THEO DÒNG SỰ KIỆN


Mở kho dữ liệu Ngân hàng Nhà nước

 

-Các loại thông tin nóng sẽ được Ngân hàng Nhà nước công bố ngay trong ngày.- Hơn 40 đầu mục thông tin và dữ liệu của Ngân hàng Nhà nước bắt đầu được mở ra rộng rãi và hứa hẹn được cập nhật một cách nhanh chóng.
Từ tuần tới (ngày 1/4/2012), Thông tư số 35/2011/TT-NHNN quy định việc công bố và cung cấp thông tin của Ngân hàng Nhà nước bắt đầu có hiệu lực. Có hơn 40 đầu mục thông tin và dữ liệu cần thiết cho công chúng sẽ được mở ra, trong đó có nhiều dữ liệu mà bấy lâu nay chưa được thống kê, cập nhật một cách có hệ thống và đầy đủ.

Đi cùng với độ mở trên, Ngân hàng Nhà nước cũng xác định rõ thời điểm công bố các thông tin và dữ liệu, khá sát theo thời gian thực của sự kiện, hoặc theo đặc thù của yêu cầu thống kê, tổng hợp và mang tính định kỳ…
Điểm đầu tiên mà Ngân hàng Nhà nước xác định là các văn bản pháp luật về tiền tệ, ngân hàng do cơ quan này ban hành sẽ được công bố khá sớm, trong vòng 2 ngày làm việc kể từ khi ban hành.
Đặc biệt, các chủ trương, định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước, các quyết định điều hành của Thống đốc sẽ được công bố gần như tức thì, trong vòng 1 ngày làm việc kể từ khi ban hành.
Dạng thông tin nóng như mua, bán, hợp nhất, sáp nhập, phá sản, giải thể, thu hồi giấy phép của tổ chức tín dụng hay các xử phạt hành chính cũng sẽ được công bố trong vòng 1 ngày làm việc kể từ khi ban hành văn bản.
Bên cạnh các thông tin trên, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục công bố và cập nhật các dữ liệu cơ bản như trong thời gian qua, về các lãi suất điều hành, các loại tỷ giá, kết quả hoạt động thị trường liên ngân hàng, kết quả đấu thầu nghiệp vụ thị trường mở, diễn biến thị trường vàng và ngoại tệ… theo định kỳ thống kê.
Với các tổ chức tín dụng, dự liệu công bố cũng sẽ cập nhật về tốc độ tăng trưởng và số tuyệt đối của vốn điều lệ, vốn tự có, tổng tài sản, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, tăng trưởng và số tuyệt đối huy động cùng dư nợ, tỷ lệ nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Loạt dữ liệu này sẽ có tính hệ thống, đầy đủ và hỗ trợ tốt cho công chúng khi tìm hiểu và nắm bắt tương đối kịp thời tình hình hoạt động của các thành viên trong hệ thống.
Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ cập nhật các chỉ số cơ bản khác như ROA, ROE theo định kỳ 2 lần mỗi năm để tạo cơ sở đánh giá hiệu quả hoạt động của các loại hình tổ chức tín dụng.
Theo danh mục của Thông tư 35, một loại dữ liệu khá mới sẽ được công bố một cách chính thức là số lượng giao dịch và giá trị giao dịch được thực hiện bằng các kênh thanh toán khác nhau; tổng số lượng và tổng số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân theo định kỳ hàng quý.
Với vai trò là nhà quản lý và điều hành hệ thống, hàng quý Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ công bố báo cáo phân tích, đánh giá về tình hình kinh tế vĩ mô, điều hành của mình và diễn biến tiền tệ, ngân hàng.
Như vậy, khá nhiều dữ liệu cần thiết cho thị trường sẽ được mở ra, tạo một kênh tham khảo cần thiết cho công chúng, nhất là khi chúng chính nguồn, có tính hệ thống và đầy đủ.
:Nguồn-Mở kho dữ liệu Ngân hàng Nhà nước Vneconomy

Việt Nam: Từ anh hùng đến số không: Hero to zero (Economist 31-3-12) – “The Communist Party sticks to its principles and the economy stalls”. WHOA!!!! Phải đọc bài này! ◄◄
Phải có dũng khí nhìn thẳng sai lầm (CAND 29-3-12) — P/v Phan Diễn –Góp ý của các cựu lãnh đạo phải được phản hồi công khai
Tương Lai: “Vòng tròn nhỏ” trong “vòng tròn lớn” (viet-studies 30-3-12) — Bài phát biểu tại Hội thảo về giáo dục và đào tạo ngày 29.3.2012. Bài đặc biệt quan trọng. PHẢI ĐỌC!◄◄◄
Cựu chủ tịch Vinashin lãnh 20 năm tù (VNN 30-3-12) Former Vinashin chairman jailed (FT 30-3-12)
Từ những kho hàng Trung Quốc tại TP.HCM: Lo doanh nghiệp Việt ngày càng yếu thế (SGTT 30-3-12)

ASEAN CÓ THỂ HỌC ĐƯỢC GÌ TỪ CUỘC KHỦNG HOẢNG CHÂU ÂU

 

Tài liệu tham khảo đặc biệt, Thứ sáu ngày, 30/3/2012

TTXVN (Giacácta 25/3)
Bàn về tính chất của Liên minh châu Âu nói chung, cuộc khủng hoang nợ công ở khu vực đồng tiền chung châu Âu nói riêng trong mi tương quan với đặc điểm của ASEAN, tác giả Rudi Winandoko — một nhà ngoại giao thuộc Bộ Ngoại giao Inđônêxia có bài viết “ASEAN có th học được gì từ cuộc khủng hoảng châu Âu” đăng trên tờ “Bưu điện Giacácta” s ra mới đây. Tác giả đã có những so sánh, phân tích nguyên nhân của cuộc khủng hoảng, từ đó nêu lên một số bài học kinh nghiệm của mình về hội nhập kinh tế đối với ASEAN. Sau đây là nội dung bài viết.

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Liên minh châu Âu (EU) có những đặc điểm xã hội và kinh tế rất khác nhau. Căn cứ vào GDP thì sức mạnh kinh tế của EU gấp hơn 9 lần so với ASEAN. EU bắt đầu tiến trình hội nhập từ năm 1958, một khoảng thời gian dài trước khi có Tuyên bố Băng Cốc về thành lập ASEAN vào năm 1967. Dù có sự khác biệt như vậy, nhưng cuộc khủng hoảng nợ ở khu vực đồng tiền chung châu Âu (eurozone) hiện nay có thể mang lại cho ASEAN bài học quý giá cho tương lai.
Cuộc khủng hoảng ở eurozone được kích hoạt bởi nhiều yếu tố phức tạp. Dẫu các nhà kinh tế vẫn đang tranh luận về nguyên nhân thực sự của cuộc khủng hoảng, nhưng ở đây tồn tại ít nhất ba yếu tố liên quan với nhau mà ASEAN có thể đúc rút kinh nghiệm.
Trước hết là sự chênh lệch về khả năng cạnh tranh kinh tế của các nước thành viên. Điều đó tạo ra sự mất cân bằng thương mại. Những nền kinh tế mạnh, chẳng hạn như Đức, đạt giá trị xuất khẩu vượt xa nhập khẩu. Trong khi các nền kinh tế yếu như Bồ Đào Nha, Alien, Italia, Hy Lạp và Tây Ban Nha (PIIGS) lại chịu điều kiện ngược lại.
Sản phẩm xuất khẩu của các nước PIIGS bị mất khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, buộc họ phải dựa nhiều hơn vào các khoản nợ để trang trải cho thâm hụt thương mại. Đồng euro, với tư cách là một loại tiền tệ duy nhất, đang làm trầm trọng thêm tình hình, do PIIGS không thể độc lập phá giá tiền tệ để làm cho sản phẩm của họ rẻ hơn.
Chính bởi sự mất cân bằng thương mại kéo dài, các nền kinh tế yếu kém buộc phải nợ chồng chất đến mức họ không thể trả thêm được nữa. Cách hành xử của họ được thúc đẩy bởi một thực tế là sự khuyến khích đi vay nợ tăng lên cùng với lãi suất giảm sau khi các nước đó gia nhập khu vực đồng euro.
Lý do thứ hai là thiếu cam kết từ các nhà lãnh đạo EU. Hiệp ước Maastricht năm 1992 nêu rõ, các thành viên đồng tiền chung châu Âu chỉ có thể có tối đa 3% GDP trong giới hạn được vay hàng năm và tỷ lệ nợ trên GDP là 60% để đảm bảo sự ổn định của khu vực đồng tiền chung châu Âu và ngăn chặn hành vi tài chính thiếu thận trọng. Nhiều năm sau đó, mọi người dường như quên rằng họ từng có những giới hạn như vậy.
Không cần thiết phải nói rằng Hy Lạp đã bỏ qua qui định hạn chế này, dẫn đến mức thâm hụt ngân sách chiếm 12% GDP và tỷ lệ nợ so với GDP lên đến 160%. Một số phương tiện truyền thông cáo buộc Hy Lạp mánh khóe lợi dụng qui định của Hiệp ước Maastricht bằng cách sử dụng các kỹ thuật tài chính phức tạp. Điều làm chúng ta quan ngại là Đức và Pháp – hai quốc gia lớn nhất trong khu vực đồng tiền chung châu Âu – cũng vượt quá các quy tắc tối thiểu bằng cách làm cho ngân sách thâm hụt lần lượt 4% và 7% GDP, cũng như tỷ lệ nợ so với GDP là 83% và 82%. Điều đó khiến chúng ta nhận thức được rằng các nhà lãnh đạo EU không thể duy trì các quy tắc riêng của họ.
Mới đây, các nước thành viên EU, ngoại trừ Anh và Séc, đã ký một hiệp ước tài chính mang tính bước ngoặt nhằm cải cách các thỏa thuận trước đó. Họ làm cho các quy tắc trở nên chặt chẽ hơn, bao gồm cả việc dành cho Toà án Tư pháp châu Âu quyền kiểm tra liệu các nước có thực hiện các quy tắc ngân sách một cách đúng đắn, cũng như quyền tạo ra một cơ chế tự động buộc các quốc gia điều chỉnh ngân sách của họ. Việc các nước liên quan có thực sự triển khai các quy định mới một cách nhất quán hay không còn cần phải đợi thời gian chứng minh.
Lý do thứ ba là sự mất tự tin trong tất cả các quốc gia thành viên khu vực đồng euro. Yếu tố này là câu trả lời chung cho tất cả các nguyên nhân đã đề cập. Tâm lý thị trường trở nên bất ổn về việc liệu đồng euro có thể được tiếp tục duy trì và các nhà lãnh đạo có khả năng kiềm chế cuộc khủng hoảng. Những chỉ số lãi suất cho thấy các nước khu vực đồng euro đã đạt đến mức cao nhất kể từ khi khởi đầu loại tiền tệ chung duy nhất này, nghĩa là công chúng không có nhiều niềm tin đối với nền kinh tế châu Âu.
Quan ngại về khả năng cuộc khủng hoảng ngày càng tồi tệ hơn trở nên rõ nét khi các cơ quan đánh giá tín nhiệm phản ứng với cuộc khủng hoảng bằng cách giảm mức xếp hạng tín dụng quốc gia của hàng loạt nền kinh tế yếu ớt dưới mức đầu tư, hay là thứ “vô giá trị” – mặc dù không ít nhà phê bình lập luận các cơ quan xếp hạng dường như đã phản ứng thái quá vì đã không đưa ra một cảnh báo thích hợp trước khi khủng hoảng bùng phát. ASEAN là tổ chức khu vực hội nhập nhất trong số các nước đang phát triển. Hiệp hội này có thể không coi EU là một hình mẫu cho sự phát triển kinh tế, nhưng có một điều không thể phủ nhận là ASEAN có thể rút ra nhận thức sâu sắc về việc hội nhập kinh tế cần được xử lý cẩn thận như thế nào.    
Bài học quan trọng cho ASEAN là mọi sự hội nhập kinh tế nên bắt đầu với những nỗ lực để đạt được sự phát triển kinh tế như nhau ở mỗi nước thành viên. Điều quan trọng là tránh được sự mất cân bằng kinh tế đang xảy ra ở khu vực đồng tiền chung châu Âu. Nếu muốn tăng cường công cuộc hội nhập, ASEAN phải đảm bảo tất cả các nước thành viên phát triển kinh tế với cùng một nhịp độ và không nước nào bị tụt lại phía sau.
Hiện tại, sự mất cân bằng kinh tế giữa các nước thành viên ASEAN có thể có ảnh hưởng rất ít tới sự phát triển của tổ chức này. Trong ASEAN, quy mô quan hệ thương mại với các đối tác bên ngoài nhiều hơn đáng kể so với thương mại nội khối, vì vậy các nước thành viên có vẻ dễ bị tổn thương bởi các cú sốc bên ngoài ASEAN hơn là bên trong khu vực. Tuy nhiên, trong tương lai, thực trạng như ở châu Âu sẽ còn xảy ra do ASEAN trở nên hội nhập hơn. Tăng trưởng bền vững trong khu vực chỉ có thể đạt được nếu tất cả các quốc gia thành viên ở trong cùng một giai đoạn phát triển.
Rút kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng của khu vực đồng tiền chung châu Âu, ASEAN cũng cần tạo ra một cơ chế đảm bảo phản ứng nhanh và thích hợp khi có một cuộc khủng hoảng xảy ra. Tăng cường tin cậy đối với ASEAN là điều cần thiết để thị trường tin rằng ASEAN có thể xử lý ổn thỏa cuộc khủng hoảng.

Chống lại toàn cầu hóa cũng giống như không tuân theo quy luật của lực hấp dẫn. Hội nhập kinh tế là không thể tránh khỏi và các hiệp định thương mại là cần thiết để làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, khi các quốc gia càng hội nhập thì càng dễ bị tổn thương hơn bởi các vấn đề nội bộ của nước khác. ASEAN, với ý thức về cộng đồng, cần xử lý quá trình hội nhập của mình một cách cẩn thận để có thể mang lại nhiều điều tốt đẹp hơn là những tai hại./.
-Theo:–ASEAN CÓ THỂ HỌC ĐƯỢC GÌ TỪ CUỘC KHỦNG HOẢNG CHÂU ÂU


– Nhật Bản sẽ cho Việt Nam vay 1,6 tỉ đôla    –   (VOA).- Việt Nam bán cho Philippines 500.000 tấn gạo    –   (VOA).- GDP của Việt Nam dự kiến tăng 4% trong quý một    –   (VOA).- Thêm nhiều mặt hàng tăng giá (PLTP).

– Các thay đổi luật lệ của Ấn Độ gây kinh động trong giới đầu tư nước ngoài   –   (VOA).- Dự toán ngân sách Tây Ban Nha 2012: Tiết giảm 35 tỷ euro   –   (RFI).——

Yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay việc đua thuyền buồm tới Hoàng Sa

 

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, Lương Thanh Nghị. (Nguồn: Chinhphu.vn)
Ông Lương Thanh Nghị(Chinhphu.vn) – Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay việc tổ chức đua thuyền buồm tới quần đảo Hoàng Sa…

Trước việc ngày 30/3/2012, chính quyền tỉnh Hải Nam, Trung Quốc vẫn tiếp tục tổ chức cuộc đua thuyền buồm “Cúp Ty Nam” xuất phát từ Tam Á đến quần đảo Hoàng Sa, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị nêu rõ:

“Việc Trung Quốc tổ chức đua thuyền buồm tới quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, đi ngược lại chính cam kết của Trung Quốc là không có các hành động làm phức tạp thêm tình hình ở biển Đông.


Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay hoạt động nêu trên, tuân thủ DOC, đóng góp thiết thực vào việc duy trì hòa bình và ổn định trên biển Đông.”

Hồng Phong
Theo –Yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay việc đua thuyền buồm tới Hoàng Sa
Báo điện tử Chính phủ
– Phản đối Trung Quốc đua thuyền buồm tới Hoàng Sa (TTXVN).– 140 lượt tàu cá Trung Quốc xâm phạm biển Việt Nam (TT).-:Một tàu cá bị Trung Quốc lấy hải sản (TN) – Cao nguyên đá góp đá ủng hộ Trường Sa (TT&VH).   – Người dân địa đầu cực bắc góp đá xây Trường Sa (TTXVN). – – Trung Quốc cảnh báo Việt Nam và Philippines không nên tập trận chung ở Biển Đông   –   (RFI).  – Trung Quốc cảnh báo chớ nên tập trận chung ở Biển Ðông     –   (VOA). – PHL to build pier in disputed Spratlys (AFP/ GMA). – – Philippines xây bến cảng tại quần đảo Trường Sa?   –  (RFA).  –   ‘US should provide Phl with military hardware’ (Philippine Star‎). –  Strengthening US – Philippine Cooperation Key to Stability in the South China Sea(Heritage). – Hydrocarbon wars are on the rise (Engineering News).- DRONE WARFARE: US could fly spy drones from Australian territory‎ (Global Research). – Indonesia opposes potential US plan for base in Australia‎ (Press TV). –This Week at War: The Navy’s Pacific Problem (Foreign Policy).

– Tăng cường đối trọng với “đường lưỡi bò” (TN).  – Việt Nam khẳng định chủ quyền ở khu vực giao Ấn Độ thăm dò tại Biển Đông   –   (RFI).  – Việt Nam tái khẳng đỉnh chủ quyền khu vực Ấn Độ thăm dò dầu khí ở Biển Đông    –   (VOA).  – Nhiều nguy cơ đe dọa an toàn hàng hải Đông Nam Á (TTXVN).  – Khai mạc Diễn đàn Nhân dân các nước ASEAN 2012 tại Campuchia   –   (RFA).  – Cam Bốt liệu có trung lập về vấn đề Biển Đông, trước sự ve vãn của Trung Quốc?   –   (RFI). –- Will ASEAN Tackle South China Sea?‎ (The Diplomat).  – ASEAN bàn soạn thảo quy tắc ứng xử ở Biển Đông (VNN). – Đài Loan chuẩn bị tự đóng tàu ngầm (Lenta/ Vietnam Defence).





Nên xem xét khởi kiện vụ ngư dân bị bắt TT – Việc Trung Quốc giam giữ 21 ngư dân và hai tàu cá Việt Nam số hiệu QNg66101TS và QNg 66074TS không có cơ sở pháp lý theo luật quốc tế, bởi vùng biển các ngư dân này đánh bắt thuộc quyền chủ quyền VN.

Tập đoàn EVN phản đối cách hành xử của Tập đoàn Viettel đối với khách hàng viễn thông EVN

 

Tập đoàn EVN phản đối cách hành xử của Tập đoàn Viettel đối với khách hàng viễn thông EVN thanh pham -Người đứng đầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam Phạm Lê Thanh phản ứng trước việc Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel áp đặt lên khách hàng viễn thông của EVN và các đối tác của EVN. Bên cạnh đó, Tập đoàn Viettel gây áp lực công việc lên lãnh đạo và cán bộ CNV EVNTelecom để rồi họ phải viết đơn xin nghỉ việc.

Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel tiếp nhận EVNTelecom gồm nguồn vốn Tập đoàn EVN đã đầu tư vào EVNTelecom, tài sản EVNTelecom và nhất là khoản nợ 7.600 tỷ của EVNTelecom. Nhưng đổi lại Tập đoàn EVN cho phép Tập đoàn Viettel sử dụng miễn phí cột điện để treo cáp trong thời hạn 30 năm, đồng nghĩa với việc Tập đoàn Viettel tiết kiệm được số tiền gần 10.000 tỷ; tất cả các phần mềm Tập đoàn EVN đang sử dụng như chương trình quản lý nhân sự, chương trình quản lý khách hàng CMIS, chương trình quản lý vật tư, chương trình quản lý tài chính là bản quyền của  EVNIT thuộc EVNTelecom đồng nghĩa là các phần mềm này trở thành tài sản của Tập đoàn Viettel và hàng năm Tập đoàn EVN chi phí không dưới 1.000 tỷ cho việc nâng cấp các phần mềm này.
Tuy nhiên cách hành xử của Tập đoàn Viettel đối với khách hàng viễn thông của EVN là không thể chấp nhận được. Tập đoàn Viettel đã áp đặt đối với khách hàng viễn thông của EVN khi muốn chuyển đổi sang mạng Viettel, thí dụ như: khách hàng sử dụng dịch vụ E-COM phải mua một máy Homphone có giá 400 ngàn đồng, khách hàng sử dụng dịch vụ E-Mobile phải mua một máy có giá 350 ngàn đồng, khách hàng sử dụng dịch vụ Internet cáp quang FTTH phải trả chi phí hoà mạng mới 900 ngàn đồng để
được mượn modem quang có giá 2 triệu đồng.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam nhập khẩu thiết bị đầu cuối CDMA có giá vài triệu đồng nhưng chỉ bán lại cho người dân có giá dưới một triệu đồng. Mặc dù riêng thiết bị đầu cuối Tập đoàn EVN đã bù lỗ không dưới 4.500 tỷ, nhưng chỉ nhằm mục đích tạo điều kiện cho người dân có thể được sử dụng dịch vụ viễn thông.
Khách hàng sử dụng dịch vụ viễn thông của EVN là 4,6 triệu và nếu như toàn bộ khách hàng chuyển đổi qua mạng Viettel thì số tiền khách hàng phải bỏ ra là 2.000 tỷ. Mặc dù Tập đoàn Viettel đã tặng cho khách hàng EVN chuyển đổi qua mạng Viettel số tiền 300 ngàn đồng được tặng vào tài khoản và trừ dần. Tuy nhiên cách làm của Tập đoàn Viettel gây lãng phí của xã hội 2.000 tỷ, đồng thời áp đặt lên khách hàng của EVN chẳng hạn như sau 31/3/2012 khách hàng EVN không chuyển đổi qua mạng Viettel sẽ bị cắt dịch vụ.
Lãnh đạo Tập đoàn EVN đau xót thu nhập của lãnh đạo Điện lực quá thấp đã tạo điều kiện để lãnh đạo Điện lực đầu cơ đất cho thuê lắp đặt cột anten và nhà trạm. Mặc dù quy định của các Sở Thông tin và Truyền thông chiều cao cột anten ở thành phố tối thiểu 30m, nông thôn cột anten có chiều cao tối thiểu 42m. Bên cạnh đó muốn tối ưu vùng phủ sóng và đạt hiệu quả kinh tế thì công tác khảo sát toạ độ vị trí lắp đặt trạm thu phát sóng phải đạt các yêu cầu mật độ thuê bao, lưu
lượng, địa hình… Tuy nhiên do lãnh đạo Điện lực khó khăn nên ở nông thôn cũng chỉ đầu tư được miếng đất có thể lắp đặt được cột anten có chiều cao 20m và đất muốn mua rẻ thì phải nằm ở địa hình trũng.
Sau khi tiếp nhận EVNTelecom, Tập đoàn Viettel đã không tiếp nhận các cột anten do các Điện lực xây dựng không đảm bảo tiêu chuẩn. Theo như tính toán của lãnh đạo Điện lực đầu cơ đất cho thuê lắp đặt cột anten và nhà trạm phải hai năm mới thu hồi vốn, nhưng các cột anten dự án 3G giai đoạn 2 mới chỉ được lắp đặt một năm và năm đầu tiên Điện lực đã trả tiền thuê mặt bằng dù thiết bị chưa được lắp đặt. Và nếu như EVNTelecom chưa chuyển giao cho Viettel thì lãnh đạo Điện lực sẽ lợi nhuận rất lớn từ việc đầu cơ đất cho thuê lắp đặt cột anten và nhà trạm.
Tập đoàn EVN đã tốn kém rất nhiều để đào tạo từ một nhân viên làm công tác điện trở thành lãnh đạo EVNTelecom. Tuy nhiên khi tiếp nhận EVNTelecom, Tập đoàn Viettel thực hiện phương châm “muốn trở thành lãnh đạo phải thử lửa” và lãnh đạo EVNTelecom bị đẩy lên các vùng “nóng” như: Giám đốc Công ty EVNTelecom Võ Quang Lâm điều động qua làm P.Giám đốc Chi nhánh Viettel Hà Giang, Giám đốc Trung tâm Viễn thông Điện lực miền Trung Phan Xuân Tiến điều động qua làm P.Giám đốc Chi
nhánh Viettel Đắc Nông. Do không không chịu được “nóng” tại Viettel nên sau khi hoàn tất bàn giao EVNTelecom cho Viettel thì Giám đốc EVNTelecom Võ Quang Lâm sẽ chuyển qua công tác tại Công ty Truyền tải điện 1, Giám đốc Trung tâm Viễn thông Điện lực miền Trung Phan Xuân Tiến chuyển qua công tác tại Công ty Truyền tải Điện 2.
Đau lòng trước cách hành xử của Tập đoàn Viettel, người đứng đầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam Phạm Lê Thanh yêu cầu chỉ cần Tập đoàn Viettel tiếp nhận nguồn vốn của Tập đoàn EVN tại Công ty EVNTelecom, các khoản nợ của EVNTelecom. Những vấn đề còn lại Tập đoàn EVN sẽ tìm phương án xử lý thích hợp như: tiếp nhận và bố trí công tác tại các đơn vị thuộc Tập đoàn EVN cho các nhân viên EVNTelecom không chịu nóng nổi tại Tập đoàn Viettel, tài sản viễn thông do các Tổng công ty Điện lực và Tổng công ty Truyền tải đầu tư giữ lại sau đó thương thảo bán lại cho đơn vị ngoài Viettel chẳng hạn như FPTTelecom, các Tổng công ty Điện lực trả tiền cho thuê mặt bằng lắp đặt cột anten và nhà trạm từ tiền cho thuê cột điện treo cáp viễn thông.

 

