![]() |
|
Tàu sân bay hạt nhân George Washington (CVN 73) – biểu tượng của sức mạnh Mỹ trên Thái Bình Dương
|
Cuối thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX, đụng độ cùng lúc tại đây là lợi ích của mấy đại cường: Anh, quốc gia muốn dùng tay của đế quốc Nhật ngăn chặn sự bành trướng của Nga và họ được Mỹ ủng hộ; Đế chế thứ hai (Đức) thì đẩy nước Nga về hướng đông. Khi thăm căn cứ Kronshtadt của Hạm đội Baltic vào tháng 5.1902, Hoàng đế Đức Wilhelm II đã tỏ ý khi Nga tấn công ở phía đông, Đức sẽ bảo đảm an ninh các đường biên giới phía tây nước Nga. Vì thế, chiếc thuyền buồm Hohenzollern của Hoàng đế Đức Wilhelm II khi rời cảng Kronshtadt đã đánh tín hiệu: “Đô đốc Đại Tây Dương chào mừng Đô đốc Thái Bình Dương”.
Nổi lên hàng đầu là đế quốc Nhật sau khi đánh bại Trung Quốc, đế quốc Nga và chiếm được trong Thế chiến II các lãnh địa viển đông của Đức. Tuy nhiên, Anh và Mỹ, những nước trên thực tế đã phát động dự án “đại Nhật Bản” cũng mất ảnh hưởng đối với đồng minh phương đông của mình. Kế hoạch của Tokyo xây dựng “khu vực thịnh vượng Đại Đông Á” đặt ra mục tiêu đánh bật tất cả các cường quốc châu Âu khỏi các thuộc địa của họ ở tây châu Á-Thái Bình Dương và khóa chặt Mũ ở đông châu Á-Thái Bình Dương. Nhưng đế quốc Nhật, dù có giành được những thành công ban đầu, đã không thể đơn độc gánh vác cuộc đấu với cac cường quốc Anglo-Saxon vốn có ưu thế hoàn toàn trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, quân sự, công nghệ. Bởi vậy, khi Berlin sụp đổ, đế quốc Nhật không còn cơ hội nào chống chọi lại Mỹ và Liên Xô.
Nền văn minh phương Tây đã giữ được vị trí trong khu vực, nhưng lúc này Mỹ đã thay Anh làm bá chủ, các cường quốc châu Âu khác cũng nhanh chóng mất vị trí khi quá trình phi thực dân hóa bắt đầu. Mỹ thay vì nô dịch trực tiếp đã sử dụng các phương pháp khác, có tính thực dân mới để kiểm soát các nước mới giành được tự do thông qua các cơ chế phức tạp của hệ thống tài chính thế giới, thương mại và chính trị kết hợp với tác động về quân sự và tư tưởng.
Thời kỳ tồn tại hệ thống XHCN
Đối thủ chủ yếu của phương Tây vẫn là Nga như trước đây song về hình thức là Liên Xô, quốc gia đã lấy lại vị thế của mình sau khi đánh bại Nhật Bản và cộng sản chiến thắng ở Trung Quốc. Liên Xô cùng với Trung Quốc đã giữ vững được chế độ cộng sản ở Bình Nhưỡng sau khi giáng cho Mỹ và phương Tây thất bại nặng nề. Trung Quốc hồi đó không thể là một thế lực độc lập vì thế họ đã không thể chiếm Đài Loan do Quốc dân đảng cố thủ vì phải có hạm đội mạnh mới làm được việc đó.
Liên Xô và Trung Quốc không phải là đồng minh trong thời gian dài, Khrushchev đã quá giỏi để làm mất “người em” khi tổ chức vở kịch đả phá tệ sùng bái cá nhân Stalin vào năm 1956. Sau khi Stalin mất, vị thế của Nga ở châu Á-Thái Bình Dương bị suy yếu khi Nga cắt cho Trung Quốc Port Arthur năm (1954-1955), mặc dù theo hiệp ước Xô-Trung từ ngày 14.8.1945, Trung Quốc trao cho Liên Xô khu vực Port Arthur trong 30 năm làm căn cứ hải quân, Khrushchev đã nấu “cháo gà” khi hứa trả các đảo Habomai và Shikotan.
