Những ‘mẹo’ lái xe tiết kiệm nhiên liệu


Những ‘mẹo’ lái xe tiết kiệm nhiên liệu
Thay đổi cách thói quen sử dụng xe để tiết kiệm nhiên liệu hơn. Một cú tăng tốc đột ngột có thể tiêu thụ xăng gấp 4 lần bình thường.

Một trong những nhân tố khách quan đầu tiên mà bạn nghĩ đến để giúp xe tiết kiệm xăng là lốp. Lốp non hơi làm tăng lực cản lăn, kéo theo việc tiêu hao nhiều năng lượng động cơ. Dẫn tới tốn xăng.

Tuy nhiên, đừng quá ham mà bơm quá căng. Xe sẽ xóc và mòn không đều ở phần giữa. Mỗi xe đều ghi áp suất lốp tiêu chuẩn cho bánh trước và sau, thường ghi ở khung cửa bên lái hoặc nắp bình xăng. Nếu vượt quá giá trị cho phép có thể gây nổ lốp hoặc giảm lực bám khi đi vào đoạn đường trơn.
Điều chỉnh góc đặt bánh xe

Đây là việc không dễ và khó hình dung. Bạn có thể yêu cầu gara kiểm tra định kỳ góc đặt bánh xe, để chúng luôn lăn theo hướng thẳng sẽ giảm lực cản. Hướng của thân xe và bánh xe lệch làm tăng sức cản không khí.
Hình ảnh minh họa
Giảm thời gian làm ấm máy

Động cơ hoạt động mà xe không chạy đồng nghĩa với việc tiêu tốn xăng. Một phút là khoảng thời gian cần thiết để dầu được đưa đến tất cả các chi tiết. Mở ga ở mức thấp cho đến khi động cơ nóng hoàn toàn.
Kiểm tra van hằng nhiệt

Thiết bị có tác dụng điều chỉnh nhiệt độ nước làm mát. Van hằng nhiệt bị hỏng là nguyên nhân kéo dài thời gian làm nóng động cơ.
Thường xuyên kiểm tra hệ thống đánh lửa

Lỗi đánh lửa có thể xảy ra một cách không thường xuyên, nhưng nó lại tiêu tốn hơn khoảng 10% nhiên liệu (Cứ 1.000 km lái xe, bạn phải trả thêm nhiên liệu cho 100 km nữa). Bu-gi suy giảm chất lượng, điện trở dây cao áp cao là nguồn gốc phát sinh vấn đề này.
Tắt động cơ khi dừng

Những xe hybrid đạt được tính kinh tế nhờ việc dừng động cơ. Bạn cũng có làm được điều này. Nếu bạn phải dừng xe chờ đèn đỏ quá 30 giây. Hãy tắt động cơ và khởi động lại.
Tăng tốc nhẹ nhàng

Hiện tượng đột nhiên tăng tốc có thể khiến lượng nhiên liệu tiêu thụ tăng lên gấp 4 lần.

Giảm tải cho động cơ bằng cách tắt các thiết bị điện không cần, tắt điều hòa nếu có thể. Khi đi trên đường ngoại thành, bạn nên tắt điều hòa, bật quạt để sử dụng không khí tự nhiên.

Ngoài ra còn những biện pháp như đóng cửa sổ giúp giảm lực cản không khí khi xe đi với tốc độ cao. Khi phải dừng xe, hãy giảm ga và để cho chiếc xe tự trôi hơn là phanh. Phanh sẽ biến toàn bộ động năng mà động cơ sinh ra thành nhiệt năng.

Làm nhẹ xe giúp tăng tốc dễ hơn. Động cơ tiêu thụ ít nhiên liệu. Cuối cùng, hãy lựa chọn đường đi gắn nhất và tránh được tắc đường.

Advertisements

GS Đặng Hùng Võ nói về tiền, khoáng sản và… vợ trẻ


GS Đặng Hùng Võ nói về tiền, khoáng sản và… vợ trẻ
Tác giả: Hoàng Hường (Thực hiện)
Bài đã được xuất bản.: 12/05/2011 06:00 GMT+7

Recomend
+9

Red

In
Email
Thảo luận

TRONG MỤC NÀY (Đọc thêm)

PN&HĐ: “Sướng quan”, “nhiều sâu” và …dọa dân
GS Đặng Hùng Võ nói về tiền, khoáng sản và… vợ trẻ
Vị phó đô đốc chỉ huy chiến dịch tiêu diệt Bin Laden
Khi tiếng đàn bác học cất lên nơi vỉa hè…

“Tôi nghĩ là không nên ví tình yêu và hôn nhân với chuyện phân phối nhà ngày xưa. Không phải tôi có đến ba suất nhà cùng một lúc, vì số kiếp lận đận nên mãi vẫn chưa “đứng số” được…”

Điện thoại liên hệ phỏng vấn GS Đặng Hùng Võ vào giữa tuần, ông cho biết đang bận và hẹn đến thứ Bảy ông sẽ chủ động gọi lại. Sáng cuối tuần, tưởng ông đã quên nhưng đúng giờ ông gọi, và hỏi: cô ở đâu, để tôi chủ động đến “vì trời đang nóng, tôi có ô tô, cô khỏi phải đi nắng”.

Thầm nghĩ trong đầu phải chăng đây chính là lý do sắp ở tuổi thất thập ông nổi tiếng ở nhiều lĩnh vực, ngay chuyện ông vừa tái hôn với bà xã kém 30 tuổi cũng khiến báo chí ‘bán chạy’. Buổi trò chuyện diễn ra ở nhà riêng của tôi, rất cởi mở thú vị.

Bà xã tôi có baby rồi!

Đám cưới tháng trước của giáo sư với nghệ sĩ Hồng Ánh là một trong những “sự kiện” nổi nhất của truyền thông. Chắc chắn cả các quý ông trẻ tuổi cũng hết sức ngưỡng mộ, đoán ông hẳn phải có một biệt tài, và mong muốn được giáo sư chia sẻ.

Tôi xin được khẳng định rằng tôi chẳng có tài cán gì trong chuyện nghệ thuật tán tỉnh phái đẹp vì tôi chẳng thích đóng kịch. Tình cảm là sự chân thực nhất mà phải vào vai diễn thì mệt mỏi lắm.

Tôi tôn trọng sự tự nhiên, nói chính xác hơn là sự hồn nhiên. Cái gì đến thì cứ hồn nhiên mà đến, cái gì đi thì cũng cứ hồn nhiên mà đi, đến hay đi thì tôi cũng không bao giờ né tránh. Tất nhiên là chuyện yêu thì phải từ cả hai phía, buộc nhau lại như số phận, cũng không có gì phải né tránh. Nói vậy không có nghĩa là có cô nào tán tỉnh thì cũng không né tránh (cười).

Đứng trước một việc gì đó đang đến, nhiều người cho là nên, nhiều người lại cho là không nên, sự cảm nhận chân thực nhất sẽ mách bảo mình rằng nên hay không nên. Chuyện tôi cưới vợ ở tuổi hưu, cũng có vài người bạn nói rằng giờ đã là “tuổi nghỉ ngơi rồi, tự nhiên giở việc ra làm gì”.

Tôi lại nghĩ khác, đời sống con người không có lúc nào là nghỉ và cũng không có lúc nào là làm cả. Khi việc đến mà mình thấy cần làm thì nên quyết tâm làm. Không bao giờ có khái niệm muộn mằn trong tình yêu, có tình yêu thì lúc nào cũng là ban đầu, đừng tránh những cảm giác thực nhất của con người. Câu chuyện chỉ giản dị vậy thôi, và tôi không thấy có gì bất thường cả (cười).

Đây là hôn nhân lần thứ 3 của giáo sư, nói theo kiểu ngôn ngữ bất động sản: Nhà chia lô, bình thường mỗi người một – giáo sư lại có đến ba “suất”. Vậy có thể gọi ông là người đào hoa hay trắc trở?

(Cười lớn) Tôi nghĩ là không nên ví tình yêu và hôn nhân với chuyện phân phối nhà ngày xưa. Không phải tôi có đến ba suất nhà cùng một lúc, vì số kiếp lận đận nên mãi vẫn chưa “đứng số” được. May mà ở độ lực bất tòng tâm mà vẫn có chị em rung động, số kiếp vậy cũng coi là may mắn.

Tôi nghĩ như thế này, đối với đàn ông chuyện hôn nhân, cũng có nhiều cách tiếp cận. Có lắm người để vợ đấy rồi đắm mình vào cuộc tình vụng trộm khác và ca rằng đó mới là tình yêu đích thực, sống như vậy là gian trá và ích kỷ. Cũng có một số người nghĩ rằng nên yên vị, không còn tình yêu nữa những cũng đừng vùng vẫy làm gì, sống như vậy cũng thụ động, số này chắc cũng không nhiều (cười).

Nhiều trường hợp cô đơn ở tuổi xế chiều thấy được tình yêu những cũng ngại ngùng mà tấp vào nhau nửa bí mật nửa công khai, sống như vậy là không công bằng với tình cảm. Tôi thì cho rằng con người làm cái gì cũng phải đàng hoàng, cần chủ động trong khuôn khổ pháp luật. Tình yêu thực phải dẫn đến đăng ký và cưới xin, và có baby cũng là hệ quả tất yếu. Bà xã đang có baby rồi.

Tôi từng là ‘soái’ ở Ba Lan

Xin chúc mừng giáo sư! “Hãy để tiền làm đầy tớ cho mình”, đó là một câu nói của giáo sư mà tôi hâm mộ. Giáo sư có thể chia sẻ nhiều hơn về triết lý kiếm tiền và tiêu tiền của ông?

Quan điểm về đồng tiền của tôi khá động. Gia đình tôi là một gia đình Nho giáo truyền thống. Tuy đến đời tôi thì chất Nho giáo trong nhà cũng đã bị ngoại cảnh làm cho phần nào phai nhạt. Ở giai đoạn đầu đời trước năm 33 tuổi, tôi vẫn tư duy theo kiểu hàn sĩ, cần phải nghèo mà thanh bạch nên rất khinh bỉ đồng tiền.

Tư duy đó ngự trị làm cho mình nhìn đồng tiền rất hằn học, coi đồng tiền là bẩn thỉu, lúc nào cũng sẵn sàng làm hoen ố người quân tử. Hồi đó tôi vẫn thích sống thanh cao, lấy học vấn làm trọng, không dính dáng gì đến tiền nong, mua đi bán lại là không được. Gia đình khó khăn thì đi dậy học kiếm thêm tiền chứ nhất định không đi buốn.

Đến năm 33 tuổi tôi đi Ba Lan nghiên cứu sinh, để lại vợ và 2 con còn nhỏ trong nước. Phần gia đình ở lại cũng như tôi ra đi đều rơi vào cảnh rất nghèo. Mọi người học tập ở Ba Lan đều phải kiếm tiền bằng cách gửi hàng từ Ba Lan nước bán đi rồi gia đình lại gửi tiền sang mua hàng rồi lại gửi về nước… Ngay cả khi đó tôi cũng nhất định không kiếm tiền bằng cách buôn bán như vậy.

Rồi những khó khăn cụ thể của vợ và 2 con còn bé làm cho mình thấy cứ thanh cao mãi thế này chắc có gì đó không ổn về tư duy. Bạn bè cũng cho vay tiền rồi lại gửi hàng về giúp để cứu đói cho nhà mình, mình cũng không có tiền trả nợ, vì học bổng cũng chỉ đủ đóng tiền ăn cho nhà bếp và mua được một hai bộ quần áo mặc thường mỗi năm. Trong hoàn cảnh đó mới thấy cái tư duy cao đạo của mình là ích kỷ, đồng tiền có tích sự thực, không nên căm ghét nó, không nên xa lánh nó mà mình cần nó. Như vậy, việc tư duy để tìm lợi nhuận từ buôn bán để có tiền là chấp nhận được.

Ông có phải là nhà buôn giỏi không?

Trong công việc thương mại, tôi cũng là một trong những người thành công. Cũng có vài anh em cùng thời tôi đã nói đùa rằng nên dựng tượng tôi ở biên giới Ba Lan và Liên Xô cũ vì công trạng tìm ra cách làm ăn lớn mà ngày nay những người Việt Nam ở Đông Âu đang làm (cười).

Khi đã quyết tâm làm thì tôi tư duy theo kiểu làm lớn, bài bản và công khai, không chấp nhận kiểu buôn vặt rồi lại vênh mặt trước anh em trong đơn vị rằng “tôi có đi buôn đâu”. Sống như vậy là đạo đức giả. Khi đã tiếp nhận tư duy như vậy thì phải nói thẳng là tôi đi buôn đàng hoàng và giúp những anh em khác vào cuộc như mình. Đến giờ, cũng còn có anh em vẫn gọi tôi là “soái” Ba Lan (cười). Cũng là một kỷ niệm vui của một thời đáng nhớ.

Điều quan trọng hơn tôi muốn nói ở đây là khi nhận thức được giá trị thực của đồng tiền, làm chủ thực sự của một guồng máy làm ra nhiều tiền thì mình cũng nhận thức được rằng tiền không thể là mục tiêu, tiền chỉ có thể là phương tiện. Chính vì vậy mà khi hết hạn nghiên cứu ở Ba Lan, tôi đã về nước đúng hạn và trao lại guồng máy làm tiền ở đó cho những anh em tiếp theo.

Nhìn lại, tôi không phải hối tiếc

Từng là Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, “ông quan điền thổ” như Báo ảnh của Thông tấn xã Việt Nam đã gọi, trong điều kiện kinh doanh bất động sản đang là một trong những khu vực kinh tế nóng nhất, sẽ thế nào nếu ông áp dụng tư chất của vị “soái Ba Lan” vào cương vị này nhỉ?

Thực tế là không. Tôi giữ một nguyên tắc là đã làm quản lý thì không tơ hào đến lợi ích từ khu vực mình quản lý. Tức là tôi hoàn toàn không dính đến việc buôn đất hay lấy đất dự án này nọ để sinh lợi, phải khẳng định là hoàn toàn không có.

Khi làm quản lý thì dường như triết lý Nho giáo của Khổng Tử lại quay trở lại tư duy của tôi. Người quản lý là người giữ trật tự trong lĩnh vực người đó quản lý. Muốn giữ trật tự tốt thì mọi việc phải minh bạch, không được dính dáng đến mọi lợi ích sinh ra từ khu vực mình phụ trách. Nếu không thì khu vực mình quản lý sẽ rất mất trật tự.

Cách đây vài hôm, ông có đề cập đến “lỗ thủng trách nhiệm” trong việc khai thác khoáng sản ở Hồ Ba Bể. Giờ đã về hưu ông có hối tiếc về một chữ kí nào của mình, hoặc một “lỗ thủng” nào đó khi còn là Thứ trưởng không?

Không, đó chính là một điều tôi hoàn toàn tự hào là mình chưa bao giờ vương vấn về lợi ích, không có bất kỳ một sự sai lầm nào mang tính vô thức hay hữu ý.

