TIN NGÀY 21/3/2012


Chính trị – Xã hội

Đảng Cộng sản trước nhu cầu cải tổ (BBC)  —-Ai đứng sau vụ cấm báo Thanh Niên tổ chức tri ân chiến sĩ? (RFA)

Đói giáp hạt tại Thanh Hóa (RFA)   —Thanh niên chết bí ẩn trong lúc tạm giam  (RFA)   —Bắt giữ 6 nghi can buôn người  (RFA)   —Việt Nam nhắm phát triển năng lượng xanh (RFA)   —-Vụ 44 tỉ đồng: nguyên Cục phó Điện ảnh Việt Nam bị bắt giữ (RFA)

Xuất khẩu lao động Việt Nam: hơn cả buôn ma tuý! (Lê diễn Đức – RFA)  -Vì sao nhà cầm quyền VN lại làm ngơ trước thân phận khốn cùng của người lao động VN ở nước ngoài và ngăn cản giúp đỡ họ? Những người nghèo khổ đi nước ngoài lao động thực chất bị vứt vào canh bạc chót và chờ vào sự may mắn. Nơi nào ông chủ tốt hoặc nước sở tại có môi trường xã hội văn minh bảo vệ quyền lợi người lao động, thì tuy vất vả nhưng còn thực hiện được một phần mơ ước. Gặp ông chủ bất nhân, chính quyền sở tại làm ngơ, coi như mất trắng và thân tàn ma dại.    — Mà Ông Đức ơi,cái dụ Mã lai mà có có đi nữa là do “bọn tư bản nó bóc lột” đấy chớ,chúng tớ đâu có,ở chỗ “thiên đường” chúng tớ sướng lắm-Chúng tớ “gài bẩy” để “chứng minh” bọn “tư bổn giãy chết nó bóc lột để rồi chết” đấy Ông ạ.-Xem đây nầy : ‘Lao động Việt Nam kẹt ở Malaysia không bị đối xử tệ’ (VnEx)    —-‘Lao động VN ở Malaysia không bị bỏ đói, hay bóc lột (Đất Việt)   —-Việt Nam sẽ siết chặt quản lý thuê bao di động (VOA)

http://phamtayson.files.wordpress.com/2012/03/by-xuandong_02411.jpg?w=300

ĂN THẾ NÀY, HỌC THẾ NÀO?.. (Maithanhhai)-

 

Nhìn cơm các con đang ăn mà mình chụp ảnh mãi không được, tay cứ run run vì xúc động nên máy toàn bị rung. Cơm nước thế này thì nuốt thế nào được, hả giời?.. =======>>>

 

Thấy hông? quan đã bảo đâu có đói,mấy người đưa tin “bậy bạ ” không hà,không “định hướng” gì cả ,”phải định hướng  XHCN” chớ,còn cái Anh Hải kêu Giời nỗi gì? có ăn cơm đấy chứ.có đói đâu nào?  —-’Đừng để nạn ăn xin trở thành nỗi nhục quốc thể’ (VTC)

Bà Nguyễn Thị Mai Thanh nhận lương 100 triệu đồng/tháng (Dantri) -Mức lương này của bà chủ REE dự kiến vẫn giữ nguyên trong năm 2012 này, và còn dược hưởng chế độ khen thưởng trên lợi nhuận vượt kế hoạch kèm theo.

Hải Phòng: Đập phá nhà dân, nhiều cán bộ phường “lĩnh án” (Dantri)   —-Chưa thỏa thuận đã ủi sập nhà dân! (DV)

Đề nghị truy tố Phó Chi cục Thi hành án dân sự Lâm Đồng (Dantri)   —-Hai VĐV bỏ trốn tại Australia: Trăm sự tại nghèo? (Dân Việt) – Vụ việc hai VĐV đua thuyền rowing Nguyễn Phương Đông, Lương Đức Toàn bỏ trốn tại Australia sau chuyến tập huấn đang khiến những người làm thể thao đau đầu về chuyện đãi ngộ cho VĐV.

Thu thuế linh hoạt như ‘đèn xanh đi – đèn đỏ dừng’ (VTC News)   —-Thế nào là “khoan sức dân”? (DV)    —–Đội mũ bảo hiểm ngược để… dễ kiểm tra tem (DV) đồ điên khùng!!!     —–TP.HCM: Tay chân miệng “tấn công” trường học (VNN)

2 tàu cá, 21 ngư dân bị Trung Quốc bắt giữ (TN)

Kinh tế

Với giá năng lượng tăng cao, lạm phát năm 2012 sẽ đi về đâu? (Trần vinh Dự – VOA) – Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang chuẩn bị xin tăng giá điện khiến nhiều người lo ngại về khả năng tiếp tục xảy ra bùng nổ lạm phát

Văn hóa – Giáo dục

Hậu Giang: Học sinh nam đóng cảnh “nóng” trong lớp (Dân trí)

Nữ sinh xử nhau ngay khuôn viên trường, hiệu trưởng chẳng hay (Danviet)

Thế giới

https://i0.wp.com/wscdn.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2012/03/20/120320151454_queen_144x81_x_nocredit.jpgNữ hoàng Anh đọc diễn văn nhân 60 năm trị vị (BBC) ================>>>

Cuộc chiến đổi màu (BBC) -Miến Điện trong xung đột sắc tộc và quan hệ đang đổi với TQ.    —Tổ chức nhân quyền Mỹ tố cáo quân đội Miến Điện bức hại sắc tộc Kachin (RFI)  —Pháp truy lùng thủ phạm ở Toulouse (BBC)  —Quốc tế lên án vụ thảm sát tại trường học Do Thái ở Pháp (RFI)   —An ninh Pháp ráo riết truy lùng thủ phạm vụ sát hại người Do Thái và lính Dù (RFI)   —Pháp nâng mức báo động khủng bố trong lúc truy lùng kẻ sát nhân (VOA)

Trung Quốc lại tăng giá xăng dầu (BBC)    —Thủ tướng Tây Tạng : Mọi kênh đối thoại với Bắc Kinh đều bế tắc  (RFI)   —Trung Quốc : Bất động sản mất giá, Nhà nước đau đầu (RFI)  —Bruxelles và Bắc Kinh cùng giám sát tính an toàn của sản phẩm nhập từ Trung Quốc (RFI)  —Trung Quốc tăng cường tuần tra ở vùng đảo tranh chấp trên biển Hoa Đông (RFI)  —-Trung Quốc có thể thắng được cuộc chiến tranh văn hóa? (Nguyễn hưng Quốc-VOA) Chính quyền Trung Quốc xem văn hóa như một mặt trận lớn, cả về đối nội lẫn đối ngoại    —-Trung Quốc cảnh báo một cuộc chạy đua vũ trang ở châu Á (VOA)

Tổng Giám đốc BBC sẽ từ chức (BBC)   —-Thẩm phán LHQ từ chức vụ xử Khmer Đỏ (RFA)   —-Tòa án Tội phạm Chiến tranh Kampuchia gặp khủng hoảng  (VOA)   —Manila xác nhận sẽ tăng hợp tác quân sự với Mỹ (RFI)   —-Thủy quân lục chiến Mỹ sẽ đến Úc vào tháng Tư 2012 (RFI)

Bình Nhưỡng mời Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế trở lại Bắc Triều Tiên (RFI)   —IAEA nhận được lời mời để các thanh sát viên trở lại Bắc Triều Tiên (VOA)  —-Căng thẳng gia tăng giữa chính quyền và đối lập Cuba (RFI)

Nga sẵn sàng hậu thuẫn kế hoạch của ông Annan về Syria (VOA)    —Trao đổi thương mại Nga-Mỹ bị ảnh hưởng bởi Jackson-Vanik (VOA)  —-HRW: Nga nên ngưng can thiệp các cuộc biểu tình ôn hòa (VOA)  —-Nga tìm cách đứng xa đồng minh Syria  (VOA)

Một loạt các vụ nổ bom khắp Iraq giết chết 38 người  (VOA)  —Đài Loan: tàu chìm, 6 chết, 2 mất tích  (RFA)  —-Động đất gần Acapulco, Mexico  (VOA)

XÃ HỘI

Xe bồn mất lái nghiền nát xe máy (Dantri)   —-Sau “yêu” chồng thích mò mẫm, còn vợ ưa gì? (DV)  —-”Tú bà” 22 tuổi cầm đầu đường dây bán người (DV)   —-Bán thuốc tây nhưng không biết… chữ! (TN)   —-Cưa trộm trụ sắt thi công cầu Cần Thơ (TN)   —Bắt một giám đốc vụ ẩu đả với 2 công an (VNN)

Trung úy công an “chôm” 30 triệu đồng của con bạc (NLĐ)   —Thuê người chém nhân viên kiểm tra xe buýt (NLĐ)  —-VnExpress/BM -Cá nhân nữ đại gia thủy sản nợ 100 tỷ đồng  —–Hà Nội: Lại đột nhập, phá két và lấy đi 1,7 tỷ đồng  (VN+)
http://anhbasam.files.wordpress.com/2012/03/h317.jpg?w=192&h=172

  – Về buổi thuyết trình của GS-TS Nguyễn Quang Ngọc, bữa nay xin tiếp, về chuyện có nên đưa tranh chấp HS-TS với Trung Quốc ra tòa án quốc tế hay không. Những bàn luận hầu như chỉ tập trung vào vấn đề pháp lý, nên còn có thể tung hỏa mù, dọa ngáo ộp. Trong khi đó, cái “tử huyệt” thực ra lại nằm chỗ khác, đó là chính trị. Nhiều người không nhận ra, và nhiều người quá biết nhưng muốn lờ đi, đánh lạc hướng. Mấu chốt của vấn đề chính là cả hai nước đều chung một thứ thể chế chính trị luôn muốn “Đóng cửa bảo nhau!”, tranh chấp không giống chút nào với các nước khác. Cho nên:

1- Đem nhau ra tòa quốc tế là phơi mặt cho toàn thế giới thấy rõ thêm thứ tình nghĩa “môi hở răng …cắn”, “đồng chí … chóe”. Tụi “thế lực thù địch” nó lợi dụng. Bộ mặt đẹp của “thiên đường XHCN” còn đâu?