Kết quả là châu Á-Thái Bình Dương đã trở thành khu vực cạnh tranh giữa Liên Xô, Mỹ và Trung Quốc. Hơn nữa, nếu như thoạt đầu, vị thế của Trung Quốc rất yếu và hầu như chỉ giới hạn trong hải phận của họ thì dần dần Bắc Kinh đã tăng cường các khả năng của họ. Trung Quốc đã tích cực tác động đến các nước láng giềng thông qua các tổ chức cộng sản thân Trung Quốc được thành lập từ ở Trung Á đến Mỹ Latinh, cũng như thông qua vô số các cộng đồng người Hoa ăn sâu bám rễ ở nhiều nước và khác với cộng đồng Nga kiều, các cộng đồng Hoa kiều không hề cắt đứt liên hệ với quê hương. Điều dễ hiểu là Trung Quốc vẫn chưa thể thách thức Mỹ trên đại dương, tự mình quy định dòng chảy cho các quá trình ở châu Á-Thái Bình Dương, muốn làm thế cần phải hiện đại hóa về chất tổ hợp công nghệ quốc phòng, khoa học và giáo dục, quân đội và hạm đội.
Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI
Tình hình đã thay đổi sau sự sụp đổ của Liên Xô: Bắc Kinh có cơ hội giành nhiều chú ý hơn cho phát triển không quân và hải quân, thay vì lục quân mà không lo đòn đánh của bộ máy chiến tranh Liên Xô từ hướng bắc. Ngoài ra, Trung Quốc đã có được cơ hội hiếm có tiếp cận, lợi dụng di sản kỹ thuật quân sự của Liên Xô, trong đó có lĩnh vực hải quân. Điều đó đã cho phép rút ngắn mạnh mẽ khoảng cách công nghệ giữa phương Tây và Trung Quốc. Chẳng hạn, nhờ các tàu ngầm diesel và tàu khu trục của Nga, cũng như nhờ thực hiện các chương trình tự lực mới được hoàn thiện nhờ sử dụng thiết bị Nga, hải quân Trung Quốc giờ đã có thể hoạt động khá xa bờ biển Trung Quốc. Đồng thời, Trung Quốc đã tiến sát đến việc sở hữu các tàu sân bay.
Theo các chuyên gia quân sự, ngay trong thập kỷ này, Trung Quốc sẽ có 2 tàu sân bay tự đóng, cộng với tàu sân bay gần như hoàn chỉnh Shi Lang (tàu Varyag của Liên Xô trước đây). Người ta đặt cho nó cái tên rất tượng trưng vì ở phương Đông, ngôn ngữ hình tượng rất quan trọng, là tên của vị đô đốc đã chiếm lại đảo Đài Loan.
Tất cả những điều đó không thoát khỏi tầm mắt của giới tinh hoa các nước láng giềng – hầu như tất cả các nước ở châu Á-Thái Bình Dương, kể cả các nước nghèo như Philippines, đều đã chạy đua vũ trang không chỉ một năm. Trên thực tế đang diễn ra sự khôi phục sức mạnh hải quân của Nhật bản và có thể không phải nghi ngờ là người Nhật chẳng quên cái gì và chẳng tha thứ cho ai, dân tộc này biết cách giữ gìn truyền thống.
Nhưng đối thủ chính của Trung Quốc ở châu Á-Thái Bình Dương là Mỹ. Hơn nữa, Bắc Kinh cũng đã gặp phải cùng một vấn đề như đệ tam đế chế (phát xít Đức) đương thời – đó là khả năng của Mỹ với sự giúp sức của các đồng minh hoặc các quốc gia thù địch với Trung Quốc (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines, Việt Nam – “phòng tuyến đầu tiên” của Mỹ) phong tỏa các lực lượng hải quân Trung Quốc. Cộng với sự sơ hở của các tuyến đường biển mà đi qua đó là một phần cơ bản tài nguyên cần để nuôi sống kinh tế Trung Quốc.