Cũng đã có những vụ mà có ý kiến trên báo nói về tôi rằng đằng sau công văn do tôi ký phải là cái bắt tay với lãnh đạo địa phương trị giá hàng tỷ đồng. Cảnh sát điều tra vào cuộc, làm rất kỹ, chẳng có cái bắt tay nào của tôi cả. Mọi cái bắt tay của tôi chỉ là hình thức ngoại giao và luôn miễn phí. Cũng có những lúc mình bị nghi oan đến như vậy mà mình vẫn thanh thản vì chẳng bao giờ xẩy ra việc đó. Còn về chuyện quan điểm xử lý trong quản lý là đúng hay sai lại là một câu chuyện dài, đúng hay sai dưới góc nhìn nào mới là bản chất. Nhiều việc kết luận chắc chắn là sai rồi vài chục năm sau lại là đúng.

Vay 1 hôm nay, sẽ phải trả 1000 ngày mai

Khi đương chức đến khi về hưu, từ góc độ một chuyên gia, điều gì khiến ông suy nghĩ lo lắng nhất?

Trước đây đất đai là điểm nóng vì giá đất của Nhà nước và giá đất bên ngoài chênh lệch nhau quá lớn. Nay pháp luật đã làm giảm nóng được khá nhiều. Vấn đề nóng nhất nổi lên hiện nay là khai thác khoáng sản. Các doanh nghiệp đang ồ ạt tới các địa phương tìm kiếm mỏ để khai thác, lợi nhuận khá lớn.

Trong cái lợi nhuận lớn đó có một phần chính là vay của môi trường, không phải lợi ích do con người làm ra. Đáng nhẽ, nhà đầu tư khai thác mỏ phải trả mọi chi phí để khắc phục các tổn hại đến môi trường do việc khai thác đó gây ra. Các nhà đầu tư này thường tính đến việc “quỵt” một phần hoặc toàn bộ chi phí khôi phục môi trường. Khi các nhà quản lý có trình độ cao và đạo đức tốt thì các nhà đầu tư khó thực hiện được hành vi “ăn quỵt” này.

Trên thực tế, việc “ăn quỵt” môi trường vẫn đang xẩy ra ở rất nhiều nơi. Nói như vậy là dưới góc độ tư duy của nhà đầu tư. Thực chất, môi trường không hề cho ai được “ăn quỵt” mà chỉ cho vay thôi. Vay của môi trường là một món vay “nặng lãi”. Ngày hôm nay vay của môi trường một mà trả ngay thì cũng chỉ phải trả một, khi không trả ngay hôm nay do ý đồ muốn quỵt thì ngày mai con cháu chúng ta sau này phải trả tới một nghìn mới khắc phục được những tổn hại do hôm nay gây ra, có khi trả nhiều hơn nữa mà vẫn không hết được nợ.

Trong bài toán khai thác khoáng sản, nếu phải trừ đi tất cả những chi phí khắc phục tổn hại đến môi trường thì lợi nhuận cũng không cao, nhiều trường hợp còn bị lỗ. Hiện nay, các doanh nghiệp ồ ạt nhảy vào khai thác khoáng sản là vì chỉ cần móc được khoáng sản lên để bán là được, bỏ mặc môi trường ở đó.

Một nghịch lý trên thế giới cho thấy, tất cả những nước có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên thì lại phát triển kém hơn các nước không có tài nguyên thiên nhiên. Khi có khoáng sản, họ bới khoáng sản lên để bán nhằm tìm kiếm sự giầu có. Khi hết khoáng sản, họ lại rơi vào cảnh nghèo. Khi không có khoáng sản, con người buộc phải tìm mọi cách sử dụng lao động để làm ra hàng hóa nhằm tìm kiếm sự giầu có, sức lao động của con người luôn bảo đảm sự giầu có trong mọi hoàn cảnh.

Do đó, về chủ trương chung, tôi cho rằng chỉ cần khai thác những loại khoáng sản không thể thiếu trong quá trình phát triển đất nước, như dầu khí chẳng hạn, còn lại cần cất giữ trong lòng đất. Hãy coi như chúng ta không có các tài nguyên khoáng sản đó nữa. Hãy phát triển bằng các loại hàng hóa, dịch vụ chất lượng cao do sức lao động chân tay và trí tuệ của con người làm ra.

Nói như vậy có thể cải biên kiểu như “Hãy đóng cửa Bộ Tài nguyên – Môi trường đi, dành tiền đó để nuôi Bộ Giáo dục – Đào tạo”?

Không phải thế, vẫn phải nuôi Bộ TNMT, nhưng nuôi để làm nhiệm vụ không cấp phép nữa (cười), chính xác hơn là chỉ cấp phép khai thác đối với những loại khoáng sản mà không thể thiếu trong quá trình phát triển.

Đối với bộ Giáo dục và Đào tạo, việc nuôi lại càng phải chăm chút tốt hơn vì đó là đầu máy của một cỗ máy chuyên sản xuất ra những con người có trình độ chuyên môn cao và đạo đức tốt. Đây chính là hạ tầng quyết định việc sản xuất ra các hàng hóa, dịch vụ có chất lượng cao cho đất nước.

Thưa Giáo sư, ngoài vấn đề môi trường thì còn việc gì quan trọng nữa cần đề cập trong khai thác khoáng sản ở nước ta?

Trên thực tế, người dân ở các địa phương đang chịu áp lực rất lớn do việc khai thác khoáng sản gây ra. Họ phải chịu áp lực về kinh tế, áp lực do sự ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe.

Họ đang sống yên lành trên “núi vàng núi bạc” nhưng rồi có một ngày, một nhà đầu tư tới đào bới, làm đảo lộn tất cả, họ lại là những người khổ nhất. Họ không chỉ không được hưởng lợi ích gì từ những tài nguyên dưới chân họ, mà còn phải gánh chịu tất cả mọi thiệt hại từ khai thác tài nguyên đó. Gánh chịu mọi thiệt hại nhưng lại không được bồi thường chút nào. Đấy là sự bất công lón nhất và cũng là một bi kịch lớn nhất của việc khai thác khoáng sản.

Chủ của những mỏ đang khai thác có khi đang sống phè phỡn ở một đô thị đông vui nào đó, cộng đồng người dân tại nơi có khoảng sản lại phải gánh chịu mọi thiệt thòi, cơ cực ở đó. Trên bình diện cả nước, người gọi đây là bài toán đánh đổi, nhưng giữa những nhóm người cụ thể có liên quan tới việc khai thác mỏ thì sự đánh đổi ở đây rất bất công. Nhóm người giầu đang lấy tiền công khai của nhóm người nghèo.

Với góc độ một chuyên gia trong quản lý đất đai, ông cho rằng liệu có những bất công tương tự trong bài toán sử dụng đất hay không?

Có và vấn đề bất công cũng ở mức độ trầm trọng không kém. Ngay trong quy hoạch sử dụng đất đai, lời giải quy hoạch là khách quan hay cũng trở thành yếu tố chủ quan của một nhóm lợi ích nào đó. Cụ thể như tranh luận vừa qua trên báo chí về quy hoạch con đường “tâm linh” từ hồ Tây kéo lên đến Ba Vì. Một bên thì quyết tâm chứng minh rằng con đường này là hết sức cần thiết, còn một bên khác lại khẳng định là không cần đến. Ý kiến về vị trí không gian của một con đường rất cụ thể nhưng luận cứ lại chẳng có một chút phân tích không gian cụ thể gì. Câu chuyện vẫn đang chờ hồi kết!

Như vậy, mọi tranh luận chỉ là hình thức. Nội dung này lại liên quan tới những vấn đề thực tế rất nóng về khai thác đất đai, tài nguyên khu vực Ba Vì mà báo chí đã nói tới. Vậy việc quy hoạch con đường này chỉ như một giải pháp sử dụng vốn ngân sách nhằm làm tăng giá trị đất đai ở đó. Người dân ở Ba Vì đâu có được lợi ích gì từ giá trị đất đai đang tăng lên khi có con đường cao tốc chạy qua. Họ lại phải rời bỏ đất ven đường để di vào vùng sâu hơn và xa hơn.

Bài toán này khó nhưng không phải không thể giải, vấn đề là ta có muốn giải hay không.

Xin cảm ơn ông!

Chủ của những mỏ đang khai thác có khi đang sống phè phỡn ở một đô thị đông vui nào đó, cộng đồng người dân tại nơi có khoảng sản lại phải gánh chịu mọi thiệt thòi, cơ cực ở đó. Trên bình diện cả nước, người gọi đây là bài toán đánh đổi, nhưng giữa những nhóm người cụ thể có liên quan tới việc khai thác mỏ thì sự đánh đổi ở đây rất bất công. Nhóm người giầu đang lấy tiền công khai của nhóm người nghèo.

GS Đặng Hùng Võ nói về tiền, khoáng sản và… vợ trẻ


GS Đặng Hùng Võ nói về tiền, khoáng sản và… vợ trẻ
Tác giả: Hoàng Hường (Thực hiện)
Bài đã được xuất bản.: 12/05/2011 06:00 GMT+7

Recomend
+9

Red

In
Email
Thảo luận

TRONG MỤC NÀY (Đọc thêm)

PN&HĐ: “Sướng quan”, “nhiều sâu” và …dọa dân
GS Đặng Hùng Võ nói về tiền, khoáng sản và… vợ trẻ
Vị phó đô đốc chỉ huy chiến dịch tiêu diệt Bin Laden
Khi tiếng đàn bác học cất lên nơi vỉa hè…

“Tôi nghĩ là không nên ví tình yêu và hôn nhân với chuyện phân phối nhà ngày xưa. Không phải tôi có đến ba suất nhà cùng một lúc, vì số kiếp lận đận nên mãi vẫn chưa “đứng số” được…”

Điện thoại liên hệ phỏng vấn GS Đặng Hùng Võ vào giữa tuần, ông cho biết đang bận và hẹn đến thứ Bảy ông sẽ chủ động gọi lại. Sáng cuối tuần, tưởng ông đã quên nhưng đúng giờ ông gọi, và hỏi: cô ở đâu, để tôi chủ động đến “vì trời đang nóng, tôi có ô tô, cô khỏi phải đi nắng”.

Thầm nghĩ trong đầu phải chăng đây chính là lý do sắp ở tuổi thất thập ông nổi tiếng ở nhiều lĩnh vực, ngay chuyện ông vừa tái hôn với bà xã kém 30 tuổi cũng khiến báo chí ‘bán chạy’. Buổi trò chuyện diễn ra ở nhà riêng của tôi, rất cởi mở thú vị.

Bà xã tôi có baby rồi!

Đám cưới tháng trước của giáo sư với nghệ sĩ Hồng Ánh là một trong những “sự kiện” nổi nhất của truyền thông. Chắc chắn cả các quý ông trẻ tuổi cũng hết sức ngưỡng mộ, đoán ông hẳn phải có một biệt tài, và mong muốn được giáo sư chia sẻ.

Tôi xin được khẳng định rằng tôi chẳng có tài cán gì trong chuyện nghệ thuật tán tỉnh phái đẹp vì tôi chẳng thích đóng kịch. Tình cảm là sự chân thực nhất mà phải vào vai diễn thì mệt mỏi lắm.

Tôi tôn trọng sự tự nhiên, nói chính xác hơn là sự hồn nhiên. Cái gì đến thì cứ hồn nhiên mà đến, cái gì đi thì cũng cứ hồn nhiên mà đi, đến hay đi thì tôi cũng không bao giờ né tránh. Tất nhiên là chuyện yêu thì phải từ cả hai phía, buộc nhau lại như số phận, cũng không có gì phải né tránh. Nói vậy không có nghĩa là có cô nào tán tỉnh thì cũng không né tránh (cười).

Đứng trước một việc gì đó đang đến, nhiều người cho là nên, nhiều người lại cho là không nên, sự cảm nhận chân thực nhất sẽ mách bảo mình rằng nên hay không nên. Chuyện tôi cưới vợ ở tuổi hưu, cũng có vài người bạn nói rằng giờ đã là “tuổi nghỉ ngơi rồi, tự nhiên giở việc ra làm gì”.

Tôi lại nghĩ khác, đời sống con người không có lúc nào là nghỉ và cũng không có lúc nào là làm cả. Khi việc đến mà mình thấy cần làm thì nên quyết tâm làm. Không bao giờ có khái niệm muộn mằn trong tình yêu, có tình yêu thì lúc nào cũng là ban đầu, đừng tránh những cảm giác thực nhất của con người. Câu chuyện chỉ giản dị vậy thôi, và tôi không thấy có gì bất thường cả (cười).

Đây là hôn nhân lần thứ 3 của giáo sư, nói theo kiểu ngôn ngữ bất động sản: Nhà chia lô, bình thường mỗi người một – giáo sư lại có đến ba “suất”. Vậy có thể gọi ông là người đào hoa hay trắc trở?

(Cười lớn) Tôi nghĩ là không nên ví tình yêu và hôn nhân với chuyện phân phối nhà ngày xưa. Không phải tôi có đến ba suất nhà cùng một lúc, vì số kiếp lận đận nên mãi vẫn chưa “đứng số” được. May mà ở độ lực bất tòng tâm mà vẫn có chị em rung động, số kiếp vậy cũng coi là may mắn.

Tôi nghĩ như thế này, đối với đàn ông chuyện hôn nhân, cũng có nhiều cách tiếp cận. Có lắm người để vợ đấy rồi đắm mình vào cuộc tình vụng trộm khác và ca rằng đó mới là tình yêu đích thực, sống như vậy là gian trá và ích kỷ. Cũng có một số người nghĩ rằng nên yên vị, không còn tình yêu nữa những cũng đừng vùng vẫy làm gì, sống như vậy cũng thụ động, số này chắc cũng không nhiều (cười).

Nhiều trường hợp cô đơn ở tuổi xế chiều thấy được tình yêu những cũng ngại ngùng mà tấp vào nhau nửa bí mật nửa công khai, sống như vậy là không công bằng với tình cảm. Tôi thì cho rằng con người làm cái gì cũng phải đàng hoàng, cần chủ động trong khuôn khổ pháp luật. Tình yêu thực phải dẫn đến đăng ký và cưới xin, và có baby cũng là hệ quả tất yếu. Bà xã đang có baby rồi.

Tôi từng là ‘soái’ ở Ba Lan

Xin chúc mừng giáo sư! “Hãy để tiền làm đầy tớ cho mình”, đó là một câu nói của giáo sư mà tôi hâm mộ. Giáo sư có thể chia sẻ nhiều hơn về triết lý kiếm tiền và tiêu tiền của ông?

Quan điểm về đồng tiền của tôi khá động. Gia đình tôi là một gia đình Nho giáo truyền thống. Tuy đến đời tôi thì chất Nho giáo trong nhà cũng đã bị ngoại cảnh làm cho phần nào phai nhạt. Ở giai đoạn đầu đời trước năm 33 tuổi, tôi vẫn tư duy theo kiểu hàn sĩ, cần phải nghèo mà thanh bạch nên rất khinh bỉ đồng tiền.

Tư duy đó ngự trị làm cho mình nhìn đồng tiền rất hằn học, coi đồng tiền là bẩn thỉu, lúc nào cũng sẵn sàng làm hoen ố người quân tử. Hồi đó tôi vẫn thích sống thanh cao, lấy học vấn làm trọng, không dính dáng gì đến tiền nong, mua đi bán lại là không được. Gia đình khó khăn thì đi dậy học kiếm thêm tiền chứ nhất định không đi buốn.