2- Thế nhưng, trong khi một bên vẫn say sưa đặt cái gọi là “lợi ích giai cấp”, sự tồn vong của chế độ lên trên lợi ích dân tộc, thì một bên thực chất đã vứt bỏ để làm ngược lại. Bên nào có lợi thế quá dễ thấy.

3- Trong nước thì sẽ bị phơi lưng ra với dân chúng, không những mất “thiêng”, mà còn dễ bị ê chề nếu thua kiện.

4- Dân chúng thì tận dụng cơ hội này tha hồ moi bới những bí mật lâu nay được chôn giấu, tha hồ tự vũ trang cho nhau kiến thức, tinh thần để không còn mơ hồ, yếm thế như trước. Rất nguy!

5- Một khi đã tới nước muối mặt lôi nhau ra cho tụi “tư bổn giãy chết” nó mổ xẻ, thì cũng sẽ không chừa một thủ đoạn nào. Sẽ có những bí mật của nhau từng thề bồi “sống để bụng, chết mang theo” thì giờ đây phải tung hê hết hoặc chí ít thì hé lộ dần để giành lợi thế. Vụ chơi xỏ đơn phương tiết lộ Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 chỉ là khúc dạo đầu. Và còn nữa … Như vụ đột nhiên tung hê lên báo đảng Nhân dân nhật báo bài “Một người vợ Trung Quốc khác của Hồ Chí Minh” chẳng hạn. “Võ Tàu” đấy! … Lắm kẻ cứ gọi là sợ chết khiếp!

 

Trần Khải :Nhượng Quyền Biển Đông?

Tác giả : Trần KhảiVietbao

Chính phủ Phi Luật Tân đã dịu giọng với Trung Quốc về Biển Đông, và gửi lời nhắn là có thể sẽ có một thỏa hiệp để chấp nhận Trung Quốc vào vùng đảo Trường Sa nơi Phi đang tranh chủ quyền để “cùng khai thác dầu khí” với điều kiện 60% lợi tức sẽ thuộc về chính phủ Phi. Đó là một chuyển biến đáng ngại cho Việt Nam.

Hãy hình dung rằng, nếu VN chấp nhận cho TQ vào vùng biển do VN đang kiểm soát và đang tranh chấp chủ quyền với TQ để khai thác dầu, với khẩu hiệu TQ luôn luôn đưa ra là tạm gác tranh chấp để cùng khai thác kinh tế, chắc chắn sẽ là một cớ để TQ sau này ra Liên Hiệp Quốc tranh biện rằng chính VN đã chấp nhận vùng tranh chấp đó đã có sự hiện diện của TQ để khai thác kinh tế. Đó là một cớ để sẽ dằng dai hoài, cho dù có ra trước tòa quốc tế nào đi nữa.

Thêm câu hỏi nữa: nếu tạm gác tranh chấp để cùng khai  thác kinh tế, tại sao không để ngư dân VN vào đánh cá ở vùng biển Hoàng Sa, nơi nhiều thế hệ ông cha của ngư dân Việt đã đánh cá từ lâu và là nơi Hải Quân TQ tấn công Hải Quân VNCH để đánh chiếm từ  năm 1974?

Nhà bình luận Xu Tianran trên ấn bản 19-3-2012 của báo Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times) ở Bắc Kinh vui mừng gọi diễn biến hôm Chủ Nhật là “Chính phủ Manila dịu giọng về Đảo Trường Sa (TQ gọi là Nansha)”.

Tại sao Phi mời TQ vào khai thác chung ở vùng Trường Sa thuộc Phi?

Ngoại Trưởng Phi Albert del Rosario qua cuộc phỏng vấn của News5 nói rằng TQ đã có nhiều gợi ý về thăm dò chung và khai thác chung vùng đảo Trường Sa, thuộc Biển Tây Phi mà Việt Nam gọi là Biển Đông, ngay cả khi TQ nói rõ rằng vùng tranh chấp đó là thuộc chủ quyền TQ.

Hiện thời vùng Trường Sa ở Biển Đông là thuộc một phần hay toàn phần tranh chấp bởi 6 quôc gia, đó là Phi, TQ, Việt Nam, Đaì Loan, Brunei và Mã Lai và là nơi được tin là có nhiều mỏ dầu, khí và khoáng sản.

Mới đây, Bộ Năng Lượng Phi nói là sẽ cho thăm dò vùng Recto Bank (còn gọi là Bãi Cỏ Rong — Reed Bank). Năm ngoái, một tàu thăm dò do hãng Phi thuê đã bị tàu TQ chận lại ở Bãi Cỏ Rong, nơi mà TQ nói là chủ quyền TQ. Rồi mới đây, Đaì Loan loan báo phản đối thăm dò dầu ở Bãi này.

Del Rosario khẳng định rằng Bãi Recto Bank là thuộc chủ quyền Phi. Phó Chủ Tịch TQ Shin Jingping là một trong vài người nếu ý tưởng khai thác chung, và Del Rosario thú nhận rằng vẫn chưa đóng cửa về khả năng này.

Del Rosario nói, “Nếu họ muốn khai thác chung, thăm dò chung ở đó — chúng ta sẽ   đồng ý như thế, với điều kiện làm theo luật Phi.” Ông nói rằng, theo luật Phi, sẽ có 60% thương vụ của hợp tác đó là thuộc về chính phủ Phi.

Tuy nhiên, rõ ràng là Phi đã nhượng bộ như thế, sẵn sàng chia tứ-lục, vậy mà TQ vẫn chưa hài lòng.

Tờ Hoàn Cầu Thời Báo ghi lời một số học giả TQ rằng, TQ sẽ không đồng ý cho Phi chia phần lớn hơn trong hợp tác khai thác chung này.

Zhuang Guotu, người tự nhận là chuyên gia về Biển Đông và hiện là Khoa Trưởng Đại Học Nghiên Cứu Đông Nam Á tại đại học Xiamen University, nói với Hoàn Cầu Thời Báo, “TQ sẽ không chấp nhận rằng 60% mức thu là về phía Phi, vì điều kiện này lá chấp nhận chủ quyền lãnh thổ của Phi [trên Bãi Cỏ Rong].”

Zhuang cũng ghi nhận, dù vậy, như thế là Phi cũng dịu giọng rồi. Đồng thời, Zhuang hù dọa, rằng tuy TQ cam kết không giải quyết chủ quyền Trường Sa bằng vũ lực, nhưng “TQ  sẽ bảo vệ quyền lợi TQ bằng cách củng cố hoạt động tuần hải và thực thi luật hàng hải.”

Lời đó hẳn nhiên là nặng kí, vì năm ngoáí đã có chuyện xảy ra: hồi tháng 3-2011, một nhóm tàu hải giám Trung Quốc đã tới xua đuổi tàu thăm dò dầu do Phi đưa tới Bãi Cỏ Rong tại Trường Sa.

Có nghĩa là, muốn khai thác dầu  Biển Đông là sẽ bị TQ quấy rối hoài.

Một điểm cần chú ý cũng hôm Chủ Nhật 18-3-2012, báo Business Mirror của Phi Luật Tân ghi lời chuyên gia về chính trị Đông Nam Á Carlyle Thayer, giáo sư đạị học ở University of New South Wales và Học Viện Quốc Phòng Úc Châu, thúc giục chính phủ Phi Luật Tân và chính phủ CSVN phải  có những bước củng cố “chủ quyền quốc gia” về các khu đặc quyền kinh tế ở Biển Đông.

Trong bài viết nhan đề “Security Cooperation in the South China Sea: An Assessment of Recent Trends” (Hợp Tác An Ninh ở Biển Đông: Lượng Định Các Khuynh Hướng Gần Đây), GS  Thayer nói rằng sự mềm yếu của Manila sẽ chỉ mời gọi Bắc Kinh “hành động hung hăng thêm.”

Ông cũng thúc giục ASEAN và cộng đồng quốc tế, những nước có tàu hàng đi xuyên qua Biển Đông, hãy chạm trán về mặt ngoại giao với TQ về hành vi “hung hăng giành biển.”

Bản đồ chín khúc, hay bản đồ lưỡi bò hình chữ U mà TQ vẽ lấy chủ quyền ở Biển Đông đã lẹm vào nhiều đảo của Việt Nam và Phi. Do vậy, Thayer gọi đó là phi lý, khi việc thăm dò dầu của taù Phi  ở Bãi Cỏ Rong và khu vực khác ở nhóm đảo KIG, và ngay cả khi VN thăm dò dầu trong vùng biển VN cũng bị TQ xem là hành vi “cướp bóc tàì nguyên” và là một  thách thức với hiện hữu của TQ.

Soong Enlai, chủ tịch hội đồng quản trị của hãng dầu quốc doanh TQ China National Offshore Oil Corp. (CNOOC), trước đó đã nói rằng đất nước TQ mất khoảng 20 triệu tấn dầu hàng năm, tức là khoảng 40% tổng sản lượng dầu khai thác hải ngoại của TQ, chỉ vì các hành vi như thế ở Biển Đông (do Phi và VN khai thác dầu).