Hiện nay, hạm đội Mỹ mạnh hơn nhiều và có công nghệ cao hơn nhiều hải quân Trung Quốc, mà không có ưu thế về vũ khí trang bị hải quân thì không thể mơ đến ngôi bá chủ ở châu Á-Thái Bình Dương. Chẳng hạn, hạm đội Mỹ sở hữu 11 tàu sân bay và còn 1 chiếc dự bị. Lầu Năm góc trong 20 năm tới không định giảm số lượng tàu sân bay, mặc dù trong trường hợp kinh tế tiếp tục khủng hoảng, có khả năng giảm số lượng tàu sân bay trực chiến xuống còn 9-10 chiếc, còn trong lực lượng dự bị sẽ có 1-2 tàu.
Ba tàu sân bay Trung Quốc, kể cả tàu huấn luyện Thi Lang, sẽ không thể đối chọi với sức mạnh ghê gớm đó. Ngoài ra, Mỹ đang tích cực giúp đỡ tăng cường quân đội, trong đó có hải quân của các nước đồng minh ở châu Á-Thái Bình Dương.
![]() |
|
Tàu sân bay trực thăng Dokdo của Hàn Quốc
|
Nhưng khó khăn của Mỹ là ở chỗ nếu như Trung Quốc có thể nhanh chóng tập trung binh lực của mình thành một quả đấm tấn công thì Mỹ phải phân tán binh lực của mình trên khắp đại dương thế giới, phải mạnh ở tất cả các khu vực then chốt trên thế giới.
Ở châu Á-Thái Bình Dương, hạm đội Mỹ có thể duy trì đồng thời hơn 4-5 tàu sân bay (trong thời kỳ đặc biệt căng thẳng), trong khi 1-2 tàu thường được sửa chữa định kỳ hoặc chuẩn bị để hành quân. Các tàu sân bay còn lại trực chiến ở Đại Tây Dương, Địa trung Hải, Ấn Độ Dương. Bởi vậy, khi tăng cường lực lượng ở một khu vực nào đó thì lực lượng ở các hướng chiến lược khác bị suy yếu đi.
Chẳng hạn, hiện nay, Mỹ đặt ra vấn đề giải thể Hạm đội 2 của Hải quân Mỹ mà địa bàn trách nhiệm gồm Bắc Đại Tây Dương và Tây Bắc cực. Hạm đội này có thể bị cắt giảm xuống mức cơ cấu danh nghĩa gồm chủ yếu là các đơn vị huấn luyện và bảo đảm với số tàu chiến tối thiểu. Các lực lượng chính sẽ được chuyển thuộc cho các hạm đội tác chiến khác của Mỹ, ví dụ: Hạm đội 5 ở Ấn Độ Dương và Hạm đội 7 ở Thái Bình Dương. Nếu điều đó xảy ra, Bắc Kinh sẽ có được một lực lượng Mỹ hùng mạnh hơn ở ngay biên giới của mình.
![]() |
|
Tàu sân bay hạt nhân thứ sáu lớp Nimitz của Mỹ mang tên vị Tổng thống đầu tiên của Mỹ là George Washington.
|
|
VND: Thực chất Nga không hề mắc mưu Trung Quốc và rất chú trọng bảo vệ lợi ích ở Thái Bình Dương. Mới đây họ đã quyết định sẽ đóng tàu sân bay hạt nhân và dự định triển khai tại Viễn Đông-Thái Bình Dương cùng với tàu sân bay trực thăng và các tàu tuần dương nguyên tử.
|
Bên cạnh đó, Trung Quốc không xem Nga là đối thủ chính ở châu Á-Thái Bình Dương. Chuẩn đô đốc Yin Cho, khi trả lời phỏng vấn báo chí Trung Quốc, đã khuyên Nga tập trung chú ý vào Bắc cực.
Sau khi phân tích thông báo của Chủ tịch Tập đoàn Đóng tàu thống nhất OSK (Nga) Roman Trotsenko về khả năng Nga đóng các tàu sân bay mới, ông Cho kết luận rằng, Liên bang Nga có thể đóng một tàu sân bay, song để làm việc đó cần phải giải quyết một số khó khăn kỹ thuật để thích ứng tàu với việc sử dụng ở Bắc Băng Dương.
