012 Việt Nam đã có 4.85 triệu lượt khách ngoại quốc, nhiều nhất là khách Nam Hàn, tăng 53%, khách Singapore, tăng 49%, Nhật 32%, Mỹ 26%, Úc 20%… Chỉ nói đến khách quốc tế, mục tiêu của thành phố Hà Nội trong năm 2013 là sẽ thu hút 2.25 triệu lượt khách, năm 2015 sẽ là từ 7 đến 8 triệu, năm 2020 là từ 11 đến 12 triệu. Doanh thu từ du lịch sẽ đạt $18 đến $19 tỷ năm 2020.

Một đất nước trộm cắp hoành hành, cướp giật như rươi, ăn mày và kẻ bán hàng rong bám sát khách như đĩa đeo, giao thông thiếu an toàn, chỉ có 91 triệu dân (2012) mà mỗi năm có đến 4, 5 triệu lượt khách ngoại quốc vào, kể cũng lạ. Thực sự là chưa nghe ai tố cáo Việt Nam có sex-tour, nhưng đến Việt Nam tìm một cô gái “tàu nhanh” hay qua đêm còn dễ hơn đi tìm một ổ bánh mì thịt ngoài hè phố.

Chuyện bán dâm bây giờ không còn là chuyện gì bí mật, nhạy cảm phải tránh né nữa. Nó “lền khênh” như những chiếc xe gắn máy trên đường trong giờ tan sở. Ngày xưa chỉ có giới thất học, nghèo hèn mới sa cơ vào nhà thổ, giấu biệt gia thế để khỏi nhục nhã đến tông môn, họ hàng. Ngày nay, người ta đánh giá con người qua bề ngoài, đua nhau xe đẹp, nhà sang, điện thoại xịn, áo quần, mỹ phẩm cao cấp, nên đồng loạt đàn bà vào trận. Báo chí Việt Nam đã nhiều lần nêu đích danh những diễn viên điện ảnh, người mẫu, ca sĩ, hoa hậu, sinh viên trường múa, không có “tước hiệu” gì thì cũng là sinh viên, học sinh.

Một xã hội chỉ nhắm vào việc khai thác thân xác đàn bà để kiếm tiền, càng có nhiều cuộc thi hoa hậu bao nhiêu, xã hội càng có nhiều ứng viên, tước hiệu để hành nghề chừng ấy.

Ðó là hình ảnh của những thành phố lớn ở Việt Nam.

Ra ngoại ô, “trên những nẻo đường Việt Nam, suốt từ Nam Quan cho tới Cà Mau…” có tắm khoáng ở Ba Vì, cà phê đèn mờ ở Mạo khê, Quảng Ninh, hớt tóc thanh nữ ở Saigon, mãi dâm trá hình hay mãi dâm công khai thì không chừa một thành phố nào, từ đất Cảng (Hải Phòng) cho đến đất Mũi (Cà Mau). Những vùng đất ruộng đồng, sông rạch thanh bình, chơn chất ngày trước đã “thay da đổi thịt” bằng võng ôm, chõng ôm, tắm ôm và đàn bà trở thành một thứ mua vui ở đâu cũng có. Ðất nước này đã từng rêu rao “ra ngõ gặp anh hùng,” không biết có đúng không, chứ bây giờ ở Việt Nam, ra đường, chắc chắn đi đâu cũng được gặp “gái mời!”

Ðã bao nhiêu gia đình Việt kiều Mỹ, Úc, Canada… đổ vỡ vì đòn chiêu dụ của gái Việt Nam, nhiều người dở khóc dở cười vì muốn trở về Việt Nam cưới vợ.

Ðàn bà Việt Nam giá rẻ, đó là nhận xét của đám đàn ông Trung Cộng sang Việt Nam kiếm vợ. Theo bài báo “Tại sao trai Trung Cộng ngày càng thích con gái Việt Nam?” đăng trên tờ Tân Hoa Xã, chỉ cần có vài trăm triệu, nam giới nước này đã có thể lấy được cô vợ Việt xinh tương đối, mà với số tiền này, chưa chắc đã qua được cửa nhà những cô nàng Trung Cộng trung bình. Theo đó, bài báo “khen” con gái Việt với vô số mỹ từ: Có thân hình chuẩn và xinh đẹp, mùi thơm, da trắng, chân thực, ít chưng diện, đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên…