Chuyện gì đang xảy ra khi EVNTelecom chuyển sang Viettel Võ Quang Lâm
Thủ tướng Chính phủ Quyết định điều chuyển Công ty EVNTelecom sang cho Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel quản lý, đồng thời chuyển toàn bộ tài sản viễn thông do các Tổng công ty Điện lực, Tổng công ty Truyền tài đầu tư cho Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel. Mục đích điều chuyển này của Thủ tướng Chính phủ là để Tập đoàn Viettel gánh các khoảng nợ của EVNTelecom hơn 10.000 tỷ, đảm bảo công ăn việc làm của hơn 2.000 cán bộ CNV EVNTelecom, điều chuyển gần 20.000 tỷ tài sản viễn thông của các Tổng công ty Điện lực và Tổng công ty Truyền tải sang cho Tập đoàn Viettel nhằm mục đích tái cấu trúc Tập đoàn Điện lực Việt Nam.
Sau khi tiếp nhận tài sản viễn thông của Tập đoàn EVN, Tập đoàn Viettel tiến hành tháo bỏ mạng CDMA, tháo bỏ mạng 3G nhà mạng EVNTelecom đã đầu tư, tháo bỏ hệ thống cung cấp dịch vụ Internet cáp quang của các Tổng công ty Điện lực đầu tư, tháo dỡ hầu hết các cột anten và nhà trạm do các Tổng công ty Điện lực đầu tư. Đối với tài sản cáp quang do các Tổng công ty Điện lực, Tổng công ty Truyền tải đầu tư thì Tập đoàn Viettel vẫn chưa có kế hoạch sử dụng như thế nào. Như vậy Tập đoàn Viettel tiếp nhận 30.000 tỷ tài sản viễn thông của Tập đoàn EVN giống như tiếp nhận cục nợ 30.000 tỷ.
Tuy nhiên bù lại Tập đoàn Viettel được Tập đoàn EVN cho phép sử dụng cột điện treo cáp miễn phí trong thời hạn 30 năm và mỗi năm Tập đoàn Viettel tiết kiệm được 300 tỷ; phần công nghệ thông tin của Tập đoàn EVN cũng được chuyển sang Tập đoàn Viettel thì các phần mềm của Tập đoàn EVN đang sử dụng nhất là chương trình quản lý khách hàng CMIS cũng điều chuyển cho Tập đoàn Viettel và Tập đoàn Viettel mỗi năm đã có 1.200 tỷ doanh thu công nghệ thông tin từ Tập đoàn EVN; Tập đoàn EVN cam kết tất cả các đơn vị trực thuộc Tập đoàn EVN phải sử dụng dịch vụ của Tập đoàn Viettel; Tập đoàn Viettel thay thế EVNTelecom xây dựng hệ thống công nghệ thông tin phục vụ cho thị trường điện cạnh tranh; Tập đoàn EVN cam kết khi có thị trường điện cạnh tranh thì tất cả các nhà máy phát điện và khách hàng lớn của Tập đoàn EVN phải thuê đường truyền của Tập đoàn Viettel.
Sau khi tiếp nhận EVNTelecom, Tập đoàn Viettel tiến hành thanh lọc EVNTelecom bằng cách bố trí nhân viên EVNTelecom đi công tác vùng sâu, vùng xa. Giám đốc EVNTelecom Võ Quang Lâm bị đày lên Hà Giang, Giám đốc Trung tâm Viễn thông Điện lực miền Trung Phan Xuân Tiến bị đày lên Đắc Nông. Đa số lãnh đạo EVNTelecom là con ông cháu cha các vị lãnh đạo EVN nên không chịu nổi chân lý tại Tập đoàn Viettel “nước muốn trong phải chảy”. Do vậy số thì xin qua Tập đoàn EVN, số thì xin nghỉ việc mở công ty. Giám đốc EVNTelecom Võ Quang Lâm và Giám đốc Trung tâm Viễn thông Điện lực miền Trung Phan Xuân Tiến cho biết tất cả tài sản viễn thông của Tổng công ty Điện lực ông đều ký nhận hết, tài sản chất lượng kém cũng ký nhận và sau khi ký nhận xong tài sản sẽ nghỉ việc tại Tập đoàn Viettel. Chính phủ điều chuyển EVNTelecom sang cho Tập đoàn Viettel để tạo công ăn việc làm cho cán bộ CNV EVNTelecom, nhưng sau 2 tháng bàn giao cho Viettel đã có 50% CBCNV EVNTelecom nghỉ việc.
Trong những ngày qua tại văn phòng Tập đoàn Điện lực Việt Nam rộn lên thông tin cơ quan điều tra sẽ vào cuộc điều tra vi phạm pháp luật Chủ tịch Tập đoàn Điện lực Việt Nam Đào Văn Hưng. Những nhân viên văn phòng Tập đoàn Điện lực Việt Nam thạo tin cho biết Phó Tổng giám đốc Đinh Quang Tri cũng sẽ bị cho nghỉ việc để điều tra. Trong khi đó, tại Tập đoàn Viettel rộn lên thông tin một số lãnh đạo Tập đoàn Viettel bị tạm thời cho nghỉ việc phục vụ cho công tác điều tra, Tập đoàn Viettel tiến hành thanh tra nhân viên Viettel đầu tư đất cho thuê lắp đặt cột anten đã di dời tọa độ đã quy hoạch thiết kế.
Chủ tịch Tập đoàn Điện lực Việt Nam Đào Văn Hưng sinh năm 1955, tốt nghiệp khoa Kinh tế Năng lượng trường Đại học Bách khoa Hà Nội, có bằng MBA ngành quản trị kinh doanh. Trước khi trở thành người đứng đầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam, ông Đào Văn Hưng đã kinh qua các chức vụ Kế toán trưởng Công ty Điện lực 3, Trưởng Ban Tài chính rồi làm Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Ông Đào Văn Hưng là đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ và từng được Bộ trưởng Bộ Điện lực Phạm Khai khen ngợi là nhà quản lý giỏi trưởng thành từ thực tế, ông Bộ trưởng nói “Bộ Điện lực phải cần nhân rộng tấm gương Đào Văn Hưng”
Tuy nhiên Chính phủ và ngay Bộ trưởng Bộ Điện lực cũng đã nhìn lầm ông Đào Văn Hưng, một số năm Tập đoàn Điện lực Việt Nam dưới thời ông Đào Văn Hưng ăn nên làm ra là nhờ Chính phủ tập trung nguồn vốn ODA, Chính phủ buông lỏng quản lý đối với Tập đoàn EVN không thanh tra cũng không kiểm toán và báo chí cũng chưa phân phui được những trò gian dối của lãnh đạo Tập đoàn EVN.
Trong buổi kiểm điểm ông Đào Văn Hưng tại Công ty EVNTelecom, ông đã tâm sự năng lực ông có hạn và năng lực cán bộ cấp dưới thì càng tệ hại hơn mới thành ra thê thảm như ngày hôm nay. Ông Đào Văn Hưng tin tưởng nhất là cộng sự Đinh Quang Tri, nguời đã cùng kề vai sát cánh với ông bao nhiêu năm nhưng cũng là người làm cho ông đau lòng nhất.
Chủ tịch Tập đoàn Điện lực Việt Nam Đào Văn Hưng chỉ gần hai tháng Chính phủ cho nghỉ việc đã biến thành ông già 80 tuổi. Trước đây ông Đào Văn Hưng đang đương chức có nhiều nhà máy thủ điện tư nhân ký hợp đồng thuê ông làm tư vấn với mục đích dễ đàm phán hợp đồng mua bán điện. Tuy nhiên khi ông Đào Văn Hưng rớt chức các nhà máy điện liền hủy ngay hợp đồng.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam dưới con mắt Chủ tịch Đào Văn Hưng thì Phó Tổng Đinh Quang Tri được đánh giá là cán bộ có năng lực. Ông Đinh Quang Tri từng làm phó cho Chủ tịch Đào Văn Hưng tại Ban Tài chính của Tập đoàn. Sau khi ông Đào Văn Hưng lên làm Tổng giám đốc liền tiến cử ông Đinh Quang Tri vào chức vụ Phó Tổng giám đốc phụ trách công tác viễn thông và tham mưu cho hội đồng quản trị đầu tư ngoài ngành. Ông Đinh Quang Tri từng tuyên bố “Tập đoàn Điện lực Việt Nam chỉ cần cán bộ làm kinh tế chứ không phải tổ chức chính trị mà đòi hỏi phải là đảng viên”.
Thời Tập đoàn EVN bắt đầu cung cấp dịch vụ viễn thông báo chí ca ngợi EVN đã phá thế độc quyền của VNPT và báo chí đánh giá EVN là đối thủ chính của VNPT. Lúc đó nhiều bài báo đã phân tích EVN tận dụng các tuyến cáp quang trên đường dây 500KV, 220KV, 110 KV được đầu tư bằng nguồn vốn dự án điện, hạ tầng cột điện để treo cáp viễn thông sẽ tiết kiệm 50% chi phí đầu tư. Tập đoàn EVN khi cung cấp dịch vụ viễn thông đã có ngay nửa triệu thuê bao là CBCNV trong ngành và anh em họ hàng với CBCNV ngành điện; đặc biệt là thương hiệu EVN được biết đến là tiềm lực tài chính hùng mạnh với các nguồn vốn ưu đải ODA.
So với Tập đoàn Viettel, Tập đoàn EVN bắt đầu triển khai dự án viễn thông cũng sớm hơn còn nguồn vốn đầu tư cho viễn thông thì Chủ tịch Đào Văn Hưng tuyên bố “đầu tư cho viễn thông thì không thiếu vốn, trạm BTS cắm đâu cũng được”. Hảy nhìn sang Tập đoàn Viettel lúc làm viễn thông chỉ đủ vốn cắm được 150 trạm BTS còn lại phải mua thiết bị trả chậm, khi đầu tư được khoảng 1.000 tỷ thì khai trương dịch vụ nhưng khách hàng Viettel không thể kết nối được với thuê bao VNPT, lúc đó Chủ tịch Tập đoàn Viettel Hoàng Anh Xuân lo sợ Viettel phá sản tuy mất vài chục triệu USD đã đầu tư nhưng lo ngại nhất là danh dự người lính. Tuy nhiên Tập đoàn Viettel đã vượt qua giai đoạn khó khăn và trở thành doanh nghiệp viễn thông hàng đầu Việt Nam nhờ sự chèo chống của người đứng đầu Tập đoàn Viettel Hoàng Anh Xuân. Ông Hoàng Anh Xuân được đánh giá là người cứng rắn thực hiện “bàn tay sắt trong quản lý”.
Tập đoàn Viettel ứng dụng mạnh công nghệ thông tin trong công tác quản lý điều hành. Tất cả mọi công việc từ quản lý tài chính, quản lý vật tư, quản lý tiến độ công trình, quản lý đấu thầu… đều ứng dụng công nghệ thông tin. Nhờ vậy lãnh đạo Tập đoàn chỉ cần kích chuột là biết ngay ngày này bán được bao nhiêu sim, vật tư đơn vị này mua có giá là bao nhiêu, cột anten này đã thi công đến giai đoạn nào… Tuy nhiên điều đáng tiếc nhất cho doanh nghiệp số 1 Việt Nam là vừa qua đã xảy ra vi phạm pháp luật đấu thầu và công tác quản lý tài chính tại một số đơn vị như Thanh tra Chính phủ đã nêu.
Tuy nhiên tham nhũng tại Tập đoàn Viettel là điều cảnh báo trước nhiều năm nay. Tập đoàn Viettel trực thuộc Bộ Quốc phòng nên không bị kiểm toán và một số lãnh đạo Tập đoàn Viettel lợi dụng quy định này để tham ô như: thi công công trình kém chất lượng, nhà thầu thi công trước làm hồ sơ sau, ký khống để lấy tiền giám sát, mua vật tư giá cao…
Người đứng đầu Tập đoàn Viettel Hoàng Anh Xuân tuyên bố “sẽ buộc thôi việc tất cả những cán bộ tham nhũng dù ít hay nhiều, cho dù cán bộ cấp cao hay nhân viên bình thường” không thể để “con sâu làm rầu nồi canh”. Ông Hoàng Anh Xuân sẽ quyết tâm làm trong sạch hoàn toàn Tập đoàn Viettel, quyết tâm nói không với tham nhũng. Ông Hoàng Anh Xuân cảnh báo không được để tham nhũng lan từ Tập đoàn EVN sang Tập đoàn Viettel trong quá trình tiếp nhận tài sản viễn thông, Tập đoàn Viettel kiên quyết không tiếp nhận tài sản kém chất lượng, tài sản có giá cao hơn thị trường.
Ngược lại với Tập đoàn Viettel, lãnh đạo Tập đoàn Việt Nam thi nhau thành lập các công ty sân sau để thi công các công trình do Tập đoàn EVN làm chủ đầu tư. Lãnh đạo Tập đoàn EVN chỉ đạo EVNTelecom và các Tổng công ty Điện lực xé lẽ các gói thầu để chỉ định thầu cho các công ty này. Các công ty sân sau nhập khẩu thiết bị đầu cuối rồi bán lại cho EVNTelecom với giá cao ngất ngưỡng, khi EVNTelecom hết tiền lãnh đạo Tập đoàn EVN chỉ đạo các Tổng công ty Điện lực đầu tư thiết bị đầu cuối. Lãnh đạo Tập đoàn EVN có công ty sân sau thì lãnh đạo các Tổng công ty Điện lực cũng có công ty sân sau. Tồi tệ nhất là dự án hạ tầng 3G giai đoạn 2, Tập đoàn EVN cấp vốn cho các Tổng công ty Điện lực và yêu cầu các Tổng công ty Điện lực xé lẽ gói thầu chỉ định thầu cho các công ty theo hướng dẫn của EVN. Bên cạnh đó tận dụng cơ hội này lãnh đạo các Tổng công ty Điện lực cũng chỉ định thầu cho công ty sân sau của mình. Do vậy nhiều Tổng công ty Điện lực vẫn quyết toán hạng mục không thi công cho nhà thầu, cột anten 42m thì chỉ làm có 20m và di dời một cách tuỳ tiện, lãnh đạo các Công ty Điện lực thì thi nhau đầu tư đất cho thuê lắp đặt trạm 3G với giá thuê cao ngất ngưỡng.
Những sai phạm công tác viễn thông của EVN là do năng lực quản lý yếu kém của lãnh đạo EVN phụ trách viễn thông, Chủ tịch Đào Văn Hưng tâm sự cũng đã từng nhắc nhở ông Đinh Quang Tri “điều hành viễn thông thế nào để thất bại thảm hại vậy, nếu làm không được thì nên từ chức”.
Cán bộ lãnh đạo viễn thông tại EVN thì yếu kém, cán bộ lãnh đạo EVNTelecom toàn con ông cháu cha. Chủ tịch Đào Văn Hưng cũng cho vợ làm Trưởng phòng Tổ chức EVNTelecom, con thì làm giám đốc một đơn vị thuộc EVNTelecom. Theo yêu cầu của vợ, ông Đào Văn Hưng chuyển Trung tâm CNTT EVN sang cho EVNTelecom quản lý và tất cả các dự án công nghệ thông tin của EVN đều giao cho EVNTelecom để tăng doanh thu cho đơn vị này. Bên cạnh đó, lãnh đạo viễn thông tại Điện lực đều là con ông cháu cha có nghiệp vụ điện hoặc chỉ có trình độ trung sơ cấp. Do vậy viễn thông Tập đoàn EVN không phá sản mới lạ.
Để cứu EVNtelecom vợ và con của Chủ tịch Đào Văn Hưng đã tham mưu cho lãnh đạo Tập đoàn EVN làm mới EVNTelecom bằng cách chuyển toàn bộ mạng CDMA, thiết bị đầu cuối sang cho các Tổng công ty Điện lực để hạch toán vào giá điện chuyển sang cho khách hàng gánh chịu.
Tuy nhiên hành động của lãnh đạo Tập đoàn EVN đã bị Kiểm toán Nhà nước phát hiện và Kiểm toán Nhà nước kiến nghị Chính phủ chuyển EVNTelecom sang cho Tập đoàn Viettel quản lý.
Tập đoàn Viettel là doanh nghiệp số 1 Việt Nam với những nhà quản lý giỏi có thể tái cấu trúc EVNTelecom tiến đến làm ăn có lãi để trả nợ món nợ gần 10.000 tỷ của EVNTelecom. Sau khi tiếp nhận EVNTelecom, Tập đoàn Viettel tiến hành chuyển đổi khách hàng EVN có nhu cầu tiếp tục sử dụng dịch vụ sang mạng Viettel. Khách hàng sử dụng dịch vụ di động của EVN thì mua một máy GSM và mua một sim trắng Viettel nhắn tin tới tổng đài để chuyển đổi sang mạng Viettel, khách hàng sử dụng dịch vụ cố định không dây của EVN thì mua một máy Homephone để chuyển đổi sang mạng Viettel, khách hàng sử dụng dịch vụ Internet cáp quang FTTH của EVN tới Cửa hàng Viettel ký hợp đồng mới để chuyển đổi sang mạng Viettel. Tập đoàn Viettel sẽ tặng 300 ngàn đồng cho khách hàng EVN chuyển đổi sang mạng Viettel và sau 31/3/2012 khách hàng EVN chưa chuyển đổi sang mạng Viettel sẽ bị cắt dịch vụ.
Hiện nay Viettel có 42.000 trạm 2G GSM với dung lượng hơn 40 triệu thuê bao. Trong khi đó, thị trường viễn thông Việt Nam có 30 triệu thuê bao thực di động và 16 triệu thuê bao điện thoại cố định, thuê bao 2G đang giảm sút, đang có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ 2G sang 3G, điện thoại cố định cũng đang suy thoái mỗi năm thị trường viễn thông Việt Nam có hơn 2 triệu thuê bao cố định rời mạng. Do vậy dung lượng GSM 2G Viettel đủ cho tất cả thuê bao di động và cố định không dây đang hoạt động trên thị trường viễn thông Việt Nam. Bên cạnh đó Viettel đã đầu tư 17.000 nodeB 3G, nodeB 3G lắp đặt tại các trạm 2G sẵn có và chỉ cần bổ sung truyền dẫn FE tại các trạm chưa nâng cấp manE để cung cấp truyền dẫn cho dịch vụ internet cáp quang FTTH. Do vậy tài sản viễn thông của Tập đoàn EVN không có ý nghĩa đối với Tập đoàn Viettel nên toàn bộ khách hàng EVN được chuyển đổi qua mạng Viettel.
Tuy nhiên phương án xử lý tài sản EVNTelecom của Tập đoàn của Viettel sẽ lãng phí một lượng tài sản khổng lồ do các Tổng công ty Truyền tải, Tổng công ty Điện lực đầu tư. Tập đoàn Viettel bỏ mạng CDMA, tháo dỡ thiết bị mạng 3G của EVNTelecom đã được lắp đặt. Thế thì các Tổng công ty Điện lực phải tháo dỡ 6.500 cột anten và nhà trạm đã đầu tư. Bên cạnh đó, hợp đồng thuê lắp đặt nhà trạm và cột anten, các Tổng công ty đã ký hợp đồng thuê từ 10 đến 15 năm, mỗi năm các Tổng công ty Điện lực phải tiêu tốn 300 tỷ/năm và nếu huỷ hợp đồng cũng phải mất số tiền đền bù 10 năm là 3.000 tỷ, chi phí tháo dỡ, chi phí hoàn trả mặt bằng.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam để phát triển được 4,6 triệu thuê bao phải cấp cho EVNTelecom 4.500 tỷ mua thiết bị đầu cuối CDMA. Song song với cấp tiền cho EVNTelecom mua thiết bị đầu cuối, Tập đoàn EVN cũng yêu cầu các Tổng công ty Điện lực đầu tư thiết bị đầu cuối và số tiền các Tổng công ty Điện lực bỏ ra để mua thiết bị đầu cuối không dưới 2.000 tỷ. Thiết bị đầu cuối CDMA rất đắt có giá vài triệu đối với thiết bị đầu cuối.
Tập đoàn EVN nhập máy CDMA có giá vài triệu và để phát triển khách hàng EVN đã khuyến mãi cho khách hàng tới 70% giá trị thiết bị đầu cuối. Tuy nhiên khách hàng cũng phải bỏ ra 1 triệu đồng để sở hữu một máy CDMA của EVN sau khi đã được chiết khấu khuyến mãi. Tập đoàn Viettel chuyển khách hàng EVN sang mạng Viettel chỉ chiết giảm cho khách hàng EVN số tiền 300.000 đồng, thế thì khách hàng EVN vẫn lỗ 700.000 đồng.
Năm 2011, Tập đoàn EVN thực hiện chiến lược Internet cáp quang FTTH và vấn đề đầu tư được giao cho các Tổng công ty Điện lực. Đi đôi với việc đầu tư hạ tầng mạng 3G giai đoạn 2, các Tổng công ty Điện lực kết hợp đầu tư các tuyến cáp quang cung cấp dịch vụ FTTH. Song song với việc đầu tư cáp quang thì công tác mua sắm thiết bị cũng được thực hiện như: mua sắm mạng lõi, hệ thống quản lý băng thông, hệ thống tính cước và các thiết bị đầu cuối tại khách hàng (modem quang, cáp quang FTTH, converter, ODF). Và nhà cung cấp vật tư thiết bị là các công ty sân sau của các lãnh đạo Tổng công ty Điện lực nên giá vật tư thiết bị được đẩy lên gấp 3, 4 lần giá thực tế.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam phải xin Chính phủ cấp vốn ODA cho dự án điện, xin cấp ngân sách đầu tư lưới điện cho vùng xa. Nhưng ngược lại vì sĩ diện sợ EVNTelecom phá sản sẽ ảnh hưởng uy tín của lãnh đạo Tập đoàn EVN, lãnh đạo EVN đã bắt các Tổng công ty Điện lực, Tổng công ty Truyền tải đầu tư cả chục ngàn tỷ vào viễn thông và số tiền này xem như biếu không.
Thấy Chủ tịch Đào Văn Hưng bị cách chức do làm ăn thua lỗ các Tổng công ty Điện lực liền tiến hành tổng kết chia tay viễn thông và đều báo cáo có lợi nhuận nhưng ít. Tổng công ty Điện lực miền Bắc báo cáo sau khi nhận thua lỗ hơn 200 tỷ từ EVNTelecom nhưng vẫn còn lợi nhuận hơn 100 tỷ, Tổng công ty Điện lực miền Trung bị Tập đoàn EVN đẩy về cũng hơn 200 tỷ thua lỗ từ EVNTelecom nhưng vẫn lợi nhuận gần 40 tỷ. Lãnh đạo các Tổng công ty Điện lực không thừa nhận yếu kém mà tìm cách che dấu các yếu kém.
Tại các Tổng công ty Điện lực thua lỗ kinh doanh viễn thông được bù lỗ bằng kinh doanh điện và lãnh đạo vẫn giữ nguyên chức, thậm chí còn được thăng chức chỉ tội nghiệp cho nhân viên người thì bị đẩy đi huyện làm công tác thu ngân, người thì bị đẩy đi huyện làm công tác lắp đặt công tơ.
Lãnh đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam biết năm 2010 EVNTelecom thua lỗ hơn 1.000 tỷ và có khả năng không trụ nổi, dự án 3G giai đoạn 1 của EVNTelecom ngân hàng không cho giải ngân số tiền vay gần 2.000 tỷ. Tuy nhiên cuối năm 2010, lãnh đạo EVN yêu cầu các Tổng công ty Điện lực đầu tư hạ tầng cáp quang, cột anten, nhà trạm của hơn 4.000 vị trí với số tiền đầu tư hơn 2.000 tỷ. Trong khi đó, Tập đoàn EVN không có tiền đổ dầu và phải cắt điện làm doanh nghiệp lao đao, có nhiều doanh nghiệp phải phá sản.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam cho các Tổng công ty Điện lực đầu tư hạ tầng cáp quang, cột anten, nhà trạm và lãnh đạo Tập đoàn EVN, lãnh đạo các Tổng công ty Điện lực chia nhau các gói thầu thiết kế, giám sát, thi công. Gói thầu này công ty sân sau của lãnh đạo Tập đoàn EVN thiết kế thì gói thầu khác công ty sân sau của lãnh đạo Tổng công ty Điện lực giám sát và cứ thế các gói thầu được chia ra. Thiết kế thì các công ty sân sau của các vị lãnh đạo chỉ thiết kế qua loa, thì công thì cũng thi công qua loa và nhiều phần không thi công vẫn được quyết toán, giám sát thì không giám sát và chỉ ký khống.
Công ty CP FPTTelecom xót xa cho tiền đóng thuế của nhân dân lãng phí tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Công ty FPTTelecom đang có ý định đề nghị Chính phủ yêu cầu Tập đoàn Viettel bán lại cho Công ty FPTTelecom các tuyến cáp quang nội tỉnh, hệ thống thiết bị cung cấp dịch vụ Internet cáp quang FTTH, cáp quang FTTH và thiết bị converter, modem quang, cáp quang FTTH do các Tổng công ty Điện lực đầu tư. Bên cạnh đó, Công ty FPTTelecom thuê lại sợi quang trên đường dây 110 KV do các Tổng công ty Điện lực đầu tư.
Tập đoàn FPT bất thành trong thương vụ mua lại EVNTelecom đã chuyển hướng sang đầu tư đường trục Bắc-Nam và đẩy mạnh cung cấp dịch vụ IPTV, Internet trên toàn quốc. Song song với việc đầu tư hạ tầng, mở rộng kinh doanh thì Tập đoàn FPT đang xem xét mua lại một mạng di động có thể là S-Phone. Do vậy việc mua lại các tuyến cáp quang nội tỉnh của các Công ty Điện lực ngoài việc phục vụ cung cấp dịch vụ Internet cáp quang FTTH, dịch vụ IPTV thì các tuyến cáp quang này phục vụ truyền dẫn cho trạm BTS.
Lãnh đạo Tổng công ty FPTTelecom cho biết sẵn sàng nhận cán bộ có năng lực từ EVNTelecom và sẽ bố trí chức vụ tương đương. Tuy nhiên nếu không làm được việc thì cũng buộc phải cho thôi việc.
Chính phủ yêu cầu đến năm 2020 thì mỗi dịch vụ viễn thông phải có ít nhất 3 nhà cung cấp có thị phần gần ngang bằng nhau để tạo thế chân vạc. EVNTelecom đã bàn giao cho Viettel nên thị trường Internet chỉ còn 3 nhà cung cấp chính là FPTTelecom, Viettel, VNPT.
Tập đoàn VNPT đang lo sợ sự bành trướng của Tập đoàn Viettel, nếu như VNPT cổ phần mạng Mobiphone thì VNPT không còn là đối thủ của Viettel. Bên cạnh đó, Mobifone đem lại 50% lợi nhuận của Tập đoàn VNPT và mất Mobifone thì VNPT lấy gì báo thành tích với Chính phủ. Tập đoàn VNPT sáp nhập hai nhà mạng VinaPhone và Mobifone vừa để giải quyết bài toán chống chọi ý định thâu tóm thị trường của Viettel, vừa chia đều thu nhập cho CBCNV VNPT. Do vậy để có 3 nhà mạng di động có thị phần ngang bằng thì sứ mạnh này được giao phó cho FPTTelecom.
Lĩnh vực viễn thông là mối nhục quá lớn đối với Tập đoàn EVN. Để được Tập đoàn Viettel tiếp nhận EVNTelecom, Tập đoàn EVN phải cho Tập đoàn Viettel sử dụng cột điện treo cáp miễn phí trong thời hạn 30 năm. Do vậy Tập đoàn Viettel mới triển khai cung cấp dịch vụ truyền hình cáp trong năm 2012.
Tập đoàn Viettel với lợi thế hệ thống cáp quang rộng khắp để truyền dẫn tín hiệu truyền hình cáp, các phòng máy BTS sử dụng lắp đặt thiết bị truyền hình cáp, sử dụng cột điện của điện lực để treo cáp. Do vậy Tập đoàn Viettel sẽ cung cấp gói cước dịch vụ truyền hình cáp tương đương thậm chí còn hơn các nhà cung cấp dịch vụ khác nhưng chỉ có giá 30 ngàn đồng.
Lãnh đạo Tập đoàn EVN chuyên trách công tác viễn thông Đinh Quang Tri không những yếu kém trong điều hành lĩnh vực viễn thông mà còn yếu kém trong điều hành các lĩnh vực khác như điều hành Công ty CP tài chính Điện lực.
Công ty CP Tài chính Điện lực được sự ưu đải của Tập đoàn Điện lực Việt Nam như: độc quyền IPO khi các đơn vị trực thuộc Tập đoàn EVN huy động vốn qua kênh thị trường chứng khoán, đuợc Tập đoàn EVN cho vay vốn để đầu cơ cổ phiếu. Nhờ vậy tài sản của Công ty CP Tài chính Điện lực tăng rất nhanh đạt 26.000 tỷ sau 3 năm đi vào hoạt động, giá trị tài sản gấp hơn 10 lần vốn điều lệ. Đặt niềm tin vào Chủ tịch HĐQT Đinh Quang Tri, nhiều lãnh đạo Điện lực đã vay ngân hàng đầu tư thu gom cổ phiếu Công ty CP Tài chính Điện lực với giá 16.000 đồng/CP. Tuy nhiên sau 3 năm đi vào hoạt động, cổ tức Công ty CP Tài chính Điện lực trả chỉ bằng ½ lãi suất ngân hàng, giá cổ phiếu chỉ còn 4.000 đồng/CP. Công ty CP Tài chính Điện lực cũng tương tự như Công ty EVNTelecom hoạt động chủ yếu nhờ vốn vay và cũng có nguy cơ phá sản như EVNTelecom.
Cổ phiếu Công ty CP Tài chính Điện lực xuống thấp, lãnh đạo Điện lực đã gom cổ phiếu không thể bán tháo cổ phiếu được mặc dù phải trả lãi lớn cho các khoản vay ngân hàng. Và để bù lại các khoản thua lỗ đã đầu tư, lãnh đạo Điện lực phải tham ô. Do vậy Tập đoàn EVN càng thua lỗ và cổ phiếu các đơn vị thuộc Tập đoàn EVN càng rớt xuống thì cổ phiếu Công ty CP tài chính Điện lực càng rớt thê thảm. Như vậy do quản lý yếu kém đã đẩy Tập đoàn EVN vào vòng luẩn quẩn.
Tư duy độc quyền của lãnh đạo Tập đoàn EVN thể hiện trong mọi hoạt động và nhất là lĩnh vực vốn đầu tư. Tất cả nguồn vốn ưu đải ODA, vốn vay nước ngoài đều tập trung về Tập đoàn EVN để các đơn vị trực thuộc EVN phải chạy chọt được đầu tư. Do vậy khi các đơn vị trực thuộc EVN đã được Tập đoàn EVN đầu tư thì tìm mọi cách nhét cho hết đồng vốn này mà không cần hiệu quả. Và đây chính là nguyên nhân Tập đoàn EVN đầu tư gần 50.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, tổng lợi nhuận thu về khoảng 540 tỷ, đạt tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư chỉ hơn 1% chỉ bằng 1/14 lần khi Tập đoàn EVN gửi số tiền này vào ngân hàng.
Nếu như các nguồn vốn ODA này, các khoản tín dụng này Tập đoàn EVN phân bổ cho các đơn vị trực thuộc và các đơn vị này chịu trách nhiệm phải trả. Như thế các đơn vị khi đầu tư phải tính hiệu quả đầu tư để có thể trả được nợ. Nhưng ở đây đồng vốn là tiền đầu tư của Tập đoàn EVN, có lãi thì trả còn lỗ cũng chẳng sao. Trong khi đó, các đơn vị thuộc Tập đoàn EVN phải vay ngân hàng lãi suất cao nhưng đầu tư vẫn có lãi.
Năm 2008, Tập đoàn EVN thu được 18.000 tỷ sau khi tăng giá điện và số tiền này phục vụ cho việc đầu tư viễn thông, tài chính, bất động sản. Trương Duy Sơn Chủ tịch HĐTV Công ty Chứng khoán Hà Thành nguyên là Trưởng Văn phòng đại diện của Công ty Điện lực 3 tại Hà Nội và Công ty Điện lực 3, Công ty TNHH MTV Điện lực Đà Nẵng, Tổng công ty CP Điện lực Khánh Hòa đã bị Trương Duy Sơn lừa bỏ vốn vào Công ty Chứng khoán Hà Thành. Trương Duy Sơn ôm cả 100 tỷ bỏ chạy vậy mất đồng vốn nhà nước tại Công ty Chứng khoán Hà Thành ai là người phải chịu trách nhiệm.
Lĩnh vực kinh doanh bất động sản có thể giàu đột biến. Tập đoàn EVN với lợi thế những miếng đất vàng do các đơn vị trong ngành điện sở hữu, các Tổng công ty Điện lực sở hữu các miếng đất vàng. Do vậy từ Tập đoàn EVN cho đến các Tổng công ty Điện thi nhau thành lập công ty kinh doanh bất động sản, một số lãnh đạo Tập đoàn EVN và lãnh đạo tại các Tổng công ty Điện lực xin chuyển qua kinh doanh bất động sản. Tuy nhiên các công ty bất động sản Điện lực làm ăn bê bết có nguy cơ phá sản.
Số tiền Tập đoàn EVN đầu tư không hiệu quả vào các công ty con và công ty liên kết là 50.000 tỷ, số tiền đầu tư vào viễn thông hơn 30.000 tỷ, số tiền đầu tư vào chứng khoán và tài chính hơn 20.000 tỷ. Như vậy số tiền đầu này nếu đầu tư cho nguồn điện phải được 4.000 MW tương đương với 100 nhà máy điện trung bình. Nếu như lãnh đạo Tập đoàn EVN đứng đầu là Chủ tịch Đào Văn Hưng sử dụng số tiền này thành lập tổng công ty phát điện thì từ tổng công ty này sẽ sinh ra các tổng công ty phát điện khác thì lo gì thiếu điện.
Do vậy yếu kém ở đây không phải chỉ mình Chủ tịch Đào Văn Hưng người đáng được đem xử tử. Nhưng cán bộ cấp dưới của Chủ tịch Đào Văn Hưng như Đinh Quang Tri, Dương Quang Thành… cũng phải lĩnh án phạt ít nhất cũng tù chung thân.
15/03/2012-Viettel tăng giá cước dịch vụ ADSL “là do nhầm lẫn”  15/3/2012- Nhiều ngày qua, khá nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ internet của Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực EVN Telecom phản ánh, sau khi EVN Telecom chuyển giao qua cho Công ty Viễn thông Viettel, gói cước 110.000 đồng/tháng họ đang sử dụng đã bị đội giá lên 165.000 đồng/tháng mà không hề có sự thông báo nào.
Nhiều ngày qua, khá nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ internet của Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực EVN Telecom phản ánh, sau khi EVN Telecom chuyển giao qua cho Công ty Viễn thông Viettel, gói cước 110.000 đồng/tháng họ đang sử dụng đã bị đội giá lên 165.000 đồng/tháng mà không hề có sự thông báo nào.