Đến năm 33 tuổi tôi đi Ba Lan nghiên cứu sinh, để lại vợ và 2 con còn nhỏ trong nước. Phần gia đình ở lại cũng như tôi ra đi đều rơi vào cảnh rất nghèo. Mọi người học tập ở Ba Lan đều phải kiếm tiền bằng cách gửi hàng từ Ba Lan nước bán đi rồi gia đình lại gửi tiền sang mua hàng rồi lại gửi về nước… Ngay cả khi đó tôi cũng nhất định không kiếm tiền bằng cách buôn bán như vậy.

Rồi những khó khăn cụ thể của vợ và 2 con còn bé làm cho mình thấy cứ thanh cao mãi thế này chắc có gì đó không ổn về tư duy. Bạn bè cũng cho vay tiền rồi lại gửi hàng về giúp để cứu đói cho nhà mình, mình cũng không có tiền trả nợ, vì học bổng cũng chỉ đủ đóng tiền ăn cho nhà bếp và mua được một hai bộ quần áo mặc thường mỗi năm. Trong hoàn cảnh đó mới thấy cái tư duy cao đạo của mình là ích kỷ, đồng tiền có tích sự thực, không nên căm ghét nó, không nên xa lánh nó mà mình cần nó. Như vậy, việc tư duy để tìm lợi nhuận từ buôn bán để có tiền là chấp nhận được.

Ông có phải là nhà buôn giỏi không?

Trong công việc thương mại, tôi cũng là một trong những người thành công. Cũng có vài anh em cùng thời tôi đã nói đùa rằng nên dựng tượng tôi ở biên giới Ba Lan và Liên Xô cũ vì công trạng tìm ra cách làm ăn lớn mà ngày nay những người Việt Nam ở Đông Âu đang làm (cười).

Khi đã quyết tâm làm thì tôi tư duy theo kiểu làm lớn, bài bản và công khai, không chấp nhận kiểu buôn vặt rồi lại vênh mặt trước anh em trong đơn vị rằng “tôi có đi buôn đâu”. Sống như vậy là đạo đức giả. Khi đã tiếp nhận tư duy như vậy thì phải nói thẳng là tôi đi buôn đàng hoàng và giúp những anh em khác vào cuộc như mình. Đến giờ, cũng còn có anh em vẫn gọi tôi là “soái” Ba Lan (cười). Cũng là một kỷ niệm vui của một thời đáng nhớ.

Điều quan trọng hơn tôi muốn nói ở đây là khi nhận thức được giá trị thực của đồng tiền, làm chủ thực sự của một guồng máy làm ra nhiều tiền thì mình cũng nhận thức được rằng tiền không thể là mục tiêu, tiền chỉ có thể là phương tiện. Chính vì vậy mà khi hết hạn nghiên cứu ở Ba Lan, tôi đã về nước đúng hạn và trao lại guồng máy làm tiền ở đó cho những anh em tiếp theo.

Nhìn lại, tôi không phải hối tiếc

Từng là Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, “ông quan điền thổ” như Báo ảnh của Thông tấn xã Việt Nam đã gọi, trong điều kiện kinh doanh bất động sản đang là một trong những khu vực kinh tế nóng nhất, sẽ thế nào nếu ông áp dụng tư chất của vị “soái Ba Lan” vào cương vị này nhỉ?

Thực tế là không. Tôi giữ một nguyên tắc là đã làm quản lý thì không tơ hào đến lợi ích từ khu vực mình quản lý. Tức là tôi hoàn toàn không dính đến việc buôn đất hay lấy đất dự án này nọ để sinh lợi, phải khẳng định là hoàn toàn không có.

Khi làm quản lý thì dường như triết lý Nho giáo của Khổng Tử lại quay trở lại tư duy của tôi. Người quản lý là người giữ trật tự trong lĩnh vực người đó quản lý. Muốn giữ trật tự tốt thì mọi việc phải minh bạch, không được dính dáng đến mọi lợi ích sinh ra từ khu vực mình phụ trách. Nếu không thì khu vực mình quản lý sẽ rất mất trật tự.

Cách đây vài hôm, ông có đề cập đến “lỗ thủng trách nhiệm” trong việc khai thác khoáng sản ở Hồ Ba Bể. Giờ đã về hưu ông có hối tiếc về một chữ kí nào của mình, hoặc một “lỗ thủng” nào đó khi còn là Thứ trưởng không?

Không, đó chính là một điều tôi hoàn toàn tự hào là mình chưa bao giờ vương vấn về lợi ích, không có bất kỳ một sự sai lầm nào mang tính vô thức hay hữu ý.

Cũng đã có những vụ mà có ý kiến trên báo nói về tôi rằng đằng sau công văn do tôi ký phải là cái bắt tay với lãnh đạo địa phương trị giá hàng tỷ đồng. Cảnh sát điều tra vào cuộc, làm rất kỹ, chẳng có cái bắt tay nào của tôi cả. Mọi cái bắt tay của tôi chỉ là hình thức ngoại giao và luôn miễn phí. Cũng có những lúc mình bị nghi oan đến như vậy mà mình vẫn thanh thản vì chẳng bao giờ xẩy ra việc đó. Còn về chuyện quan điểm xử lý trong quản lý là đúng hay sai lại là một câu chuyện dài, đúng hay sai dưới góc nhìn nào mới là bản chất. Nhiều việc kết luận chắc chắn là sai rồi vài chục năm sau lại là đúng.

Vay 1 hôm nay, sẽ phải trả 1000 ngày mai

Khi đương chức đến khi về hưu, từ góc độ một chuyên gia, điều gì khiến ông suy nghĩ lo lắng nhất?

Trước đây đất đai là điểm nóng vì giá đất của Nhà nước và giá đất bên ngoài chênh lệch nhau quá lớn. Nay pháp luật đã làm giảm nóng được khá nhiều. Vấn đề nóng nhất nổi lên hiện nay là khai thác khoáng sản. Các doanh nghiệp đang ồ ạt tới các địa phương tìm kiếm mỏ để khai thác, lợi nhuận khá lớn.

Trong cái lợi nhuận lớn đó có một phần chính là vay của môi trường, không phải lợi ích do con người làm ra. Đáng nhẽ, nhà đầu tư khai thác mỏ phải trả mọi chi phí để khắc phục các tổn hại đến môi trường do việc khai thác đó gây ra. Các nhà đầu tư này thường tính đến việc “quỵt” một phần hoặc toàn bộ chi phí khôi phục môi trường. Khi các nhà quản lý có trình độ cao và đạo đức tốt thì các nhà đầu tư khó thực hiện được hành vi “ăn quỵt” này.

Trên thực tế, việc “ăn quỵt” môi trường vẫn đang xẩy ra ở rất nhiều nơi. Nói như vậy là dưới góc độ tư duy của nhà đầu tư. Thực chất, môi trường không hề cho ai được “ăn quỵt” mà chỉ cho vay thôi. Vay của môi trường là một món vay “nặng lãi”. Ngày hôm nay vay của môi trường một mà trả ngay thì cũng chỉ phải trả một, khi không trả ngay hôm nay do ý đồ muốn quỵt thì ngày mai con cháu chúng ta sau này phải trả tới một nghìn mới khắc phục được những tổn hại do hôm nay gây ra, có khi trả nhiều hơn nữa mà vẫn không hết được nợ.

Trong bài toán khai thác khoáng sản, nếu phải trừ đi tất cả những chi phí khắc phục tổn hại đến môi trường thì lợi nhuận cũng không cao, nhiều trường hợp còn bị lỗ. Hiện nay, các doanh nghiệp ồ ạt nhảy vào khai thác khoáng sản là vì chỉ cần móc được khoáng sản lên để bán là được, bỏ mặc môi trường ở đó.

Một nghịch lý trên thế giới cho thấy, tất cả những nước có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên thì lại phát triển kém hơn các nước không có tài nguyên thiên nhiên. Khi có khoáng sản, họ bới khoáng sản lên để bán nhằm tìm kiếm sự giầu có. Khi hết khoáng sản, họ lại rơi vào cảnh nghèo. Khi không có khoáng sản, con người buộc phải tìm mọi cách sử dụng lao động để làm ra hàng hóa nhằm tìm kiếm sự giầu có, sức lao động của con người luôn bảo đảm sự giầu có trong mọi hoàn cảnh.

Do đó, về chủ trương chung, tôi cho rằng chỉ cần khai thác những loại khoáng sản không thể thiếu trong quá trình phát triển đất nước, như dầu khí chẳng hạn, còn lại cần cất giữ trong lòng đất. Hãy coi như chúng ta không có các tài nguyên khoáng sản đó nữa. Hãy phát triển bằng các loại hàng hóa, dịch vụ chất lượng cao do sức lao động chân tay và trí tuệ của con người làm ra.

Nói như vậy có thể cải biên kiểu như “Hãy đóng cửa Bộ Tài nguyên – Môi trường đi, dành tiền đó để nuôi Bộ Giáo dục – Đào tạo”?

Không phải thế, vẫn phải nuôi Bộ TNMT, nhưng nuôi để làm nhiệm vụ không cấp phép nữa (cười), chính xác hơn là chỉ cấp phép khai thác đối với những loại khoáng sản mà không thể thiếu trong quá trình phát triển.

Đối với bộ Giáo dục và Đào tạo, việc nuôi lại càng phải chăm chút tốt hơn vì đó là đầu máy của một cỗ máy chuyên sản xuất ra những con người có trình độ chuyên môn cao và đạo đức tốt. Đây chính là hạ tầng quyết định việc sản xuất ra các hàng hóa, dịch vụ có chất lượng cao cho đất nước.

Thưa Giáo sư, ngoài vấn đề môi trường thì còn việc gì quan trọng nữa cần đề cập trong khai thác khoáng sản ở nước ta?

Trên thực tế, người dân ở các địa phương đang chịu áp lực rất lớn do việc khai thác khoáng sản gây ra. Họ phải chịu áp lực về kinh tế, áp lực do sự ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe.

Họ đang sống yên lành trên “núi vàng núi bạc” nhưng rồi có một ngày, một nhà đầu tư tới đào bới, làm đảo lộn tất cả, họ lại là những người khổ nhất. Họ không chỉ không được hưởng lợi ích gì từ những tài nguyên dưới chân họ, mà còn phải gánh chịu tất cả mọi thiệt hại từ khai thác tài nguyên đó. Gánh chịu mọi thiệt hại nhưng lại không được bồi thường chút nào. Đấy là sự bất công lón nhất và cũng là một bi kịch lớn nhất của việc khai thác khoáng sản.

Chủ của những mỏ đang khai thác có khi đang sống phè phỡn ở một đô thị đông vui nào đó, cộng đồng người dân tại nơi có khoảng sản lại phải gánh chịu mọi thiệt thòi, cơ cực ở đó. Trên bình diện cả nước, người gọi đây là bài toán đánh đổi, nhưng giữa những nhóm người cụ thể có liên quan tới việc khai thác mỏ thì sự đánh đổi ở đây rất bất công. Nhóm người giầu đang lấy tiền công khai của nhóm người nghèo.

Với góc độ một chuyên gia trong quản lý đất đai, ông cho rằng liệu có những bất công tương tự trong bài toán sử dụng đất hay không?

Có và vấn đề bất công cũng ở mức độ trầm trọng không kém. Ngay trong quy hoạch sử dụng đất đai, lời giải quy hoạch là khách quan hay cũng trở thành yếu tố chủ quan của một nhóm lợi ích nào đó. Cụ thể như tranh luận vừa qua trên báo chí về quy hoạch con đường “tâm linh” từ hồ Tây kéo lên đến Ba Vì. Một bên thì quyết tâm chứng minh rằng con đường này là hết sức cần thiết, còn một bên khác lại khẳng định là không cần đến. Ý kiến về vị trí không gian của một con đường rất cụ thể nhưng luận cứ lại chẳng có một chút phân tích không gian cụ thể gì. Câu chuyện vẫn đang chờ hồi kết!

Như vậy, mọi tranh luận chỉ là hình thức. Nội dung này lại liên quan tới những vấn đề thực tế rất nóng về khai thác đất đai, tài nguyên khu vực Ba Vì mà báo chí đã nói tới. Vậy việc quy hoạch con đường này chỉ như một giải pháp sử dụng vốn ngân sách nhằm làm tăng giá trị đất đai ở đó. Người dân ở Ba Vì đâu có được lợi ích gì từ giá trị đất đai đang tăng lên khi có con đường cao tốc chạy qua. Họ lại phải rời bỏ đất ven đường để di vào vùng sâu hơn và xa hơn.

Bài toán này khó nhưng không phải không thể giải, vấn đề là ta có muốn giải hay không.

Xin cảm ơn ông!

Chủ của những mỏ đang khai thác có khi đang sống phè phỡn ở một đô thị đông vui nào đó, cộng đồng người dân tại nơi có khoảng sản lại phải gánh chịu mọi thiệt thòi, cơ cực ở đó. Trên bình diện cả nước, người gọi đây là bài toán đánh đổi, nhưng giữa những nhóm người cụ thể có liên quan tới việc khai thác mỏ thì sự đánh đổi ở đây rất bất công. Nhóm người giầu đang lấy tiền công khai của nhóm người nghèo.

PN&HĐ: “Sướng quan”, “nhiều sâu” và …dọa dân


PN&HĐ: “Sướng quan”, “nhiều sâu” và …dọa dân
Tác giả: Kỳ Duyên
Bài đã được xuất bản.: 11 giờ trước

Recomend
+26

Red

In
Email
Thảo luận

TRONG MỤC NÀY (Đọc thêm)

PN&HĐ: “Sướng quan”, “nhiều sâu” và …dọa dân
GS Đặng Hùng Võ nói về tiền, khoáng sản và… vợ trẻ
Vị phó đô đốc chỉ huy chiến dịch tiêu diệt Bin Laden
Khi tiếng đàn bác học cất lên nơi vỉa hè…

1

Quan “hành khất” và quan đi xe xịn, nhiều “con sâu” và nỗi xâu hổ của người lãnh đạo, một ông quan huyện chỉ thích dọa dân…là những lát cắt bi hài của cuộc sống mà chuyên mục Phát ngôn và hành động tuần này xin chia sẻ với bạn đọc

Quan “hành khất” và quan đi xe xịn

Rất ngẫu nhiên, mới đây vào ngày 7 và 10-5, trên báo Sài Gòn Tiếp Thị và Bee.net.vn có 2 thông tin, mà khi đọc người ta bỗng cảm thấy dư vị chua chát của kiếp người.

Đó là tin “Thanh Hoá- thiếu đói từ miền xuôi lên miền ngược”: Hiện nay tại 21/27 huyện, thị xã, t/p của tỉnh Thanh, có tới 93.283 hộ (241.558 nhân khẩu) đang thiếu đói lương thực, phải chạy ăn từng bữa. Nhiều hộ phải ăn khoai độn hàng ngày, ăn ngô giống… Đến mức ông Phó Chủ tịch tỉnh vừa phải “vác rá”- làm công văn số 2592/UBND-DTMN gửi Thủ tướng CP xin hơn 2000 tấn gạo cứu trợ cho dân chúng trong kỳ giáp hạt.

Có điều, nếu trước đây, tin dân thiếu đói khiến cả xã hội lo ngại, thì bây giờ, người ta lại đặt câu hỏi ngược!

Ở một đất nước đã vươn lên đứng thứ 2 xuất khẩu lúa gạo, nhiều tỉnh đang hướng tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì cái việc lãnh đạo một tỉnh chưa phải tỉnh khó khăn nhất như Đắc Nông, Điện Biên, Lai Châu… vẫn còn làm “hành khất” với trung ương, kể cũng kỳ kỳ. Đến mức, có ý kiến cho rằng nên xem lại, lãnh đạo như vậy thì cũng là “thiếu đói” về năng lực?