Thayer nhắc rằng, hồi tháng 3 năm ngoái, Ngoạị Trưởng TQ Yang Jiechi tuyên bố rằng chính sách ngoiạ giao TQ sẽ phục vụ cho phát triển kinh tế TQ. Tuyên bố này ngay lập tức theo sau là một lời cảnh cáo đối với bất kỳ việc thăm dò nào trong các vùng biển mà TQ đã khoanh bản đồ ở Biển Đông, đồng thời tăng cường tuần hải và tuyển mộ thêm 1,000 thủy thủ cho lực lượng hải giám TQ để nâng quân số này lên 10,000 người.

Nhìn các diễn biến mấy năm qua, chúng ta đã thấy Việt Nam thực tế đã dịu giọng từ trước khi Phi Luật Tân dịu giọng. Những cuộc biểu tình đòi chủ quyền Biển Đông ở Sài Gòn và Hà Nội đã bị vùi dập tệ hại, trong đó chị Bùi Minh Hằng đã bị đẩy vào trại cải huấn lấy cớ là gây rối loạn đường phố.

Không chỉ chuyện của năm ngoáí. Thực ra, cuộc biểu tình đầu tiên đòi chủ quyền Biển Đông là cuối năm 2007, do anh Điếu Cày và Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do  tổ chức ngay giữa Sài Gòn sau khi TQ tuyên bố lập huyện Tam Sa để quản lý cả Hoàng Sa và Trường Sa của VN. Bây giờ anh Điếu Cày vẫn còn bị giam, bất kể là án tù đã mãn từ lâu.

Chính phủ Hà Nội đã dịu giọng từ lâu. Bây giờ chính phủ Phi cũng dịu giọng. Có vẻ như, Biển Đông sắp bị bán cho TQ, không kiểu này thì cũng kiểu khác.

Riêng với VN, chắc chắn TQ không chỉ  đòi Biển Đông, mà  đã và đang dùng nhiều cách để hiện diện ở các vùng khác và lĩnh vực tại VN, từ rừng đầu nguồn cho tới mỏ bauxite, từ phim Lý Thái Tổ cho tới đòi hỏi dạy tiếng Hoa cho trẻ em VN 4 tiết/tuần.

Không lẽ, tới thời nhà Hồ là VN bị xóa sổ hay sao? Có cơ may nào khác hơn không? Đành chờ vậy.

 

2 tàu cá, 21 ngư dân bị Trung Quốc bắt giữ

 

ĂN THẾ NÀY, HỌC THẾ NÀO?..

Maithanhhai

Xuân Đông – Đến Thượng Tân (Bắc Mê, Hà Giang) vào giữa trưa.Ngó xuống Khu Nội trú phía sau dãy phòng học, thấy lố nhố trẻ con đang bưng mỗi đứa một cái âu nhựa ăn cơm. Mình đi thẳng vào xem chúng nó uống thế nào.

Nhìn cơm các con đang ăn mà mình chụp ảnh mãi không được, tay cứ run run vì xúc động nên máy toàn bị rung. Cơm nước thế này thì nuốt thế nào được, hả giời?..

Mỗi đứa ôm một cái âu đựng cơm chan nước canh. Tản mát: Chỗ này thì túm tụm chục đứa con trai, vừa nhai trệu trạo vừa nói chuyện lầm rầm; chỗ kia thì cắm cúi vài ba đứa con gái, ngồi im lặng ăn một cách uể oải; lại có đứa đứng ăn một mình, trong xó bếp tối tăm…

Nhìn vào âu cơm thấy gì đây?.

Cơm thì vón cục vón hòn, lõng bõng cái gọi là nước canh- Một thứ canh gọi là “canh khoai”, nhưng nhìn toét mắt chả thấy khoai đâu!. Thức ăn mặn thì chả có.

Ăn uống thế này, để tồn tại còn khó, nói gì đến học hành?..

Mình mau chóng chụp vài shot hình xong liền đi ra ngoài. Cố gắng tránh không làm chúng nó mất tự nhiên, để miếng cơm nhạt trôi xuống cái dạ dày rỗng được trơn tru.

Vừa uể oải ăn, vừa lầm rầm trò chuyện. Thấy khách đến, chúng ngượng ngùng giấu mặt.

Nhóm con trai tụ tập ăn trong im lặng, cái chậu bên dưới chân chúng nó dùng để đựng canh “khoai”.

Nhóm ăn trong bếp, thỉnh thoảng nói với nhau vài câu thổ ngữ rời rạc, những chậu canh sẵn khói, thừa nước nhưng trong veo. Nhìn đố biết là canh gì, nếu không có ai “bật mí”…

Mỗi đứa một góc ăn cho xong bữa

Nhiều đứa gần như bỏ lại nguyên âu cơm

Những ánh mắt hân hoan khi sắp được nhận quà.

Bữa ăn chúng nó là vậy, thế mà vẫn có người nói chúng nó chưa đến nỗi khổ!. Đéo hiểu cái chuẩn khổ, nó phải như thế nào nữa, hả người?..

 

-“Bom” nước khổng lồ chờ nổ: Lời cảnh Báo của Nhà Văn Võ Thị Hảo đã bắt đầu ứng nghiệm.

20/03/2012

http://chauxuannguyen.files.wordpress.com/2012/03/20120320100915_st-2.jpg?w=150&h=112  -Lê Tùng Châu tổng hợp từ VNE và Tuổi Trẻ 17/3/2012

LTC: Còn nhớ năm 2010, nhà văn Võ Thị Hảo đã viết bài “Miền Trung ơi! Người đã bị thí mạng?!” trong đó nêu lên lời cảnh báo nguy cơ treo bom nước trên đầu dân đồng bằng. Vì đâu? xin trích:

MARCH 19, 2012

 

Cục trưởng Cục đê điều và phòng chống lụt bão Nguyễn Xuân Diệu công bố: tổng lượng mưa năm 2009 nhỏ hơn tổng lượng mưa năm 1999 tại miềm Trung nhưng đỉnh lũ năm 09 lại vượt đỉnh lũ năm 99 tới cả 1,5 m.
Ngày 24/11/2009, một đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Yên cho biết, thực tế lũ năm 2007 cho thấy, chỉ một trận mưa 330 mm tại tỉnh này, mà thiệt hại lớn hơn mức lũ “lịch sử” năm 1991 với lượng mưa 1.300 mm, bởi vì nhà máy thủy điện Sông Ba hạ ở đây đã xả lũ hết công suất với vận tốc 11.400 m3/s!
Sau trận lũ lụt thảm khốc tại miền Trung hồi tháng 11/2009, nhiều đại biểu Quốc hội đã chất vấn chính phủ về nguyên nhân lũ lụt miền Trung. Một số nhà chuyên môn có uy tín đã phát hiện là “do yếu tố con người” – do những nhà máy thuỷ điện vì lợi ích cục bộ của mình, không thực hiện quy trình đã cam kết về vận hành hồ chứa phòng lũ, cứ tích đầy nước để chạy máy phát điện tối đa, đến lúc mưa lớn tràn về, liền mở cửa xã lũ ào ạt để bảo vệ đập và nhà máy, bất kể hậu quả cho dân vùng hạ lưu.
Về cơ bản, ngành thủy điện và thủy lợi cam kết khi xây dựng rằng các hồ chứa có thể chống hạn và cắt lũ, nhưng trên thực tế khảo sát đã được công bố từ cơ quan chức năng thì việc vận hành hệ thống hồ xả lũ ở đây là tùy tiện, không hề có một “nhạc trưởng”…

Mời bạn đọc lại bài viết của Nhà Văn Võ Thị Hảo và những nguy cơ từ lời báo trước ấy đã bắt đầu xuất hiện dưới đây…

Nhiều ngày qua, hàng nghìn người dân vùng hạ lưu công trình thủy điện Sông Tranh 2 ở huyện Bắc Trà My (Quảng Nam) lo lắng vì phát hiện nhiều vết nứt, rò rỉ nước ở thân đập chính của công trình này. Ngoài vết nứt toác lún sâu bên trái gần đập chính, chính quyền địa phương cùng người dân ở huyện Bắc Trà My phát hiện nhiều vết nứt, rò rỉ nước từ lòng hồ xuyên qua thân đập chính công trình thủy điện sông Tranh 2.

Thủy điện Sông Tranh 2 có tổng mức đầu tư 5.194 tỷ đồng, xây dựng từ tháng 3/2006 gồm hai tổ máy (tổng cộng 190MW), dự kiến khánh thành trong năm 2012 này.
Cuối năm 2010 cả hai tổ máy này đều chính thức phát điện. Dung tích hồ chứa nước của thủy điện Sông Tranh 2 thuộc hàng lớn nhất miền Trung, vị trí bờ đập chính nằm sát tỉnh lộ 616 là hồ chứa nước thuộc 2 xã Trà Tân và Trà Đốc với khoảng 730 triệu mét khối nước, cao hơn vùng hạ lưu khoảng 100 m.

Những phản hồi mâu thuẫn

Từ EVN

Trần tình về vết nứt thủy điện Sông Tranh 2, Ban Quản lý Dự án Thủy điện 3 (thuộc EVN) có công văn thông báo khẩn giải thích về hiện tượng “có dòng nước chảy ra phía hạ lưu đập dâng, tràn” ở Công trình Thủy điện sông Tranh 2, đã khẳng định, dòng thấm chảy ra phía hạ lưu đập và toàn bộ lưu lượng thấm qua là khoảng 30 lít một giây nên không ảnh hưởng đến an toàn, ổn định của công trình.

“…Tổng lượng thấm của đập đã được Hội đồng nghiệm thu Nhà nước các công trình xây dựng, Hội đồng nghiệm thu cấp Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Hội đồng nghiệm thu cơ cở, cơ quan thiết kế đánh giá là đạt yêu cầu kỹ thuật, đảm bảo chất lượng công trình.