Con gái Việt Nam từ thời mở cửa, đã lên cơn sốt bỏ quê hương chân lấm tay bùn đi lấy chồng ngoại quốc. Không chỉ các cô gái mới lớn, giấc mơ đổi đời lấy chồng ngoại đã đành, nhiều bậc cha mẹ sốt ruột, tìm cách chạy tiền xã, ấp để sửa lại khai sinh, hộ khẩu, chứng minh nhân dân, nâng tuổi con gái cho đủ 18 để kịp ra đi lấy chồng Nam Hàn, Ðài Loan hay Trung Cộng như ngày xưa thiếu niên khai gian tuổi để tòng quân giết giặc! Hiện tượng này đã khiến xảy ra những buổi coi mắt, kén vợ mà số ứng viên lên đến 161 người, vào ngày 3 tháng 11, 2008 tại Sài Gòn, một con số không nhỏ, chủ yếu là từ Ðồng Bằng Sông Cửu Long.

Theo số liệu của Nam Hàn số cô dâu Việt là 7,636. Từ năm 2003, chúng ta đã có 11,358 cô gái đi lấy chồng Ðài Loan. Theo thống kê của Bộ Công An con số các cô gái Việt sang Trung Cộng lấy chồng không đăng ký kết hôn, tỉnh Lạng Sơn có khoảng 4,800 người, Hải Dương 4,600, tỉnh Thái Bình 4,200… và họ đã đưa hàng trăm con lai về Việt Nam.

Nhưng sự thật con số còn lớn hơn nhiều. Trong thời gian từ năm 1995 đến 2003, tính chung cả nước đã có 60,000 thiếu nữ đã được cho phép xuất ngoại lấy chồng. Mặt khác, theo con số được đưa ra cách đây vài năm ông Gow Wei Chiou, đại diện Ðài Loan ở Hà Nội, đã xác nhận có 100,000 cô gái Việt bị bán hay được gả hợp pháp sang nước ông. Con số do Hội Liên Hiệp Phụ Nữ đưa ra, cũng có khoảng 28,000 cô gái đi lấy chồng Nam Hàn.

Việt Nam từ thời lập quốc đến giờ chưa bao giờ phụ nữ bị hạ phẩm giá như một món hàng rao bán rẻ tiền như ngày hôm nay và nhà hàng “Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” đang quảng cáo món “đặc sản” đàn bà tận tình.

Nếu muốn đi tìm một biểu tượng cho cái đất nước thời đốn mạt này, có lẽ không gì hơn là hình ảnh người đàn bà khốn khổ Việt Nam. Một chiếc lá tượng trưng cho thân thể đàn bà, chiếc lá nho có vẻ phương Tây, thì ta dùng hình ảnh chiếc lá đa cho đượm màu dân tộc vậy!


Xin mời đọc:

*Những Người Thua Trận

Tuyển tập tạp ghi của Huy Phương

*Chúc Thư Của Một Người Lính Chết Già

Thơ Huy Phương

Xin liên lạc: xbnamviet@gmail.com

Kiến nghị thu hồi gần 30.000 tỷ đồng, hàng nghìn ha đất

VnEconomy

► Qua thanh tra đã kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước 29.860 tỷ đồng, 1.533 ha đất…

Kiến nghị thu hồi gần 30.000 tỷ đồng, hàng nghìn ha đất

Trong năm nay, Thanh tra Chính phủ sẽ đẩy mạnh thanh tra công tác quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai, giao đất, giao rừng; quản lý, khai thác tài nguyên tại các địa phương – Ảnh minh họa.

Thanh tra Chính phủ vừa có báo cáo về công tác thanh tra năm 2012 và định hướng kế hoạch năm 2013.

Theo đó, trong năm 2012, toàn ngành đã triển khai 9.685 cuộc thanh tra hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước, quản lý kinh tế xã hội và 168.702 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành của 527.544 tổ chức, cá nhân.

Qua thanh tra đã kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước 29.860 tỷ đồng, 1.533 ha đất; xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 13.085 tỷ đồng; xuất toán, loại khỏi giá trị quyết toán và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý 31.130 tỷ đồng (đã xử lý 21.549 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 69,22%); kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính đối với 1.033 tập thể, 2.212 cá nhân; chuyển cơ quan điều tra xử lý 59 vụ việc, 104 người.

Cũng trong năm qua, ngành thanh tra đã phát hiện 89 vụ, 107 người có hành vi liên quan đến tham nhũng với số tài sản là 104.592 triệu đồng; kiến nghị thu hồi 104.592 triệu đồng; kiến nghị xử lý hành chính đối với 2 tập thể, 56 cá nhân, chuyển cơ quan điều tra hình sự 24 vụ, 42 người, xử lý trách nhiệm 20 người đứng đầu.