Bên cạnh cái tin quan phải “hành khất” là cái tin “quan sướng”: “Quan chức Bộ Tài chính muốn đi xe xịn hơn?”. Cái tin ấy, không biết có làm xao xuyến con tim quan chức các Bộ, các ngành không, nhưng chắc chắn nó làm cái bụng đói cồn cào của người dân tỉnh Thanh… réo sùng sục

Theo dự thảo mới này, trung bình các quan chức Bộ TC được cấp thêm từ hơn 200 triệu đồng đến 300 triệu đồng để mua xe công: Bộ trưởng được cấp thêm 300 triệu đồng (từ 800 triệu đồng lên 1,1 tỷ đồng), tăng 40% so với mức kinh phí hiện quy định. Xe công cho các lãnh đạo, công ty thuộc Bộ này cũng tăng khoảng 25-30%.

Ngay lập tức các chuyên gia kinh tế định lượng- nhưng là sự định lượng về đạo lý:

1) Trong thời điểm lạm phát tăng cao, đời sống nhân dân nhiều nơi rất khó khăn, Chính phủ đang chủ trương cắt giảm đầu tư, chi tiêu công, dự thảo này có hợp lý và có phải đạo?

2) So sánh với mức lạm phát năm 2010 là hơn 10%, thì việc dự thảo tăng kinh phí mua xe mới đây không phải do lạm phát và trượt giá, mà vì các quan chức muốn lên đời xe xịn hơn!

3) Trung bình, mỗi xe tăng 200 triệu đồng, mỗi Bộ ít nhất cũng trăm chiếc. Sau Bộ TC, nếu 20 Bộ, và chính quyền các cấp ở 65 tỉnh, TP cả nước cũng nô nức học tập tấm gương đi xe xịn của các quan chức Bộ TC, thì số tiền phát sinh sẽ là trăm nghìn tỷ đồng.

Và còn thêm một sự không phải đạo nữa: Chưa ai tính được chất xám của các quan chức đi xe xịn đóng góp hiệu quả ra sao vào những chủ trương, chính sách đúng đắn cho dân nhờ. Nhưng người dân thì chỉ nhớ bằng “mắt thấy tai nghe” có những xe công, xe xịn dùng để đưa các phu nhân đi lễ bái cầu lộc cầu tài, cầu chức cầu vinh, đi chúc mừng và đón 1 vị tiến sĩ nào đó vừa đội mũ con chuồn chuồn.

Xe biển xanh chở người đi lễ chùa… Ảnh Dân trí

Xe xịn oách và oai đến nỗi cách đây ít lâu, một ông giám đốc doanh nghiệp tư nhân (xe biển trắng) cũng phải tìm mọi cách đi đêm để mua được một cái biển xanh, dọa thiên hạ giữa thanh thiên bạch nhật. Sợ quá!

Rất tình cờ, trên báo Lao Động, cách đây hơn 1 tháng, có đưa tin nước láng giềng- Trung Quốc, một nước kinh tế khổng lồ, bình quân thu nhập cao hơn hẳn mà mới đây, Chính phủ nước này đã yêu cầu các bộ trưởng và chủ tịch tỉnh nâng thời hạn sử dụng xe công lên 8 năm mới được đề nghị thay mới. So với quy định cũ, niên hạn sử dụng xe công cho quan chức tại Trung Quốc kéo dài thêm 3 năm.

Không hiểu các quan chức Bộ TC nghĩ gì khi đọc tin này?

Và không hiểu người dân chúng ta nghĩ thế nào về năng lực và phẩm cách các quan “hành khất” và quan đi xe xịn bạc tỉ?

“Sâu” và thuốc DDT

Mới đây, 1 bài viết trên ViêtNamNet khiến dư luận cả xã hội xôn xao: “Một con sâu đã nguy hiểm huống gì một bầy”. Xôn xao, vì đó là câu phát ngôn cực kỳ ấn tượng, và hay nhất của ông Trương Tấn Sang, Thường trực Ban Bí thư trong cuộc tiếp xúc với cử tri Quận 1 (TP. HCM).

“Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ, không nhẽ cứ để hoài như vậy. Mai kia người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì đâu có được. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là ‘chết’ cái đất nước này”

Đọc kỹ, người viết bài này đã lặng đi hồi lâu.

Xin cảm ơn ông Trương Tấn Sang đã hiểu, và chia sẻ với nỗi đau lớn của nhân dân.

Đương nhiên, có sâu thì phải có thuôc trừ sâu DDT. Nhân dân ngàn đời nay- chồng cầy vợ cấy con trâu đi bừa- vẫn làm như thế.

Nhưng những con sâu- như ông đã trầm ngâm và xấu hổ thốt lên, thì DDT sẽ phải là loại biệt dược gì? Để có thể diệt trừ được, nhất là sâu tham nhũng, loại sâu quốc nạn. Làm đất nước suy vi. Làm nhân dân mất niềm tin. Làm kẻ thù hí hửng. Làm vị thế dân tộc yếu đi trong con mắt quốc tế. Họa của quốc gia chưa đến từ bên ngoài, mà rất có thể nảy nòi từ bên trong, bắt đầu từ loại sâu này.

Đương nhiên không thể khác, thuốc DDT đặc trị- chính là 1 thiết chế quản lý xã hội văn minh, tiên tiến, hợp quy luật và vì lợi ích dân tộc. Nhiều người vẫn hoài nghi về loại thuốc đặc trị đã có chưa, nhưng cũng không ít người nhen nhóm niềm hy vọng, khi ông nhấn mạnh: “Mục tiêu trước mắt là sửa đổi cơ chế, thể chế và tổ chức chỉ đạo”.
Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang.
Một sự sửa đổi cơ chế, thể chế, hay đổi mới tiếp tục- là nhu cầu tự thân, là tiếng gọi thiết tha của dân tộc, của sự phát triển. Nhưng sự sửa đổi đó, phụ thuộc lớn vào tầm tư duy chiến lựơc, vào cái tâm và bản lĩnh của bộ máy lãnh đạo đất nước. Đổi mới theo phương cách nào là sự chọn lựa tài ba hay không, nhưng cuối cùng hành pháp vẫn phải ra hành pháp, lập pháp phải ra lập pháp, tư pháp phải ra tư pháp. Và thần Công lý không thể bị bịt mắt chỉ vì mải …đếm tiền.

Lịch sử của mọi quốc gia trên thế giới không có chỗ cho chữ “giá như”, mà lịch sử chỉ có chỗ cho chữ “trả giá”. Nếu thất bại chỉ dân tộc là thiệt thòi, và nhân dân lãnh đủ. Nếu thành công, dân tộc ấy có cơ phát triển và thăng hoa.

Dân tộc Việt Nam đã trả giá, và chấp nhận trả giá đắt trong quá khứ chiến tranh chống xâm lược, để có một nền độc lập, tự do vô giá. Nhưng trong thời hội nhập, chúng ta phải trả giá đắt bằng biết bao tiền thuế của dân, lại là vị đắng của sự non kém.

Vì lẽ đó, nhân dân đang trông đợi vào sự sửa đổi vĩ đại như ông, thay mặt cho các đồng chí, đồng sự đã cam kết trước các cử tri, cũng là trước nhân dân. Một chữ Đợi, xin đừng để quá lâu, đừng để như ý tứ ca từ Đợi thiết tha của nhạc sĩ Huy Thục: “Đợi một ngày, đất lạ thành quen. Đợi một đời anh quen thành lạ!”. Xin đừng để một đời…

Lòng mẹ và sự “từ mẫu”

Ngày 7-5- 2011, báo Tuổi Trẻ có một bài viết với tiêu đề giản dị: “Mẹ của trẻ bị bỏ rơi”. Nhưng câu chuyện lại mang đến cho người đọc những xúc cảm đa chiều. Đó là hai người đàn bà- chị Đặng Thị Hiệp, và chị Nguyễn Thị Lành, đều ở lứa tuổi 50 ‘tri thiên mệnh”. Không rõ vì những ẩn ức nào trong đời riêng, mà hàng chục năm nay, các chị chỉ đắm đuối với số phận của những đứa trẻ sơ sinh còn đỏ hỏn bị cha mẹ chúng nhẫn tâm vứt bỏ.
Chị Đặng Thị Hiệp nâng niu những đứa trẻ bất hạnh. Ảnh Tuổi Trẻ

Và thế là Tổ ấm Bình Minh (thôn Tân Mỹ, thị trấn Thuận An, Phú Vang, Thừa Thiên – Huế) trở thành gia đình mẹ Hiệp, mẹ Lành cùng hàng chục đứa con sơ sinh đang khát sữa, khát sự âu yếm vỗ về của tình mẹ.

Con số trẻ được 2 mẹ nuôi nấng không hề nhỏ, nếu như biết rằng, mỗi năm có tới 50 đứa trẻ vô tội được nhặt mang về đây. Những giọt sữa ân tình và nhân ái của cuộc đời góp lại nuôi hàng trăm thiên thần, từ mong manh sự sống, đến khi da trắng môi hồng, thông qua Ban bác ái xã hội Giáo phận Huế, và nhờ vào đôi tay, tấm lòng của mẹ Hiệp, mẹ Lành.

Những người như mẹ Hiệp, mẹ Lành không hiếm trong đời này. Một sư thầy Đàm Lan hàng chục năm nay nuôi nấng hàng trăm bé thơ và những đứa trẻ bị ruồng bỏ, không nhà không cửa, cư ngụ dưới mái chùa Bồ Đề (Gia Lâm- Hà Nội). Một người mẹ trẻ Mai Anh gắn bó cả cuộc đời gia đình mình với bé Thiện Nhân, em bé bất hạnh mới sinh bị vứt bỏ, bị thú hoang ăn đứt cả bộ phận sinh dục và một bên chân.

Một ông bố có cái tên như phận làm người của ông- Tống Phước Phúc, hàng chục năm nay, tình nguyện chôn cất các hài nhi không may, rồi nuôi dưỡng, khuyên nhủ những người mẹ trẻ lầm lỡ dũng cảm chấp nhận bổn phận làm mẹ, để nuôi dưỡng các sinh linh của chính mình… Cũng may, vẫn còn có những con người, họ có thể không được làm mẹ, có thể là nhà tu hành, thậm chí có thể là một người đàn ông…Tất cả đều trọn vẹn hai chữ- lòng Mẹ.

Nhưng cũng giá như trong đời này, không có những người bố, người mẹ ích kỷ và vô trách nhiệm, vô cảm đến nhẫn tâm, đến ghẻ lạnh sau những hoan lạc, những mê đắm tối tăm của họ. Thì đời sẽ bớt đi những bất hạnh bé thơ.

Tiếc thay, sự ích kỷ, vô cảm của con người giờ đây, cũng ngang nhiên trú ngụ ngay trong lương tâm của những người có học thức, có trình độ, lại nhân danh trách nhiệm xã hội cao quý- thầy thuốc cứu người. Nó như sự đối chứng xấu hổ với những người mang nặng tấm lòng người mẹ lặng lẽ trong đời nói trên.

Bởi mới đây, ngày 5-5, báo Tuổi Trẻ có bài điều tra mang tiêu đề Bệnh viện vệ tinh thu phí cắt cổ. Tóm tắt: Trung tâm Chỉnh hình và phục hồi chức năng trẻ tàn tật vận động (1A Lý Thường Kiệt, Q.Tân Bình, TP.HCM, gọi là Trung tâm 1A), là bệnh viện vệ tinh của bệnh viện Chợ Rẫy nhận điều trị tiếp những người có bệnh lý tạm ổn định của bệnh viện CR (do quá tài) chuyển sang.

Đương nhiên vệ tinh này phải có bổn phận “thối” lại những lãi lờ thơm tho cho bệnh viện CR: 15% trên tổng số tiền thu được. Số tiền được phân bổ cụ thể: Ban Giám đốc 2,5%, phòng Kế hoạch tổng hợp 2,5%, phòng Tài chính kế toán 2,5%, khoa Chuyển bệnh 7,5%.

Nói cho công bằng, ở thời buổi này, và sự làm ăn ở đâu cũng vậy, ông có rút chân giò, bà mới thò chai rượu. Người thầy thuốc cũng cần phải sống, khi mà đồng lương Nhà nước trả cho họ còn eo hẹp. Thế nhưng ở đây, cái sự thầy thuốc “cắt cổ” bệnh nhân- như tên bài viết- để tự cứu mình, trước khi họ ra tay mổ xẻ cứu người, nó thất đức quá, nhất là ở cái ngành cần chữ đức làm đầu.

Để bù lại cái 15% đã mất, Trung tâm 1A đã làm gì mà đến nỗi có biết bao cảnh “bệnh nhân khóc, bác sĩ cười”?

Đến nỗi nhiều bệnh nhân cho rằng mình đã bị lừa. Và họ chua chát tặng cho vệ tinh này danh hiệu cao quý “Bệnh viện 2 ngày 3 triệu”. Cứ nằm 2 ngày, chưa biết bệnh tình ra sao, đã nhận giấy thông báo nộp tiền tạm ứng 3 triệu đồng. Các bệnh nhân dù nặng hay nhẹ, đều được điều trị gần như giống nhau, cùng được truyền dịch, chích thuốc 2-3 lần/ngày, được phát thêm vài viên thuốc uống,và đều có mức viện phí hơn 1 triệu đồng/ngày.

Cũng không phải chỉ có vệ tinh Trung tâm 1A. Ngay giá thuốc kê cho bệnh nhân- là của bệnh viện CR áp giá cho vệ tinh- cũng rất cao. Một bênh nhân bị chấn thương sọ não nhẹ, vẫn đi lại được, mà được kê đơn tới 800.000-1 triệu đồng/ngày. Không tin nổi, BS Dương Minh Mẫn, Trưởng khoa chấn thương sọ não Bệnh viện CR, cũng phải thốt lên: Không có lý gì mà kê tới giá đó? Ông bác sĩ quản lý khoa còn hoa mắt với giá thuốc nói chi người bệnh?

Phải rất buồn mà nói rằng, từ lâu cái câu khẩu hiệu “Lương y như từ mẫu” (Thầy thuốc như mẹ hiền) đã được bệnh nhân hiểu một cách mai mỉa rằng: “Từ mẫu” tức là từ bỏ tấm lòng người mẹ (!).

Có ai, người thầy thuốc nào còn nhớ tới Lời thề Hippocrates? Hay người ta chỉ nhớ mỗi câu thành ngữ VN: “Lời thề….cá trê chui ống!”(?)

Vì dân hay dọa dân?

Ngày 4-5, VietNamNet đưa tin ông Phan Thanh Lai, nguyên Chủ tịch UBND huyện Đạ Hoai (Lâm Đồng) bị ông Trần Đăng Khoa, ngụ tại khu phố 3 thị trấn Mađagui của huyện này, làm đơn tố cáo đã dùng súng ngắn uy hiếp gia đình ông.