Ban quản lý cho rằng, hiện tượng nước chảy ra ở 3 vị trí hạ lưu đập là các vị trí khe nhiệt chứ không phải khe nứt. 30 khe nhiệt được thiết kế bố trí và thi công đều trên toàn tuyến đập. Mục đích bố trí các khe nhiệt này là nhằm triệt tiêu ứng suất nhiệt gây nứt bê tông trong quá trình thi công và vận hành công trình. Các khe nhiệt này xuyên suốt từ phía thượng lưu về hạ lưu.
Đơn vị thi công là Tổng công ty xây dựng Thủy lợi 4- CTCP và Ban Quản lý Dự án Thủy điện 3 đã và đang tiếp tục xử lý thấm của đập để làm giảm tổng lượng thấm nêu trên để chất lượng công trình tốt hơn. Ban quản lý dự án khẳng định vấn đề kỹ thuật này hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến an toàn ổn định của dự án.

Từ “Viện Vật lý Địa Cầu”

Giáo sư Cao Đình Triều cho rằng thân đập chính của công trình thủy điện Sông Tranh 2 (Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam) xuất hiện đến 4 điểm nứt, rò rỉ nước từ lòng hồ xuyên qua đập là đáng lo ngại. Các cơ quan chuyên môn cùng đơn vị chủ đầu tư cần khẩn cấp vào cuộc kiểm tra các vết nứt, rò rỉ này để tránh gây thảm họa cho vùng hạ lưu.

Giáo sư Triều nhận định, thân đập thủy điện Sông Tranh 2 nằm trên đới đứt gãy đang hoạt động mạnh nên gây ra những vết nứt, rò rỉ. Do vậy, trước mắt, các cơ quan chuyên môn cần sớm thăm dò, đo đạc mức độ nguy hiểm của vết nứt để có giải pháp xử lý kịp thời, phù hợp.

“Nếu để lâu ngày, vết nứt lan rộng, thân đập bị đứt gãy thì hàng trăm triệu mét khối treo ở độ cao 100 mét so với vùng hạ lưu ào xuống thì hiểm họa thật khó lường”

Khu vực lòng hồ thủy điện Sông Tranh 2 chứa khoảng 730 triệu mét khối nước nằm ở độ cao 100 mét so với vùng hạ lưu. Nếu sự cố xảy ra, vùng lòng hồ có nguy cơ trở thành thác nước khổng lồ gây thảm họa cho khu vực dân cư vùng hạ lưu bên dưới. Ảnh: Trí Tín.

 

Phản đối từ Bắc Trà My

Hiện 4 điểm nứt ở phần thân trái đập rò nước khá mạnh từ khu vực lòng hồ chảy thấm qua thân đập tuôn xuống hệt như khe suối.

Theo ông Trần Văn Hải, Trưởng Ban quản lý dự án thủy điện Sông Tranh 2, những vết nứt trên đều ở vị trí các khe nhiệt của khối bêtông bờ đập. Ông Hải cho rằng, hiện tượng thấm nước qua khe nhiệt bị nứt nằm trong tầm kiểm soát, rò thấm nước với cường độ 30 lít một giây xuất hiện từ tháng 11/2011 trong phạm vi yêu cầu thiết kế, không thể gây nguy hiểm gì.

Còn ông Nguyễn Kim Sơn, Phó Bí thư thường trực Huyện ủy Bắc Trà My phản đối, vào chiều 19/3/2012: “Lãnh đạo Ban quản lý thủy điện Sông Tranh 2 bảo rằng vết nứt trong mức cho phép thiết kế, không gây nguy hiểm gì là vô lý. Nước từ khu vực lòng hồ rò rỉ qua thân đập bê tông cốt thép tuôn chảy mạnh như dòng suối mà nói bình thường thì thật đáng ngờ. Tôi đã điện thoại yêu cầu Ban quản lý báo cáo bằng văn bản, thế nhưng đến chiều nay vẫn chưa thấy trả lời”.

Thân đập chính công trình thủy điện Sông Tranh 2, nơi xuất hiện 4 vết nứt, rò rỉ nước. Ảnh: Trí Tín.

“Nếu trong vòng hai ngày tới, Ban quản lý công trình thủy điện Sông Tranh 2 không báo cáo về việc đập bị rò rỉ và giải pháp khắc phục, chính quyền huyện sẽ báo cáo tỉnh can thiệp”, ông Phó Bí thư thường trực huyện ủy Bắc Trà My nhấn mạnh.

Video Clip của Tuổi Trẻ: “Bom” nước khổng lồ chờ nổ
http://tv.tuoitre.vn/js/player/player.swf
Giữa năm ngoái, lòng đất Bắc Trà My phát ra nhiều tiếng nổ bất thường làm rung chuyển nhà cửa đồ đạc khiến người dân lo lắng. Tháng 12/2011, Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam kết luận nguyên nhân tiếng nổ trong lòng đất là động đất kích thích do hoạt động hồ chứa tích nước công trình thủy điện Sông Tranh 2. Các chuyên gia cũng đã đề xuất Bộ Khoa học công nghệ giúp địa phương này lắp đặt trạm quan trắc động đất phòng ngừa nguy hiểm cho người dân, thế nhưng đến nay vẫn chưa có sự hỗ trợ nào.

Từ sau tết Nhâm Thìn đến nay, lòng đất ở vùng hạ lưu công trình thủy điện sông Tranh 2 vẫn còn xuất hiện những đợt dư chấn gây rung chuyển mặt đất nhưng nhẹ hơn so với trước.

 

Kiêu binh thời Đảng trị

http://phamtayson.files.wordpress.com/2012/03/ca-298-danlambao.jpg?w=447&h=133
 
Phạm Đình Trọng – Ngày nay đất nước hòa bình, yên hàn mà bộ máy công cụ công an phình ra khổng lồ! Tướng công an lên tới hàng trăm, nhiều như vịt đàn thả đồng! Giám đốc công an một tỉnh heo hút, nghèo xơ xác cũng là một ông tướng!… Đó là sự phát triển của nỗi đe dọa, căng thẳng, của cuộc sống không bình yên, sự phát triển của nhà nước “mang bục công an đặt giữa tim người”! …