Đồng thời, vị chuẩn đô đốc Trung Quốc cũng nhận xét rằng, tàu sân bay duy nhất Đô đốc Kuznetsov của Hải quân Nga sẽ không thể bảo đảm cường độ tác chiến cao ở Bắc cực và điều đó rất nguy hiểm cho an ninh quốc gia Nga.
Bắc Kinh không cần một cuộc chiến tranh “trên hai mặt trận” – họ có đủ vấn đề ở các đường biên giới phía đông, đông nam và phía tây (đối đầu với Ấn Độ). Đối với Bắc Kinh, kịch bản có lợi nhất là kịch bản phương Tây và Nga đối đầu ở khu vực Bắc cực, vì phương Tây đã đang thành lập một “tiểu NATO” ở Bắc cực, còn Nga thì tuyên bố thành lập 2 “lữ đoàn Bắc cực”.
![]() |
|
Tàu sân bay đầu tiên thời hậu chiến của Nhật Bản Hyūga
|
Đối với nước Nga, hướng chiến lược phía bắc quả thực là quan trọng sống còn, sau khi Liên Xô sụp đổ, Nga đã mất nhiều vị thế ở phía bắc. Cần phải tăng cường hạm đội phương Bắc, thành lập các đơn vị cơ động sẵn sàng hoạt động ở điều kiện Cực Bắc, tiến hành các chương trình phát triển các khu vực phía bắc. Nhưng không được quên châu Á-Thái Bình Dương. Đó là vì Nhật Bản liên tục yêu sách lãnh thổ đối với Nga (Xét đến sự tăng cường hải quân của Nhật thì đây là mối đe dọa hiện thực đối với sự toàn vẹn lãnh thổ của Nga); tình hình bất ổn trên bán đảo Triều Tiên; sức mạnh của Mỹ vẫn còn đó; Trung Quốc đang tăng cường sức mạnh. Bởi vậy, việc hiện đại hóa hạ tầng quân sự ở khu vực Viễn Đông của Nga cũng cần thiết sống còn. Tính đến các yếu tố đó, Nga cũng phải có các kế hoạch xây dựng khoảng 3 cụm tàu sân bay xung kích, đồng thời phải có 1 tàu sân bay dự bị. Điều đó sẽ cho phép bảo đảm lợi ích của Nga ở Thái Bình Dương và Bắc Băng Dương.
-
Nguồn: Aleksandr Samsonov / TW, 3.8.11.
-Nguồn:
Tàu sân bay và cán cân sức mạnh châu Á-Thái Bình Dương
—Sự chuyển đổi chính sách ngoại giao của Mỹ ở châu Á Thái Bình Dương
Thứ Năm, 17 tháng 11 2011 Sự chuyển đổi chính sách ngoại giao của Mỹ ở châu Á Thái Bình Dương Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã tái khẳng định “liên minh không thể phá vỡ được” của Washington với Australia trong một bài phát biểu trước Quốc hội …
Obama : Mỹ tăng cường hiện diện tại Châu Á RFI
So sánh “chế độ đối đãi” của Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Australia Dân Trí
Hoa Kỳ điều thủy quân lục chiến tới Úc BBC Tiếng Việt
Thanh Niên –Đài Á Châu Tự Do –Tin thời sự, Bình luận về Nga và thế giới
South-East Asian leaders turn spotlight on South China Sea M&C –
– VN khẳng định quyết tâm thúc đẩy hội nhập ASEAN (TTXVN). –An ninh hàng hải – tâm điểm thượng đỉnh ASEAN?
–
Học thuyết “Tác chiến không-biển” hóa giải chiến lược “chống tiếp cận” của Trung Quốc
![]() |
| Mỹ bắt đầu chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh lạnh mới nhằm hạ gục Trung Quốc trên chiến trường chính châu Á-Thái Bình Dương |
Khái niệm tác chiến không-biển (Air Sea Battle) là sự khởi đầu của cái mà các quan chức quốc phòng Mỹ nói là giai đoạn đầu của một đối pháp quân sự kiểu chiến tranh lạnh đối với Trung Quốc.