Cơ sự thế này: Cuối tháng 10/2020 Vợ chồng con trai ông Lai vay của gia đình ông Khoa 470 triệu đồng- một khoản tiền khá lớn. Sau nhiều lần hứa hẹn, cuối cùng họ tuyên bố vỡ nợ không có khả năng chi trả. Vào ngày 8-3-2011, ông Khoa có gọi cho chị Dương Trùng Dương, con dâu ông Lai nói chuyện phải trái: “Nếu vợ chồng em không trả nợ cho anh thì anh sẽ phải bán nhà trả nợ cho ngân hàng, sau đó anh sẽ dọn sang nhà em ở luôn”.
Ông Khoa đang diễn tả lại vụ bị ông Lai dọa bắn, Ảnh VietNamNet

Không biết chị Dương, con dâu ông Lai về nhà tiếp tục “trái phải” thế nào cho bố chồng nghe, mà ông Lai nổi giận đùng đùng, cầm luôn khẩu súng ngắn K 59 sang nhà chủ nợ của con dâu lên đạn, chĩa súng thẳng vào vợ chồng ông Khoa: “Hôm nay tao qua đây, ăn thua đủ với vợ chồng mày…”. Vợ ông Khoa thấy súng hoảng quá, ngất xỉu. Biết gặp phải “hình sự’ rồi, ông Khoa tính đường thoát thân, thì bị ông Lai chặn lại, dí súng vào đầu: “Mày bước vô nhà không, tao bắn vỡ sọ”, rồi tiếp tục uy hiếp, chửi rủa “chủ nợ” suốt 10 phút sau đó.

Phải tới khi con trai ông là Phan Thanh Lợi chạy qua mới lôi được ông về, nhưng cựu chủ tịch huyện vẫn còn dọa lần cuối: “Tao thách mày kiện tao”

Đương nhiên, ông Khoa sau phút hoàn hồn, thì thực hiện đúng lời ông cựu chủ tịch huyện nhắn gửi.

Chuyện vỡ lở, bàn dân thiên hạ đều biết. Ông cựu chủ tịch huyện khi đương chức, chả ai biết ông là ai, ngoài mỗi cái huyện ông quản lý. Khi nghỉ hưu, phút chốc lại nổi tiếng toàn xã hội bởi cái hành vi vi phạm pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và đe dọa giết người. Nhưng người dân thì không khỏi bàn tán, vì sao đang là quan hệ “dân sự”, bỗng chốc ông cựu chủ tịch huyện lại cứ thích chuyển thành quan hệ “hình sự”?

Nên biết thêm, ông Lai từng giữ các cương vị quan trọng: Chủ tịch UBND huyện Đạ Hoai, Chủ tịch UBND huyện Đam Rông và trước khi nghỉ hưu năm 2010, ông còn là Bí thư Huyện ủy Cát Tiên. Tức là người phải nắm rất vững về nguyên tắc ứng xử theo quy định pháp luật và đạo đức đảng viên.

Trước đó, ngày 28-4, Tam nhin.net đưa bài: “Hình ảnh súng thần công trước trụ sở UBND huyện nói gì?”. Thì ra, những người dân lần đầu đến trụ sở HĐND – UBND Đức Thọ (Hà Tĩnh) không khỏi ngỡ ngàng và phát sợ khi thấy phía trước tiền sảnh trụ sở là 2 “ông” súng thần công ngạo nghễ vươn nòng. 1 ông chĩa nòng về phía đông bắc, ông kia chĩa nòng phía đông nam.

Người am hiểu bảo, xưa nay súng thần công chỉ trang trí ở viện bảo tàng, hoặc doanh trại quân đội, biểu trưng cho sức mạnh quân sự. Đố thấy ở đâu, súng thần công đặt trước UBND. Hơn nữa, diện mạo chính quyền, nơi hàng ngày phải tiếp dân, lắng nghe dân bao giờ cũng phải thể hiện sự lịch sự, văn hóa, khiến dân cảm giác thân thiện. Đó cũng chính là tư tưởng, là triết lý lãnh đạo của hệ thống chính trị một quốc gia, từ cấp cao đến cơ sở.

Thế mà ở đây, huyện Đức Thọ có phong cách rất khác đời- một mình chơi một kiểu!

Có lẽ cũng biết những lời bàn ra tán vào của dân, nên sau đó ít lâu, ở ngực 2 ông thần công bỗng lủng lẳng tấm biển đề: “Nhân dịp kỉ niệm 65 năm ngày thành lập QĐNDVN 20 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân. Chi hội Doanh nghiệp huyện Kính tặng UBND huyện Đức Thọ”. Dân Đức Thọ lại một phen bán tín bán nghi: Quà tặng nhân ngày QĐNDVN thì địa chỉ được tặng phải “dính líu” tới súng ống, như Ban Chỉ huy Quân sự huyện mới phải.

Người ta đi hỏi tiếp ông Chi hội Doanh nghiệp huyện, thì ông Đoàn Minh Khoa, Chi hội trưởng Doanh nghiệp huyện (từ 2006 đến 2010), rồi cả một số doanh nghiệp cũng chả ai biết 2 cái khẩu thần công đó ở đâu ra.

Chuyện 2 ông thần công chĩa thẳng ra 2 hướng đằng đằng sát khí, cũng chưa ngã ngũ hệt chuyện ông cựu chủ tịch huyện Đạ Hoai (Lâm Đồng) dí súng vào đầu dân. Còn dư luận ở Đức Thọ thì vẫn nghi có gì đó không trung thực trong cái món quà tặng đặt không đúng địa chỉ này.

Còn người viết bài này chợt nghĩ tới Cụ Hồ, luôn dạy cán bộ: “Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân”, mà chán cho mấy ông quan huyện này quá.

“Vì dân” chưa thấy đâu mà chỉ thích….dọa dân.
Red

In
Email
Thảo luận

(Đọc thêm TRONG MỤC NÀY)
* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu
Các bài viết khác

PN&HĐ: “Sướng quan”, “nhiều sâu” và …dọa dân (11 giờ trước)
“Hình ảnh những người Trung Quốc giàu có hư hỏng” (10 giờ trước)
Để giải quyết vấn đề nhập siêu (10 giờ trước)
Trung – Mỹ liệu có xung đột? (10 giờ trước)
Chương trình Nhạc hòa tấu thính phòng đặc biệt “VNSO CHAMBER CONCERT” (12/05/2011 12:30 GMT+7)
Đam mê và dân chủ (10 giờ trước)
Internet “ngốn” điện hơn cả… công nghiệp ô tô (12/05/2011 05:00 GMT+7)
GS Đặng Hùng Võ nói về tiền, khoáng sản và… vợ trẻ (12/05/2011 06:00 GMT+7)
Đầu tư nước ngoài của Trung Quốc: Động cơ và hệ lụy (12/05/2011 06:00 GMT+7)
Quy hoạch- phát triển giao thông: Sai lầm nối tiếp sai lầm? (11/05/2011 05:00 GMT+7)


trang web tổng hợp các tin từ tiếng NGa: http://kichbu.multiply.com/journal
Bắc Triều Tiên xem sát hại bin Laden là bất hợp pháp May 9, ’11 6:13 AM
for everyone
09.05.2011, 12:38:39
Осама бин Ладен. Кадр “Аль-Джазиры”, архив
Osama bin Laden. Ảnh lưu trữ.
Bắc Triều Tiên xem sát hại bin Laden là bất hợp pháp
В Северной Корее убийство бин Ладена сочли незаконным

Nguồn:lenta.ru

Kichbu post on thứ hai, 09.05.2011

.

Các đại diện của CHDCND Triều Tiên lần đầu tiên bình luận chiến dịch của đơn vị đặc nhiệm Hoa Kỳ về việc tiêu diệt thủ lĩnh “Аl-Qeada” Оsama bin Laden. Theo “Yonhap” đưa tin hôm thứ hai, 9 tháng năm, bài báo như vậy đã xuất hiện tại tờ báo “Choson Sinbo” xuất bản tại Nhật Bản, thể hiện các quan điểm của các quan chức Bắc Triều Tiên.

.

Trong bài viết của bài báo nói rằng Washington không có bất kỳ chứng cứ nào cho thấy chính bin Laden là người tổ chức các vụ khủng bố ngày 11 tháng chín. Liên quan đến vấn đề này, tác giả của bài báo cho rằng, những người Mỹ cần không phải giết thủ lĩnh “Al-Qeada”, mà phải đưa ông ta ra tòa.

.

Chính bản thân chiến dịch tiêu diệt “ kẻ khủng bố số một”, bài báo khẳng định, đã thực hiện với những vi phạm. Nói riêng, tờ “Choson Sinbun” viết, các binh sỹ Mỹ đã vi phạm chủ quyền quốc gia của Pakistan, xâm nhậm vào lãnh thổ của đất nước chưa được sự đồng ý của các quan chức của nó.

.

Theo ý kiến của tờ báo, sau khi thủ tiêu bin Laden, Washington đã thể hiện sự thiên hướng của chính sách “chủ nghĩa đế quốc kiêu ngạo” và “chủ nghĩa khủng bố quốc tế”.

.

Chiến dịch tiêu diệt bin Laden đã được tiến hành bởi đội đặc nhiệm của hải quân Hoa Kỳ vào đêm rạng ngày 2 tháng năm tại thành phố Abbottabad ở Pakistan. Đích thân tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã tuyên bố về việc tiêu diệt thủ lĩnh của mạng lưới khủng bố. Sau đó ông đã gặp gỡ với những binh sỹ tham gia chiến dịch và hiện tên tuổi của họ được giữ tuyệt mật. Như tin đã đưa, tất cả họ sẽ được tặng thưởng.

.

Phản ứng về việc thủ tiêu bin Laden phần lớn là tích cực. Các thủ lĩnh của nhiều nước thể hiện sự bằng lòng và thậm chí vui mừng liên quan đến cái chết của bin Laden. Trong khi đó các đại diện của phong trào cực đoan Plestina HАМАS đã lên án gay gắt việc giết hại thủ lĩnh của “Al-Qeada”. Các thành viên của “Таliban” cũng có phản tương tự và hứa sẽ trả thù cho cái chết của người khủng bố. Ngoài ra, ngay cả ở Venezuela cũng bày tỏ sự bất bình với các hành động của quan chức Wasington.-Kichbu-

Новость на Newsland: Бин Ладен погиб в 2001, 9/11 дело рук администрации США

Сác đường dẫn theo đề tài
– Pro-N.K. group blasts U.S. for bin Laden killing – “Ренхап”, 09.05.2011
– Обама встретился с уничтожившими бин Ладена бойцами – Lenta.ru, 07.05.2011
– Обама отказался от публикации посмертных фото бин Ладена – Lenta.ru, 04.05.2011
– Генпрокурор США оправдал уничтожение бин Ладена – Lenta.ru, 04.05.2011

http://kichbu.multiply.com/journal Bắc Triều Tiên xem sát hại bin Laden là bất hợp pháp


Trang web tổng hợp tin từ tiếng Nga: http://kichbu.multiply.com/journal
Bắc Triều Tiên xem sát hại bin Laden là bất hợp pháp May 9, ’11 6:13 AM
for everyone
09.05.2011, 12:38:39
Осама бин Ладен. Кадр “Аль-Джазиры”, архив
Osama bin Laden. Ảnh lưu trữ.
Bắc Triều Tiên xem sát hại bin Laden là bất hợp pháp
В Северной Корее убийство бин Ладена сочли незаконным

Nguồn:lenta.ru

Kichbu post on thứ hai, 09.05.2011

.

Các đại diện của CHDCND Triều Tiên lần đầu tiên bình luận chiến dịch của đơn vị đặc nhiệm Hoa Kỳ về việc tiêu diệt thủ lĩnh “Аl-Qeada” Оsama bin Laden. Theo “Yonhap” đưa tin hôm thứ hai, 9 tháng năm, bài báo như vậy đã xuất hiện tại tờ báo “Choson Sinbo” xuất bản tại Nhật Bản, thể hiện các quan điểm của các quan chức Bắc Triều Tiên.

.

Trong bài viết của bài báo nói rằng Washington không có bất kỳ chứng cứ nào cho thấy chính bin Laden là người tổ chức các vụ khủng bố ngày 11 tháng chín. Liên quan đến vấn đề này, tác giả của bài báo cho rằng, những người Mỹ cần không phải giết thủ lĩnh “Al-Qeada”, mà phải đưa ông ta ra tòa.

.

Chính bản thân chiến dịch tiêu diệt “ kẻ khủng bố số một”, bài báo khẳng định, đã thực hiện với những vi phạm. Nói riêng, tờ “Choson Sinbun” viết, các binh sỹ Mỹ đã vi phạm chủ quyền quốc gia của Pakistan, xâm nhậm vào lãnh thổ của đất nước chưa được sự đồng ý của các quan chức của nó.

.

Theo ý kiến của tờ báo, sau khi thủ tiêu bin Laden, Washington đã thể hiện sự thiên hướng của chính sách “chủ nghĩa đế quốc kiêu ngạo” và “chủ nghĩa khủng bố quốc tế”.

.

Chiến dịch tiêu diệt bin Laden đã được tiến hành bởi đội đặc nhiệm của hải quân Hoa Kỳ vào đêm rạng ngày 2 tháng năm tại thành phố Abbottabad ở Pakistan. Đích thân tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã tuyên bố về việc tiêu diệt thủ lĩnh của mạng lưới khủng bố. Sau đó ông đã gặp gỡ với những binh sỹ tham gia chiến dịch và hiện tên tuổi của họ được giữ tuyệt mật. Như tin đã đưa, tất cả họ sẽ được tặng thưởng.

.

Phản ứng về việc thủ tiêu bin Laden phần lớn là tích cực. Các thủ lĩnh của nhiều nước thể hiện sự bằng lòng và thậm chí vui mừng liên quan đến cái chết của bin Laden. Trong khi đó các đại diện của phong trào cực đoan Plestina HАМАS đã lên án gay gắt việc giết hại thủ lĩnh của “Al-Qeada”. Các thành viên của “Таliban” cũng có phản tương tự và hứa sẽ trả thù cho cái chết của người khủng bố. Ngoài ra, ngay cả ở Venezuela cũng bày tỏ sự bất bình với các hành động của quan chức Wasington.-Kichbu-

Новость на Newsland: Бин Ладен погиб в 2001, 9/11 дело рук администрации США

Сác đường dẫn theo đề tài
– Pro-N.K. group blasts U.S. for bin Laden killing – “Ренхап”, 09.05.2011
– Обама встретился с уничтожившими бин Ладена бойцами – Lenta.ru, 07.05.2011
– Обама отказался от публикации посмертных фото бин Ладена – Lenta.ru, 04.05.2011
– Генпрокурор США оправдал уничтожение бин Ладена – Lenta.ru, 04.05.2011

Vấn đề tranh chấp biển Đông – Đài Loan toan tính điều gì ?


Vấn đề tranh chấp biển Đông – Đài Loan toan tính điều gì ?
Đăng ngày: 01:14 25-04-2011
Thư mục: Tổng hợp

Vấn đề tranh chấp biển Đông – Đài Loan toan tính điều gì ?