Vì sao người dân bị bắt vào trụ sở công an lại chết nhanh, chết nhiều như vậy? Xin hãy xem ứng xử của công an với người dân để thấy rằng: Được coi là thần bảo hộ của đảng, là công cụ bảo vệ đảng, bảo đảm sự tồn tại áp đặt của đảng, được đảng o bế, dung túng, lực lượng công an đã trở thành kiêu binh hung hãn, côn đồ như thế nào, đã coi thường nhân phẩm, mạng sống của người dân như thế nào!… 
*
Lịch sử Việt Nam đã từng ghi nhận, cuối thế kỉ XVIII, thời Lê mạt, triều chính thối nát. Trịnh Kiểm với danh nghĩa cứu nước phò vua, bảo vệ ngôi báu nhà Lê, đã tạo nên thế lực chính trị độc quyền họ Trịnh, trở thành Chúa Trịnh bên cạnh Vua Lê! Là bộ tham mưu của Vua Lê nhưng quyền lực Chúa Trịnh lấn át Vua Lê, trùm lên Vua Lê! Quyền bính trong triều, Chúa Trịnh nắm cả, Vua Lê chỉ là bù nhìn. Một triều đình, hai bộ máy! Bên cạnh cung Vua thâm nghiêm nhưng im lìm vắng lặng là phủ Chúa nguy nga, lớp lớp lính canh, rầm rập quan quân lui tới! Bộ máy thực quyền Chúa Trịnh giật dây, chỉ huy bộ máy hình thức của Vua Lê! Mọi việc Vua Lê phải hỏi Chúa Trịnh! Vua muốn đề bạt ai, Chúa quyết, Vua mới được ban sắc phong! Hai bộ máy cồng kềnh, xa hoa và sa đọa cưỡi trên lưng, đè trên đầu dân đen nghèo đói! Coi thường Vua, quan lại ở phủ Chúa lộng hành, không coi kỉ cương phép nước của Vua ra gì, mặc sức cướp bóc, bóp nặn dân và sống xa xỉ, hoang tàn vô độ! Dân đói khổ, bất bình! Giặc giã nổi lên khắp nơi!
Để trấn áp sự chống đối của dân ở kinh đô, bảo vệ phủ Chúa, duy trì thể chế ngang trái Vua Lê – Chúa Trịnh mà thực chất là thể chế độc tài Chúa trị, Chúa Trịnh lấy tiền thuế của dân nuôi dưỡng đội quân cấm vệ đông đúc. Là công cụ trấn áp dân, bảo vệ nghiệp Chúa, quân cấm vệ được ban nhiều bổng lộc, được phong cấp binh cao chót vót cho hàng loạt kẻ thân tín, được nuông chiều trở thành đám kiêu binh, mặc sức cướp của, giết người, hãm hiếp đàn bà con gái! Đám kiêu binh coi dân đen như cỏ rác, coi mạng sống của người dân chỉ như mạng ruồi, mạng muỗi!
Ba thế kỉ đã trôi qua! Ba thế kỉ liên tiếp những cuộc cách mạng xã hội và dồn dập, ào ạt những cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, đưa xã hội loài người bước những bước dài đến văn minh. Ngày nay loài người đã bước vào nền văn minh tin học, rôbốt làm thay con người trong nhiều việc chân tay và internet thay con người trong nhiều việc quản lí. Với nền văn minh tin học, ở các nước dân chủ văn minh, bộ máy nhà nước đều rất gọn nhẹ, thực sự là bộ máy phục vụ dân, gần dân, thân thiện với dân. Tưởng rằng thể chế đã tạo ra hai thảm họa cho người dân: một nhà nước, hai bộ máy quản lí khổng lồ đè lên nhau rồi cùng đè xuống đầu dân đen và đám hung thần kiêu binh coi mạng người dân như cỏ rác đã vĩnh viễn chôn vùi trong quá vãng cùng chế độ phong kiến thối nát! Nhưng không ngờ những người thực thi chủ nghĩa cộng sản thủ tiêu nhà nước của ông Mác ông Lê nin lại khôi phục đầy đủ hai thảm họa của thời ngang trái, rối ren, đau khổ và nhục nhã của lịch sử Việt Nam, thời Vua Lê Chúa Trịnh! Cũng một nhà nước hai bộ máy công quyền quan liêu khổng lồ ngự trị trên đầu dân đen! Cũng nảy nòi thứ hung thần kiêu binh thản nhiên giết dân lành vô tội như giết kiến và nhơn nhơn vô can đứng trên pháp luật!
Thời Vua Lê Chúa Trịnh, thời độc tài Chúa trị, một nhà nước hai bộ máy chỉ có ở trung ương, lầu Chúa bên cạnh cung Vua chỉ có ở kinh đô! Đám hung thần kiêu binh chỉ có ở kinh kì! Thời đảng trị ngày nay, hai bộ máy lạnh lùng, quan liêu, nặng nề thiết lập đến tận phường xã, thôn ấp, tổ dân phố. Bên cạnh trụ sở Ủy ban Nhân dân bề thế là trụ sở đảng ủy nghênh ngang, ngạo nghễ! Và khủng khiếp hơn là những hung thần kiêu binh đông đúc cũng nghênh ngang ngạo nghễ ở mọi hang cùng ngõ hẻm!
Thật mỉa mai khi dân chúng đang xôn xao ngơ ngác, đang băn khoăn lo lắng trước tin hội trường Ba Đình, nơi diễn ra hội nghị Diên Hồng thời kháng chiến chống Mĩ sẽ bị đập phá để xây nhà Quốc hội, khi Quốc hội vừa đưa ra bàn có nên phá một di tích linh thiêng như hội trường Ba Đình thì có ý kiến lạnh lùng phán: Việc phá bỏ hội trường Ba Đình, Bộ Chính trị của đảng đã quyết rồi! Thế là Quốc hội khỏi bàn, chỉ còn bỏ phiếu cho đủ thủ tục lựa chọn phá hay không phá! Bỏ phiếu thủ tục vì việc lựa chọn, đảng cũng đã chọn cho rồi, các đại biểu Quốc hội cũng chẳng cần đắn đo lựa chọn! Gần trăm phần trăm đại biểu Quốc hội là đảng viên phải chấp hành nghị quyết của đảng nên gần trăm phần trăm phiếu tán thành phá bỏ một công trình kiến trúc rất tiêu biểu, rất đặc trưng của một thời lịch sử, phá bỏ một chứng tích hiên ngang của một thời lịch sử hào hùng! Bến Bình Than, nơi có mái nhà tranh dân dã để các bô lão cả nước họp hội nghị Diên Hồng hạ quyết tâm kháng chiến dẫn đến thắng lợi trong ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông. Mái nhà tranh Diên Hồng đã bị thời gian hủy hoại, nay chỉ còn cái tên Diên Hồng! Hội trường Ba Đình xây bằng vật liệu và qui trình công nghệ hiện đại, xi măng mác cao, bê tông cốt thép có thể thách đố sự tàn phá của thời gian hàng trăm năm nhưng đã bị nghị quyết của Bộ Chính trị với hơn chục người phá trong thoáng chốc! Hội trường Ba Đình lịch sử nay cũng chỉ còn cái tên Ba Đình! Lòng dân trống rỗng và lịch sử hoang vắng!
Đến vụ cho người nước ngoài vào Đắc Nông đào bới bô xít mới càng cám cảnh cho thân phận nhà nước đảng trị! Đất nước đang hối hả công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà điện thiếu, công nghệ hiện đại càng thiếu! Đất nước cần điện, cần kĩ thuật công nghệ hiện đại chứ không cần nhôm! Có trữ lượng lớn quặng bô xít đấy nhưng chế biến từ bô xít ra nhôm tốn quá nhiều điện, giá nhôm ở thị trường thế giới lại rẻ, có nhôm xuất cũng chẳng mang lại lời lãi cho nền kinh tế! Từ lúc các nước xã hội chủ nghĩa còn là một hệ thống rộng lớn, hùng hậu trên thế giới, Việt Nam là thành viên của khối Tương trợ Kinh tế Xã hội Chủ nghĩa COMECOM. COMECOM đang cần nhôm và các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế COMECOM đã đến tận mảnh đất bô xit Đắc Nông, Lâm Đồng, Việt Nam giải bài toán kinh tế khai thác bô xít đã đi đến đáp án: Hiệu quả kinh tế là con số âm! Bốn kì đại hội đảng qua đi, gần hai mươi năm sau, ông Tổng bí thư vừa được bầu không biết đến bài toán kinh tế khai thác bô xít đó, lại bị đảng của nước lớn lừa mị nên ông đã hồn nhiên, ngây thơ liên tiếp kí với nước lớn, hết tuyên bố chung: Nhất trí thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trong dự án bô xít nhôm Đắc Nông! Lại thông báo chung: Khẩn trương bàn bạc và thực hiện các dự án lớn như bô xít Đắc Nông! Thế là người nước lớn ồ ạt kéo đến Đắc Nông. Người dân Việt Nam ở Tân Rai, Đắc Nông phải tức tưởi rời khỏi nhà cửa, đất đai, mồ mả tổ tiên để người nước lớn san bằng nhà cửa, san bằng những ngôi nhà mồ linh thiêng, san bằng những cánh rừng đại ngàn thâm nghiêm, san bằng những vườn cao su, cà phê đang thu hoạch, rồi giăng hàng rào, cắm biển ghi chữ nước lớn: Cấm người Việt Nam! Đau quá! Nhục quá! Nguy quá!
Dư luận sửng sốt, lo lắng thì ông Thủ tướng Chính phủ đồng thời là nhân vật lãnh đạo chủ chốt hàng thứ hai trong đảng liền lớn tiếng mang đảng ra trấn áp dư luận: Khai thác bô xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng! Đến lúc đó việc cho nước ngoài vào khai thác bô xít ở Tây Nguyên mới được đưa ra Quốc hội bàn chiếu lệ vì Quốc hội vừa bàn, ông Chủ tịch Quốc hội lại là nhân vật lãnh đạo chủ chốt hàng thứ ba trong đảng liền dẹp mọi ý kiến bằng câu nói xưng xưng áp đặt: Dự án khai thác bô xít Tây Nguyên đã được sự đồng thuận của xã hội! Thế là khỏi bàn! Thế là dự án khai thác bô xít của đất nước ta đang được người nước ngoài hối hả thực hiện, đang là gánh nặng của nền kinh tế đất nước, đang là hiểm họa hủy diệt tận gốc rễ nền văn hóa dân tộc Tây Nguyên, đang là tai họa tàn phá môi trường xanh của Tây Nguyên, đầu độc nguồn nước sinh sống của cả Trung và Nam Bộ, đang là mối nguy hiển hiện trước mắt: địa thế chiến lược Tây Nguyên đã trở thành lãnh địa của nước lớn, là thế đứng, là nơi tập kết lực lượng để họ thực hiện tham vọng bành trướng thôn tính Việt Nam!