Kế hoạch trù tính việc chuẩn bị cho Không quân, Hải quân và Thủy quân lục chiến Mỹ nhằm đánh bại “các vũ khí chống tiếp cận, ngăn chặn khu vực” (anti-access, area-denial weapons) của Trung Quốc, bao gồm vũ khí chống vệ tinh, vũ khí điều khiển học, tàu ngầm, máy bay tàng hình và tên lửa tầm xa có thể tấn công tàu sân bay trên biển.
Các quan chức quân sự từ 3 quân chủng Mỹ nói với các phóng viên trong cuộc họp báo rằng, khái niệm mới không nhằm vào một quốc gia duy nhất nào. Nhưng họ đã không trả lời câu hỏi vậy nước nào ngoài Trung Quốc đã phát triển các vũ khí chống tiếp cận tiên tiến.
Một quan chức cao cấp trong chính quyền Obama thẳng thắn hơn khi nói rằng, khái niệm mới là một sự kiện quan trọng báo hiệu một cách tiếp cận mới, kiểu chiến tranh lạnh đối với Trung Quốc.
“Tác chiến không-biển có ý nghĩa đối với Trung Quốc cũng giống như chiến lược hải quân của Mỹ đối với Liên Xô”, quan chức này nói.
Thời chiến tranh lạnh, các lực lượng hải quân Mỹ trên khắp thế giới đã sử dụng chiến lược hiện diện toàn cầu và phô trương sức mạnh để răn đe, kiềm chế bước tiến của Moskva.
“Đó chính là chiến lược triển khai phía trước quả quyết, nói lên rằng chúng ta sẽ không ngồi sau để bị trừng phạt”, một quan chức cao cấp nói. “Chúng ta sẽ khởi xướng”.
Theo các quan chức quốc phòng, khái niệm bắt nguồn từ những lo ngại rằng, các vũ khí tấn công chính xác mới của Trung Quốc đe dọa tự do hàng hải trên những tuyến đường biển chiến lược và tuyến giao thông toàn cầu khác.
Các quan chức quốc phòng hiểu rõ khái niệm đã nói trong số các ý tưởng đang được xem xét có:
• Chế tạo một máy bay ném bom tầm xa mới.
• Tiến hành các chiến dịch hiệp đồng tàu ngầm và máy bay tàng hình.
• Một máy bay tiến công không người lái tầm xa với tầm tới 1.000 hải lý do liên quân sử dụng.
• Sử dụng Không quân Mỹ bảo vệ các căn cứ hải quân và các lực lượng hải quân được triển khai.
• Tiến hành các cuộc tiến công hiệp đồng của Hải quân, Thủy quân lục chiến và Không quân Mỹ trong nội địa Trung Quốc.
• Sử dụng máy bay của Không quân Mỹ để rải thủy lôi.
• Các cuộc tiến công hiệp đồng của Không quân và Hải quân Mỹ chống các tên lửa chống vệ tinh của Trung Quốc bên trong lãnh thổ Trung Quốc.
• Tăng khả năng cơ động của các vệ tinh để chúng khó bị tấn công hơn.
• Phát động các cuộc tiến công điều khiển học hiệp đồng giữa Hải quân và Không quân vào các lực lượng chống tiếp cận của Trung Quốc.
Bí thư báo chí của Lầu Năm góc George Little nói [việc thành lập]ư một văn phòng mới (Air Sea Battle Office – ASBO) “là sự kiện khó khăn mới có được và quan trọng về mặt tác chiến nhằm đối phó với những mối đe dọa đang nổi lên đối với sự tiếp cận toàn cầu của chúng tôi”.
“Văn phòng này sẽ giúp hướng dẫn việc tích hợp có ý nghĩa các khả năng chiến đấu không quân và hải quân của chúng tôi, tăng cường sức răn đe quân sự của chúng tôi và duy trì ưu thế của Mỹ trước sự phổ biến các công nghệ và khả năng quân sự tiên tiến”, ông Little nói.
Ông lưu ý rằng, đây là một ưu tiên của Lầu Năm góc để tái cân bằng các lực lượng liên quân nhằm răn đe tốt hơn và đánh bại sự gây hấn trong “các môi trường chống tiếp cận”.