Viettel tăng giá cước dịch vụ ADSL "là do nhầm lẫn" shopping entertainments
ảnh minh họa

Không ít người tỏ rõ sự bức xúc và kiên quyết không nộp khoản tiền “đội” lên khi phía đơn vị cung cấp đơn phương phá vỡ hợp đồng.
Anh Phan Chí Công D. (phường Yên Thế, TP. Pleiku) cho biết: “Khi chuyển giao EVN Telecom sang cho Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel, họ có gửi cho khách hàng chúng tôi một thư ngỏ, trong đó nói rõ, kể từ kỳ cước tháng 1-2012, Viettel áp dụng chính sách gói cước, giá cước mới tương đương với chính sách của gói cước cũ. Những khách hàng đang hưởng khuyến mại hàng tháng vẫn sẽ được tiếp tục áp dụng trong các tháng còn lại. Nhưng khi chúng tôi nhận được thông báo cước ADSL tháng 1 thì số tiền phải thanh toán tăng lên đến 50%. Không bức xúc sao được? Tôi chỉ thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký”.
Cũng giống anh D., một khách hàng khác cũng không đồng tình với sự đội giá một cách… âm thầm của Viettel đối với dịch vụ ADSL. “Theo luật, trừ trường hợp thiên tai, sóng thần, động đất… mọi thay đổi trong hợp đồng đều phải có sự đồng thuận của hai bên. Người thu phí nói tôi cứ đóng cước tháng 1 đi rồi mọi khiếu nại cấp trên sẽ giải quyết sau, nhưng tôi không đồng ý”-khách hàng nêu quan điểm. Khá nhiều khách hàng đã gọi tới số điện thoại 62500119 và 6250119 (số dùng để báo hỏng hoặc khiếu nại) ghi trên Thông báo thanh toán cước dịch vụ internet rất nhiều lần để hỏi lại cho rõ vấn đề, nhưng sau 3 tiếng “tít” thì không thể liên lạc được.

Sau khi nhận được nhiều phản hồi khá gay gắt từ phía khách hàng, bà Trần Thị Hồng Gấm, phó giám đốc Chi nhánh Viettel tại Gia Lai giải thích: Đó là sơ suất của Viettel trong quá trình tiếp nhận EVN Telecom. Bà Gấm cho biết: “Khi tiếp nhận EVN Telecom, quan điểm của chúng tôi là vẫn đảm bảo mọi quyền lợi cho khách hàng. Đối với dịch vụ internet ADSL, khi chuyển qua cho Viettel, tùy vào tốc độ đường truyền mà chuyển đổi gói cước tương đương, vì thế gói cước 170.000 đồng/tháng lúc còn bên EVN Telecom nhưng khi chuyển qua Viettel thì hạ xuống còn 165.000 đồng/tháng.

Tuy vậy, chúng tôi chưa nắm được bên EVN Telecom có gói cước 110.000 đồng/tháng-là gói cước ưu đãi dành riêng cho cán bộ, nhân viên trong ngành, nên căn cứ theo tốc độ đường truyền, hệ thống bên Viettel tự động chuyển sang gói cước 165.000 đồng/tháng”. Bà Gấm cho biết thêm, hiện tại Viettel Gia Lai đã nhận được phản hồi từ trên 30 khách hàng sử dụng gói cước 110.000 đồng/tháng và báo cáo lên lãnh đạo Tập đoàn. Hướng giải quyết đảm bảo quyền lợi cho khách hàng: Vẫn duy trì gói cước 110.000 đồng/tháng cho những đối tượng này như từ trước đến nay. Số tiền dư thu từ tháng 1-2012 sẽ trả lại cho khách hàng. Có thể con số trên 30 khách hàng là chưa chính thức. Bất cứ khách hàng nào bị chuyển nhầm gói cước và chưa được giải quyết thì có thể liên hệ Viettel để được giải quyết.

Từ ngày 1-1-2012, Viettel tiếp nhận toàn bộ tài sản từ phía EVN Telecom gồm đất đai, nhà trạm, công nghệ, hệ thống máy móc, thiết bị viễn thông… EVN Telecom là mạng di động thứ 6 tại Việt Nam, sở hữu đầu số 096 và băng tần 450 MHZ (băng tần khá thấp và khả năng nhiễu sóng cao). Sau 7 năm duy trì, số lượng thuê bao cũng như doanh thu của EVN Telecom không phát triển như mong đợi.

 Làm sai lệch giá trị thực của giá điện

Tập đoàn Điện lực Việt Nam Cứu thua lỗ viễn thông bằng cách làm… kỳ lạ
Việc chuyển các khoản lỗ viễn thông sang phần kinh doanh điện không chỉ làm sai lệch giá trị thực của giá điện mà còn làm mất lòng tin của người dân.
(HNM) – EVN kinh doanh viễn thông là lĩnh vực ngoài ngành, nhằm tận dụng lợi thế cơ sở vật chất và cũng phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Vấn đề không bình thường ở đây khi EVN xử lý sự thua lỗ của viễn thông bằng cách chuyển khoản lỗ này sang phần kinh doanh điện. Việc chuyển các khoản lỗ từ kinh doanh viễn thông sang kinh doanh điện không chỉ làm sai lệch giá trị thực của giá điện mà còn gây những hệ lụy khác về lòng tin của người dân.

Thất bại viễn thông

Như chúng ta đã biết, EVN kinh doanh viễn thông với rất nhiều lợi thế từ cơ sở vật chất của ngành. Tuy nhiên, kinh doanh điện và kinh doanh viễn thông ở nước ta là hai lĩnh vực khác nhau quá xa. Vì thế, nếu EVN mang tư tưởng kinh doanh điện sang kinh doanh viễn thông thì sẽ rất bất cập. Bởi lẽ, kinh doanh điện ở nước ta vẫn còn là độc quyền tự nhiên; viễn thông thì phải cạnh tranh quyết liệt.

Lợi thế về cơ sở vật chất cũng như nhân lực của EVN cũng chính là cái bất lợi nếu EVN không tìm được cách điều hành hợp lý. Đơn cử, hệ thống cáp quang có nhiều, đầy đủ nhưng lại thiếu sự liên kết trong quản lý (EVNTelecom và các điện lực, tổng công ty truyền tải cùng tham gia quản lý và vận hành), một hệ thống truyền dẫn cáp quang trên 63 tỉnh, thành có nhiều đơn vị khác nhau quản lý và vận hành, điều này dẫn đến chậm và phức tạp khi xử lý sự cố, không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng và đây chính là yếu tố gây trở ngại trong điều hành và kinh doanh viễn thông.

Bên cạnh đó, hầu hết các tuyến cáp quang (cả phần thiết bị truyền dẫn lẫn cáp quang) trong địa bàn tỉnh lại do các đơn vị điện lực tự đầu tư, không có quy hoạch tổng thể toàn hệ thống 63 tỉnh, thành, thiếu tính đồng bộ, mạnh đơn vị nào đơn vị ấy tổ chức đầu tư lắp đặt, sau đó kết nối với mạng đường trục của EVNTelecom. Điều đó dẫn đến dễ bị tắc nghẽn khi nhu cầu thực tế khách hàng tăng lên (vì thiết bị truyền dẫn không đủ năng lực, trong khi dung lượng và số sợi cáp quang dư thừa), vấn đề này đã và sẽ tiếp tục cản trở việc kinh doanh viễn thông của EVN khi cạnh tranh với VNPT và Viettel.

63 tỉnh, thành đều có đơn vị điện lực, vì thế đều có thể kinh doanh viễn thông được. Đây là thế mạnh để phát triển khách hàng. Vì vậy, sau khi được phép kinh doanh viễn thông công cộng, ban đầu EVN là doanh nghiệp phát triển khách hàng với tốc độ khá nhanh. Nhưng do nhiệm vụ chính của điện lực là kinh doanh điện, chức năng chăm sóc khách hàng không như viễn thông nên không giữ được khách hàng. Các đơn vị điện lực đều phải thực hiện cùng lúc hai nhiệm vụ là kinh doanh điện và kinh doanh viễn thông, trong khi đó EVNTelecom là đơn vị kinh doanh viễn thông chính lại không tham gia kinh doanh trực tiếp, không giao tiếp trực tiếp với khách hàng mà phải thông qua các đơn vị điện lực. Do đó, EVNTelecom không nắm bắt kịp thời nhu cầu và phản ảnh của khách hàng. Điều này đã khiến cho EVNTelecom bị xếp hạng chăm sóc khách hàng kém nhất trong các đơn vị kinh doanh viễn thông.

Thêm nữa, CDMA là công nghệ duy nhất ở Việt Nam nên thiết bị đầu cuối (handset – điện thoại mobile, điện thoại để bàn không dây) không được xã hội hóa, không được bán trong các cửa hàng bán lẻ thông thường trên thị trường mà phải mua từ các cửa hàng của EVN. Điều này dẫn đến khách hàng sử dụng thiết bị đầu cuối của EVNTelecom không thể sửa chữa được ở cửa hàng điện thoại nào như công nghệ của Viettel, Vinamobi… mà phải tìm đến địa điểm quy định, có nơi một huyện mới có một điểm, rất bất tiện cho khách hàng. Do không được xã hội hóa nên đã ảnh hưởng lớn đến việc chăm sóc khách hàng.

Cũng vì thiết bị đầu cuối không xã hội hóa được nên giá thành mua rất cao, trong khi đó muốn cạnh tranh trên thị trường thì lại phải bán rẻ hơn giá mua. Để bù đắp vào khoản chênh lệch này, EVNTelecom phải tính vào chi phí khiến cho chi phí cao, càng mua nhiều thiết bị đầu cuối càng lỗ và hệ quả là doanh thu mỗi ngày một giảm và kết quả là doanh thu không bù được chi phí, dẫn đến kinh doanh bị lỗ.

Vì lý do trên, các tổng công ty điện lực không tiếp tục mua thiết bị đầu cuối. Nhưng không mua thiết bị đầu cuối thì sẽ không phát triển được khách hàng, không có thiết bị để thay thế cho khách, dẫn đến khách hàng rời khỏi mạng EVNTelecom và như vậy đồng nghĩa với việc thị phần bị teo lại trong khi kinh doanh viễn thông đang phải đối mặt với thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Cho đến thời điểm này, EVN đã đầu tư hàng nghìn tỷ đồng cho dịch vụ 3G nhưng không kinh doanh hiệu quả do chỗ có sóng, chỗ không. Cả dải miền Trung chỉ có Đà Nẵng có sóng nhưng cũng không ổn định (do không đầu tư triển khai khu vực này). Chất lượng mạng 3G như vậy không thể cạnh tranh được với Viettel và VNPT cho nên rất ít khách hàng sử dụng dịch vụ 3G của EVN. Doanh thu của 3G hiện nay (sau hơn một năm triển khai kinh doanh 3G) chỉ từ 2,5 đến 3 tỷ đồng/tháng, thay vì với mức vốn đã đầu tư thì doanh thu phải đạt ít nhất 10 lần mới đủ hoàn trả vốn trong 10 năm khấu hao.

Chuyển lỗ cho các đơn vị điện lực!

Ngày 11-7-2008, EVN ban hành Quyết định số 415/QĐ-EVN-HĐQT về việc ban hành Quy chế Quản lý tài chính đối với hoạt động viễn thông công cộng áp dụng trong Tập đoàn Điện lực Việt Nam, theo đó quy định, dịch vụ CDMA, đối với các thuê bao trả sau, EVNTelecom mua thiết bị đầu cuối, các công ty điện lực chịu chi phí hỗ trợ thiết bị đầu cuối theo tỷ lệ 45% thì được hưởng 45% doanh thu cước dịch vụ phát sinh; EVNTelecom hưởng 55%.

Ở thời gian này, EVNTelecom đã vay tiền để mua thiết bị đầu cuối và các thiết bị này được giao cho các đơn vị điện lực bán. Như vậy, thiết bị đầu cuối này được các đơn vị điện lực bán và giao lại cho EVNTelecom 55% giá trị, 45% giá trị còn lại của thiết bị này các điện lực sẽ trả dần cho EVNTelecom trong 5 năm, còn doanh thu được chia với tỷ lệ đơn vị điện lực 45% và EVNTelecom 55%. Vậy tại sao việc kinh doanh lại bị lỗ?

Ngoài các yếu tố về mô hình tổ chức và công nghệ, phải kể đến các quy chế tài chính đối với hoạt động viễn thông công cộng được áp dụng trong EVN. Tính đến nay, đầu tư thiết bị của EVNTelecom đã lên tới khoảng 4.500 tỷ đồng, với việc áp dụng quy chế tài chính chia tỷ lệ 45%/55% thì EVN phải đạt doanh thu 9.000 tỷ đồng. Đây là con số không khả thi trong điều kiện kinh doanh viễn thông hiện nay của EVN.

Khi EVNTelecom khó có khả năng vay tiền để đầu tư thiết bị đầu cuối, ngày 29-9-2009, EVN lại ban hành Quyết định số 497B/QĐ-EVN về việc ban hành quy chế quản lý tài chính thay cho Quyết định 415/QĐ-EVN-HĐQT ngày 11-7-2008. Quyết định số 497B quy định: Đối với thuê bao phát triển từ ngày 30-9-2009 trở về trước, các công ty điện lực chịu chi phí hỗ trợ thiết bị đầu cuối theo tỷ lệ 45% và được hưởng 45% doanh thu cước dịch vụ phát sinh (sau khi đã trừ cước các dịch vụ GTGT của các nhà cung cấp khác và chi phí khuyến mãi); EVNTelecom chịu chi phí hỗ trợ thiết bị đầu cuối là 55% và được hưởng phần doanh thu còn lại. Đối với thuê bao phát triển từ ngày 1-10-2009, các công ty điện lực chịu trách nhiệm đầu tư mua thiết bị đầu cuối và chịu 100% chi phí hỗ trợ thiết bị đầu cuối thì các công ty điện lực được hưởng 60% doanh thu cước dịch vụ phát sinh (sau khi trừ cước các dịch GTGT của các nhà cung cấp khác và chi phí khuyến mãi); EVNTelecom được hưởng phần còn lại.

Sau khi phân tích tài chính năm 2009 của EVNTelecom thấy bị lỗ khoảng 1.026 tỷ đồng, vào tháng 3-2010 EVN đã quyết định chuyển toàn bộ khoản lỗ này sang các tổng công ty điện lực bằng quyết định tăng giảm vốn đầu tư của EVN tại công ty con. Khoản tiền này sẽ được treo nợ trả dần trong 5 năm kể từ năm 2009.

Thực chất của bài toán chuyển tài sản này sẽ làm giảm lỗ trên sổ sách của EVNTelecom, giúp cho bức tranh tài chính của EVNTelecom có vẻ sáng sủa hơn. Để giảm lỗ cho EVNTelecom, cũng trong tháng 3-2010, EVN lại quyết định áp dụng thay thế tỷ lệ 45%/55% bằng tỷ lệ 30%/70% áp dụng để tính toán cho năm 2009.

Mỗi năm, ngành điện cần tới hàng chục nghìn tỷ đồng để phát triển các công trình nguồn, lưới… EVN thiếu vốn là một thực tế. Nhưng sự việc xử lý các khoản lỗ của EVNTelecom và những hệ lụy của nó đã làm sai lệch sự nhìn nhận của người dân đối với giá điện.

Nhóm PV điều tra

http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/Phong-su-Ky-su/523529/lam-sai-lech-gia-tri-thuc-cua-gia-dien.htm

—–

Tin liên quan:
Tập đoàn, tổng công ty: Chuyện lỗ, nợ xấu và chiếm dụng vốn (VnE 14-9-11) Tập đoàn Điện lực đứng ‘đầu bảng’ nợ(Toquoc)–Trong số các đơn vị kinh doanh không có lãi,EVN đứng đầu với khoản lỗ dự kiến là 11.669 tỷ đồng.