Theo kế hoạch công tác năm 2013, Thanh tra Chính phủ cho biết sẽ tập trung đẩy mạnh thanh tra trách nhiệm của các bộ, ngành trong việc quản lý, khai khác, và chế biến khoáng sản; quản lý hoạt động tạm nhập, tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển khẩu; quản lý thị trường chứng khoán, thị trường vàng; thực hiện chính sách pháp luật trong các lĩnh vực ngân hàng.

Ngoài ra, cơ quan này cũng sẽ chú trọng thanh tra chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm; chương trình xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ phát triển kinh tế nông thôn, miền núi; thanh tra việc thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ, ngành quản lý….

Đặc biệt, trong năm nay, Thanh tra Chính phủ sẽ tăng cường thanh tra trách nhiệm về quản lý nhà nước, quản lý kinh tế xã hội của các sở, ban, ngành cấp tỉnh và UBND các quận, huyện, thành phố, thị xã, tập trung vào các nội dung như: công tác quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai, giao đất, giao rừng; quản lý, khai thác tài nguyên, khoáng sản; quản lý đầu tư xây dựng; tài chính ngân sách, đầu tư mua sắm công…

Làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình Cần hiểu đúng nội dung về Đảng lãnh đạo trong Dự thảo Hiến pháp

QĐND - Ngay sau khi các phương tiện thông tin đại chúng của nước ta đồng loạt đăng tải toàn văn Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để lấy ý kiến toàn dân vào văn kiện đặc biệt quan trọng này, nhiều trang mạng ở hải ngoại và các phần tử phản động lại tiếp tục xuyên tạc nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội được quy định tại Điều 4 của Hiến pháp.
Một quy định tất yếu, phù hợp với yêu cầu lịch sử

Để “tấn công” vào Điều 4, một số ý kiến lập luận rằng, Hiến pháp các năm 1946 và 1959 không có điều nào quy định Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, nhưng Đảng “vẫn lãnh đạo nhân dân đánh thắng thực dân đế quốc xâm lược và hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thì cũng không nhất thiết phải xác nhận lại vai trò lãnh đạo của Đảng như trong Hiến pháp hiện tại”(!).
Lập luận này là lập lờ, thiếu toàn diện, không có quan điểm lịch sử cụ thể. Sở dĩ Hiến pháp năm 1946 không có quy định vai trò lãnh đạo của Đảng, vì trước đó ngày 11-11-1945, do tình thế đặc biệt của cách mạng, Đảng ta đã ra tuyên bố tự giải tán, nhưng sự thật là rút lui vào hoạt động bí mật, giữ vững vai trò lãnh đạo. Trong thập niên 50 của thế kỷ XX, đế quốc Mỹ nhảy vào can thiệp miền Nam, đất nước ta bị chia cắt, Đảng bộ miền Nam cũng chưa ra hoạt động công khai vì bộ luật 10-59 của ngụy quyền Sài Gòn nhằm “tiêu diệt cộng sản” cực kỳ hà khắc, man rợ. Vì vậy, Hiến pháp 1959 cũng chưa đề cập đến vai trò lãnh đạo của Đảng. Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội, dân tộc ta có chung một bản Hiến pháp mới, trong đó khẳng định Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Điều này là tất yếu, phù hợp với yêu cầu lịch sử, nhiệm vụ cách mạng mới, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và thực hiện đúng cơ chế vận hành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta.
Điều 4 Hiến pháp năm 1980 ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác – Lê-nin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”.(1)
Kế thừa tinh thần đó, Điều 4 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.(2)
Trên cơ sở Điều 4 Hiến pháp năm 1992, Điều 4 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 xác định: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; 2. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình; 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Việc quy định Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không chỉ là tư tưởng xuyên suốt, nhất quán để khẳng định vị trí, vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng, mà còn là một nguyên tắc bất di bất dịch của cách mạng Việt Nam, phù hợp với thể chế chính trị – xã hội mà Việt Nam đã lựa chọn.