Đầu tháng này, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon E. Panetta, khi thăm châu Á, đã nói rằng, các lực lượng Mỹ sẽ tái định hướng sang châu Á khi các cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan kết thúc. Trọng tâm mới sẽ bao gồm “các khả năng quân sự mở rộng”, ông nói mà không nêu chi tiết.
Các quan chức quân sự ở Lầu Năm góc, hôm thứ tư, đã không thảo luận các nội dung cụ thể của khái niệm mới. Ngoại trừ một sĩ quan nói rằng, một ví dụ có thể là sử dụng các máy bay cường kích A-10 tấn công mặt đất của Không quân Mỹ để phòng thủ các hạm tàu trên biển chống các cuộc tiến công ồ ạt của các “bầy” tàu nhỏ.
Trong những năm gần đây, Trung Quốc trở nên quyết đoán hơn ở các vùng biển gần Trung Quốc, quấy rối các tàu thám sát của Hải quân Mỹ ở Biển Đông và Hoàng Hải.
Trung Quốc cũng tuyên bố những phần lớn của Biển Đông là lãnh thổ của họ. Các quan chức Mỹ nói người Trung Quốc đòi hỏi cái là “lối vào nhà của chúng tôi”.
Lầu Năm góc cũng lo ngại đối với tên lửa đường đạn chống hạm mới của Trung Quốc DF-21D, có thể tấn công các tàu sân bay trên biển. Các tàu sân bay là năng lực tung sức mạnh then chốt ở châu Á và sẽ được sử dụng để bảo vệ Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan.
“Khái niệm “Tác chiến không-biển” sẽ h ướng dẫn các quân chủng khi họ phối hợp với nhau để duy trì ưu thế liên tục của Mỹ trước sự phổ biến các công nghệ quân sự và khả năng [chống tiếp cận/phong tỏa khu vực] tiên tiến, Lầu Năm góc nói trong thông báo về việc thành lập một văn phòng chương trình phụ trách khái niệm mới – Văn phòng ASBO.
Mặc dù, Văn phòng được lập ra vào tháng 8, nhưng buổi họp báo hôm thứ tư là lần đầu tiên Lầu Năm góc chính thức đưa ra khái niệm mới.
Lục quân Mỹ được trông đợi cũng tham gia Văn phòng khái niệm mới ASBO trong tương lai.
Một quan chức quốc phòng nói, Lục quân Mỹ đang tham dự các sáng kiện chiến tranh điều khiển học vốn sẽ hữu ích khi đối phó với các vũ khí chống tiếp cận.
“Nói một cách đơn giản, chúng ta đang nói về quyền tự do tiếp cận ở các tuyến giao thông toàn cầu. Tầm hỏa lực chính xác gia tăng đang đe dọa những các tuyến giao thông toàn cầu đó theo những cách thức mở rộng mới”, một quan chức quân sự giấu tên nói. “Đó là cái mà nói vắn tắt là điều khác biệt”.
Các quan chức quốc phòng Mỹ nói rằng, một số quan chức chính quyền phản đối khái niệm mới do những lo ngại là nó sẽ Trung Quốc khó chịu. Kết quả dẫn đến một sự thỏa hiệp đòi hỏi các quan chức quân sự và quốc phòng là làm mờ đi việc Trung Quốc chính là trọng tâm trung tâm của kế hoạch tác chiến mới.
Quan chức quân sự thứ hai thì nói, khái niệm mới cũng nhằm chuyển đổi điểm nhấn của quân đội Mỹ hiện nay là chống nổi dậy sang chống các mối đe dọa chống tiếp cận.
Văn phòng ASBO được tiết lộ khi Tổng thống Obama tuần này có chuyến đi châu Á nhằm củng cố các liên minh. Ông dự định gặp chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào ở Hawaii vào ngày thứ bảy.
Khái niệm xuất phát từ Bản đánh giá quốc phòng 4 năm một lần (Quadrennial Defense Review – QDR) năm 2010 và ở những giai đoạn đầu của nó không hề nhắc đến sức mạnh quân sự gia tăng của Trung Quốc.