Bộ ngoại giao Trung Hoa Dân Quốc, tức Đài Loan, hôm 17 tháng 4 đã ra tuyên bố tái khẳng định chủ quyền của Trung Hoa đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên biển Đông, cùng vùng biển chung quanh, ngay sau cuộc hội đàm chính thức giữa lãnh đạo quốc phòng cấp cao Trung Quốc và Việt Nam từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 4 năm 2011 tại Hà Nội kết thúc. Ngày hôm sau, 18 tháng 4, bộ Quốc Phòng Đài Loan cũng tuyên bố sẽ củng cố lực lượng phòng thủ đảo Thái Bình (Ba Bình) và Trung Sa (Pratas) bằng các đơn vị Thủy quân lục chiến, thay vì lực lượng tuần duyên như trước đây. Cuộc hội đàm cao cấp quốc phòng, phía Trung Quốc gồm tướng Guo Boxiong (Quách Bá Hùng), Phó chủ tịch quân ủy trung ương, cùng phái đoàn quân sự cấp cao, phía Việt Nam gồm Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, ông Phùng Quang Thanh. Tướng Quách Bá Hùng nhân dịp này cũng gặp gỡ quí ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư đảng CSVN và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Nội dung cuộc hội đàm, ghi lại từ nhiều phía, cho thấy có nhiều điều khác biệt.

Theo Tân Hoa Xã : « Đồng chí Quách Bá Hùng đã nêu đề nghị 3 điểm về phát triển quan hệ quân đội hai nước Trung-Việt: Một là, tăng cường tiếp xúc chiến lược, nắm vững định hướng đúng đắn phát triển quan hệ Trung-Việt; hai là, coi trọng tuyên truyền hướng dẫn, tích cực tạo bầu không khí hữu nghị, đoàn kết, hợp tác Trung-Việt; ba là, làm phong phú nội dung giao lưu, nỗ lực nâng cao trình độ hợp tác thiết thực giữa quân đội hai nước. » Bản tin này không hề nói đến chủ đề tranh chấp biển Đông.

Theo báo chí Việt Ngữ, nội dung đàm phán có các vấn đề : giải quyết tranh chấp biển Đông và việc hợp tác quân sự song phương.

Theo tin từ nguồn Chính Phủ VN, dẫn từ TTXVN, trích lời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nhân dịp tiếp đón ông Quách Bá Hùng, về vấn đề tranh chấp biển Đông : « đề nghị hai bên cùng nhau đàm phán, thảo luận hòa bình để tìm ra những giải pháp mang tính cơ bản, lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được. » Bản tin này ghi nhận « một thỏa thuận được hai bên ký kết nhằm mục đích hợp tác đào tạo năm 2011 ». So sánh ở hai bản tin TTX VN và Tân Hoa Xã, ta thấy phía Trung Quốc đặt nặng vấn đề tâm lý quốc phòng, vì họ không muốn thấy dư luận VN thù nghịch với họ. Trong khi VN dường như muốn sử dụng vấn đề hợp tác quốc phòng với TQ như là một điều kiện cho việc giải quyết tranh chấp biển Đông. Việc này VN cũng đang làm tương tự với Hoa Kỳ. Như thế, ở các điểm mấu chốt, vấn đề tranh chấp biển Đông, phía VN đã được giao cho phe quốc phòng, thay vì do phe ngoại giao phụ trách, như thường lệ trước đây hay thường thấy ở các nước khác.

Nhưng theo thông tin của chính phủ Đài Loan, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố nhân dịp này Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết một « thỏa thuận về hợp tác chặt chẽ nhằm phát triển các biện pháp cơ bản cho các vấn đề đã thảo luận ». Các vấn đề thảo luận ở đây dĩ nhiên là hai vấn đề : tranh chấp biển Đông và việc hợp tác quân sự song phương. Nguồn tin này cũng cho biết phía Phi Luật Tân cũng đã cực lực phản đối tuyên bố này của Nguyễn Tấn Dũng. Dĩ nhiên việc này của cũng là nguyên nhân tuyên bố của Đài Loan về chủ quyền các đảo HS và TS. (Nguồn : http://taiwaninfo.nat.gov.tw/ct.asp?xItem=160218&CtNode=458&htx_TRCategory=&mp=4 ).

Báo chí Việt Ngữ hải ngoại như BBC và RFA, ngoài việc đưa tin tức về tuyên bố của Đài Loan về việc tái khẳng định chủ quyền các đảo HS và TS tại biển Đông, cũng đã đăng bài phỏng vấn các nhận định của học giả Việt Nam về thái độ của Đài Loan qua việc đảo quốc này tuyên bố khẳng định chủ quyền. Nhưng không thấy nguồn tin nào đề cập đến thỏa thuận giữa hai bên Việt Nam và Trung Quốc đã được ký kết như nguồn tin của Đài Loan đã dẫn.

Ta thấy việc loan tin cùng một vấn đề, ở đây là nội dung của cuộc đàm phán, đã được cơ quan ngôn luận các bên loan tải theo lối « có lợi cho phe mình », không bên nào phù hợp với bên nào. Báo chí bám lề trong nước dĩ nhiên chỉ đăng những tin mà nhà nước muốn phổ biến. Còn báo chí tự do thì chỉ nói đến những thứ độc giả thích đọc. Lý ra, điều cần tìm hiểu là bản tin của chính phủ Đài Loan có đúng với sự thật hay không ? nếu đúng thì việc « phát triển các biện pháp cơ bản » (cho việc giải quyết tranh chấp biển Đông giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc) sẽ như thế nào ? Việc hợp tác quốc phòng hai bên sẽ được nâng cao lên đến trình độ nào ? Những vấn đề mấu chốt của đàm phán thì không thấy báo chí nào bàn đến. Xem chừng các việc này thuộc về « bí mật quốc phòng », do đó việc đi tìm sự thật trên các mặt báo sẽ là điều không tưởng.

Việc Đài Loan khẳng định chủ quyền tại các đảo ở biển Đông không phải là điều mới mẻ. Nếu chỉ nhắc những việc gần đây, ngày 04 tháng 02 năm 2009, Đài Loan ra tuyên bố tái khẳng định chủ quyền của họ đối với các đảo ở biển Đông. Việc lên tiếng này sau khi lưỡng viện quốc hội Philippines lần lượt vào các ngày 28 tháng 1 và 2 tháng 2 thông qua luật sáp nhập các đảo nhỏ và rặng san hô thuộc quần đảo Trường Sa vào lãnh thổ của họ. Các động thái của Đài Loan trên đảo cũng không phải là hiếm hoi. Tháng 2 năm 2008, tổng thống Trần Thủy Biển đã đáp phi cơ ra đảo Ba Bình. Trước đó, Đài Loan cũng đã cho xây một phi đạo dài 1150m, bất chấp phản đối của các nước có tranh chấp như VN và các nước khác. Việc này xem ra còn hệ trọng hơn cả việc thay thế đội phòng thủ duyên hải bằng quân Thủy quân lục chiến. Trong khi đó, thực ra việc đổi quân này nằm trong kế hoạch hiện nay của tổng thống Mã Anh Cửu là « chuyên nghiệp hóa » quân đội Đài Loan. Gần nhất, tháng 3 năm 2011, Đài Loan còn cho hải quân tập trận bằng đạn thật tại vùng biển chung quanh đảo Ba Bình.

Dầu vậy, nhân việc dư luận Việt Nam đang chú tâm đến phản ứng của Đài Loan, qua việc báo chí thổi phồng sự kiện, nhân đảo quốc này tái khẳng định chủ quyền tại HS và TS. Tác giả bài viết này sẽ thử đưa một cái nhìn khác, về thái độ chính trị của Đài Loan trước những động thái của các nước liên quan đến vấn đề tranh chấp chủ quyền các quần đảo HS và TS cũng như vùng nước chung quanh, đồng thời điểm qua sách lược an ninh quốc phòng của đảo quốc này về các đảo ở biển Đông.

Theo người viết, phản ứng của Đài Loan mới đây về HS và TS nhằm hai mục đích : 1/ Củng cố quốc phòng tại các đảo Trung Sa và Thái Bình (tức Ba Bình) nhằm phòng ngừa các phản ứng sắp tới của Trung Quốc sau khi chiến hàng không mẫu hạm (nghe nói đặt tên là Thi Lang) vừa hạ thủy tại cảng Đại Liên và sẽ được đưa vào hoạt động vào tháng 11 tới tại vùng biển Đông. 2/ Động thái chính trị của Tổng thống Mã Anh Cửu, thuộc Quốc Dân Đảng, nhằm vào việc bầu cử Tổng thống và Quốc hội vào tháng 2 năm 2012 sắp tới.

1/ Sơ lược lịch sử : Đối với quần đảo Trường Sa, chưa bao giờ Trung Quốc bày tỏ yêu sách trong suốt thời kỳ Việt Nam thuộc Pháp. Ngày 23-9-1930 Pháp ra thông báo cho các nước biết việc Pháp chiếm hữu quần đảo Trường Sa. Trung Quốc không có phản ứng gì về tuyên bố chủ quyền này của Pháp. Ngày 21 tháng 12 năm 1930 một nghị định sát nhập các đảo thuộc Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.

Lý do chính mà phía Đài Loan đưa ra nhằm chứng minh chủ quyền của Đài Loan tại Trường Sa là do yếu tố lịch sử : người Nhật đã chiếm quần đảo Trường Sa và sát nhập các đảo này vào Đài Loan. Sau khi Nhật thất trận 1945 phải trả lại các vùng lãnh thổ mà họ chiếm trước chiến tranh, do yếu tố liên tục quốc gia, các đảo Trường Sa thuộc về Đài Loan. Nhưng việc chiếm đóng của Nhật ngày 31 tháng 3 năm 1939 thì không hợp lệ, ngày 4-4 Pháp đưa ra phản đối. Nhật đã chiếm một lãnh thổ từ lâu đã có chủ. Từ thời điểm đó, Nhật đã cho một số quân gốc Đài Loan đến giữ đảo.

Sau Thế chiến thứ II, Nhật bại trận, số phận các vùng lãnh thổ do Nhật chiếm trước đó được xác định qua Hòa ước San Francisco 1951. Về các điều khoản liên hệ đến lãnh thổ của Hòa ước San Francisco (điều 2), Nhật phải từ bỏ mọi đòi hỏi chủ quyền tại: (a) Triều Tiên, và công nhận nền độc lập của xứ này, (b) đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ, (c) quần đảo Kouriles và phần đảo Sakhaline cũng như các đảo khác đã nhượng cho Nhật qua Hiệp ước Portsmouth năm 1905, (d) tại các đảo đã được giao cho Hội Quốc Liên quản lý và theo quyết định của Hội đồng Bảo an ngày 2 tháng 4 năm 1947, e/ vùng Bắc cực, (f) các quần đảo Spratly (Trường Sa) và quần đảo Paracels (Hoàng Sa).

Như thế, ngoại trừ Triều Tiên và các đảo đã được Hội Quốc Liên quản lý trước đó đã được xác định rõ số phận, các đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ, quần đảo Kouriles và phần đảo Sakhaline, vùng Bắc cực và các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thì không xác định là sẽ giao cho nước nào quản lý.

Một số giải pháp về số phận các vùng đất nói trên được đề nghị tại hội nghị như sau:

(a) Các vùng đất đó thuộc quyền quản lý của tất cả các nước có tuyên bố chiến tranh với Nhật, tức hình thức “cộng đồng quản lý” (condominium). Việc chuyển nhượng chủ quyền trên thực tế đã được thực hiện trong lúc Nhật ký kết Tuyên bố Potsdam đầu hàng vô điều kiện. (Phía Pháp có hai lập trường. Lập trường thứ nhất chia sẻ đề nghị này. Lập trường thứ hai là đề nghị (c) phía dưới).

(b) Các vùng đất này thuộc quyền quản lý của các nước ký kết vào Hòa ước. Đề nghị này bị Liên Xô chống đối; Ấn Độ và hai nước Trung Hoa thì đòi hỏi “cộng đồng quản lý” trên những vùng lãnh thổ của Nhật.

(c) Các vùng đất này trở thành đất vô chủ (terrae derelictae).

(d) Các vùng đất này trở thành đất vô chủ, người ta có thể chiếm hữu. Điều này hàm ý, những nước tham chiến đang chiếm đóng tạm thời tại các vùng lãnh thổ đó có thể chiếm đóng vĩnh viễn và tuyên bố chủ quyền.

Rốt cục đề nghị (d), là đề nghị của phái đoàn Pháp, đã được mặc nhiên chấp thuận. Tức là phe lâm trận nào chiếm ở đâu thì sẽ tuyên bố chủ quyền ở đó.

Do đã toan tính trước, Pháp liền ký kết với Trung Hoa Hiệp ước Trùng Khánh (Tchong Quing) ngày 28 tháng 2 năm 1946. Theo đó quân đội Trung Hoa sẽ rời Việt Nam từ ngày 1 đến ngày 15 tháng 3 năm 1946 để quân Pháp vào thay thế. Đổi lại, Pháp tuyên bố hủy bỏ tất cả các quyền lợi và tô giới của Pháp tại Trung Hoa đồng thời cam kết dành sự ưu đãi về kinh tế cho Trung Hoa, như nhượng tuyến đường xe lửa Vân Nam – Hải Phòng, dành ưu đãi về kinh tế, kiều dân Trung Hoa sống tại Việt Nam được hưởng qui chế ưu đãi đặc biệt.

Trong khi đó, phía nam vĩ tuyến 16, vì lý do chiến lược, Anh cũng đồng ý nhượng quyền lại cho Pháp.

Theo hiệp ước đã ký với Trung Quốc và thỏa thuận với Anh, sau khi quân Nhật đã rút khỏi quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa năm 1946, Pháp đã gởi quân đến các đảo này để khẳng định chủ quyền. Tại Hoàng Sa và Trường Sa, quân đội Pháp-Việt đã có mặt từ tháng 5 năm 1946. Đến tháng 10-1946, quân Pháp ra đảo Ba Bình (Itu Aba) thuộc Trường Sa, đóng mốc mới, khẳng định lại chủ quyền.

Mặt khác, tại Hội nghị San Francisco, đại diện Quốc gia Việt Nam là ông Trần Văn Hữu, đã tuyên bố chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo này và không bị một sự chống đối nào. Việt Nam tham gia hội nghị với tư cách một nước độc lập, có tuyên chiến với Nhật, do đó có tư cách pháp nhân để đưa ra ý kiến của mình về số phận các vùng đất mà Nhật Bản đã buộc bị từ bỏ. Việt Nam đã ký kết Hòa ước, Nhật Bản cam kết bồi thường cho Việt Nam 39 triệu đô la tương đương giá trị hàng hóa và công trình xây dựng. Nếu việc bồi thường đã chấp thuận thì việc tuyên bố của Việt Nam về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa đương nhiên là có giá trị pháp lý. Nhưng vấn đề là lúc đó Việt Nam không có khả năng tiếp thu hai quần đảo này từ tay Nhật. Vì thế thái độ của Pháp – mặc dầu chỉ vì quyền lợi của Pháp – vô tình cũng có lợi cho Việt Nam, vì Pháp đại diện cho Việt Nam đã tiếp thu, tuyên bố chủ quyền và chiếm đóng thực sự trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Hòa ước San Francisco không có sự hiện diện của hai phe Trung Hoa. Do đó, hội nghị chấp nhận để Nhật có toàn quyền lựa chọn phe để ký hòa ước. Rốt cục Nhật đã chọn phe Trung Hoa Dân quốc để ký hòa ước. Hòa ước Trung-Nhật được ký tại Đài Bắc ngày 28-4-1952, trong đó khoản nói về lãnh thổ được lặp lại nguyên văn nội dung điều (2) của Hòa ước San Francisco: Nhật từ bỏ chủ quyền tại các đảo Đài Loan, Bành Hồ, Hoàng Sa, Trường Sa nhưng không xác định là trả cho phe nào.