Đảng không “đứng ngoài” Hiến pháp và pháp luật

Với mưu đồ xuyên tạc Điều 4 Hiến pháp, một số luận điệu thường nhấn mạnh một vế là: Nếu chỉ có một Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội sẽ dẫn tới chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ. Thế nhưng, họ cố tình không nhắc tới hay “phớt lờ” một điểm then chốt được khẳng định trong Điều 4 là: Các tổ chức của Đảng đều hoạt động trong khuổn khổ Hiến pháp – với tư cách là đạo luật cơ bản và có hiệu lực pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Khẳng định vai trò cầm quyền của mình đối với Nhà nước và xã hội, nhưng trách nhiệm của Đảng trước đất nước, trước nhân dân ngày càng được đề cao, nhấn mạnh rõ ràng, cụ thể hơn trong mỗi bản Hiến pháp. Nếu như Điều 4 Hiến pháp năm 1980 xác định “Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”, thì Điều 4 Hiến pháp năm 1992 đã bổ sung: “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Tiếp tục tinh thần đó, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 còn quy định thêm về việc tuân thủ, thi thành Hiến pháp và pháp luật đối với mọi đảng viên.
Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không chỉ bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức và kiểm tra; mà phần cốt yếu là thông qua đội ngũ tiền phong của mình là những cán bộ, đảng viên tiêu biểu về bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất và năng lực. Vì vậy, việc Điều 4 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 khẳng định “Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” nhằm bảo đảm cho Đảng giữ vững bản chất, mục tiêu, lý tưởng của mình, đồng thời là giải pháp quan trọng hàng đầu để phòng, chống, ngăn ngừa mọi nguy cơ thoái hóa, biến chất có thể xảy ra trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta. Mặt khác, việc xác định trách nhiệm của các đảng viên trong việc tự giác, gương mẫu thực hiện, chấp hành Hiến pháp và pháp luật cũng không ngoài mục đích làm cho “đội ngũ tiên phong của Đảng” phải thường xuyên nêu cao ý thức, thái độ, trách nhiệm cả về suy nghĩ và việc làm, tư tưởng và hành động trong việc sống, làm theo Hiến pháp và pháp luật, làm gương cho nhân dân noi theo.
Có ý kiến băn khoăn: Liệu có phải “luật hóa” vai trò cầm quyền của Đảng không? Phải khẳng định rằng, dù không có một đạo luật cụ thể về Đảng, nhưng Đảng đã tự nguyện, tự giác đưa mọi hoạt động của mình vào khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Hơn nữa, không chỉ chấp hành Hiến pháp và pháp luật, Đảng hoạt động còn dựa trên cơ sở Cương lĩnh, Điều lệ, Nghị quyết, Quy chế làm việc của Đảng và các chỉ thị liên quan đến việc điều chỉnh các vấn đề trong nội bộ Đảng cũng như điều chỉnh các mối quan hệ của Đảng với Nhà nước, xã hội và nhân dân. Thực tế trong những năm qua, Đảng ta đã ban hành nhiều chỉ thị thể hiện trách nhiệm của Đảng trước đất nước và nhân dân như: Quy định 76-QĐ/TW ngày 15-6-2000 của Bộ Chính trị (khóa VIII) “Về việc đảng viên đang công tác ở cơ quan, doanh nghiệp thường xuyên giữ vững mối quan hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ nơi cư trú”; Quy định 115-QĐ/TW ngày 7-12-2007 của Bộ Chính trị (khóa X) về những điều đảng viên không được làm và gần đây được thay thế bằng một văn bản có tính pháp lý cao hơn là Quy định 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư (khóa XI) về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, v.v.. Chứng tỏ rằng, Đảng ta luôn tự nghiêm khắc với chính mình thông qua việc ban hành các chỉ thị, quy định nhằm giáo dục, rèn luyện, đưa mọi hoạt động của các tổ chức Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên vào khuôn khổ ý thức tổ chức, kỷ luật, qua đó bảo đảm cho Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên không trượt ra khỏi “đường ray” Hiến pháp và pháp luật.


Đảng không “đứng trên” nhân dân

Muốn hiểu được bản chất của một đảng cầm quyền, phải nhận thức rõ mục đích hoạt động của đảng đó là vì ai, mang lại lợi ích cho ai. Đảng Cộng sản Việt Nam, như Bác Hồ đã khẳng định “Ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Vì vậy, Điều 4 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã bổ sung: “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”.
Việc nhiều lần Đảng ta tiến hành tự chỉnh đốn, mà gần đây nhất là đợt kiểm điểm tự phê bình và phê bình của các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” bước đầu mang lại nhiều hiệu ứng tích cực, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Tại Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) vừa qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương công khai thừa nhận và thành thật nhận lỗi trước toàn Đảng, toàn dân về những yếu kém, tồn tại trong công tác xây dựng Đảng và về những suy thoái, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Điều đó đã thể hiện tinh thần cầu thị nghiêm túc của Đảng, đồng thời khẳng định ý chí quyết tâm đẩy lùi những khuyết điểm, yếu kém để Đảng không ngừng nâng cao sức chiến đấu, phẩm chất, trí tuệ, năng lực lãnh đạo, ngày càng ngang tầm với trọng trách được giao.
Đối với nhân dân Việt Nam, nói đến Đảng là nói đến tình cảm tự nhiên, thiêng liêng, là thể hiện niềm tin và tình yêu son sắt nhân dân dành cho Đảng. Có một sự thật mà hầu như mọi người Việt Nam ai cũng biết đó là: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời; 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược giành thắng lợi vẻ vang, hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc, cùng với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 26 năm đổi mới vừa là minh chứng thực tiễn sinh động, vừa là cơ sở khoa học thực tiễn để khẳng định về vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với dân tộc và nhân dân Việt Nam.