Bốn năm thị trường hóa, điện chỉ một chiều: tăng giá! (VEF 13-9-11)-– Bốn năm thị trường hóa, điện chỉ một chiều: tăng giá! (VNN).- Kiến nghị lãnh đạo Đảng, Nhà nước về các dự án điện (GDVN).
-– EVN nợ chồng chất vẫn đầu tư ngoài ngành (VNE).
Chính phủ từ chối “ngoại lệ” cho EVN(VnEconomy). Bác xin ưu đãi phí xăng dầu của EVN (TP).
Chưa nên tăng giá điện (NLĐ). – Tăng giá điện: Đâu là lý do thật? (NB&CL).  – Từ ngày 15 đến 30-9, tạm ngừng cung cấp khí đốt cho ngành điện (PLTP).
Bộ trưởng Tài chính không đồng ý tăng giá điện liên tụcTP – Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ vừa có văn bản gửi Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng, đồng ý phải thực hiện điều chỉnh giá điện theo hướng đảm bảo bù đắp đủ chi phí sản xuất kinh doanh điện.- Bộ Tài chính: “Không nên điều chỉnh giá điện liên tục” (TTXVN13-9-11) –.
Bộ Tài chính đồng ý tăng giá điện nhưng yêu cầu EVN tính toán cẩn trọng

Từ 1/9, EVN điều chỉnh giá bán điện (VTV) “Từ 1/9, giá bán điện đã chính thức được điều chỉnh dần theo cơ chế thị trường. Đó là nội dung của Thông tư số 31 của Bộ Công thương.” – Chuyên gia cho rằng không nên tăng giá điện đến hết năm (Gafin), – Bộ Tài chính yêu cầu tăng giá điện một cách thận trọng (VnExpress). “Cho rằng việc tăng giá điện là bất khả kháng song theo Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ, Tập đoàn Điện lực (EVN) cần tính toán thận trọng, không nên tăng giá liên tục các quý vì có thể dẫn đến những tác động tiêu cực.“  –Không nên điều chỉnh giá điện liên tụcQĐND – Đó là ý kiến chính thức của Bộ Tài chính trong văn bản 12034/BTC-CST gửi Bộ Công Thương trả lời về các kiến nghị liên quan đến thuế, phí và giá cả nhiều nhóm mặt hàng, trong đó có điện…

Chuyển nợ, lỗ cho khách hàng dùng điện gánh chịu (HNM).
Đi vệ sinh không rửa tay rồi làm bánh trung thu… (Bee.net 11-9-11) — Thì cũng như quản lý tập đoàn rồi quay sang làm chính sách kinh tế vậy mà!

“Vòng tròn nhỏ” trong “vòng tròn lớn”

 

-Theo:Tương Lai: “Vòng tròn nhỏ” trong “vòng tròn lớn” (viet-studies 30-3-12) — Bài phát biểu tại Hội thảo về giáo dục và đào tạo ngày 29.3.2012. Bài đặc biệt quan trọng.  PHẢI ĐỌC!◄◄◄

Đứng trước những bậc đàn anh thâm niên trong ngày giáo dục, tôi rất xấu hổ là mình đã chuyển nghề từ dạy học sang Viện nghiên cứu, cho dù thỉnh thoảng có đến giảng bài theo chuyên đề ở một vài trường Đại học, cho nên hôm nay, tôi không dám phát biểu thẳng vào giáo dục mà phải đi đường vòng.
Đúng hơn, là từ cái “vòng tròn lớn” để nói về cái “vòng tròn nhỏ” nằm trong cái “vòng tròn lớn” đó. Bởi lẽ, sẽ không thể nào hiểu, không thể nào tìm giải pháp chiến lược cho hệ thống giáo dục và đào tạo khi không đặt nó vào trong hệ thống lớn hơn mà giáo dục đào tạo là một bộ phận của cái toàn thể ấy.