Phe Tưởng Giới Thạch sau khi ký Hiệp ước Trùng Khánh với Pháp tháng 3 năm 1946, đồng ý để cho Pháp thay thế mình trong việc giải giới quân Nhật ở các vùng phía bắc vĩ tuyến 16, vài tháng sau mới thấy bị hớ. Do đó họ tìm cách đổ quân lên đảo Phú Lâm thuộc nhóm An Vĩnh của quần đảo Hoàng Sa, hy vọng giành lại quần đảo này từ tay Pháp. Nhưng những hành động này, như việc đổ quân chiếm đảo Ba Bình (Itu Aba) thuộc Trường Sa đều trái công pháp quốc tế, vì đây là hành động xâm chiếm một vùng đất đã có chủ quyền.

2/ Ưu tiên chiến lược của Đài Loan : An ninh quốc phòng.

Một điều không thể chối cãi, ưu tiên trên mọi ưu tiên hiện nay của Đài Loan là vấn đề an ninh quốc phòng. Đài Loan còn hiện hữu trên thế giới như là một đảo quốc độc lập hay không là do tương quan lực lượng quốc phòng giữa đảo quốc này với Trung Hoa lục địa. Dưới sự đe dọa thường xuyên và ngày càng nặng nề của lục địa về một khả năng thống nhất bằng vũ lực, an ninh quốc phòng do đó là một ưu tiên cao nhất của mọi cấp lãnh đạo, của mọi khuynh hướng chính trị tại đảo quốc. Từ năm 1996 trở lại đây, sinh hoạt chính trị dân chủ tại Đài Loan có làm thay đổi một số chính sách quốc gia về các lãnh vực quan trọng như việc chấn chỉnh vị thế của Đài Loan trên trường quốc tế hay việc phát triển kinh tế. Tùy theo đảng cầm quyền, Quốc Dân đảng hay đảng Dân Tiến, chính sách ngoại giao hay đường hướng phát triển kinh tế có thể thay đổi, nhưng về quốc phòng, cả hai đảng đều ý thức sự đe dọa của Bắc Kinh, do đó về chiến lược phòng vệ cả hai phe đều hầu như đồng ý ở các điều cơ bản.

Chiến lược quốc phòng hiện nay của Đài Loan có thể hiểu qua « sách trắng » công bố năm 2002. (Từ đó đến nay chưa thấy công bố « sách trắng » nào khác về quốc phòng).

Sau khi bị loại ra khỏi Liên Hiệp Quốc năm 1971 và sau khi chứng kiến kinh nghiệm của miền nam Việt Nam 1975, quan niệm quốc phòng của Đài Loan đặt căn bản trên hai nguyên tắc : « Răn đe hữu hiệu và phòng thủ vững chắc ». Trong đó nhiệm vụ bảo vệ đất nước thuộc về toàn dân « quân dân quốc phòng », tin tưởng vào sức mạnh của chính mình « tự lực tự chủ – zili zizhu ».

Sách trắng quốc phòng năm 2002 ghi lại Luật Quốc Phòng (tháng giêng năm 2000) nội dung như sau : « Quốc phòng là trách nhiệm của toàn dân, mọi phương tiện trực tiếp hay gián tiếp để bảo vệ quốc gia như quân sự, chính trị, kinh tế, tâm lý và khoa học kỹ thuật đều được sử dụng ».

Lịch sử chiến lược quốc phòng của Đài Loan có thể tóm gọn qua 3 giai đoạn nhưng mục đích tựu trung chỉ nhắm vào việc phòng thủ. Giai đoạn đầu, sau khi mất lục địa về phe cộng sản 1949, Tưởng Giới Thạch củng cố lực lượng ở Đài Loan và dựa vào Hoa Kỳ vừa để tự vệ, vừa hy vọng đem quân về lục địa đánh đuổi « cộng phỉ ». Giai đoạn này chiến lược quốc phòng của Đài Loan là « tấn công – phòng ngự ».

Đến thập niên 60 mộng ước « quang phục » ngày một xa vời, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc cố gắng giữ “nguyên trạng – statu quo”, tức giữ thẩm quyền của mình trên đảo Đài Loan và các đảo Bành Hồ, Kim Môn, Mã Tổ, Trung Sa và Thái Bình (tức đảo Ba Bình, thuộc Trường Sa của Việt Nam). Chiến lược quốc phòng là « củng cố – phòng ngự ».

Sau khi Hoa Kỳ cắt đứt ngoại giao năm 1979, các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ trên đảo lần lượt đóng cửa và mọi kết ước trước đó giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa Dân Quốc kể từ lúc này đều trở thành vô giá trị (caduc). Năm 1982 Hoa Kỳ còn ký kết với Trung-Quốc sẽ giảm dần việc bán vũ khí cho Đài Loan. Để sống còn Đài Loan phải phát triển các cơ sở kỹ nghệ quốc phòng cũng như đi tìm các nguồn bán vũ khí mới. Đây là khunh hướng « tự lực tự chủ » của Đài Loan. Trung tâm nghiên cứu khoa học kỹ thuật Trung Sơn (là danh hiệu của Tôn Dật Tiên), xây dựng từ cuối thập niên 60, đã trở thành trung tâm nghiên cứu và sản xuất vũ khí. (Đến năm 2001 số vũ khí sản xuất tại Đài Loan cung cấp cho quân đội chiếm 47,5% ngân sách quốc phòng, tức chiếm 47,2 tỉ nhân dân tệ (ngân sách quốc phòng là 99,6 tỉ NT). Trung tâm Trung Sơn gồm có năm ngành nghiên cứu : hàng không – phi đạn và hỏa tiễn – hệ thống điện tử – khí cụ và hóa chất. Trung tâm sản xuất phi cơ khu trục và các loại chiến hạm do Hoa Kỳ nhượng kỹ thuật. Trung tâm này cũng sản xuất các loại phi đạn và nghiên cứu vũ khí nguyên tử.)

Đến đầu thập niên 90, trước đe dọa mất còn do quyết tâm “thống nhất” của lãnh đạo Bắc Kinh, Đài Loan đưa vào chiến lược quốc phòng quan niệm “dự phòng chiến tranh” nhằm nghiên cứu các khả năng có thể xảy ra chiến tranh. Sách trắng quốc phòng Đài Loan dự phòng 3 trường hợp có thể xảy ra chiến tranh liên quan đến Đài Loan : 1/ Cộng sản từ lục địa xâm lăng Đài Loan. 2/ Việc ly khai, đòi độc lập của các tỉnh trong lục địa (kể cả trường hợp Đài Loan tuyên bố độc lập). 3/ Tranh chấp vùng biển Đông. Cả ba trường hợp này sẽ kéo nhiều nước trong vùng Đông và Đông Nam châu Á vào cuộc chiến.

Ngân sách quốc phòng của Đài Loan năm 2002 là 261,9 tỉ Yuan (Nguyên hay đô la Đài Loan), theo thời giá lúc đó tương đương 8 tỉ đô la. Mặc dầu tình hình giữa hai bờ eo biển Formose ngày một căng thẳng nhưng ngân sách quốc phòng của Đài Loan lại giảm theo thời gian. Từ đầu thập niên 90 quốc hội dân chủ Đài Loan có nhiều thẩm quyền hơn, các vấn đề « an sinh xã hội » được đặt ưu tiên, vả lại kinh tế không được khởi sắc cho nên ngân sách quốc phòng bị cắt bớt. Ngân sách này, theo tỉ lệ % PIB, ngày một giảm. Năm 1985 ngân sách này chiếm 7,7% PIB (53% ngân sách quốc gia), năm 1990 chỉ còn 5,8% PIB (35% ngân sách quốc gia) tương đương 228,8 tỉ nguyên. Năm 2002 chỉ còn có 2,6% PIB (17% ngân sách quốc gia) tương đương 261,9 tỉ nguyên (8 tỉ $US). Ngân sách quốc phòng năm 2010 là khoảng 2,6% PIB. Nhưng chi phí cho nhân sự của bộ Quốc Phòng rất lớn, năm 2000 chiếm đến 43%, năm 2003 chiếm 47% ngân sách quốc phòng (do nguyên nhân tiền lương và hưu bỗng). Con số này những năm sau này càng lớn hơn trước. Việc này ảnh hưởng rất lớn đến chương trình hiện đại hóa quân đội cũng như việc củng cố hải quân và không quân bảo vệ đảo quốc. Hiện nay Tổng Thống Mã Anh Cửu có chủ trương « chuyên nghiệp hóa » quân đội, dự định giảm thiểu quân lực để giảm bớt chi phí về nhân sự, nhưng việc này chưa thấy thành công.

Như thế khuynh hướng tài giảm quốc phòng là xu hướng từ đầu thập niên 90 cho đến năm 2000. Từ năm 2000 đến năm 2010 chi phí không thay đổi, vào khoảng 2,6% PIB.

Về chi phí quân sự cho đảo Ba Bình có thể chia làm hai thời kỳ : thời kỳ 2000 đến 2008 và từ 2008 đến nay. Thời kỳ 2000 đến 2008, Tổng Thống Trần Thủy Biển thuộc đảng đảng Dân Tiến, vì có chủ trương « Đài Loan độc lập » do đó có những động thái cụ thể nhằm củng cố quốc phòng tại các đảo Trung Sa và Thái Bình (Ba Bình). Việc cho xây dựng phi đạo dài 1.150m tại Ba Bình là một đầu tư quan trọng về chiến lược. Song song với việc này, một kế hoạch của đảng Dân Tiến, cho đến năm 2017, sẽ nâng con số tàu chiến tuần duyên (bảo vệ Ba Bình lên) 173 chiếc, trong đó có hai tuần dương hạm 3.000 tấn, với ngân sách là 28 tỉ NT, nhưng kế hoạch này đã bị chính phủ Mã Anh Cửu thuộc Quốc Dân Đảng bãi bỏ.

Trong khi đó, Quốc Dân đảng, do có khuynh hướng thống nhất với lục địa, cho nên lơ là chuyện phòng thủ. Những động thái gần đây của Đài Loan tại đảo Ba Bình phần nhiều mang âm hưởng chính trị, nhắm vào cuộc bầu cử sắp tới, hơn là toan tính chiến lược. Năm 2009 có đến 500 vụ « chạm trán » giữa tàu của Trung Quốc với tàu của Đài Loan tại vùng biển thuộc đảo Thái Bình (trong vòng 6 hải lý). Ngày 2 tháng 7 năm 2009, một tàu khảo sát cùng với 3 tàu hộ vệ của Trung Quốc đã ép một tàu cá của Đài Loan phải rời khỏi khu vực biển thuộc đảo Ba Bình. Đài Loan đã không phản đối gì về việc này. Theo một đại biểu thuộc đảng Dân Tiến cho biết, lý do im lặng của lực lượng bảo vệ bờ biển trên đảo Ba Bình, là vì họ không muốn làm ảnh hưởng đến quan hệ tốt đẹp giữa Trung Quốc và chính phủ Mã Anh Cửu. Môt khám phá khác, quân đội phòng thủ trên đảo Trung Sa không còn viên đạn đại bác nào trong vòng một thời gian dài vào năm 2010. Việc này cũng do một dân biểu đảng Dân Tiến tố giác. Từ khi nắm quyền đến nay TT Mã Anh Cửu chưa thấy có động tác cụ thể nào cos lợi lâu dài về chiến lược tại đảo Ba Bình.

Do đó, các động thái vừa rồi của Đài Loan liên quan đến các đảo Trung Sa, Ba Bình, phần nhiều do động lực chính trị của nhân sự các đảng cầm quyền nhằm khai thác khối cử tri có khuynh hướng độc lập, hơn là tuân theo một chiến lược quốc phòng hữu hiệu.

Về giả thuyết các yếu tố có thể lôi kéo Đài Loan vào chiến tranh đã ghi ở trên, giả thuyết thứ ba sẽ có thể xảy ra nếu trữ lượng dầu khí vùng Biển Đông được xác định là to lớn. Hiện nay giả thuyết thứ 3 có nhiều sác xuất sẽ xảy ra hơn cả.

Việc tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa ngày càng gay gắt do khuynh hướng bá quyền cũng như sự lớn mạnh về kinh tế và quân sự của Trung Quốc. Để tranh dành tài nguyên, Bắc Kinh có thể gây chiến tranh bất cứ lúc nào với các nước có tranh chấp trong vùng, nhất là Việt Nam và Phi Luật Tân. Việc phát động chiến tranh sẽ lôi kéo nhiều nước trong vùng vào cuộc chiến, mà phần nhiều xác suất sẽ có mặt của Hoa Kỳ, do đó Trung Quốc không muốn đụng độ vì nguy cơ thất bại. Bài toán của Trung Quốc do đó là làm thế nào để khai thác năng lượng ở các vùng biển thuộc Trường Sa mà không khơi mào chiến tranh ? Vừa qua, đầu tháng 3 năm 2011, Trung Quốc cho tàu chiến uy hiếp tàu thăm dò của Phi Luật Tân đang hoạt động trong vùng biển thuộc bãi Cỏ Rong, cách bờ Palawan khoảng 200km. Trung Quốc cũng đã làm nhiều lần tương tự như thế với Việt Nam từ năm 1995 ở vùng Tứ Chính – Vũng Mây, hay làm áp lực với các công ty khái thác Exxon-Mobil và BP phải hủy bỏ hợp đồng khai thác với VN, năm 2008, mặc dầu các lô ở đây thuộc bồng trũng nam Côn Sơn, chỉ cách bờ biển VN có khoảng 250km. Phải chăng TQ đã tự tin vào sức mạnh quân sự của họ, nhất là tháng 11 tới, chiếc hàng không mẫu hạm (Thi Lang) sẽ đưa vào hoạt động ở vùng biển Đông ? (Điều cần nhắc nhở Thi Lang là tên của một vị đô đốc hải quân tài ba đã giúp nhà Thanh tiêu diệt được tàn quân của Trịnh Thành Công tại Đài Loan và thâu hồi đảo này vào đế quốc Trung Hoa. Việc đặt tên cho chiếc tàu như thế là có tính toán mà mục tiêu nhắm vào Đài Loan.)

Tuy nhiên người ta không loại trừ một khả năng khác, Trung Quốc sẽ « có phần » của họ tại vùng biển Trường Sa mà không gây chiến tranh lớn lao. Đó là trường hợp TQ chiếm đảo Ba Bình hiện nay do Đài Loan chiếm đóng. Việc này có thể thành công nếu có sự thỏa thuận ngầm giữa Trung Quốc và Việt Nam, mà điều này có thể thành hiện thực nếu TQ nhượng bộ phần nào cho VN ở vấn đề Hoàng Sa. Giả thuyết này sẽ có lợi cho Trung Quốc. Với quyền chủ quyền tại Ba Bình, TQ có thể đòi hỏi một vùng biển ZEE khá quan trọng, vì đây là đảo lớn nhất Trường Sa. Trong khi Đài Loan với tư cách là một đảo quốc không được nước nào công nhận, các đòi hỏi của Đài Loan về vùng biển chung quanh thì không thuyết phục, mặc dầu họ chiếm hữu thực sự đảo Ba Bình. Vì Đài Loan chỉ được xem như là một phần của lục địa. Những vùng lãnh thổ của Đài Loan sẽ dễ dàng được các nước khác chấp nhận thuộc Trung Quốc.