———-

(1), (2): Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980 và 1992), Nxb CTQG, HN,

1995, trang 76 và 137, 138

Thực chất của cái gọi là “Trà đàm dân chủ”

QĐND - Thời gian qua, trên mạng internet xuất hiện một tổ chức có tên gọi là “Trà đàm dân chủ” hay còn gọi là “Đảng người Việt yêu người Việt”. Không chỉ thường xuyên bịa đặt tình hình trong nước, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, những kẻ cầm đầu của tổ chức này còn dụ dỗ, lôi kéo một số đồng bào dân tộc thiểu số trốn ra nước ngoài để tham gia vào tổ chức của chúng. Vậy sự thật cái gọi là “Trà đàm dân chủ” là gì?

 
Krajan Thuil (bên phải) kể với phóng viên về chuyện bị lừa sang Thái Lan.

 

Trần tình từ các nạn nhân

Năm 2005, Krajan Thuil ở thôn Bon Đưng 1, thị trấn Lạc Dương (Lạc Dương, Lâm Đồng) được Nhà nước hỗ trợ đi xuất khẩu lao động tại Ma-lai-xi-a. Nghe lời xúi giục của một số kẻ xấu, tháng 8 năm 2008, Krajan Thuil cùng 6 người bạn vượt biên sang Thái Lan. Anh này cho biết:

- Một số người bạn ở Thái Lan gọi điện nói, có một tổ chức người Việt sẵn sàng giúp đỡ chúng tôi đi tị nạn chính trị ở Mỹ, nếu không đi được họ cũng sẽ bố trí cho một công việc phù hợp và thu nhập cao hơn nhiều so với ở Ma-lai-xi-a.

Chỉ sau 3 ngày trốn sang Thái Lan, nhóm của Krajan Thuil bị cảnh sát địa phương bắt giữ và đưa vào Trung tâm giam giữ người nhập cư trái phép (IDC) ở số 507 Soi Suan Phlu, đường South Sathorn, thủ đô Băng Cốc. Tại đây, họ gặp Nguyễn Hùng Phong, “cố vấn cao cấp” của “Trà đàm dân chủ”. Mượn danh nghĩa nhân viên từ thiện, Nguyễn Hùng Phong thường xuyên vào trung tâm tổ chức các buổi tuyên truyền nói xấu Đảng và Nhà nước ta đồng thời dụ dỗ, mua chuộc người trong trại tham gia “Trà đàm dân chủ”. Khi được sự đồng ý của những người bị lừa, Nguyễn Hùng Phong bắt họ đứng chụp ảnh, cầm cờ của chế độ Việt Nam cộng hòa cũ, đọc “lời tuyên thệ” do chúng soạn sẵn rồi chụp ảnh, ghi hình, ghi âm.

Krajan Thuil cho biết: “Mọi người cũng không tin lắm, nhưng vì ai nhận lời sẽ được ông ta cấp cho vài bộ quần áo cũ, một ít nước và bánh ngọt nên họ gật đầu đại”.

Ở trong trại 31 tháng, mọi người vẫn không thấy được đi Mỹ định cư. “Thỉnh thoảng, chúng tôi hỏi thì ông ta nói là đang làm thủ tục. Chúng tôi biết ông ta nói dối. Thực ra chẳng có ai được định cư ở Mỹ cả. Ngày 9-2-2010, chúng tôi được nhà chức trách Thái Lan trả về Việt Nam”, Krajan Thuil cho biết.

Sự thật về cái gọi là “Trà đàm dân chủ”

“Trà đàm dân chủ” là tổ chức phản động do Đỗ Hữu Nam lập ra đầu năm 2007 ở Cam-pu-chia (khi trả lời một số báo, đài nước ngoài, Nam nói bừa là thành lập tại TP Hồ Chí Minh). Bản chất cũng giống một số tổ chức phản động người Việt lưu vong khác là nhằm vu cáo, bôi nhọ chính sách của Đảng và Nhà nước ta, kích động hận thù dân tộc, tôn giáo; chia rẽ khối đại đoàn toàn kết dân tộc, âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân.