Vì thế, tôi phải bắt đầu từ xã hội. Nhưng,“Xã hội-cho dù nó có hình thức gì đi nữa- là cái gì? là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người. Liệu con người có được tự do trong việc lựa chọn hình thức xã hội này hay hình thức xã hội khác hay không, C.Mác đặt ra câu hỏi để rồi trả lời: Tuyệt đối là không” [C.Mác& PhAngghen Toàn tập, Tập 27, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr. 657].  Lọt lòng mẹ, con người đã có sẵn một xã hội mà nó không có quyền chọn lựa, cũng giống như đứa trẻ không chọn lựa được nơi nó sinh ra, không thể lựa chọn cha mẹ. Bức tường xã hội đã có trước khi chúng ta sinh ra, chúng ta bị giam hãm trong những bức tường đó bởi chính sự hợp tác tự nguyện hay không tự nguyện của chúng ta, cũng có nghĩa là chúng ta cũng góp phần củng cố những bức tường đó hay đập phá nó đi. “Chúng ta bị giam cầm bởi chính sự hợp tác của chúng ta” [Berger]
Sự tác động qua lại trong mối quan hệ giữa người và người đã xây đắp nên những bức tường xã hội ấy hay làm rạn nứt, sụp đổ cũng những bức tường đó. Bức tường theo ý nghĩa trừu tượng. Nhưng cũng có những bức tường theo nghĩa đen trần trụi của nó: “Bức tường Berlin” chẳng hạn. Đây là “bức tường ý thức hệ”! Muôn hiểu về sự xuống cấp và quá lạc hậu của hệ thống giáo dục đào tạo phải đi sâu vào vấn đề “ý thức hệ” này. Đấy chính là “vấn đề của vấn đề“, nhưng cũng là mấp mé với khả năng quy kết là “phản cách mạng, chống Đảng” đây, nhẹ hơn là mất quan điểm lập trường, và thời thượng là có biểu hiện “diễn biến hóa bình”. Nhưng đây là Hội nghị khoa học, mà khoa học thì phải để cho giới khoa học được “mở miệng ra”. Cho nên tôi xin được “mở miệng” trước anh Vũ Ngọc Hoàng.
Căn bệnh của não trạng và hành vi lấy một lý luận chính trị, xã hội làm chân lý tuyệt đối và duy nhất, loại trừ và thủ tiêu mọi lý luận, mọi tư tưởng chính trị khác đã là một căn bệnh lâu đời của loài người. Từ khoảng đầu thế kỷ XX căn bệnh ấy được gọi là căn bệnh tôn sùng “ý thức hệ”, sống và đấu tranh với nhau vì “ý thức hệ”. Cái tên gọi ấy có xuất xứ từ Tây Âu. Căn bệnh ấy phân chia cả loài người và từng dân tộc, từng quốc gia, cho đến từng gia đình thành phe ý thức hệ này đối lập sống chết vơí phe “ý thức hệ khác.
Tình hình này rõ nhất là sau Cách mạng tháng Mười 1917 và nhất là sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, trong chiến tranh lạnh. Bệnh ý thức hệ ấy ở Mỹ, Âu không kém gì ở Liên Xô và Trung Quốc thời ấy. “Chủ nghĩa Mắc Cácty” ở Mỹ, một quái thai ghê tởm, là một ví dụ. Sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, bệnh “ý thức hệ” vẫn còn rất nặng ở quy mô cả loài người, từng quốc gia, thậm chí từng gia đình chứ không hết và chưa chắc đã nhẹ bớt đi. Ví như cuộc đấu tranh giữa ý thức hệ “tân tự do” với “ý thức hệ”, đúng hơn, với những lợi ích dân tộc và cá nhân, chống lại ý thúc hệ “tân tự do” là rất sâu và không kém phần đối nghịch.
Nêu lên điều này để nói rằng, không phải những người cộng sản khởi xướng ra bệnh “ý thức hệ”, mà là đưa thêm vào trong khái niệm đó những biến thái mới. Ở ta cũng từng có những mong muốn chuyển “ý thức hệ Mác-Lênin thành ý thức hệ của toàn dân! Từ Đại hội VI, với tư duy “Đổi Mới”, chúng ta thấy rõ đó là một sản phẩm duy ý chí, lấy lòng mong muốn thay cho thực tế. Bởi thế mới có được Cương Lĩnh của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam được biểu quyết thông qua tại Đại hội VI của Mặt Trận năm 2004 với sự khẳng định: “đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, không phân biệt thành phần xã hội và dân tộc, quá khứ và ý thức hệ, tôn giáo và tín ngưỡng, miễn là tán thành công cuộc đổi mới, nhằm mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đầt nước vì dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh”.
Xác lập được điều này chính là một bước đột phá quan trọng, đưa nhận thức trở lại đúng với quy luật vận động của cuộc sống, từ đấy mà mở ra một cục diện mới, rất mới. Bởi lẽ, phát triển luôn luôn là tự phát triển trong tiến trình tiến hóa, tạo nên những thuộc tính hợp trội, được thực hiện bằng các cơ chế thích nghi qua sự tương tác của hệ thống. Tiến hóa qua cơ chế thích nghi không chỉ biểu hiện bằng cạnh tranh sinh tồn và chọn lọc tư nhiên, mà còn bằng hợp tác và cùng phát triển. Chính sự đa dạng của tiến hóa như vậy tạo nên sự đa dạng, phong phú, rất phức tạp, song cũng hết sức sinh động của cuộc sống. Cuộc sống nói chung và cuộc sống của con người trong xã hội. Mà xã hội lại là một hệ thích nghi cực kỳ phức tạp, trong đó, các thành phần khác nhau, những yếu tố đối lập, tùy theo sức hút của mục tiêu chung đều có lợi cho tất cả, thì không nhất thiết phải đối đầu theo kiểu tư duy “ai thắng ai”, dẫn đến một kết cục phải thanh toán lẫn nhau để giành quyền thắng, chứ không chịu tìm cách thông qua những tương tác có tính hợp trội để có thể tìm được khả năng cùng thắng.
Nhưng đã một thời, “ai thắng ai” là một nguyên lý có ý nghĩa định hướng cho cách tư duy, không chỉ của một nhóm người, mà là tác động đến toàn xã hội. Mọi sinh hoạt trong đời sống chính trị của đất nước đều nằm trong “vùng phủ sóng” của kiểu tư duy “ai thắng ai” trong cuộc đấu tranh giai cấp vốn được xem là động lực của phát triển xã hội. “Ai thắng ai” ngay khi chính quyền đã thuộc về nhân dân, mọi người dân đều được xác lập vị trí làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.
Vậy thì, “ai” đây là “ai”, ai thắng ai trong một đất nước mà nhân dân đã phải trả cái giá cho quyền làm chủ vừa giành được ấy bằng máu và nước mắt trong hy sinh chiến đấu của nhiều thế hệ Việt Nam.. Vì có chuyện “ai thắng ai” đó, mà phải kiên trì mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, đối lập với kinh tế thị trường; mới có cải tạo Xã hội Chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế mà ngày nay được xác lập là lực lượng xung kích trong hội nhập và phát triển. Giờ đây thì đã có thể nói rõ sai lầm của chuyện “quay lưng lại với biết bao sự thật hàng ngày diễn ra trước mắt mình để lao vào những sai lầm với những cái giá đắt nhất phải trả” ấy mà Phạm Văn Đồng đã nghiêm khắc chỉ ra trong “Văn hóa và Đổi mới” xuất bản năm 1994.
Cái giá đắt nhất chính là kéo lùi đất nước lại cả một thập kỷ, để vuột mất những cơ hội của hội nhập và phát triển. Thậm chí khi đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của WTO, nền kinh tế và các nhà doanh nghiệp của ta vẫn còn phải gánh chịu những bất lợi do vẫn bị xem là “nền kinh tế phi thị trường”, và rồi phải phấn đấu thêm 12 năm nữa, những bất lợi ấy mới được bước đầu xóa bỏ. Chẳng hạn như, khi chưa được xem là nền kinh tế thị trường thực thụ, thì Hiệp định về bán phá giá, Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO sẽ chưa cho chúng ta cơ hội để cứu vãn tình thế bất lợi. Thế là sẽ còn “mất công mười mấy năm thừa ở đây”! Nhưng dù sao thì cũng chỉ là 12 năm chứ không đến nỗi “đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi”!
Quả là, “đoạn trường ai có qua cầu mới hay”, nếu không dứt bỏ kiều tư duy “ai thắng ai” đó, thì không thể nào chân thành đoàn kết và xác định rõ “đồng thuận” chính là động lực của phát triển. Nhưng xem ra không phải là cái di lụy của “ai thắng ai” không còn gây ảnh hưởng chỗ này chỗ kia, lúc này lúc khác khiến cho công cuộc đổi mới không tránh khỏi những trắc trở gập ghềnh, đã có lúc “bước đi một bước, giây giây lại dừng”. Đúng là cất bỏ gánh nặng tư tưởng của một thời quả là không đơn giản.
Không đơn giản, song nếu không sòng phẳng về mặt lý luận để có sự tường minh trong nhận thức thực tiễn, trong việc hoạch định các giải pháp phù hợp với một thời kỳ mới mà vận nước đang thôi thúc mỗi một người Việt Nam muốn góp phần mình vào sự nghiệp chấn hưng đất nước. Nếu không sòng phẳng về lý luận, khẳng định rõ đồng thuận là động lựcđại đoàn kết là động lực chứ không phải đấu tranh giai cấp là động lực như trước đây, thì không thể thúc đây sự nghiệp Đổi Mới một cách triệt để và toàn diện được. Mà trong thực tế, lực cản của Đổi Mới  là quá lớn. Không thể tiếp tục Đổi Mới, nếu không chỉ rõ cội nguồn của lực cản ấy.
Xin hãy dừng lại ở một ví dụ sau đây:
Đã từng một thời có những câu thơ bốc lửa giục giã con người đi làm cách mạng “Đi đi em can đảm bước chân lên / Ừ đói khổ phải đâu là tội lỗi!”. Đúng vậy, và rồi “Nuôi đi em cho đến lớn, đến già ? Mầm hận ấy trong lồng xương ống máu / Để thêm nóng mai kia hồn chiến đấu” thì giờ đây ngẫm lại có cái gì không ổn! Mà không ổn từ chính logic của hệ tư tưởng:
 Xin giải thích bằng một câu chuyện trong “Thế giới phẳng”, một cuốn sách bán chạy nhất của người đã đoạt giải thưởng Pulizer, và theo nhận xét của J. E. Stiglitz, người đoạt giải Nobel kinh tế: “Đặc điểm của một cuốn sách hay là nókhiến bạn nhìn nhận mọi thứ theo một nhãn quan mới, và xét theo tiêu chí này thì Friedman đã thật sự thành công”. Chuyện rằng: “ Một người bạn Hồi giáo vùng Nam Á của tôi đã có lần kể cho tôi nghe câu chuyện như sau: Gia đình Hồi giáo Ấn Độ của anh ta bị chia ly vào năm 1948, một nửa sang Pakistan và một nửa ở lại Mumbai. Khi lớn lên, anh ta hỏi cha mình tại sao một nửa gia đình ở Ấn Độ lại có vẻ làm ăn tốt hơn nửa gia đình ở Pakistan. Cha anh nói: “Con ạ, khi một người Hồi giáo lớn lên ở Ấn Độ và trông thấy một người sống trong một tòa biệt thự lớn trên quả đồi, anh ta sẽ nói “Bố ơi, rồi sẽ có ngày con sẽ như ông ta”. Còn khi một người Hồi giáo lớn lên ở Pakistan và thấy một người sống trong một biệt thự lớn trên quả đồi, anh ta sẽ nói “Bố ơi, rồi có ngày con sẽ giết ông ta. …Khi bạn không tìm được lối ra, bạn thường tập trung vào sự phẫn nộ và gắm nhắm ký ức của mình”. Kể câu chuyện này, Thomas L. Friedman nhằm minh họa cho luận điểm “cho con người một môi trường mà trong đó mọi lời than phiền hay ý tưởng đều có thể được đăng tải trên báo chí, cho họ một môi trường mà trong đó mỗi người đều có thể ứng cử vào một chức vụ- và thử đoán xem điều gì sẽ đến? Họ thường không muốn làm nổ tung thế giới này. Họ muốn trở thành một phần của thế giới”.[tr. 798]
Sự bất an trong tâm hồn khiến người ta dễ dàng manh động theo bản năng. Phúc âm viết: “Kẻ nào rút gươm ra, kẻ ấy đã mở lối điạ ngục”. Nhưng trước khi rút gươm, tâm thức của anh ta đã chứa đầy hờn căm và những nghĩ suy hiểm ác. Nhìn nhận một sự kiện văn hoá, đạo đức, có thể thấy những nguyên nhân trực tiếp, song thực ra, phải nhìn lùi vào bề dày của những hệ luỵ do nhiều nguyên nhân đã gây ra. Bề dày đó có khi phải tính bằng độ dài của sự ra đời và trưởng thành của mấy thế hệ.
Cho nên, văn hoá phải đi trước một bước thì mới tạo ra được nền tảng tinh thần của xã hội, và đánh giá một hiện tuợng phản văn hoá lại phải lùi lại phía sau nhiều bước thì mới thấu tỏ được nguyên nhân. Có vậy mới đưa ra được giải pháp đúng. Tạo ra một hoàn cảnh “có tính người”, tức là tạo ra một môi trường xã hội trong đó “người với người là bạn”, “thương người như thể thương thân” chính là sứ mệnh cao cả của văn hóa.
Đương nhiên, một môi trường như vậy không tự trên trời rơi xuống, chúng ta tiến hành cuộc cách mạng chính là để hướng tới một môi trường như vậy. Nhưng nếu nung nấu trong “lồng xương, ống máu” một “mầm hận” cho “đến lớn, đến già” thì rồi cái gì sẽ đến khi cách mạng đã thành công? Và nếu tính bài thơ ra đời tháng 2 năm 1938, thì chỉ 7 năm sau Cách mạng Tháng Tám thành công, cậu bé “len lét, cúi đầu, tay xách gói” chắc đã trở thành một người giữ trọng trách với cái “mầm hận ấy trong lồng xương ống máu” thì khủng khiếp quá cho những việc anh ta sẽ làm!
Thì chẳng phải cái “mầm hận” ấy vẫn còn trong não trạng của không ít người đang giữ những vị thế đòi hỏi một tư tưởng cởi mở để thật sự có thể hòa hợp dân tộc trên một đất nước mà không một gia đình nào là không phải chịu đựng những vết thương chiến tranh. Và chắc là trong đó có không ít người nằm trong số còn “lướng vướng” với việc thúc đẩy sự nghiệp Đổi Mới một cách triệt để với tâm thế “cũng cho khỏi lụy trong vòng bước ra”!
Chúng ta đã có những trải nghiệm đau đớn với “cải cách ruộng đất”. với đấu tranh chống “Nhân văn-Giai phẩm”, với đấu tranh ai thắng ai bằng “cải tạo tư sản” và “công tư hợp doanh” , rồi quá trình “kế hoạch hóa tập trung, bao cấp”, “hợp tác hóa bậc cao” ngăn sông cấm chợ, khước từ kinh tế thị trường …đã đẩy đất nước đến bên bờ vực sụp đổ. Trước và trong Đại hội XI, người ta chiếu bộ phim “Bí thư tỉnh ủy” thật có ý nghĩa và cũng thật bạo gan. Tôi nghĩ, nếu mỗi đại biểu Đại hội mà xem nghĩ, hiểu kỹ và tự vấn lương tâm của người cộng sản chân chính và đích thực, chắc sẽ đưa được vào Đại hội một luồng gió mới. Nếu soi kỹ vào những sai lầm kéo dài hàng thập kỷ ấy sẽ thấy “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt chính là cái “mầm hận” đã thấm sâu vào trong “lồng xương ống máu” nhằm đẩy tới cuộc đấu tranh giai cấp được xem là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội.
Xin hãy nhớ lại hình ảnh ông Đình, thường vụ Tỉnh ủy, ông Bao, phái viên của TƯ, rồi cao nhất là ông Trung Chính. Riêng tôi, tôi cứ nhớ lại nét mắt chân tình của ông Trung Chính khi ông ấy dặn với theo xe cấp cứu đưa ông Kim đi bệnh viện: “cẩn thận, đưa ngay vào bệnh viện Việt Xô, tôi sẽ gọi điện thoại bảo điều ngay những bác sĩ giỏi nhất chữa trị cho anh ấy”. Liệu ông Trung Chính có hiểu rằng chính ông là nguyên nhân trực tiếp đẩy ông Kim bị bục dạ dày? Ông Kim, người đồng chí trung thành và dũng cảm, người dám chống lại cả một thế lực khủng khiếp đang đẩy nông dân Miền Bắc nói riêng và cả dân tộc vào thảm họa, chính là người được ông Trung Chính “giác ngộ” và kết nạp vào Đảng thời kỳ hoạt động gian khổ trong vòng vây của kẻ thù!
Sự chu đáo, nhân từ nhưng lại cực kỳ cứng rắn trong giữ vững “lập trường quan điểm” của ông TC càng được khắc họa sắc nét bao nhiêu thì càng làm nổi rõ hơn sự khủng khiếp của một cơ chế trói buộc đầu óc con người, làm triệt tiêu mọi sáng tạo và sức chiến đấu của những con người đang giẫy dụa trong sự trói buộc của chiếc mũ kim cô giáo điều và “tả khuynh”. Một trong những di lụy đáng sợ là chính chiếc mũ kim cô ấy trói buộc những đầu óc sáng tạo và những nhân cách trung thực nhưng lại dung dưỡng cho sự tác oái tác quái của đám dòi bọ của cách mạng.
Từ “dòi bọ” tôi nói đấy là dùng lại cách nói của C.Mác: “Có thể Các Mác vui lòng nhắc lại một câu nói mà tôi luôn luôn ghi nhớ trong ký ức của mình: “Tôi đã gieo những con rồng và tôi đã gặt được những con bọ. Thật có đúng như vậy, song cũng có những con rồng…” [Phạm Văn Đồng. “Hồ chí Minh. Quá khứ, Hiện tại và Tương lai”NXB Sự Thật. 1991, tr. 98].
Vậy thì, gọi đúng tên cúng cơm của cơ chế trói buộc đầu óc con người, làm triệt tiêu mọi sáng tạo và sức chiến đấu của những con người đang giẫy dụa trong sự trói buộc đó chính là chủ nghĩa giáo điều Maoít phản Mácxít từng xem “đấu tranh với người là niềm vui lớn” đem áp đặt vào một xã hội mà tinh thần dân tộc là “động lực lớn nhất của đất nước” như Hồ Chí Minh đã chỉ ra từ năm 1924 để khẳng định rằng: “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại và duy nhất ” ấy!
Từ những năm 30, Hồ Chí Minh đã từng chỉ ra rằng:  “…phải biết khéo lợi dụng kinh nghiệm. Nếu thấy người ta làm thế nào mình cũng một mực bắt chươc làm theo thế ấy. Thí dụ: nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” [Văn kiện Đảng (Từ 10.8.1935 đến 1939) Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng, Hà Nội, 1964, tr.25].  
Ngay từ Hội nghị thành lập Đảng năm 1930, Hồ Chí Minh đã khẳng định nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, không đòi hỏi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đến năm 1937, Người lại nhắc nhở:”Các đồng chí mắc phải cái bệnh thiên về thợ thuyền lao động quá, có khi chỉ biết những người ấy mà quên hết cả quyền lợi của các tầng lớp, các giai cấp khác, quyền lợi chung của dân tộc cần phải bênh vực. Các đồng chí trong Đảng cần phải hiểu rằng: Đảng ta chẳng những là kẻ bênh vực và lãnh đạo cho giai cấp vô sản mà thôi, mà cũng là kẻ bênh vực và lãnh đạo cho toàn thể dân chúng nữa. Đảng phải làm tròn vai trò ấy.”  [Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4, NSB Sự Thật, Hà Nội, 1984. tr. 491]
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh một sự thật không thể bác bỏ là: lúc nào lấy dân tộc làm động lực thúc đẩy cuộc đấu tranh cách mạng, lúc ấy cách mạng giành được thắng lợi, còn lúc nào nống đấu tranh giai cấp lên làm động lực, lúc ấy cách mạng gặp khó khăn. Đặt vấn đề ý thức hệ giai cấp lên trên quyền lợi của tổ quốc, lấy vấn đề trung thành với ý thức hệ đó làm điểm quy chiếu cho đường lối tổ chức và đánh giá, tuyển chọn cán bộ, đã đẩy tới những hệ lụy khó lường. Đã đến lúc cần phải nghiêm cẩn và thẳng thắn chỉ ra.
Một trong những vấn đề ấy là vấn đề chuyên chính vô sản.
Xin gơi ra đây những ý kiến của đồng chí Võ Văn Kiệt đề cập tới vấn đề gay cấn này qua đoạn viết về đồng chí Lê Duẩn: “Trong nhiều lần trao đổi, nhận xét và chỉ đạo những công việc chúng tôi đang tiến hành tại thành phố Hồ Chí Minh, Anh Ba nêu rất nhiều gợi ý hết sức  mạnh dạn và sáng tạo. Qua những ý kiến chỉ đạo của Anh, tôi hiểu Anh đang trăn trở về mô hình phát triển của đất nước mình không thể rập khuôn theo mô hình của Liên Xô và các nước XHCN Đông Au, mô hình Trung Quốc. Cũng như trước đây trong chỉ đạo cuộc chiến tranh cách mạng, tôi thấm thía lời căn dặn của Anh: chỉ lúc nào chúng ta độc lập và sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn của đất nước, từ lợi ích của dân tộc, lúc ấy chúng ta thắng lợi, lúc nào chúng ta lệ thuộc, giáo điều sao chép của người ta, lúc ấy cách mạng phải trả giá nặng nề.
Tôi hiểu, Anh không tán thành mô hình Xô Viết. Qua tìm hiểu thực tế ở các nước anh em trong phe XHCN và suy ngẫm về lý luận, Anh nhận ra có quá nhiều vấn đề bất ổn. Anh không tán thành áp đặt thể chế nhà nước “chuyên chính vô sản” khi mà nhân dân đã giành lại được quyền làm chủ đất nước mình bằng những hy sinh không sao kể xiết, không thể “vô sản” lại chuyên chính với chính mình, với nhân dân. Tư tưởng về “làm chủ tập thể” mà Anh nung nấu chính là sự cố gắng tìm đường bứt phá ra khỏi những công thức giáo điều không phản ánh được sự vận động và biến đổi của cuộc sống, xa rời ý chí và nguyện vọng của nhân dân.
Đáng tiếc là, những lóe sáng trong bộ óc tìm tòi, sáng tạo của Lê Duẩn chưa được giới lý luận suy nghĩ, bàn bạc một cách nghiêm túc để định hình được một hệ thống lý luận hoàn chỉnh từ sự đúc kết thực tiễn thay vì những lời tụng ca xu thời lúc Anh Ba giữ cương vị Tổng Bí thư và những quy kết vô lối đầy ác ý khi Anh Ba qua đời. Giờ đây nhớ lại, Anh Ba đã từng phê phán những tư tưởng hạn hẹp chỉ bó gọn tầm mắt và mối quan hệ trong COMECOM. Đôi lúc trao đổi với chúng tôi, Anh nghĩ đến việc phải học hỏi thêm những thành tựu kinh tế và mở rộng quan hệ với Châu Âu, với Nhật, với Mỹ. Anh Ba cho rằng đó không chỉ  là chuyện chính sách và chiến thuật, mà phải ở tầm đường lối cơ bản. Trong suy nghĩ về đường lối phát triển kinh tế, Anh Ba cũng đã từng nói đến kinh tế hộ, kinh tế hợp tác và kinh tế tư  nhân chứ không phải chỉ nhấn mạnh quốc doanh là ưu việt nhất một cách tràn lan mọi ngành, mọi lúc. Ngay cả vấn đề “khoán hộ” của đồng chí Kim Ngọc ở Vĩnh Phú, mặc dầu lúc ấy đã có kết luận chính thức,  song Anh Ba vẫn động viên cần tiếp tục tìm tòicái mới trong quản lý sản xuất nông nghiệp..
 Chính tôi đã nhiều lần nghe Anh Ba phê phán những khuyết tật cơ bản của kế hoạch hóa tập trung quan liêu, và đòi hỏi phải dám mạnh dạn tìm tòi cơ chế mới phù hợp với từng bước phát triển của đất nước mình. Anh Ba đã có lần gợi ý với chúng tôi những vấn đề cần suy nghĩ  về vai trò của giá, của tài chính tiền tệ, những công cụ và đòn bẩy chính của kinh tế thị trường mà ta nói hiện nay. Rõ ràng là, từ rất sớm, bộ óc lớn ấy đã từng lóe sáng những suy tư về đổi mới  như tôi đã nói ở trên.
Chỉ có điều, từ những trăn trở trong suy nghĩ nhằm định hình những vấn đề thuộc về đường lối, đến việc vận dụng vào thực tế, có cả một khoảng cách rất xa. Ở cương vị cao nhất của Đảng, gánh vác những công việc lớn lao của đất nước sau khi Bác Hồ qua đời, đồng chí Lê Duẩn không thể không chịu trách nhiệm về những sai lầm của Đảng, làm chậm sự phát triển của đất nước mà Đại hội VI của Đảng đã chỉ ra. Cho đến hôm nay, tôi vẫn băn khoăn suy nghĩ về một số vấn đề lớn được Đại hội IV quyết định. Đành rằng trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, thoát ra khỏi những lối mòn đã định hình quá lâu trong đầu óc của những nhà lãnh đạo có trách nhiệm hoạch định đường lối không hề là chuyện  đơn giản. Nhưng ở cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Lê Duẩn phải chịu trách nhiệm những gì và như thế nào. Để làm rõ những vấn đề có ý nghĩa lớn ấy trong lịch sử Đảng nhằm đúc kết những bài học cho những thế hệ hôm nay và mai sau, không thể là những phát biểu tùy tiện, mà phải là những nghiên cứu nghiêm túc với tinh thần trung thực và khách quan.
Năm tháng đã trôi qua, khi viết những dòng này, lòng tôi vẫn bồi hồi xúc động nghĩ đến một hình ảnh đang chiếm giữ trong tim óc tôi một vị trí thật thiêng liêng và gần gũi. Sau Bác Hồ vĩ đại và kính yêu, hình ảnh thân thiết nhất, cảm phục nhất, có sức động viên và nâng tôi lên chính là hình ảnh của đồng chí Lê Duẩn, Anh Ba Duẩn kính mến.”
Thế nhưng sau khi bài này vừa đăng lên thì 2 hôm sau trên báo Sài Gòn Giải phóng của một người từng nắm công tác lý luận đã lên tiếng bác bỏ. Trong lập luận, bài viết ấy vẫn khẳng định nhà nước của ta hiện nay, về thực chất vẫn thực hiện nội dung chuyên chính vô sản! Tôi vẫn giữ lại tờ báo có đăng bài ấy nhưng xin miễn nêu ra ở đây.
Vì sao vậy?
Đây là vấn đề cực kỳ phức tạp và nhạy cảm. Sự định hình của nguồn mạch tư duy, nhất là đối với những người đã cao tuổi, vốn sống với hào quang của quá khứ, thật khó mà dứt bỏ khỏi đầu óc mình những cái vốn đã ăn vào máu thịt và là niềm kiêu hãnh lớn , một giá trị được xây đắp vun quén trong cả một đời. Những người từng gánh vác trách nhiệm cao, từng vào tù ra tội, từng chịu đựng mưa bom bão đạn sẽ lại càng khó dứt bỏ những ngộ nhận và sai lầm. Tự vượt lên chính mình là thử thách khó nhất đối với bản lĩnh một con người. Đấy là chưa nói sự lạc hậu với tình hình, không kịp thời nắm bắt thong tin, chỉ quen sống với những giá trị đã định hình cho dù những giá trị bị ngộ nhận hoặc đã “quá đát” trở thành vật cản cho tư duy.
Phải chăng ở đây có thể mượn ý Nguyễn Du qua lời của bóng ma Đạm Tiên nói với nàng Kiều “Rỉ rằng nhân quả dở dang. Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao” cho dù là “Ma đưa lối, quỷ dẫn đường, Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi”. Thật ra, một khi mà “Một giây một buộc ai giằng cho ra” thì “đố ai gỡ mối tơ mành cho xong” nếu không tự mình giải phóng cho chính mình mà ngay đến khi đã có thể “Đoạn trường sổ rút tên ra” thì vẫn cứ “Cuộc vui gãy khúc đoạn trường”[ấy chi ]! Mà có chuyện đó vì nó có nguồn mạch từ trong quá trình vận động cách mạng.
Xin gợi lại vài tư liệu lịch sử để thấy rằng chính Hồ Chí Minh cũng đã từng là nạn nhân của sự “độc quyền chân lý, áp đặt tư duy, tùy tiện quy kết” từ những cấp rất cao khi kiên định quan điểm về dân tộc, không tán thành thổi phồng vấn đề giai cấp. Chẳng hạn, vì lý do ấy mà Staline không tiếp Hồ Chí Minh, chưa chịu công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cho mãi đến năm 1950 sau cuộc gặp ở Matxcơva.
Một tài liệu cho biết cuối cùng Staline cũng nhận tiếp Hồ Chí Minh, ngay tại phòng làm việc của mình, với sự có mặt đông đủ các nhà lãnh đạo chủ chốt của Liên Xô, phía Trung Quốc có Đại sứ Trung Quốc Vương Gia Tường, phía Việt Nam có Trần Đăng Ninh. Staline mở đầu: Chúng ta là những người bạn, người anh em thân thiết, gặp đồng chí hơi muộn một chút, xin thứ lỗi! Hồ Chí Minh báo cáo tóm tắt tình hình cơ bản về Đảng Cộng sản Đông Dương, về cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam  và đề nghị Liên Xô giúp đỡ…Staline phát biểu chậm rãi nhưng rành rọt, đại ý:
  – Tại sao các đồng chí tự ý giải tán Đảng? Đồng chí tưởng lừa được chủ nghĩa đế quốc à, chính là đồng chí lừa chúng tôi, vì ở xa, không biết thực hư thế nào (có ý trách là không xin ý kiến).
  – Chính phủ các đồng chí là cái chính quyền gì, sao mà lắm nhân sĩ, trí thức, địa chủ, quan lại thế? (ý nói không phải chính quyền công nông).
  – Tại sao đến nay các đồng chí không tiến hành cải cách ruộng đất? Để đánh thắng đế quốc Pháp, sự chi viện của quốc tế là cần thiết, nhưng phải phát động quần chúng, động viên quần chúng, đem lại lợi ích thiết thân cho họ, đó mới là điểm mấu chốt làm nên thắng lợi. Staline tỏ ý không hài lòng lắm, hỏi: trong 2 cái ghế dân tộc và giai cấp, đồng chí ngồi trên cái ghế nào? (có ý phê bình lập trường giai cấp còn mơ hồ ).
   – Về vấn đề viện trợ cho cuộc kháng chiến của Việt Nam, Staline nói: Cách mạng Trung Quốc nay đã thành công, Trung Quốc đã trở thành trung tâm của cách mạng châu Á, từ nay chi viện cho Việt Nam sẽ do Trung Quốc đảm nhiệm, vì sát với Việt Nam. Liên Xô có nhiệm vụ giúp Trung Quốc xây dựng kinh tế, những vũ khí chúng tôi giúp Trung Quốc, nay kết thúc chiến tranh, cái gì không dùng nữa, hợp với Việt Nam, thì có thể chuyển cho Việt Nam (như một sự phân công quốc tế); đồng thời Staline cũng nhắc nhở Việt Nam phải ra sức học tập kinh nghiệm của Trung Quốc.
Tóm lại, Liên Xô không muốn dính vào vấn đề Việt Nam ở thời điểm này. Cuộc đón tiếp được coi là hờ hững. Trong cuộc tiếp, nhân trên bàn có cuốn họa báo “Liên Xô trên công trường”, có ảnh Staline, Hồ Chí Minh bèn xin Staline một chữ ký để làm kỷ niệm. Staline ký tặng rồi sau đó sai KGB bí mật lấy lại. Điều này làm cho Hồ Chí Minh rất bức xúc: “Làm sao lại có thể có chuyện đó giữa những đồng chí cộng sản với nhau”?.
 [Theo Trương Quảng Hoa: “Ghi chép bí mật về quyết sách giúp Việt Nam chống Pháp”, đăng trên Tạp chíViêm hoàng xuân thu, số 10 năm 1995.]