Sự lo ngại của Đài Loan do đó là có căn cứ, nếu tuyên bố của TT Nguyễn Tấn Dũng về một « thỏa thuận » đã được ký kết giữa VN và TQ, theo như nguồn tin của chính phủ Đài Loan công bố, là có thật. Đài Loan hiện nay kiểm soát các đảo Kim Môn, Mã Tổ, các đảo Bành Hồ, Wuchiu, Trung Sa (Pratas) và Thái Bình (tức đảo Ba Bình). Các đảo Kim Môn đối diện Hạ Môn, cách bờ lục địa chỉ vài hải lý. Các đảo Mã Tổ đối diện hải cảng Phúc Châu, chỉ cách bờ biển lục địa cũng chỉ có vài hải lý. Trong quá khứ, quân Tưởng Giới Thạch đã từng đụng độ nẩy lửa với giải phóng quân của Mao Trạch Đông tại các đảo Kim Môn và Mã Tổ, lần thứ nhất vào tháng 10 năm 1949, lần hai vào tháng 8 năm 1954 đến tháng 4 năm 1955 và lần ba vào tháng 8 năm 1958. Mỗi lần như thế hai bên dàn vài chục ngàn quân để chiến đấu. Cả ba lần quân họ Tưởng, dưới sự ủng hộ của Hoa Kỳ, đã đẩy lui được quân Trung Hoa lục địa. Quan hệ hiện nay giữa Đài Loan và Hoa Kỳ được nối kết qua hiệp ước « Taiwan Relation Act », theo đó Hoa Kỳ có thể bảo vệ và cung cấp vũ khí cho Đài Loan nếu đảo bị tấn công. Nhưng nội dung kết ước không có bảo đảm an ninh cho các đảo ở xa. Nếu Trung Quốc tấn công Ba Bình với lý do « thống nhất đất nước », có thể Hoa Kỳ sẽ đứng ngoài.

3/ Yếu tố chính trị : Trong lúc nhà nước Đài Loan (thuộc phe Quốc Dân đảng) ra tuyên bố và có một số động thái liên quan đến biển Đông, thì tại đảo quốc đang khai mào cho cuộc tranh cử tổng thống và quốc hội vào tháng 2 năm tới. Kỳ này bầu cử quốc hội và tổng thống sẽ được tổ chức cùng ngày. Hiện nay các ứng cử viên tổng thống của hai đảng Dân Tiến và Quốc Dân Đảng đang trong thời điểm vận động nội bộ để được đảng đề cử. Đảng Dân Tiến có 3 ứng cử viên trong khi phe Quốc Dân Đảng có đến 40 ứng cử viên. Các ứng cử viên thuộc đảng Dân Tiến vừa qua có tranh luận trước công chúng (qua màn truyền hình) về các chương trình của họ (sẽ áp dụng nếu đắc cử). Các cuộc thăm dò sau khi cuộc tranh luận cho thấy hai ứng cử viên có khuynh hướng « độc lập », người thứ nhứt chủ trương « Đài Loan là một con rồng trong biển xanh thay vì là một con cua bám vào sườn của Trung Quốc », người thứ hai chủ trương Đài Loan không nên phụ thuộc về kinh tế đối với Trung Quốc, được nhiều sự ủng hộ của quần chúng. Tỉ số dân chúng ủng hộ cho hai ứng cử viên này lên trên 90%. Trong khi ứng cử viên còn lại có khuynh hướng cộng tác về kinh tế với TQ thì tỉ số ủng hộ của quần chúng rất thấp. Nhưng qua các cuộc thăm dò này phe Quốc Dân đảng đã nắm được khuynh hướng chung của dân chúng hiện nay, đó là bớt phụ thuộc về kinh tế đối với Trung Quốc. Nhưng hậu quả của hiệp ước về kinh tế do chính phủ Mã Anh Cửu đã ký kết với Bắc Kinh hồi năm ngoái cho thấy sự lệ thuộc của Đài Loan vào Trung Quốc đã vượt mức báo động. Trong chừng mực, các động thái của Đài Loan đều bị Trung Quốc chi phối, kể cả vấn đề sinh tử là an ninh, quốc phòng.

Như thế, phản ứng của nhà nước Đài Loan về HS và TS vừa qua đã ảnh hưởng nặng nề âm hưởng chính trị, hơn là một quyết định chiến lược. Do đó, tính trung thực của bản tin cho rằng TT Nguyễn Tấn Dũng ký kết với TQ một thỏa thuận cơ bản về việc giải quyết tranh chấp biển Đông có thể thiếu trung thực. Vấn đề là hiện nay ai có khả năng, hay thẩm quyền, xác định là có hay không, thỏa thuận này ?

Cũng nên nhắc lại, Đài Loan từ năm 2000 đến 2010, tổng thống là ông Trần Thủy Biển, thuộc phe Dân Tiến. Đảng Dân Tiến thắng Quốc Dân Đảng liên tục hai nhiệm kỳ. Trong hai nhiệm kỳ này, về mọi mặt không có gì phải chê trách người lãnh đạo.

Trong khu vực, thời điểm thập niên 2000, ngoại trừ Trung Quốc, tăng trưởng kinh tế của Đài Loan tương đương với Hàn Quốc, từ 4 đến 6 % cho những năm qua, trong khi Nhật Bản chỉ tăng trưởng từ 1% đến 2%/ năm.

Tăng trưởng GDP năm 2007 của Đài Loan là 5,7%. Chỉ số thất nghiệp là 3,94% (tháng 3 năm 2008). Chỉ số thất nghiệp năm 2000, vào năm đảng DPP lên nắm quyền là dưới 3%. Trong 8 năm do đảng DPP cầm quyền, thất nghiệp chỉ tăng 1% là con số xem ra rất nhỏ so với các nước tiên tiến trên thế giới cùng thời gian này trước hấp lực mạnh của Trung Quốc về công nhân giá rẻ. Đài Loan ít bị ảnh hưởng về việc này so với các nước Âu-Mỹ, mặc dầu các xí nghiệp cần nhiều công thợ tại đây lần lượt đóng của để đầu tư sang Trung Quốc. Mức độ lạm phát của Đài Loan cũng tương đối thấp, tương tự Đại Hàn, đầu năm 2008 khoảng 3%, trong khi Trung Quốc chỉ số này lên đến hơn 8%.

Một nhà cầm quyền tài giỏi khác cũng khó có thể làm khá hơn ê kíp Trần Thủy Biển. Lý do chính đem lại thất cử của ứng cử viên Tạ Đình Trường thuộc đảng Dân Tiến là sự nhàm chán của người dân đối với đảng cầm quyền.

Phe Quốc Dân đảng, lúc đưa Mã Anh Cửu ra tranh cử, khẩu hiệu của phe này là chấn hưng kinh tế ; việc này phục vụ cho ba đối tượng : 1/ người dân, 2/ phát triển cơ sở hạ tầng và phát triển công nghiệp 3/ đưa Đài Loan ra thế giới.

Nhưng sau khi thắng cử, chính sách « chấn hưng kinh tế » của họ Mã cho thấy có nhiều điều không thể thực hiện được. Đây là một khẩu hiệu thuần túy kinh tế. Mức độ phát triển kinh tế hàng năm của Đài Loan dưới thời Trần Thủy Biển vào khoảng 5%, là con số tương đối cao cho vùng Đông Á. Phát triển kinh tế của Đài Loan vào năm 2009, hai năm dưới sự lãnh đạo của Mã Anh Cửu, chỉ đạt vào khoảng 2,5%, ở dưới mức rất xa con số « qui chiếu » 5% của ê-kíp Trần Thủy Biển. Năm 2006 kim ngạch mậu dịch hai bên bờ eo biển Formosa đạt được 107,8 tỉ đô la, lục địa nhập siêu 66,4 tỉ. Năm 2007 khuynh hướng này giảm, 8 tháng đầu năm số nhập siêu của lục địa là 33,5 tỉ.

Trong khi đó, việc « đưa Đài Loan ra thế giới » cũng không có kết quả thuyết phục, ngoại trừ việc Đài Loan được đặt đại diện tại OMS (Tổ chức Y tế thế giới, thuộc LHQ), nhờ việc TQ không chống đối. Ông Trần Thủy Biển đã thất bại trong việc vận động cho Đài Loan gia nhập các định chế quốc tế, mặc dầu Đài Loan – như những quốc gia khác – có những vấn đề cũng như khả năng đóng góp cho các tổ chức, như OMS. Mã Anh Cửu đã thành công (ở điểm Trần Thủy Biển thất bại) vì Quốc Dân Đảng và đảng Cộng Sản Trung Quốc có cùng một quan điểm « một nước Trung Hoa ». Trong khi phe Dân Tiến có chủ trương động lập. Do đó, phe lục địa vì vậy có khuynh hướng ủng hộ các ứng cử viên thuộc Quốc Dân Đảng.

Lo ngại sẽ thất cử ở các cuộc bầu cử về quốc hội và tổng thống kỳ tới, do việc không thực hiện được các cam kết với người dân, do đó chính phủ Mã Anh Cửu quyết định ký hiệp ước thuơng mãi với lục địa. Kết quả việc này làm cho kinh tế Đài loan tăng trưởng 10% trong năm 2010. Nhưng việc tăng trưởng này Đài Loan sẽ phải trả giá rất đắt, vì tình trạng lệ thuộc vào lục địa đã vượt qa mọi mức báo động.

Các cuộc thăm dò sau buổi tranh luận về chương trình hành động của các ứng cử viên Dân Tiến cho thấy khuynh hướng của người dân tại đảo. Vì thế, có lẽ động thái khá ồn ào vừa qua của chính phủ Mã Anh Cửu về việc HS và TS, chỉ là một « thủ thuật chính trị » nhằm vào việc lấy phiếu.

Một chi tiết quan trọng khác trong cuộc thăm dò sau buổi tranh luận giữa các ứng cử viên Dân Tiến. Việc này cho thấy khuynh hướng « độc lập » của dân Đài Loan không giảm, mặc dầu nhiều năm qua Đài Loan và lục địa đã có những thông thuơng ngoài kinh tế khá chặt chẽ. Tình trạng đàn áp dã man những tiếng nói đối lập hay tình trạng xã hội bất ổn của lục địa đã khiến dân Đài Loan muốn đi « con đường riêng » của mình. Nhưng thực hiện việc này sẽ rất nhiêu khê, khiến dân Đài Loan trả giá đắt về phát triển kinh tế, chưa nói việc phải đương đầu với lục địa về quân sự (do luật chống ly khai của TQ).

Cuộc bầu cử tổng thống Đài Loan năm 2008 có kèm theo cuộc « trưng cầu dân ý ». Trưng cầu dân ý có hai đề nghị chính (national proposal số 5 và số 6) được hai đảng QDD và DPP đưa ra, đó là : đề nghị 5/ mong muốn vào Liên Hiệp Quốc dưới tên mới là Đài Loan và đề nghị 6/ mong muốn trở lại Liên Hiệp Quốc dưới tên cũ là Cộng Hòa Dân Quốc (République de Chine) với tên gọi là Đài Loan. Kết quả đề nghị 5 được 5,53 triệu phiếu và đề nghị 6 được 4,96 triệu phiếu. Cả hai kết quả này đều đã không đạt được mức ấn định 50% số phiếu (8,66 triệu phiếu) nên bị loại. Nhưng để ý, cả hai đề nghị này thực ra có chung một nội dung : xin vào Liên Hiệp Quốc. Sự khác biệt của hai phe QDD và DPP là cái nhìn chiến lược. Như thế kết quả của cuộc trưng cầu dân ý cho thấy có khoảng 80% dân Đài Loan chủ trương đảo quốc này gia nhập Liên Hiệp Quốc.

Khuynh hướng này đến nay tăng lên 90%, nếu đồng nhất ý muốn « Đài Loan gia nhập LHQ » năm 2008 với ý muốn « Đài Loan là con rồng thay trong biển xanh vì là con cua bám sườn Trung Quốc » hay « Đài Loan bớt lệ thuộc kinh tế với lục địa ».

Do đó, để không bị thất cử, ở quốc hội và giữ được ghế tổng thống, phe Quốc Dân Đảng cần có những điều chỉnh « chiến lược » về các vấn đề liên quan đến lục địa. Vấn đề này hiện nay là gì nếu không phải là vấn đề tranh chấp biển Đông ? Nhưng sự lơ là của phe Quốc Dân Đảng từ nhiều năm qua, một mặt về ngoại giao do không thuyết phục được các nước tranh chấp khác để Đài Loan được xem như là một đối tác bình đẳng, mặt khác về an ninh quốc phòng do việc quá thân cận với Bắc Kinh, vấn đề phòng thủ không còn là ưu tiên ở các đảo Ba Bình hay Trung Sa. Các việc này không chỉ khiến Quốc Dân đảng trả giá đắt trong kỳ bầu cử tới, mà có thể làm cho Đài Loan mất quyền kiểm soát tại các đảo này.

4/ Kết luận : Cho dầu là động thái của chính phủ Mã Anh Cửu bất kỳ là gì, do ảnh hưởng chính trị hay do toan tính chiến lược dài hạn, vấn đề Đài Loan đối với Việt Nam không phải là một việc hệ trọng, như là « vấn đề » Trung Quốc. Hiện nay một cách rõ rệt, VN đang đu dây giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc với món hàng trao đổi là việc « hợp tác quân sự ». VN hy vọng TQ nhượng bộ trên vấn đề tranh chấp HS và TS. Việc VN « nghiêng » về phía TQ như hiện nay cũng có thể là do hệ quả của các cuộc cách mạng dân chủ ở các xứ Bắc Phi và Ả Rập. VN ra tay đàn áp, bắt bớ những người bất đồng chính kiến với một mức độ hung bạo và ngang ngược, khiến Hoa Kỳ và Châu Âu lên tiếng chỉ trích. VN có thể sẽ hợp tác sâu đậm hơn với TQ về vấn đề an ninh và quốc phòng, nhằm mục đích tìm sự ủng hộ cho chế độ. Điều này cũng răn đe Hoa Kỳ không được chỉ trích thái quá, khiến VN ngả vào tay TQ, là điều mà HK không muốn thấy.

Nhưng những toan tính này chỉ có tính cách giai đoạn, gà quà ăn quẩn, chỉ nhằm cứu đảng CSVN trong cơn khủng hoảng mới, chứ không là một giải pháp dài hạn, chiến lược, có lợi ích cho dân tộc và đất nước VN. Nhưng hậu quả sẽ rất khủng khiếp, nếu VN ngả về phía TQ. Một sự sụp đổ hay khủng hoảng chính trị ở TQ sẽ đưa đến sụp đổ toàn diện ở VN, việc này có thể đưa VN về thời kỳ bán khai, man rợ. Trong khi đi với HK, với những tính toán dài hạn, về kinh tế cũng như an ninh quốc phòng, VN có thể bảo vệ chủ quyền của mình ở các đảo HS và TS vừa phát triển đất nước. Nhưng việc « đi » với HK đòi hỏi VN phải dân chủ hóa chế độ. Việc này có thể giới hạn bớt quyền lực của đảng CSVN. Nhưng nó không đem lại các hệ quả sụp đổ toàn chế độ như việc ngả về TQ.

Trương Nhân Tuấn