Đỗ Hữu Nam, sinh năm 1958 tại xã Hải Tân (Hải Lăng, Quảng Trị). Năm 1980 khi có lệnh gọi nhập ngũ, Nam trốn sang Cam-pu-chia kiếm sống bằng nghề xe ôm, cờ bạc sau đó tham gia tổ chức phản động “Đảng nhân dân hành động” do Nguyễn Sỹ Bình “nặn” ra ở Mỹ với chức danh “Phó ban trật tự”. Tháng 7-1997, Đỗ Hữu Nam thâm nhập vào Việt Nam để tuyên truyền, lôi kéo những người nhẹ dạ, cả tin tham gia vào tổ chức của chúng. Tuy nhiên, hắn đã bị cơ quan an ninh của ta bắt tại cửa khẩu và bị kết án 8 năm tù về tội danh trốn ra nước ngoài để chống lại chính quyền nhân dân.

Sau khi mãn hạn tù, tháng 10-2005, Nam vượt biên sang Cam-pu-chia rồi liên lạc với Đỗ Thành Công, để lập ra cái gọi là “Phong trào dân chủ cho Việt Nam” nhằm moi tiền viện trợ của Nguyễn Sỹ Bình và một số tổ chức phản động người Việt tại Mỹ (Đỗ Thành Công bị cơ quan an ninh của ta bắt vào ngày 14-8-2006 vì âm mưu khủng bố lãnh sự quán Mỹ ở TP Hồ Chí Minh và bị trục xuất khỏi Việt Nam ngày 21-9-2006). Sau một thời gian hoạt động, tháng 1-2007, Nam đổi tên phong trào trên thành “Trà đàm dân chủ” hay còn gọi ”Đảng người Việt yêu người Việt”. Bên cạnh Đỗ Hữu Nam, danh sách “lãnh đạo” tổ chức này còn có Mã Phi Danh, Nguyễn Hùng Phong, Trần Kim Tiến, Liang Hot E Đaur..

Để dụ dỗ những người nhẹ dạ, cả tin tham gia, Đỗ Hữu Nam và đồng bọn khoác lác: Nếu là thành viên của “Trà đàm dân chủ”, mỗi người sẽ được lĩnh 50USD/tháng, được cấp điện thoại, xe máy và được bảo lãnh cho tị nạn chính trị ở Mỹ. Tuy nhiên, cách làm này tỏ ra không hiệu quả vì nhiều người thừa biết chỉ là lời hứa hão, nên Đỗ Hữu Nam và đồng bọn bèn quay sang tiếp cận một số người Việt là lao động nghèo đang sinh sống, làm ăn trên đất Thái Lan, Cam-pu-chia và ra điều kiện: Nếu ký vào bản danh sách trở thành thành viên “Trà đàm dân chủ”, cầm cờ và nói theo những lời do chúng soạn ra để cho chúng chụp ảnh, ghi hình thì sẽ được nhận 5kg gạo và 200 baht. Nhiều người dù chẳng biết “Trà đàm dân chủ” là gì nhưng vì được ít tiền và gạo nên họ đồng ý. Với phương thức này, Nam có được danh sách “thành viên” đưa lên website của mình, qua đó giúp y nhận tiền viện trợ từ Nguyễn Sỹ Bình để tiêu xài.

Về trường hợp một số đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Lâm Đồng và một số tỉnh Tây Nguyên tham gia tổ chức “Trà đàm dân chủ”, cơ quan an ninh của ta cho biết: Năm 2005, 2006 trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên có một số người dân tộc thiểu số được Nhà nước hỗ trợ đi xuất khẩu lao động tại Ma-lai-xi-a. Trong số đó, một số người do thu nhập thấp, lại bị chủ phân biệt đối xử nên tìm cách trốn về nước bằng đường bộ (từ Ma-lai-xi-a sang Thái Lan – Cam-pu-chia rồi về Việt Nam). Khi sang đất Thái Lan, một số bị cảnh sát địa phương bắt giữ. Một số không bị bắt, nhưng do trình độ thấp, khó kiếm việc làm nên phải sống vất vưởng. Lợi dụng sự thiếu hiểu biết và thiếu thốn về vật chất của những người này, các đối tượng cốt cán của tổ chức “Trà đàm dân chủ” đã tìm cách tiếp cận, cho họ một ít tiền, gạo, nhu yếu phẩm để dụ dỗ, lôi kéo họ tham gia. Từ các đối tượng đầu tiên này, Đỗ Hữu Nam và đồng bọn chỉ đạo họ dùng điện thoại gọi cho bạn bè, người thân ở Ma-lai-xi-a và Việt Nam để rủ rê, hướng dẫn trốn đi. Tuy nhiên, khi sang tới nơi, nhiều người mới biết mình bị lừa.