 Hiểu sự kiện này có ý nghĩa như thế nào mới thấy ra được bản lĩnh của Hồ Chí Minh, những khó khăn mà Hồ Chí Minh phải vượt qua như thế nào. Gay gắt nhất là khó khăn do các đồng chí của mình gây ra. Trần Phú, Ngô Đức Trì là những học viên lớp đầu của trường Phương Đông trong khoảng thời gian từ 1927 đến 1930, đã được đào luyện rất kỹ theo tinh thần “giai cấp chống giai cấp” của Đại hội VI, trở thành những người cộng sản ‘cứng rắn”, được cử về để “uốn nắn” lại những “sai lầm” của Nguyễn Ái Quốc!
Người phê phán gay gắt nhất Nguyễn Ái Quốc là Trần Phú. Tại Hội nghị TƯ tháng 10-1930, Trần Phú đã phê phán những sai lầm về chính trị và tổ chức của Hội nghị hợp nhất là “chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh, ấy là một sự rất nguy hiểm”, về “chia địa chủ làm đại, trung và tiểu địa chủ”, về “nóí  phải lợi dụng bọn tư bản mà chưa rõ mặt phản cách mạng”, cùng một số sai lầm khác, sau đó ra nghị quyết ‘thủ tiêu Chính cương, Sách lược và Điều lệ cũ của Đảng” [Văn kiện Đảng Toàn Tập, NXB Chính trị Quốc gia, 1998, t. 2, tr. 110-112].  Sau Hội nghị TƯ 10-1930, trong thư gửi Quốc tế Cộng sản ngày 17-4-1931, ông còn phê phán nội dung Hội nghị hợp nhất “mang nặng dấu ấn các tổ chức cách mạng cũ, các vấn đề cơ bản đều mâu thuẫn với đường lối Quốc tế Cộng sản (do thiếu một chính sách giai cấp),…mang dấu ấn nhất định của thời kỳ Quốc -Cộng hợp tác 1925-1927” [Tài liệu lưu trữ tại Phòng QTCS, nay là Trung tâm  bảo tồn và nghiên cứu các tài liệu lịch sử hiện đại Nga, viết tắt là R.C. ký hiệu  495.154.462.] 
Thời gian này, Hà Huy Tập đã trở về Trung Quốc, đứng đầu Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. Ngày 31-3-1935, trong thư gửi Quốc tế Cộng sản, ngoài nội dung chính là báo cáo kết quả của Đại hội Ma Cao, trong 10 điểm nói thêm, có 2 điểm báo cáo về Nguyễn Ái Quốc, ở điểm thứ mười, ông đã viết: “Ở Xiêm và Đông Dương, các tổ chức cộng sản đã tiến hành một cuộc đấu tranh công khai chống lại những tàn dư của tư tưởng dân tộc cách mạng pha trộn với chủ nghĩa cải lương của đảng Thanh niên và của đ/c Nguyễn Ái Quốc, những tàn dư ấy rất mạnh và tạo thành một chướng ngại nghiêm trọng cho sự phát triển chủ nghĩa cộng sản…Chúng tôi đề nghị đ/c Lin viết một quyển sách để tự phê bình những khuyết điểm đã qua”. [Văn kiện Đảng TT, t. 5, tr. 204]
Ngay cả khi được tin Nguyễn Ái Quốc đã lâm bệnh, qua đời ở Hồng Kông, trong bài viết như để truy điệu, Hà Huy Tập cũng không quên nhắc đến những “sai lầm” của Nguyễn Ái Quốc: “Công lao mà ông đã đóng góp cho Đảng chúng ta thật là lớn. Song các đồng chí chúng ta trong lúc này không được quên những tàn dư dân tộc chủ nghĩa của Nguyễn Ái Quốc, các chỉ thị sai lầm của ông về những vấn đề cơ bản của phong trào cách mạng…Ông đã không đưa ra bàn luận trước về những sách lược mà Quốc tế Cộng sản đòi hỏi phải áp dụng để loại bỏ những phần tử cơ hội trong Đảng. Ngoài ra, ông còn khuyến dụ một sách lược cải lương và hợp tác sai lầm: trung lập hóa tư sản và phú nông, liên minh với trung và tiểu địa chủ”. [Bài đăng trên Tạp chí Bônsêvích (Cahier du Bolchévisme) số 8, tháng 12-1934. Dẫn lại theo Daniel Hemery: Ho Chi Minh, De l’Indochine au Viet Nam , p. 73].
Cái logic của định hướng tư tưởng ấy sẽ đẩy cuộc sống đi tới theo chiều hướng cực tả. Mà vì vậy, muốn là người cách mạng kiên định thì phải đi theo hướng ấy. Đây chính là điểm quy chiếu của lập trường quan điểm và chỉ đạo đường lối chính sách cũng như hành động thực tiễn. Từ trước Đổi Mới, đây là điểm tựa cơ bản. Hiểu điều này, mới hiểu được bản lĩnh của Hồ Chí Minh vào năm 1951, khi Đảng có điều kiện để ra công khai đã đổi tên Đảng là Đảng Lao Động Việt Nam: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam” 1. Chỉ rõ “Đảng phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”, khẳng định dân tộc, lợi ích của dân tộc là mục tiêu chiến đấu, quan điểm ấy, ý chí ấy nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ đầu chí cuối. Ngay từ 1924, Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước … Người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”. Chính vì vậy, “Chính cương và Sách lược” do Nguyễn Ái Quốc nêu nổi bật tư tưởng “mặt trận toàn dân” và “thống nhất dân tộc” để đánh đổ thực dân và phong kiến để rồi phải gánh chịu cái tội: “mang hệ tư tưởng quốc gia cách mạng pha trộn với tư tưởng cải lương và duy tâm chủ nghĩa” vì không quán triệt quan điểm của Staline “giai cấp đấu tranh là quan trọng nhất và ngày càng có tính chất kịch liệt” rất xa lạ với quan điểm của Lênin về vấn đề dân tộc. Chính vì thế “…phải biết khéo lợi dụng kinh nghiệm. Nếu thấy người ta làm thế nào mình cũng một mực bắt chươc làm theo thế ấy. Thí dụ: nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” . Trong thư “Kính cáo đổng bào” viết ngày 6.6.1941, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy…Hiện thời muốn đánh Pháp đuổi Nhật ta chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết.
Trong bài “Đại đoàn kết dân tộc, cội nguồn sức mạnh của chúng ta”, viết năm 2005 Võ Văn Kiệt giải thích: “Đoàn kết đồng thời có nghĩa là phải khoan dung. Chính phủ Hồ Chí Minh chủ trương xóa bỏ mọi hận thù và chia rẽ do chế độ cũ để lại, sẵn sàng thu dụng những người có tài, có năng lực, có tâm huyết, mà không kể đến quá khứ…Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II đầu năm 1951, vấn đề đại đoàn kết được đặt ra và nhìn nhận trong những hoàn cảnh khác. Đã có không ít ý kiến xung quanh vấn đề này. Bác kết luận: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Lời giải thích đó của Bác có sức thuyết phục mạnh mẽ trong Đại hội Đảng.
Về phần mình, trải qua bao năm tháng suốt từ trước Cánh mạng Tháng 8 năm 1945 đến ngày nay, từ những phút gian nguy giữa sống và chết, đến những ngày chia ngọt sẻ bùi từng thắng lợi, tôi đã bao lần được đồng bào che chở cưu mang, đã chứng kiến bao tấm gương hy sinh của những người thuộc mọi tầng lớp và lứa tuổi…tôi càng thấm thía những bài học lớn đó của Hồ Chí Minh. Tiếc rằng một số năm sau đó, tư tưởng đại đoàn kết đã bị coi nhẹ, quan điểm giai cấp đã được vận dụng một cách máy móc, một chiều…Tư tưởng thành phần chủ nghĩa đã dẫn tới hai hậu quả: làm mất đi nhiều tài năng của một bộ phận đáng kể trong dân tộc, đồng thời đưa một cách gượng ép những nhân tố tuy rất cơ bản về chính trị nhưng lại không đủ chất lượng vào quản lý và xây dựng .
Xin hãy chỉ gợi lên một chuyện mà theo người kể là “ít người biết trong Mậu Thân 1968: Khi bàn về các mục tiêu phải tiến công, một số anh lãnh đạo không đề ra mục tiêu tòa Đại sứ Mỹ”, với tư cách là Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, ông Sáu Dân khẳng định: “Không đúng. Đánh vào đô thị là đánh vào đầu não chiến tranh của địch. Đầu não của chế độ Sài Gòn là Dinh Độc Lập và tòa Đại sứ Mỹ. Phải khẳng định đây là hai mục tiêu hàng đầu phải tiến công vì ý nghĩa chính trị của nó… Kháng chiến tức là phải đánh giặc, phải có quân đội, có vũ khí, có ý chí gang thép; nhưng nếu không hiểu khía cạnh chính trị của cuộc chiến đấu thì không thể hiểu gì về cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta cả”.  Chính con người có ý chí gang thép đó, con người từng thường trực nơi dầu sôi lửa bỏng trong cả hai cuộc kháng chiến, con người đó hiểu rõ ý nghĩa chính trị của sự nghiệp giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước nên từ đỉnh cao của chiến thắng 30 tháng 4 lịch sử đã dám thẳng thắn chỉ ra: “Chiến thắng của chúng ta là vĩ đại, nhưng chúng ta cũng đã phải trả giá cho chiến thắng đó bằng cả nỗi đau và sự mất mát. Lịch sử đã đặt nhiều gia đình người dân miến Nam rơi vào hoàn cảnh có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng tôi cũng vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu… Chúng ta đang nắm quyền lãnh đạo đất nước, muốn để mọi người Việt cùng chung tay tạo dựng thì chúng ta phải thực tâm khoan dung và hòa hợp.”
Không có một bản lĩnh chính trị vững vàng để hiểu rõ ý nghĩa chính trị cao cả của sự nghiệp chiến đấu với bao hy sinh của nhiều thế hệ Việt Nam, sẽ không thể đưa ra được tư tưởng mà nhất thời có thể chưa là cách nghĩ của số đông. Không có một sự tường minh về mục tiêu cao cả của sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, sẽ không dám đặt ra những vấn đề gai góc và dễ động chạm trong đời sống tinh thần của cả xã hội như vậy. Phải có một niềm tin mãnh liệt vào lý tưởng vĩ đại mà vì nó dám chấp nhận mọi hy sinh như bản thân mình đã từng trải nghiệm, mới có được bản lĩnh dám chịu trách nhiệm về những ý tưởng mang tính đột phá có ý nghĩa mở đường theo kiểu ấy. Nếu không có bản lĩnh như vậy, sẽ không thể công khai và thẳng thắn đặt ra những vấn đề gai góc và nhạy cảm mà ông hiểu rằng tất yếu sẽ gặp không ít lực cản, mà lực cản ấy sẽ không nhỏ, thậm chí là dai dẳng. Nhưng rồi cuộc sống đã cho thấy, những ý tưởng như vậy của Võ Văn Kiệt đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân đón nhận, đặc biệt là đối với những đầu óc ưu thời mẫn thế.
Ấy thế mà cũng có những lúc những đầu óc “ưu thời mẫn thế” cũng bị cuốn theo cơn lốc thời cuộc để đưa ra những thông điệp mà tỉnh táo ngẫm nghĩ lại không khỏi không có những băn khoăn. Xin được dẫn ra vài câu thơ của những tác giả tên tuổi đã từng một thời được đưa vào sách giáo khoa và hiện nay vẫn là những tên tuổi lớn được xã hội trân trọng. Nhằm tụng ca những thành tựu của chế độ, nhà thơ khẳng định: “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng…Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả” [Chế Lan Viên]. Từ trong sự thăng hoa của cảm xúc đó để nhìn nhận về ông cha mình như sau: “Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời / Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa” [Chế Lan Viên].. Bởi vậy, “Một câu hỏi lớn không lời đáp / Cho đến bây giờ mặt vẫn chau”![Huy Cận]. 
Trong “hội chứng tụng ca” ấy, những bước đi quá đà đã vô tình để lại những hậu quả rất lớn nhưng không dễ nhận ra nếu không thật tỉnh táo nhìn thẳng vào sự thật và không tránh né những vấn đề “nhạy cảm” rất dễ bị quy kết về “lập trường, quan điểm” của lối “độc quyền tư tưởng, áp đặt tư duy, tùy tiện quy kết”. Lối “độc quyền” ấy đẻ ra cái khẩu khí quen thuộc khi bàn về lịch sử “do chưa có được cái này cái nọ soi sáng cho nên…” với sự tự mãn một cách lố bịch rằng chỉ “từ khi có cái này cái nọ” thì lịch sử mới vượt khỏi những hạn chế.
Ở đây gợi nhớ đến một phân tích lạnh lùng, sắc sảo của Gustave le Bon trong “Tâm lý học đám đông”: “Chẳng gì chứng minh rõ hơn sự mê hoặc do một niềm tin chung gây ra, nhưng cũng chẳng gì chỉ ra rõ hơn những giới hạn nhục nhã của trí tuệ con người”! Bởi vậy ngẫm cho kỹ, sẽ nhận ra sự dễ dãi đến bạc bẽo khi đưa ra những phán xét, cho dù bằng những rung động thẩm mỹ có phần cảm tính, về ông cha.
Ông cha ta đâu có “bế tắc”, cái “câu hỏi lớn” mà nhà thơ cho là “không lời đáp” là gì nếu không là vận mệnh của đất nước? Mà nếu thế thì ông cha ta đã từng đưa ra những lời đáp thật thuyết phục với những bằng chứng lịch sử không thể bác bỏ. Nếu không biết cách trả lời những câu hỏi lớn của lịch sử, của thời đại mà các cụ sống thì làm sao đất nước này, dân tộc này có thể hiên ngang trụ vững bên cạnh anh láng giềng chỉ chực có cơ hội là nuốt gọn mình. Chính vì biết cách trả lời những “câu hỏi lớn” của lịch sử mà biết chuyển yếu thành mạnh, lấy ít địch nhiều, biết cách chế ngự cái thế “trứng chọi đá” để có thể ra Tuyên ngôn “Nam quốc sơn hà, nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư””.
Những rung động thẩm mỹ có phần cảm tính, về ông cha dẫn ra ở trên, xét cho cùng, là bị chi phối bởi lối tư duy và lập luận rất cực đoan rằng chỉ từ 1930, dân tộc mới thật sự biết ngẩng cao đầu! Cho nên, chỉ những gì được ra đời từ cột mốc ấy mới có một giá trị được xếp trên tất cả, hơn tất cả.“Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy sĩ…Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ”* . Mà không thấy được “Những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao”* [Việt Phương] để có sự thấu đáo và tỉnh táo trong giáo dục và đào tạo con người.
Sai lầm nguy hại nhất là chỉ tập trung vào giáo dục lý tưởng mà lơ là xây đắp cái nền tảng nhân văn trong định hình nhân cách cho thế hệ trẻ để từ đó mà giáo dục lý tưởng. Lý tưởng đương nhiên là quan trọng, song không nên cho rằng lý tưởng của Lý Tử Trọng của thế kỷ XX là cao hơn lý tưởng của Trần Quốc Toản thế kỷ XIII. Và lại càng phải thấy cho rõ phạm trù lý tưởng gắn liền với mục đích và ý nghĩa của cuộc sống con người. Tùy thuộc vào sự nhận thức về mục đích và ý nghĩa cuộc sống của từng người, từng nhóm xã hội mà có sự định hình lý tưởng . Khi Trần Quốc Toản ghi trên lá cờ của mình sáu chữ “Phá cường địch, báo Hoàng ân” thì đó là sự thể hiện lý tưởng trung quân ái quốc của chàng tuổi trẻ quý tộc đời nhà Trần. Đừng nghĩ rằng lý tưởng “trung quân ái quốc” là thấp hơn lý tưởng “trung với nước, hiếu với dân” mà không thấy mỗi giai đoạn lịch sử có những đòi hỏi mang tính đặc thù. Người ta quên rằng “mỗi thời kỳ lịch sử đều có những quy luật riêng của nó…Một khi cuộc sống đã vuợt qua một thời kỳ phát triển nhất định, đã từ giai đoạn này bước sang giai đoạn khác, thì nó cũng bắt đầu bị những quy luật khác chi phối“. Đây là sự  phân tích của Các Mác [C.Mác và Ph.Angghen toàn tập. NXBCTQG Tập 23.1993. tr. 34].
Quả thật chân lý vốn đơn giản, nhưng nhận thức cho được sự đơn giản đó hóa ra không đơn giản chút nào. Ông Võ Văn Kiệt đã có lần lập luận về những vấn đề hết sức gay cấn một cách rất dung dị: “Cách mạng tháng 8 năm 45 đánh đổ thực dân phong kiến là chuyện tất yếu phải làm để giành lại độc lập cho đất nước và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Nhưng rồi theo trớn đó mà chửi phong kiến tùm lum thì vô tình đã chửi cha ông mình chứ còn gì nữa! Thử hỏi các vua Trần cùng Trần Hưng Đạo ba lần đánh tan quân Nguyên, Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi diệt quân Minh xâm lược và lên ngôi vua thì đều là phong kiến” cả chứ gì? Liệu có ai dung túng cho chuyện xúc phạm đến ông cha? Thế mà cứ thoải mái chửi phong kiến thì khoa học cái nỗi gì?”. Chẳng phải chỉ đối với chuyện của tiền nhân, ngay cả chuyện đang diễn ra cũng vậy thôi.
Sẽ quá dài dòng để phải nhắc lại một thời mà chủ nghĩa nhân văn bị phê phán do chịu ảnh hưởng của giáo điều Maoít, chỉ coi trọng “giai cấp tính”, phải đặt vấn đề “nhân tính” trong cái lăng kính giai cấp để chịu sự chi phối của “giai cấp tính”. Hệ lụy của nó thì chắc không phải kể ra đây nữa.
Khi chỉ chuyên chú giáo dục lý tưởng theo định hướng ấy, người ta dễ dàng bỏ qua những phẩm chất “người” trongquan hệ giữa người và người từ trong gia đình, cộng đồng xã hội nhỏ nhất, đến nhà trường, một cộng đồng lớn hơn của tuổi trẻ , và hàng xóm láng giềng “tối lửa tắt đèn có nhau” cho đến cộng đồng lớn là xã hội. Đặc biệt nguy hiểm là khi thần tượng của lý tưởng bị sụp đổ, nếu thiếu một nền tảng nhân văn vững chắc được hun đúc từ tấm bé, niềm tin của con người bị chao đảo, định hướng của hành vi do vậy cũng bị nhiễu loạn, bị xáo trộn.
Sự suy thoái đạo lý xã hội cần tìm về sự chao đảo, xáo trộn này. Những “siêu đám cưới”, “hội chứng lấy chồng ngoại”, những cảnh bạo lực học đường, các clip quay  nữ sinh đánh nhau một cách dã man giữa đường phố dưới con mắt bình thản của người chứng kiến, thậm chí còn cổ vũ và tranh thủ quay video…được mọc lên từ môi trường xã hội ấy.          
Nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện đã có một khuyến cáo thật đáng suy ngẫm khi bàn về giáo dục và đào tạo con người:Để cho trẻ sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu của nó, sau lớn lên nó sẽ sống đời người lớn một cách hoàn toàn đầy đủ .Sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu” trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn. Đó sẽ là đảm bảo cho việc “sống đời người lớn một cách hoàn toàn đầy đủ”. Chủ nghĩa nhân văn ấy đang được nâng lên trong bối cảnh của nền văn minh mới, nền văn minh trí tuệ và nền kinh tế tri thức của thế kỷ XXI. Trong nền văn minh đó,“sự thay đổi vĩ đại nhất sẽ là sự thay đổi về tri thức-về hình thức và nội dung, về ý nghĩa của tri thức, về trách nhiệm của tri thức và về những đặc điểm của con người có giáo dục”.
Vậy thì hiện nay, môi trường giáo dục của chúng ta đang như thế nào? Liệu chúng ta có thể “để trẻ sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu của nó” trong môi trường chúng ta đang sống không? Nếu xét đến cùng, lý tưởng phải được hình thành, củng cố và phát huy sức mạnh của nó trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn thì chúng ta đang thiếu hụt chính cái nền tảng đó. Thiếu cái nền tảng đó, lý tưởng sẽ thiếu mất tính bền vững và và chiều sâu nhân bản. Sẽ quá dài dòng để phải nhắc lại một thời mà chủ nghĩa nhân văn bị phê phán do chịu ảnh hưởng của giáo điều Maoít, chỉ coi trọng “giai cấp tính”, đặt vấn đề “nhân tính” trong cái lăng kính giai cấp để chịu sự chi phối của “giai cấp tính”. Hệ lụy của nó thì chắc không phải kể ra đây nữa.
Khi chỉ chuyên chú giáo dục lý tưởng, người ta dễ dàng bỏ qua những phẩm chất “người” trong quan hệ giữa ngườivà người từ trong gia đình, cộng đồng xã hội nhỏ nhất, đến nhà trường, một cộng đồng lớn hơn của tuổi trẻ, và hàng xóm láng giềng “tối lửa tắt đèn có nhau” cho đến cộng đồng lớn là xã hội. Đặc biệt nguy hiểm là khi thần tượng của lý tưởng bị sụp đổ, nếu thiếu một nền tảng nhân văn vững chắc được hun đúc từ tấm bé, niềm tin của con người bị chao đảo, định hướng của hành vi do vậy cũng bị nhiễu loạn, bị xáo trộn. Sự suy thoái đạo lý xã hội cần tìm về sự chao đảo, xáo trộn này.
Chỉ xin gợi ra đây đôi dòng về sự xáo trộn đó do thiếu một tầm nhìn văn hóa trong quản lý kinh tế và quản lý xã hội. Chắc nhiều người không để ý đến hai chữ “đại gia” đang là ngôn từ thời thượng. Tệ hại hơn nữa, gắn liền với “đại gia” , là tiền, thật nhiều tiền, nhất là đô la. Đến nỗi báo chí rất hào phóng cho việc lăng xê tên tuổi của một   chàng trai vô công rồi nghề sống trên đống tiền của mẹ để có thể thay đổi xoành xoạch kiểu xe ô tô đời mới nhất, xịn nhất có biệt hiệu là “Đô La”. Mùi mẩn hơn nữa là chàng ‘Đô La” lại “đôi lứa xứng đôi” với một nàng “siêu sao” ca nhạc, rồi đứa con của “đôi lứa xứng đôi” ấy cũng được các cây bút có nghề xưng tụng nửa kín nửa hở trên nhiều trang báo!
Và các nhà quản lý văn hóa quên mất rằng, đây là cách cổ vũ cho một lối sốngchạy theo đồng tiền, treo một “tấm gương sống động”, thúc đẩy một thị hiếu dung tục nếu chưa muốn nói là thấp hèn cho giới trẻ. Trong lúc đó, lại ra sức chê trách, dè bỉu, đe dọa, đàn áp và bắt bỏ tù, bị đạp vào mặt những thanh niên, sinh viên có bản lĩnh dám xuống đường biểu thị lòng yêu nước và tinh thần bất khuất quyết không chịu cúi đầu trước những hành động ăn cướp và xâm lược của bọn bành trướng Bắc Kinh. Một nghịch lý đang được đóng dấu và tuyên truyền rộng khắp!
Và rồi, từ cực đoan này lại nhảy sang một cực đoan khác, những biểu tượng “phong kiến” từng bị đào sâu chôn chặc nay hình như lại có sức hấp dẫn nên người ta đua nhau đắt tên bằng những “tước hiệu” tưởng đã vĩnh viễn chôn dưới đất đen:cho sang thì khách sạn phải mang tên là “Hotel Hoàng Đế,” cho quý thì công ty phải là “Công ty Hoàng Gia”, cho oai thì quán ăn thời thượng phải là “Quán Ngự Thiện”, cho giàu sức vẫy gọi thì khu nghỉ mát phải là “Resort Quý Tộc”….
Có thể là nhà quản lý có tầm nhìn bao dung và cởi mở nhằm cất cánh cho những ý tưởng sáng tạo, nhưng cũng có thể người ta bận cho việc kiểm tra tầm soát chặt chẽ những “biểu hiện nguy hiểm” khác như thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chẳng hạn, mà tạm buông cho những cực đoan xô bồ kia. Và rồi người ta cũng quên luôn những điều vừa kể là hết sức đối nghịch với những chuẩn mực trong “ý thức hệ” mà họ có sứ mệnh thiêng liêng” là phải giữ vững. Thế đó!
Gợi lên những điều không lấy gì thoải mái, ngược lại, hình như gọi dậy một cảm giác xấu hổ về những hiện tượng đang dày vò lương tâm của chúng ta. C.Mác có nói “Hãy làm cho sự nhục nhã càng thêm nhục nhã bằng cách công bố nó lên”,xin được thay  từ nhục nhã bằng từ “xấu hổ” để bớt đi sự gay gắt. Đừng quên rằng chính sự xấu hổ làm cho chúng ta có thêm dũng khí để vượt lên chính mình. Trong “Sáng thế ký ” có chuyện Adam và Eve sau khi ăn trái cấm thì bỗng nhiên phát hiện ra sự trần truồng của mình.Cảm giác xấu hổ xuất hiện. Và cả hai đều bứt chiếc lá vả để che đi bộ phận sinh dục. Chiếc lá vả ấy, theo Franz Werfel, một nhà văn Đức, là “tài liệu văn hóa đầu tiên của loài người! Không là chiếc lá vả đang nằm trên cây, mà là chiếc lá vả được con người sử dụng để biểu thị nhận thức và cảm xúc của mình, là biểu tượng của con người tự ý thức được về mình. Cái cảm giác “biết xấu hổ” là một thuộc tính người.
 Chính vì biết xấu hổ khiến chúng ta trở thành người trí thức, mà cũng do vậy khiến cho tâm hồn chúng ta bất an. Thì chính Nguyễn Trãi đã từng đúc kết điều này đấy thôi: “Nhân sinh thức tự đa ưu hoạn”. Nhưng cũng chính vì vậy mà ông trở thành anh hùng dân tộc và là danh nhân văn hóa thế giới. Đôi lúc tôi thầm nghĩ “So với ưu tư và hoạn nạn của con người vĩ đại ấy thì những ưu tư và hoạn nạn chúng ta có thể gặp phải nào có ý nghĩa gì”!
Ông cha ta thật là vĩ đại, không chỉ một Nguyễn Trãi, cách nay cả nghìn năm mà thiền sư Vạn Hạnh đã từng chỉ ra:Thân như điện ảnh hữu toàn vô. Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô. Nhậm vận thịnh suy vô bố úy.  Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.[Thân người như bóng chớp, có rồi lại không/ Như muôn cây cỏ mùa xuân tươi tốt đến mùa thu khô héo/ Ngẫm và hiểu cái lý của thịnh suy, lòng không sợ hãi/ Vì thịnh suy nối tiếp nhau như khoảng thời gian hạt sương móc trên đầu ngọn cỏ].
Một cái nhìn vượt lên không gian và thời gian. Chẳng những thế, bản lĩnh của ông cha mình thật là kỳ diệu. Cũng một nhà sư khác, thiền sư Quảng Nghiêm cách đây ngót vẫnmột thiên niên kỷ đã dám viết: “Nam nhi tự hữu xung thiên chí . Hưu hướng Như Lai hành xứ hành” [Làm trai phải có chí xung trời thẳm, Việc gì cứ phải lẽo đẽo theo bước chân Như Lai]. Xuất gia đi tu mà lại nói không phải lẽo đẽo lần theo bước chân Phật tổ, hàm ý triết lý “Phật tại tâm”, mỗi người có cách tiếp cận chân lý theo cách riêng của mình, không nhất nhất làm theo người khác thì quả là đã chống giáo điều từ gốc.
Vậy thì, nêu lên những bức xúc đang làm chậm bước phát triển của đất nước, và do đó, trong cái “vòng tròn” lớn đó mà cái “vòng tròn nhỏ” là hệ thống giáo dục và đào tạo của ta đang suy thoái, đang lạc hậu, không hề làm nhụt ý chí của chúng ta. Ngược lại, chúng ta hiểu rằng và tin rằng  “Lịch sử cổ xưa và hiện đại cho thấy khả năng kỳ lạ của đất nước này trong việc tìm ra những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải”. Đây là một học giả Pháp nói với chúng ta , ông Eduard De Penguilly.[Kỷ yếu Hội thảo về “Nhà ở, Kiến trúc đô thị và môi trường truyền thống và hiện đại”.] Vấn đề đặt ra là phải dám đối diện với sự thật và sòng phẳng nói lên sự thật đó bất chấp những quy kết tùy tiện và có khi khá tai ác.
Nói lên sự thật vì chúng ta tin vào “khả năng kỳ lạ của đất nước này trong việc tìm ra những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải“. Khả năng đó đang tiềm ẩn trong lòng xã hội, trong sự vận động tự thân của khối quần chúng đang còn câm lặng để giấu kín những khát vọng kiểu Đoàn Văn Vươn.
Và vì chúng ta đều thuộc lớp người xưa nay hiếm cả rồi, nên cũng đừng gay gắt quá, có khi gây tai biến mạch máu não hay nhồi máu cơ tim thì gay nên để kết thúc một cách có hậu, tôi xin kể lại một Câu chuyện thật của thế kỷ 21 để suy nghĩ thêm về cảm xúc con người trong xã hội.
Tại trại xe điện ngầm Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào buổi sáng tháng giêng lạnh lẽo năm 2007, một người đàn ông đàn liên tục 6 tấu khúc của Bach trên cây đàn vĩ cầm trong 45 phút . Ước chừng hơn 2000 người qua lại trạm xe điện ngầm trong khoảng thời gian đó và hầu hết những người ấy đều trên đường đi làm.
Sau ba phút, một người đàn ông trung niên nhận ra là có người đang chơi nhạc. Ông ta chậm bước và ngừng chân trong vài giây rồi lại hối hả theo thời khắc biểu đã định sẵn. Bốn phút sau, người đàn vĩ cầm nhận được đồng tiền đầu tiên: một phụ nữ vừa đi vừa liệng tiền vô cái nón mà không hề ngừng lại.
Phút thứ sáu: một thanh niên trẻ dựa vào tường và lắng nghe tiếng đàn, sau đó liếc nhìn đồng hồ đeo nơi tay và bước đi. Phút thứ mười: một bé trai khoảng 3 tuổi đứng lại nhưng bị mẹ lôi đi vội vã. Cậu bé trì lại và nhìn người chơi đàn lần nữa. Dù bị mẹ kéo đi, cậu bé vẫn luôn ngoái đầu nhìn. Nhiều đứa bé khác cũng quay đầu nhìn như thế và không cha mẹ nào lại không nhanh chóng kéo con mình đi cả.
Bốn mươi lăm phút đàn không ngừng, chỉ có 6 người thật sự dừng hẳn lại và lắng nghe trong một lúc. Khoảng 20 người cho tiền mà vẫn tiếp tục bước đi. Người chơi đàn nhận được tất cà là 32 đô la.
Sau một giờ, người đàn ông chấm dứt, thôi đàn và không gian trở nên im vắng. Không ai để ý. Không ai vỗ tay khen và cũng chẳng có ai lưu tâm. Nhưng không một ai biết điều này, người chơi đàn vĩ cầm đó là Joshua Bell, một cầm thủ lẫy lừng trên thế giới. Với cây đàn vĩ cầm trị giá trên 3 triệu rưỡi đô la, Joshua Bell đã trình diễn những tấu khúc tuyệt vời mà không ai có thể viết hay hơn đưọc nữa, đàn hay hơn được nữa. Hai ngày trước đây, Joshua Bell đã trình diễn ở Boston, nơi mà giá trung bình là 100 đô la một vé và nhạc viện bán sạch không còn dư một vé nào.
Đây là một câu truyện thật: việc Joshua Bell lặng lẽ chơi đàn tại trạm xe điện ngầm được báo Washington Post sắp xếp để xem cảm xúc con người trong xã hội như thế nào, họ nhận thức và lựa chọn ra sao…
Câu hỏi được đặt ra là tại nơi chốn thông thường trong giờ giấc không thuận lợi cho lắm, liệu chúng ta có nhìn ra được tài năng với bối cảnh không ngờ, và liệu chúng ta có nhận thức được cái đẹp và ngưng lại để thưởng thức nó hay không ?
Có thể kết luận về chuyện này như sau: Nếu chúng ta không có thì giờ ngừng lại một chút để lắng nghe người nghệ sĩ lừng danh trên thế giới đàn những tấu khúc mà không ai có thể viết hay hơn được nữa trên một cây đàn có những âm thanh tuyệt vời nhất thì chúng ta sẽ còn mất mát và bỏ qua bao nhiêu thứ tốt đẹp khác nữa trên cõi đời này.
 30-3-12