Chỉ nêu hai việc cũng đủ nhận ra trang sử buồn một nhà nước gồng mình gánh hai bộ máy công quyền nặng nề mang đầy đủ bản chất phong kiến thời Vua Lê – Chúa Trịnh đang sống lại ở xã hội nước ta giữa thời văn minh tin học hôm nay! Bộ máy công quyền phong kiến nào cũng mang căn bệnh mãn tính di truyền là quan liêu, lạm quyền, xa dân! Một bộ máy quan liêu, lạm quyền, dân đã điêu linh, khốn khổ! Hai bộ máy quan liêu, lạm quyền, cồng kềnh chồng lên nhau càng xa dân, càng đè nặng xuống đầu dân! Đồng tiền thuế của dân càng bị chia nhỏ, phần còn lại chăm lo phúc lợi cho dân càng còm cõi, hẩm hiu! Vì thế mà tình cảnh trong các bệnh viện ba, bốn người bệnh chen chúc, rên rỉ trên một chiếc giường đơn cứ kéo dài suốt mấy chục năm nay! Vì thế mà học trò đi học từ lớp một đã phải nộp đủ các khoản tiền đóng góp! Vì thế mà lương giáo viên quá thấp và giáo viên phải mang lương tâm, mang phẩm giá người thầy ra bán cho chính học trò của mình! Học trò muốn học tốt phải đến lớp học thêm của thầy! Học trò từ lớp một đã phải tối mắt tối mũi cắm đầu học thêm! Tuổi thơ, tuổi thần tiên của lớp lớp con trẻ bị những lớp học thêm cướp mất! Dã man quá! Vô nhân đạo quá! Người thầy như thế, làm sao đạo đức nhà trường không băng hoại! Nhà trường giáo dục, hình thành lên nhân cách con người! Đạo đức nhà trường băng hoại, tất đạo đức xã hội cũng băng hoại!
Độc đoán đảng trị, đến Quốc hội, Chính phủ, đảng cũng chỉ coi là cơ quan thừa hành, là tay chân, là công cụ của đảng thì nhân dân, đám đông quần chúng nào có nghĩa lí gì! Học thuyết Mác – Lê nin và chủ nghĩa xã hội của học thuyết đó, đã được thực tế chứng minh là sai lầm, là thảm họa của loài người, đã bị lịch sử lên án và vất bỏ! Nhiều trí thức Việt Nam đã dũng cảm, thẳng thắn lên tiếng chỉ ra những sai trái, tệ hại của mớ lí thuyết ảo tưởng Mác – Lê, của chủ nghĩa xã hội tồn tại bằng chuyên chính vô sản mất tính người! Nhưng những người nắm quyền lực trong đảng vì đặc quyền đặc lợi ích kỉ của họ, họ vẫn “kiên trì” học thuyết Mác – Lê ảo tưởng, vẫn “kiên trì” trong ngõ cụt chủ nghĩa xã hội, họ đã đưa đảng vào thế hoàn toàn đối lập với nhân dân, hoàn toàn đối lập với dân tộc!
Trong thế đối lập đó, để duy trì đảng thực chất chỉ để duy trì đặc quyền, đặc lợi ích kỉ của nhóm người nắm quyền trong đảng, lại như thời Vua Lê – Chúa Trịnh, họ lại lấy tiền thuế của dân nuôi dưỡng, biệt đãi, vỗ về, nuông chiều bộ máy công cụ công an khổng lồ để trấn áp nhân dân, để thẳng tay bóp chết những tiếng nói dũng cảm, trung thực, thẳng thắn bộc lộ chính kiến khác biệt!
Thời chiến tranh thù trong, giặc ngoài vô cùng nguy nan! Ở miền Nam có mặt hơn nửa triệu quân nước ngoài! Ở miền Bắc, gián điệp, biệt kích len lỏi hoạt động khắp nơi, cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt, dai dẳng diễn ra trên mọi lĩnh vực nhưng lực lượng công an rất ít ỏi, hoạt động lặng lẽ, được nhân dân ủng hộ nên đầy hiệu quả! Sắc áo công an thưa vắng hòa trong dân, không nhan nhản, xấc xược, hung hãn, là nỗi ám ảnh nặng nề, nỗi đe dọa bất an đối với người dân như hôm nay! Giám đốc công an tỉnh, thành phố chỉ là trung tá, thượng tá! Giám đốc công an Hà Nội đông dân và phức tạp nhất nước cũng chỉ đại tá! Toàn bộ lực lượng công an chỉ có hai thiếu tướng là thiếu tướng Tùng, cục trưởng cục cảnh sát và thiếu tướng Phạm Kiệt, tư lệnh công an nhân dân vũ trang và chưa đến mười người không mang hàm tướng mà hưởng lương tướng! Ngày ấy, lực lượng công an vũ trang có vị tư lệnh là thiếu tướng Phạm Kiệt nhiều công lao và đức độ, đã từng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Ba Tơ, lính của ông, những chiến sĩ công an vũ trang lặn lội nơi biên giới biển đảo có câu nói vui về quân, tướng của họ là: quân nghèo, tướng kiệt!
Ngày nay đất nước hòa bình, yên hàn mà bộ máy công cụ công an phình ra khổng lồ! Tướng công an lên tới hàng trăm, nhiều như vịt đàn thả đồng! Giám đốc công an một tỉnh heo hút, nghèo xơ xác cũng là một ông tướng! Tướng tá công an nhiều là thể hiện sự phát triển của đất nước ư? Đất nước phát triển phải thể hiện ở kinh tế, ở văn hóa, thể hiện ở cuộc sống dân chủ, văn minh. Tướng tá công an nhiều chỉ thể hiện sự phát triển từ nhà nước dân sự thời chiến tranh sang nhà nước cảnh sát thời hòa bình! Đó là sự phát triển của nỗi đe dọa, căng thẳng, của cuộc sống không bình yên, sự phát triển của nhà nước “mang bục công an đặt giữa tim người”!
Ngân sách nghèo của đất nước đã phải nuôi bộ máy đảng cồng kềnh, nhiều đặc lợi, nhiều chế độ đãi ngộ cao! Ủy viên trung ương đảng phải đi ô tô có giá trị hơn một tỉ đồng! Số tiền mua ô tô cho Ủy viên Bộ Chính trị còn bộn hơn nữa! Nay đảng lại biến lực lượng giữ gìn an ninh cuộc sống thành đội cận vệ con cưng của đảng với đội quân đông đúc, cấp hàm lớn, lương cao, với trang thiết bị tối tân đắt đỏ! Bộ máy của đảng thiết lập tới tận thôn xóm nên lực lượng công an cận vệ của đảng cũng giăng tới tận thôn xóm, giám sát từng gia đình, từng người dân! Lực lượng công an cận vệ của đảng đông đến nỗi chỉ một tiếng nói khác biệt với đảng, một tiếng nói đòi dân chủ cất lên lập tức có ngay một tốp công an kéo đến lập chốt gác đằng trước, đằng sau nhà! Quanh nhà người có chính kiến khác biệt đó, lúc nào cũng có ba, bốn công an gác chặn suốt ngày đêm trong thời gian dài! Một phụ nữ mảnh mai như luật sư Lê Thị Công Nhân cũng chỉ vì có chính kiến khác biệt mà bị tù tội, bị quản thúc, chị vừa đến nhà hàng liền bị hàng chục công an xô đẩy làm cho ngã lăn trên cầu thang xuống đất rồi bị khiêng ném lên thùng xe chở về trụ sở công an như chở heo! Đồng tiền thuế mồ hôi nước mắt của dân được dùng để nuôi những người kìm kẹp dân như vậy đó! Ngân sách nghèo của đất nước lại phải cắt xén thêm phần phúc lợi xã hội còm cõi để có tiền nuôi đội cận vệ khổng lồ con cưng của đảng, những kiêu binh kinh hoàng với dân!
Một lực lượng vũ trang được trang bị công cụ bắt bớ, tra khảo, giết người: Còng sắt, dùi cui, roi điện, súng ngắn, súng dài, được ưu ái, nuông chiều, được ban phát ân sủng, được dung túng bao che cho những việc làm chà đạp lên pháp luật lại với nhận thức méo mó, sai lạc: Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình! đã thực sự trở thành thứ kiêu binh có mặt ở khắp thôn cùng ngõ hẻm, giáng tai ương xuống dân lành, mang chết chóc đến cho bao người dân lương thiện! Những kiêu binh đó ra uy bắt bớ, tra tấn, giết hại dân lành đã trở thành chuyện thường ngày.
Ngày 14.7.2009, chỉ vì đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, anh Phạm Ngọc Đến, 29 tuổi bị cảnh sát giao thông Gia Lai truy đuổi dẫn đến cái chết thảm thương. Hàng ngàn người dân Gia Lai kéo đến công an biểu lộ thái độ bất bình trước hành xử thiếu tính người của công an. Không phục thiện, vẫn hung hãn kiêu binh, công an Gia Lai đã bắt 75 người dân tống giam! Hôm sau, trong số người bị bắt, anh thanh niên trẻ khỏe Trần Minh Sỹ, 23 tuổi, chết âm thầm trong nhà giam công an Gia Lai!
Ngày 21.11.2009, anh Nguyễn Mạnh Hùng, 33 tuổi, chết trong trại tạm giam công an quận Hà Đông, Hà Nội!
Ngày 28.11.2009, anh Đặng Trung Trịnh, 32 tuổi, chết ở trụ sở công an xã Tiên Động, huyện Tứ Kì, Hải Dương!
Ngày 22.12.2009, ông Nguyễn Văn Long, 41 tuổi, chiều bị công an xã Bom Bo, huyện Bù Đăng, Bình Phước bắt. Tối vợ đến thăm thấy ông Long sưng u, bầm dập khắp người và nghe ông Long rên rỉ: Bị đánh dữ! Đau lắm! Chắc không sống nổi! Quả nhiên, sáng hôm sau công an đến báo cho vợ ông Long biết: Ông Long đã chết!
Ngày 21.1.2010, anh Nguyễn Quốc Bảo, 33 tuổi, chết tại trại tạm giam của công an quận Hai Bà Trưng, Hà Nội!
Ngày 24.4.2010, anh Huỳnh Tấn Nam, 21 tuổi, đi xe máy không đội mũ bảo hiểm bị một cảnh sát giao thông và một công an xã Diên Phú, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa đánh chấn thương nặng đốt sống cổ, lún xương thái dương phải, vỡ xương bướm và xương cung gò má phải, dập tủy, đứt dây chằng dọc trước, gãy bốn răng, tính mạng nguy kịch!
Ngày 7.5.2010, anh Võ Văn Khánh, 29 tuổi, chết khi bị giam ở công an Điện Bàn, Quảng Nam!