Liên quan đến tổ chức này, vừa qua, Công an tỉnh Lâm Đồng đã khởi tố vụ án “Tổ chức đưa người trốn đi nước ngoài trái phép” đối với 2 đối tượng là Cil Chè và Kră Jăn Hô. Tòa đã tuyên phạt Cil Chè mức án 2 năm tù (nhưng cho hưởng án treo) và ra lệnh truy nã đối tượng Kră Jăn Hô đã trốn khỏi địa phương. Thượng tá Đỗ Văn Tường, Trưởng công an huyện Lạc Dương (Lâm Đồng) cho biết: “Trong 26 đối tượng là người dân tộc thiểu số trên địa bàn trốn ra nước ngoài tham gia tổ chức phản động “Trà đàm dân chủ”, 8 người đã trở về Việt Nam”. Trao đổi với phóng viên, đồng chí Trần Công Chánh, Phó bí thư thường trực Huyện ủy Lạc Dương cho biết: Huyện ủy đã chỉ đạo kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm một số đảng viên là cán bộ chủ trì các xã, thị trấn trong công tác quản lý hành chính. Bên cạnh đó, huyện đã tổ chức rút kinh nghiệm về công tác xuất khẩu lao động; đưa một số đối tượng vi phạm ra kiểm điểm trước nhân dân; kết hợp với các tổ chức tôn giáo trên địa bàn phát động toàn dân cam kết không nghe và làm theo lời xúi giục của kẻ xấu;  động viên, hỗ trợ về vật chất, tinh thần để những người lầm lỡ tái hòa nhập cộng đồng; kết hợp cùng gia đình, dòng họ tuyên truyền, vận động con em đang ở nước ngoài trở về Việt Nam…

Bài và ảnh: VŨ ĐÌNH ĐÔNG

 

Trung Quốc có thể quân sự hóa vấn đề Biển Đông

Tiền Phong

TPO-Những dự đoán về một cuộc chiến trên Biển Đông chưa bao giờ mạnh mẽ như vậy khi Trung Quốc liên tục có những hành động “khiêu khích” các nước láng giềng.

Tàu chiến Trung Quốc bắn tên lửa trong một cuộc tập trận trên Biển Đông. Ảnh: AP
Tàu chiến Trung Quốc bắn tên lửa trong một cuộc tập trận trên Biển Đông. Ảnh: AP.

Thông tin trên được tờ Business Mirror của Phillippines đưa ra trong số báo ra ngày 6/1/2013.

Cũng theo báo Business Mirror, kể từ khi chiếm đóng đảo đá Vành Khăn (Panganiban Reef /Mischief Reef) vào năm 1994-1995 và đảo Bajo de Masinloc (Scarborough Shoal) vào tháng 4-2012, Trung Quốc ngày càng trở nên ‘hung hãn’ hơn, bất chấp các cuộc biểu tình ở Manila.

Khi Phillippines tổ chức hội nghị thượng đỉnh về các quy tắc ứng xử trên Biển Đông vào năm 2002, đưa ra các biện pháp ngoại giao nhằm giải quyết các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông, Trung Quốc và các thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã ký kết các tài liệu mang tính lịch sử.

Và khi Phillippines tiến hành khai thác mỏ khí tự nhiên Camago-Malampaya, ước tính có trữ lượng 2,3 đến 4,4 nghìn tỉ mét khối, Bắc Kinh đã không phản đối.

Tuy nhiên, trong năm 2009, Bắc Kinh đơn phương tuyên bố chủ quyền trên “đường chín đoạn” ở Biển Đông (còn gọi là “đường lưỡi bò”). Trong bản đồ “đường chín đoạn” bao gồm cả Recto Bank( Reed Bank), nơi thăm dò dầu khí chung do công ty Phillippines Forum Energy Plc. đứng đầu, đang hoạt động.

Khi các Bộ trưởng Ngoại giao (DFA) phản đối kịch liệt việc in hình ảnh đường chín đoạn gây tranh cãi lên hộ chiếu của Trung Quốc vào tháng 11-2012, Trung Quốc tiếp tục phản ứng lại bằng việc tuyên bố chi 1,6 tỉ USD để xây dựng cơ sở hạ tầng trên cái gọi là thành phố Tam Sa trên Biển Đông.