Bà con Văn Giang khiếu kiện

 

Người dân về Hà Nội khiếu kiện trong tháng Hai năm 2012 -Nguồn:-Những mờ ám từ Dự án “Tuần Châu trong lòng Hà Nội” –

(Petrotimes) – Đại gia Đào Hồng Tuyển được biết đến với biệt danh “chúa đảo Tuần Châu” có không ít tuyên bố về những dự án “khủng”, về khối tài sản lên tới cả tỉ đôla. Vị đại gia này đã xin lập Dự án Khu du lịch sinh thái Ecopark Tuần Châu với kỳ vọng “mang một Tuần Châu thu nhỏ đặt vào lòng thủ đô”.

Tuyên bố hoành tráng, quảng cáo rầm rộ, tung hô ngút trời, nhưng trên thực tế dự án này đang ở tình trạng… bỏ hoang. Giấc mơ “tiểu Tuần Châu” có vẻ như rất long đong và đã có nhiều biểu hiện mờ ám khó hiểu.
Bài 1: Đất bỏ hoang vẫn được… rao bán
Xót xa bên lề dự án bỏ hoang
Xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội nổi tiếng với danh thắng chùa Thầy. Mới chỉ cách đây dăm năm thôi, nơi đây còn yên ả, đặc trưng cho vùng quê đồng bằng Bắc Bộ thanh bình với chùa chiền, làng xóm, bờ xôi ruộng mật, lúa xanh bao la. Chẳng ai có thể nghĩ được rằng, chỉ ngay trước khi sáp nhập về với thủ đô, vùng quê xứ Đoài này đã bị chia năm sẻ bảy, thu hồi hết đất canh tác để dành chỗ cho các dự án khu du lịch sinh thái, biệt thự, nhà vườn, sân golf. Dự án có thể xem là lớn nhất ở đây là Dự án Khu du lịch sinh thái và vui chơi giải trí (DLST & VCGT) Tuần Châu.
Đi vào núi Thầy, người ta không còn cảm giác thanh tịnh khi đi vào đất Phật, đường sá nơi đây bị cày nát bởi máy ủi, máy xúc, xe tải lớn bé chở vật liệu xây dựng. Nằm án ngữ dưới chân núi Thầy, Khu DLST & VCGT Tuần Châu đã san phẳng một vùng đồng lúa thành bình địa, ngổn ngang và bụi bặm. Đến lúc hoàn thành, chẳng biết sự thiền tịnh của núi Thầy, chùa Thầy có còn không khi nằm lọt thỏm giữa một không gian hàng trăm hécta toàn… vui chơi, giải trí.

Có tới 80% dân số xã Sài Sơn làm nghề nông, sống nhờ cây lúa, chỉ có một số ít làm nghề nung gạch và bán hàng ở khu danh thắng chùa Thầy. Không có nhiều diện tích đất canh tác nhưng có đến 460ha đất trồng lúa của Sài Sơn bị đưa vào quy hoạch, trong đó chỉ riêng dự án Ecopark Tuần Châu đã chiếm đến gần một nửa.
Tuy nhiên, 5 năm sau khi khởi công, ai đến khu vực này cũng phải xót xa khi mà những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay bị san lấp, đường sá toàn bụi đất. 5 năm rồi nhưng “giấc mộng Tuần Châu trong lòng thủ đô” vẫn chỉ là bãi đất trống cỏ mọc um tùm.
Một phần đất của dự án được quây bằng tôn, bên trong cũng chưa thấy khởi công gì mà chỉ thấy cây và cỏ dại. Cả khu vực tạm được gọi là “công trường” chỉ có độc một chiếc máy xúc đứng chơ vơ, gần đó là vài thanh niên đứng chơi quanh quẩn. Bên ngoài bờ rào bằng tôn, những khẩu hiệu có logo của Tuần Châu phủ đầy bụi “An toàn là bạn, tai nạn là thù” có vẻ hơi thừa thãi. Người ta mới “động khẩu” chứ đã “động thủ” gì đâu mà lo mất an toàn!
Cụ Tư, 73 tuổi, gia đình có gần chục miệng ăn chỉ trông chờ vào mấy sào ruộng, nay bị thu hồi gần hết. Cầm đồng tiền bồi thường trong tay nhưng cụ cũng chả vui vẻ gì: “Cái chúng tôi cần là ruộng đất để trồng lúa, trồng màu kia. Tiền đền bù thì bao nhiêu tiêu chả hết, hết tiền thì biết làm nghề gì mà sống?”.
Ông vừa nói vừa nhìn xa xăm ra nơi khu đất như bỏ hoang của dự án Tuần Châu, nơi mà khi xưa là bờ xôi ruộng mật cha ông để lại từ hàng trăm năm: “Người ta thu hồi đất mà làm dự án ngay thì nhìn còn đỡ xót. Đằng này, lúa đang trổ xanh, vụt một cái bị thu hồi, mà thu xong để đấy chứ có làm gì đâu!”.
Hụt hẫng, chơi vơi – đó là cảm giác chung của nhiều người nông dân Sài Sơn đang quen với ruộng đồng bỗng nhiên bị thu hồi hết đất.
khởi công trước khi quy hoạch được duyệt
Ngày 1/8/2008, Hà Tây chính thức sáp nhập về thủ đô Hà Nội. Trong những ngày cuối cùng sáp nhập vào thủ đô, dư luận đã chứng kiến một cuộc chạy đua nước rút của các nhà đầu tư, đặc biệt là các dự án bất động sản để được phê duyệt trước khi sáp nhập. Đơn giản là vì về thủ đô thì giá thuê đất sẽ cao hơn và việc thuê được các diện tích đất lớn sẽ vô cùng khó khăn.
Dự án bất động sản Khu DLST & VCGT Tuần Châu Hà Tây được cấp phép vào những ngày cuối cùng đó.
Dự án này được phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500 vào ngày 10/7/2008 tại Quyết định 2238/QĐ-UBND tỉnh Hà Tây. Tuần Châu Hà Tây được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng vào ngày 21/7/2008, tức là 9 ngày trước khi Hà Tây sáp nhập về Hà Nội. Về với thủ đô, Tuần Châu Hà Tây được đổi thành Tuần Châu Hà Nội và Khu DLST & VCGT Tuần Châu được gọi tắt là Ecopark Tuần Châu.
Kỳ quặc thay, dự án đã được khởi công long trọng từ 25/2/2008, tức là 5 tháng trước khi quy hoạch chi tiết được phê duyệt. Sự lạ lùng của “giấc mơ Tuần Châu” xuất hiện từ khi nó vừa ra đời!
Thay đổi quy hoạch sau… 1 năm
Đương nhiên, một khi đã về thủ đô thì quy hoạch một loạt dự án sẽ bị điều chỉnh. UBND thành phố Hà Nội đã giao cho Sở Quy hoạch và Kiến trúc tiến hành rà soát các dự án và kết quả là nhiều dự án bị dừng, một số dự án phải điều chỉnh.
Dự án Khu DLST & VCGT Tuần Châu Hà Tây nằm trong nhóm Ib (nhóm danh mục đồ án, dự án được tiếp tục triển khai nhưng phải thực hiện rà soát, điều chỉnh quy hoạch) theo thông báo vào ngày 5/9/2008 của Văn phòng Chính phủ. Các dự án thuộc danh sách phải điều chỉnh quy hoạch thì đương nhiên phải tạm dừng để chờ quy hoạch mới.
Ngày 28/9/2009, sau khi được giao đất hơn một năm, Công ty Tuần Châu Hà Tây đã có văn bản xin được điều chỉnh quy hoạch.  Yêu cầu này được các cơ quan chức năng của thành phố Hà Nội xem xét và trình Chính phủ.
Ngày 23/7/2010, Văn phòng Chính phủ có Công văn số 5140 VPCP-KTN thông báo ý kiến của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải: “Đồng ý về nguyên tắc điều chỉnh quy hoạch xây dựng Khu DLST & VCGT Tuần Châu Hà Tây, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội theo hướng giữ nguyên tính chất là DLST & GT, không xây dựng sân golf. Điều chỉnh quy hoạch xây dựng Khu DLST & GT Tuần Châu Hà Tây theo hướng thấp tầng, giảm mật độ xây dựng, tăng tỉ lệ cây xanh, mặt nước; bảo đảm phù hợp với định hướng quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội”.
Như vậy, phải đến thời điểm này, quy hoạch của dự án mới chính thức được “đồng ý về nguyên tắc” cho phép tiếp tục triển khai dự án theo hướng điều chỉnh mới. Cũng có nghĩa là cho đến ngày 23/7/2010, dự án sẽ phải đợi quy hoạch mới.
Sau đó, UBND TP Hà Nội đã ra Quyết định 720/QĐ-UBND ngày 8/2/1012 yêu cầu Công ty Tuần Châu Hà Nội lập quy hoạch, hoàn thiện đồ án trong vòng 6 tháng. Đồ án này sẽ phải được Sở Quy hoạch và Kiến trúc thẩm định, sau đó trình UBND thành phố xem xét và phê duyệt. Quyết định nêu rõ đồ án được thực hiện để làm cơ sở triển khai lập dự án đầu tư xây dựng.
Như vậy, chiểu theo quyết định trên của UBND TP Hà Nội, rõ ràng cho đến thời điểm này, Ecopark Tuần Châu vẫn chưa đủ cơ sở để triển khai lập dự án đầu tư xây dựng…
Thế nhưng, trên thị trường bất động sản, từ vài năm trước, nhà liền kề, biệt thự, đất ở lâu dài trong dự án Tuần Châu đã được rao bán tràn lan, mặc dù quy hoạch 1/500 mới của dự án này còn chưa được duyệt.
Nhà đầu tư “chết dần chết mòn”
Trên thị trường, việc rao bán biệt thự, liền kề của dự án Ecopark vẫn diễn ra công khai. Chỉ cần gõ từ khóa Ecopark Tuần Châu trên google, bạn sẽ bắt gặp hơn 2 triệu kết quả, trong đó đa số là những lời rao bán nhà liền kề, biệt thự của dự án.