Ngày 25.5.2010, dân xã Tĩnh Hải, Tĩnh Gia, Thanh Hóa tập trung ngăn cản không cho chính quyền thu hồi đất một cách cưỡng bức, áp đặt, công an liền nổ súng bắn gục hai người dân, em Lê Xuân Dũng, 12 tuổi chết tại chỗ, ông Lê Hữu Nam, 43 tuổi, bị thương nặng, năm ngày sau chết!
Ngày 7.6.2010, ông Nguyễn Phú Trung, 41 tuổi bị hai công an xã Thủy Xuân Tiên, Chương Mỹ, Hà Nội đánh chết!
Ngày 30.6.2010, ông Vũ Văn Hiền, 40 tuổi, chết khi bị tạm giam ở công an Đại Từ, Thái Nguyên!
Ngày 3.7.2010, ông Nguyễn Thành Nam, 43 tuổi, bị công an và dân phòng đánh chết trong đám tang ở Cồn Dầu, Đà Nẵng!
Ngày 23.7.2010, anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, bị bắt vào công an huyện Tân Yên, Bắc Giang, chỉ mấy giờ sau, chết gục trong nhà công an!
Ngày 6.8.2010, chị Hoàng Thị Trà, 20 tuổi, sinh viên, bị cảnh sát mặc thường phục bắn, viên đạn xuyên đùi, phá vỡ xương chậu!
Ngày 8.8.2010, anh Trần Duy Hải, 32 tuổi, chết khi bị giam ở công an Hậu Giang!
Ngày 9.9.2010, ông Trần Ngọc Đường, 52 tuổi, chết khi bị công an tạm giữ tại trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Thanh Bình, Trảng Bom, Đồng Nai!
Ngày 28.2.2011, ông Trịnh Xuân Tùng đi xe máy không đội mũ bảo hiểm đến ga Giáp Bát, Hà Nội, bị công an bắt dẫn về trụ sở công an phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai. Đến tối ông Tùng bị bầm dập khắp người, tê liệt toàn thân. Bệnh viện Việt Đức phải mổ cấp cứu xác định ông Tùng bị giập hai đốt sống cổ và chấn thương khắp người! Tám ngày sau ông Tùng chết!
Những người dân lương thiện chết tức tưởi trong trụ sở công an cứ kéo dài theo năm tháng!
Vì sao người dân bị bắt vào trụ sở công an lại chết nhanh, chết nhiều như vậy? Xin hãy xem ứng xử của công an với người dân để thấy rằng: Được coi là thần bảo hộ của đảng, là công cụ bảo vệ đảng, bảo đảm sự tồn tại áp đặt của đảng, được đảng o bế, dung túng, lực lượng công an đã trở thành kiêu binh hung hãn, côn đồ như thế nào, đã coi thường nhân phẩm, mạng sống của người dân như thế nào!
Chiều 30.7.2010, ông nông dân Nguyễn Văn Trung, 46 tuổi ở xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận trên đường đi làm rẫy về được mấy người quen trong quán nhậu gọi vô. Thấy ở bàn nhậu có Trương Quang Hiếu, công an xã Tân Lập, ông Trung liền hỏi việc nhờ Hiếu nhập hộ khẩu cho đứa cháu, xong việc đã đưa phong bì cho Hiếu, nhờ Hiếu mời những người đã làm hộ khẩu cho cháu ông Trung đi nhậu nhưng sao vẫn có người trách ông Trung vô ơn? Đăng kí hộ khẩu cho dân là trách nhiệm, là công việc của công an nhận đồng lương từ tiền thuế của dân phải làm! Nhưng thói quen của quan chức nhà nước Việt Nam từ lâu nay là động chân động tay việc gì cho dân thì dân đều phải có phong bì đưa lại! Với kiêu binh công an thì phong bì càng phải chu đáo! Đăng kí hộ khẩu không phải việc của công an xã, kiêu binh Hiếu chỉ là trung gian. Câu hỏi của ông Trung có lẽ đã vô tình làm lộ ra sự ăn chặn của kẻ trung gian làm cho trung gian Hiếu nổi xung lớn tiếng mắng át lời ông Trung. Ông nông dân quá thật thà mới đem chuyện đưa phong bì lót tay ra nói giữa đám đông! Cũng vì thật thà ông lại tưởng kiêu binh Hiếu giận vì cho rằng ông chưa đưa phong bì nên ông nông dân càng cố chứng minh! Không chịu nổi, kiêu binh Hiếu liền xông đến đánh ông Trung! Sợ bữa nhậu phải gián đoạn, mọi người đều xúm lại kéo ông kiêu binh cấp xã ra!
Không được trút tức giận, kiêu binh liền bấm điện thoại gọi thêm kiêu binh và dân phòng đến. Lực lượng dân phòng là tổ chức vũ trang thô sơ bất hợp pháp vì không có bộ luật nào cho phép hình thành tổ chức này! Biết thế nguy, ông Trung vội ra lấy xe máy định tháo lui nhưng lực lượng mới đến đã quây quanh ông nông dân thật thà, vung dùi cui vụt tới tấp! Bất ngờ bị đánh đau quá, ông Trung quì giữa đường chắp tay vái các hung thần như tế sao xin tha! Kiêu binh, công cụ của đảng và dân phòng, tay chân của kiêu binh đều không có trái tim người, vẫn lạnh lùng đánh cho đến khi ông Trung gục xuống bất tỉnh! Đám công cụ và tay chân của công cụ lại xốc cái xác ông Trung đưa lên xe máy chạy về trụ sở xã! Thấy ông Trung bị còng ở góc nhà đã tỉnh lại, Hiếu và một kiêu binh cấp xã tiếp tục vừa chửi vừa đấm đá! Máu từ miệng ông Trung ói ra sàn nhà, Hiếu tháo còng cho ông Trung, bắt ông cởi áo ra lau sạch máu rồi lại còng, lại đánh! Mười giờ đêm, vợ con ông Trung mới biết chuyện chạy đến trụ sở xã khóc than kêu cứu, ông Trung mới được kiêu binh Hiếu tháo còng để gia đình đưa ông đi bệnh viện!
Man rợ và khủng khiếp như thời lãnh Chúa Trung cổ, chưa có nhà nước, chưa có luật pháp! Nếu đêm đó vợ con ông Trung không biết chuyện đến đưa ông Trung đi bệnh viện thì sáng hôm sau tất phải đến nhận xác ông đưa về chôn và cái chết của ông Trung sẽ được giải thích là do ông có tiền sử bệnh tim, bệnh phổi hoặc sẽ được tạo dựng thành một cuộc tự sát! May mắn thoát chết, chuyện ông Trung vô cớ bị đánh tàn bạo mới được phanh phui trên báo chí! Trong sử sách Việt Nam ghi lại nhiều sự việc càn rỡ của đám kiêu binh thời Vua Lê – Chúa Trịnh cũng không có sự việc nào độc ác, man rợ như việc kiêu binh Trương Quang Hiếu đối với ông nông dân Nguyễn Văn Trung ở Bình Thuận thời đảng trị hôm nay! Được tin cậy và dung túng, ở ông kiêu binh cấp xã Trương Quang Hiếu tích tụ đầy đủ mọi thói tật rất phổ biến của quan chức nhà nước hôm nay, nhũng nhiễu, hống hách, ức hiếp dân, say sưa ăn nhậu tối ngày!
Điều đặc biệt nghiêm trọng là tất cả những vụ kiêu binh đánh người, bắn người, bắt bớ, giam cầm dẫn đến cái chết tức tưởi với thương tích mang đầy trên thân thể người dân đều được bao che, không bị truy tố! Sự dung túng này chính là nguyên nhân hình thành, nuôi dưỡng, khuyến khích lực lượng công an hùng hậu của đảng trở thành đội quân kiêu binh đông đúc lộng hành gây tai họa cho dân trên khắp đất nước, dẫn đến những cái chết thê thảm của người dân trong trại giam công an cứ kéo dài cùng thể chế đảng trị! Với sự dung túng bất chấp pháp luật đó, không phải chỉ công an đảng trị mới trở thành kiêu binh mà con cái họ cũng đã trở thành đám kiêu binh tiềm năng thách thức pháp luật! Đến nay người dân vẫn còn nhớ cuộc đua ô tô du lịch kinh hoàng trên đường Láng – Hòa Lạc, Hà Nội, làm chết hai nữ sinh năm trước để thấy cuộc sống này, xã hội này quá bất an với người dân vì kiêu binh và con cái kiêu binh! Những kẻ lái ô tô du lịch Matis chạy đua trên con đường thênh thang Láng – Hòa Lạc đều là các công tử con quan và kẻ lái chiếc xe giết chết hai nữ sinh lại là con quan trung tá kiêu binh Hà Nội! Kẻ giết người là con quan kiêu binh! Điều tra vụ án lại là kiêu binh! Pháp y cũng của cơ quan kiêu binh! Hiện trường và hồ sơ vụ án đều được thay đổi làm cho tội của kẻ giết người trở nên nhẹ hều! Vì ưu ái, nuông chiều kiêu binh và con cái kiêu binh mà chà đạp lên pháp luật, làm sai lệch công lí, dung dưỡng tội phạm thì cuộc sống người dân còn vô cùng bất an, tính mạng người dân vô cùng mong manh, người dân không được pháp luật bảo vệ, trần trụi, bơ vơ trong xã hội đầy bất công và bất trắc vì quyền đảng khuynh loát đứng trên pháp luật và kiêu binh lộng hành chà đạp pháp luật!
Một xã hội lành mạnh, tử tế, một nhà nước có luật pháp, thì công an phải của nhà nước chứ không phải của đảng! Công an là công cụ của nhà nước để bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, để Hiến pháp và pháp luật được thực hiện nghiêm minh trong cuộc sống! Công an là chỗ dựa của nhân dân trong cuộc đấu tranh trấn áp tội phạm xã hội, bảo đảm an ninh cho cuộc sống. Dù là đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo nhà nước thì đảng cũng chỉ là một tổ chức chính trị xã hội như mọi tổ chức chính trị xã hội khác hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật nhà nước! Đảng có mặt trong cuộc sống và đảng lãnh đạo nhà nước bằng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối chứ không thể bằng công cụ! Khi đảng sử dụng bộ máy công cụ nhà nước: công an, tòa án, nhà tù để trấn áp những chính kiến khác biệt với đảng là đảng đã trở thành siêu – nhà – nước – đảng đứng trên nhà – nước – dân, đưa cuộc sống vào xã hội đảng trị, phá vỡ cấu trúc ổn định và bền vững của xã hội lành mạnh, bình yên! Khi siêu – nhà – nước – đảng nắm công an, tòa án, nhà tù đứng trên nhà – nước – dân thì hiển nhiên đó là nhà nước độc tài đảng trị, không thể biện minh!