Tờ báo Century Herald có trụ sở tại Quảng Châu đưa tin, Trung Quốc sẽ xây dựng một sân bay, cầu cảng và các cơ sở hạ tầng quan trọng khác trên cái gọi là Tam Sa.

Kế tiếp, Bắc Kinh tuyên bố về quy định mới của tỉnh Hải Nam cho phép bộ đội biên phòng “chặn và lục soát tàu nước ngoài” trên Biển Đông từ này 1-1-2013,. Điều đó có nghĩa là bộ đội biên phòng có thể kiểm tra, bắt giữ, tịch thu, trục xuất bất kì tàu thuyền nước ngoài nào mà nước này coi là vi phạm chủ quyền trên Biển Đông.

Người phát ngôn của DFA, ông Raul Hernandez cho biết việc Bắc Kinh triển khai tàu Haixun 21, tàu tuần dương được trang bị sân bay trực thăng trên vùng biển tranh chấp là trái với nghĩa vụ của Trung Quốc theo luật quốc tế trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS).

“Phillippine phản đối mạnh mẽ việc Trung Quốc tuần tra hàng hải trên Biển Tây Phillippines (Biển Đông)”, ông Hermandez nói. Tuy nhiên, phía Trung Quốc vẫn “im lặng”.

Trong khi đó, các nước như Mỹ, Ấn Độ và Liên minh Châu Âu lại vô cùng quan ngại về tình hình hiện nay, bởi tranh chấp lãnh thổ đồng nghĩa với việc ảnh hưởng tiêu cực đến tự do hàng hải mà Biển Đông là tuyến đường biển quan trọng đối với thương mại toàn cầu.

Trả lời phỏng vấn trên tờ New York Times, ông Wu Shicun, Tổng giám đốc văn phòng đối ngoại tỉnh Hải Nam, cho hay Trung Quốc cho phép kiểm tra, lục soát các tàu nước ngoài chỉ khi các tàu này hoạt động bất hợp pháp trên vùng biển 12 hải lý xung quanh các hòn đảo mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền.

Cũng theo ông Wu, điều mà các nước trong khu vực đang lo ngại đó là sự tăng trưởng “đáng gờm” của Trung Quốc, điều đó cho thấy Trung Quốc đang sử dụng vũ lực để áp tầm ảnh hưởng của mình lên khu vực.

Trên tạp chí Foreign Policy (Chính sách Đối ngoại – Mỹ), một bài viết có tựa đề: “Trung Quốc sẽ phát động chiến tranh vào tháng giêng năm 2013?” của tác giả Michael Austin phân tích khá sâu về tình hình hiện nay.

Austin đặt câu hỏi này chỉ sau khi Trung Quốc “khoe” chiến đấu cơ cất cánh từ tàu sân bay duy nhất của nước này. Bắc Kinh cũng đã nâng cấp một tiền đồn hải quân nhỏ để trở thành một đơn vị đồn trú quân sự chính thức bao phủ Biển Đông.

Ông cho biết các chuyên gia ở Washington đã theo dõi các ý tưởng về “an ninh chung toàn cầu” trong nhiều năm nay, “lo ngại chủ yếu đó là Trung Quốc đã đủ mạnh mẽ để có thể thay đổi cân bằng quyền lực trong vùng biển châu Á theo hướng có lợi cho mình”.

Theo ông Ian Storey của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore: “Đụng độ quân sự nhỏ trên Biển Đông là khả năng rõ ràng và đang tiến triển”.

Còn ông Dean Cheng, chuyên gia quân sự và chính sách đối ngoại Trung Quốc tại Heritage Foundation cho rằng: “Nếu Trung Quốc tiếp tục trên con đường của mình, có vẻ nước này đang sẵn sàng quân sự hóa toàn bộ vấn đề Biển Đông”.

Ông Cheng cũng đưa ra một khả năng khác, đó là chính sách cứng rắn của Bắc Kinh hiện nay có thể bắt nguồn từ việc thay đổi chính trị nước này.

“Ông Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường… trong năm 2013-2014 có thể tập trung vào các vấn đề quốc nội, và có thể đường lối chính sách trên Biển Đông sẽ ít cứng rắn hơn… trong trường hợp đó, Trung Quốc có thể dễ “hòa giải” hơn”, theo ông Cheng.

Phan Yến
Theo Business Mirror

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s