Nhưng Trung Quốc đã được bổ sung vào báo cáo QDR sau khi có sự can thiệp của Andrew Marshall, Giám đốc Văn phòng Đánh giá Mạng (Office of Net Assessment) của Lầu Năm góc, và Tướng Thủy quân lục chiến James N. Mattis, khi đó là Tư lệnh Bộ Chỉ huy Các lực lượng liên quân (Joint Forces Command).
Chuyên gia về quân sự Trung Quốc Richard Fisher nói rằng, Văn phòng ASBO là cần thiết song có thể đã “muộn trong cuộc chơi”.
“Một văn phòng của Lầu Năm góc tập trung vào những thách thức quân sự của Trung Quốc ở châu Á hoặc xa hơn nữa sẽ là không đủ”, ông Fisher thuộc Trung tâm Đánh giá và Chiến lược quốc tế (International Assessment and Strategy Center). “Thách thức này sẽ đòi hỏi sự liên kết chính sách chiến lược, chính trị và kinh tế ở mức độ như chiến tranh lạnh, vượt ra ngoài tầm với của Lầu Năm góc”.
Cựu chuyên gia về Trung Quốc ở Bộ Ngoại giao Mỹ John Tkacik đánh giá: “Khái niệm mới “Tác chiến không-biển” là bằng chứng cho thấy, Washington cuối cùng đang đối mặt với mối đe dọa hiện thực là Trung Quốc đã trở nên một cường quốc quân sự, hải quân và hạt nhân thù địch ở châu Á, và cách duy nhất để cân bằng với Trung Quốc là đem sức nặng của các lực lượng không quân và hải quân Mỹ bổ sung cho các lực lượng mặt đất của các đồng minh của chúng ta ở châu Á-Thái Bình Dương”.
- Nguồn: Pentagon battle concept has Cold War posture on China / Bill Gertz // The Washington Times Wednesday, 9.11.2011.
NHÌN VỀ CHÂU Á, HOA KỲ THẤY TRUNG QUỐC Ở KHẮP NƠI
Lê Quốc Tuấn. X-CafeVN chuyển ngữ
Trung Quốc không chịu đàm phán đa phương: Beijing Resists Sea Debate During East Asia Summit (WSJ 16-11-11) Lược thuật: Đưa Biển Đông ra thượng đỉnh Đông Á: Mỹ – Trung ngược nhau (VnEx 16-11-11)
Mỹ – Trung Quốc – Biển Đông : China Furthers Washington’s Cause in the South Sea (NI 16-11-11) — Bài đáng đọc của Amitai Etzioni
Mỹ – Châu Á (nhìn từ Úc): Barack Obama’s Sputnik moment (Australian 17-11-11)
Mỹ – Úc: 5 Lessons of U.S. Plan for a Permanent Military Presence in Australia (Atlantic 11-11-11) – Phân tích đáng đọc! ◄
Philippin – Trung Quốc : Dispute Over Bare Islands Underscores Philippines’ Rocky Relations With China (NYT 15-11-11)
–
Malaysia sắm 18 Su-30MKM mang tên lửa siêu âm BrahMos
–– Mỹ nhận bom “khủng” đối phó Iran (LĐ/AFP). – Vua tên lửa” Iran bị ám sát? (TTVH/AFP).- Iran “không hợp tác hạt nhân với CHDCND Triều Tiên” (TN). – Iran: Bảo vệ chương trình hạt nhân (SGGP). – Phương Tây lật đổ chế độ Iran mà không cần tấn công? (ĐấtViệt). – Iran muốn hợp tác hạt nhân với Thổ Nhĩ Kỳ (TN).
– Nga: chuẩn bị hầm trú ẩn tránh phóng xạ cho người dân Moscow (Kichbu/newsland.ru và dni.ru).—

TQ xác nhận vụ tự thiêu ở Thiên An Môn – (BBC) –Trung Quốc xác nhận một vụ tự thiêu ở quảng trường Thiên An Môn của Bắc Kinh hồi tháng 10. Ngải Vị Vị : đấu tranh với sở thuế để cho thấy bộ mặt thật của chính quyền Trung Quốc—