Sau nửa thế kỉ hăm hở xây dựng xã hội chủ nghĩa, Liên Xô và cả hệ thống Cộng sản Đông Âu phải cay đắng nhận ra đầy đủ những sai lầm, ảo tưởng, bế tắc của học thuyết Mác – Lê nin và chủ nghĩa xã hội! Cay đắng nhận lấy sự phá sản của học thuyết Mác – Lê nin và sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội! Những người Cộng sản đau đớn giã từ quyền lực và cả đau đớn nhận ra sự lầm lạc của mình trước nhân dân, trước lịch sử! Còn nhân dân Liên Xô và các nước Đông Âu thì hân hoan vui sướng giã từ học thuyết Mác – Lê nin và chủ nghĩa xã hội nghiệt ngã, trì trệ, trái tự nhiên, giã từ cuộc sống giả với những đau khổ, cay đắng thật để trở về với cuộc sống thật với niềm vui khám phá, sáng tạo, mỗi người đều có niềm vui khám phá, phát hiện ra tài năng của mình và được thể hiện hết tài năng làm đẹp cuộc đời, làm đẹp phẩm chất người, làm đẹp xã hội loài người!
Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa nhân dân Việt Nam vào cuộc thí nghiệm xây dựng xã hội chủ nghĩa suốt gần nửa thế kỉ và nhân dân Việt Nam đã phải trả giá quá đắt! Mấy thế hệ người Việt Nam trở thành vật hi sinh cho cuộc thí nghiệm đó! Hàng chục vạn người bị giết, bị tù đày trong những cuộc đấu tranh giai cấp sắt máu diễn ra triền miên và rộng khắp từ nông thôn tới thành phố, từ giới kinh doanh đến giới trí thức! Mấy thế hệ trí thức, nghệ sĩ, những tinh hoa, tài sản quí giá nhất của dân tộc bị khinh rẻ, đày đọa, bị biến thành bung xung, bị biến thành chim mồi, cá cảnh! Trả giá đắt như vậy để có một chủ nghĩa xã hội hiện hình là một nền văn hóa thấp kém, lạc hậu, đạo đức xã hội suy đồi, hạ tầng xã hội tồi tàn, kinh tế suy sụp, cuộc sống người dân đến đáy cùng cực nghèo đói! Cực chẳng đã, đảng Cộng sản phải rời bỏ những nguyên lí kinh tế của học thuyết Mác – Lê nin, trở lại với những nguyên lí mà trước đó đảng Cộng sản đã quyết liệt tiêu diệt! Trở lại chính cái đã từng bị tiêu diệt, đảng dùng mĩ từ tự làm sang là “đổi mới”! Và tự đề cao: Đường lối đổi mới là sự sáng tạo tài tình của đảng!
Đổi mới về kinh tế nhưng vẫn “kiên trì” học thuyết Mác – Lê nin, “kiên trì” chủ nghĩa xã hội để “kiên trì” đặc quyền đặc lợi của nhóm người nắm quyền lực trong đảng! Đưa cả dân tộc vào cuộc thí nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, một cuộc thí nghiệm bằng máu và nước mắt của cả dân tộc suốt gần nửa thế kỉ đã thất bại thê thảm! Nhưng vì đặc quyền đặc lợi của nhóm người lãnh đạo đảng, họ vẫn đang tâm tiếp tục cuộc thí nghiệm bằng máu và nước mắt cả dân tộc: Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là công cuộc vĩ đại chưa có tiền lệ, vừa mở đường, vừa tiến lên!” (Dự thảo báo cáo Chính trị đại hội XI) Gần nửa thế kỉ mở đường xây dựng chủ nghĩa xã hội đã dẫn đến nghèo đói, bế tắc, phải đổi mới, phải từ bỏ những nguyên lí kinh tế xã hội chủ nghĩa để tìm lối thoát! Bây giờ lại tiếp tục “Xây dựng chủ nghĩa xã hội . . . vừa mở đường vừa tiến lên”! Lại tiếp tục cuộc thí nghiệm vô vọng bằng máu và nước mắt nhân dân! Thật là nhẫn tâm! Chỉ riêng điều đó đã làm cho đảng không thực sự còn trong tình cảm nhân dân nữa rồi! Duy trì học thuyết đã bị thời đại loại bỏ, đã bị nhân dân Việt Nam nhận ra là một tai họa dân tộc, đảng Cộng sản Việt Nam trở nên lạc lõng giữa thời đại và lẻ loi giữa nhân dân. Trong tình thế đó đảng phải nắm chắc công cụ bạo lực là lực lượng công an để đảng tồn tại bằng bạo lực áp đặt!
“Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình”! Câu khẩu hiệu đó là lời thú nhận công khai rằng đảng đang sử dụng lực lượng công an để duy trì sự tồn tại của đảng! Đó là lời thú nhận rằng đảng tồn tại không phải do đòi hỏi của cuộc sống mà đảng tồn tại bằng bạo lực áp đặt! Đó cũng là lời thú nhận rằng công an đã trở thành công cụ chỉ để bảo vệ đảng! Công an chỉ biết có đảng! Công an chỉ còn khi đảng còn! Đó là nhận thức mê muội, cuồng tín, thiển cận, sai trái, vô ơn với nhân dân và phản bội nhà nước!
Công an là thành phần trong cơ cấu nhà nước. Chỉ nhà nước mới có công an! Nhà nước có lúc thịnh lúc suy nhưng nhà nước tồn tại mãi mãi với dân tộc! Còn dân tộc, còn nhà nước! Và còn nhà nước thì còn công an! Công an là công cụ của nhà nước, không thể là công cụ của đảng! Đảng chỉ là sự tập hợp nhất thời của những người cùng một học thuyết, cùng một trào lưu chính trị! Khi đương thời, đảng nào cũng cố tuyên truyền, cố khẳng định rằng đảng mình là đúng đắn, là đảng của dân tộc, là đại biểu cho lợi ích dân tộc! Nhưng dân tộc Việt Nam đã phải chứng kiến sự ra đời và tiêu vong của bao nhiêu đảng phái chính trị tuyên bố hùng hồn, lực lượng mạnh mẽ! Chúa Trịnh cũng mang tính chất như một đảng chính trị độc tài dựng lên nhà Hậu Lê, mang danh nghĩa phò Lê dựng nước để tồn tại! Có đội kiêu binh đông đúc, hung hãn, quyền uy khuynh loát, lấn át cả Vua Lê nhưng rồi Chúa Trịnh cũng tiêu vong để lại vết nhơ không bao giờ phai mờ trong lịch sử Việt Nam!
Nhân dân đóng thuế nuôi nhà nước, nuôi công an. Đây là điều đương nhiên, bình thường, mọi nhà nước trên thế giới đều như vậy. Nhưng không bình thường khi đồng tiền thuế của dân phải gánh chi phí quá lớn cho mọi hoạt động của đảng, trong đó có quá nhiều hoạt động hình thức, phô trương, tốn kém, phải chi trả lương cho đội ngũ cán bộ đông đúc của đảng, từ Tổng Bí thư tới bí thư chi bộ phường, xã, phải nuôi những viện chuyên nghiên cứu để tán dương một học thuyết đã sụp đổ và nuôi quá đông những giáo sư, tiến sĩ trong những viện đó! Chỉ ở các nước đảng Cộng sản cầm quyền thì tiền thuế của dân mới phải gánh khoản chi khổng lồ và không có giá trị tái sản xuất này! Trả lương cho người công nhân giúp họ phục hồi sức khỏe để tái sản xuất. Trả lương cao chót vót cho những giáo sư, tiến sĩ của học thuyết không còn áp dụng được trong cuộc sống thì hoàn toàn không có giá trị tái sản suất! Tám mươi nhăm triệu dân, chỉ có ba triệu đảng viên!
Tám mươi hai triệu dân không phải đảng viên, trong đó có những người không tán thành tư tưởng triết lí của đảng, không tán thành sự lãnh đạo của đảng cũng phải đóng thuế nuôi đảng! Đảng tồn tại bằng đồng tiền mồ hôi nước mắt của dân! Đảng cũng phải nhận lương từ dân! Đảng không có tiền trả lương cho công an đâu! Nhận thức “Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình” là sự vô ơn với nhân dân!
“Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình”! Câu khẩu chữ lớn trên tấm panô khổng lồ hàng chục mét vuông choán cả mặt trước trụ sở bộ Công an phố Yết Kiêu, Hà Nội chính là tiếng nói chính thức của bộ Công an, là tư tưởng, nhận thức của lãnh đạo bộ Công an, là cái tâm và cái tầm của lãnh đạo bộ Công an! Cái tâm và cái tầm đó đã biến công an, công cụ của nhà nước để bảo vệ hiến pháp và pháp luật trở thành kiêu binh của đảng chà đạp lên hiến pháp và pháp luật!
Hỡi những công dân Việt Nam còn lí trí và lương tâm đang mặc sắc phục công an! Vì có chút lí trí và lương tâm, tôi phải viết những dòng đau xót về những kiêu binh thời đại đang là ác mộng, đang là nỗi ám ảnh khủng khiếp của người dân! Tôi cũng biết những người đang mang sắc phục công an còn lí trí và lương tâm là số đông cũng sẽ phải đau xót, nhức nhối không yên trước cái chết tức tưởi trong trụ sở công an của hàng chục người dân lương thiện! Những người dân đó chết bởi đồng đội các anh nhưng là những đồng đội không còn lí trí và lương tâm! Không có lí trí và lương tâm, chỉ có sức mạnh bạo quyền họ mới trở thành công cụ của người khác, họ mới trở thành kiêu binh!
Điều 69 Hiến pháp hiện hành ghi: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo qui định của pháp luật. Nhưng một đất nước không có báo chí tư nhân thì làm gì có quyền tự do ngôn luận! Trong các quyền cơ bản của con người thì quyền tự do ngôn luận là quyền sơ đẳng nhất, bức thiết nhất, quan trọng nhất! Đến quyền sơ đẳng, bức thiết ấy, người dân Việt Nam cũng không có! Từ xa xưa trong đêm trường tăm tối của chế độ phong kiến, dân gian ta đã nhận ra những quyền tối thiểu không thể thiếu của mọi con người có mặt trên thế gian bằng câu thành ngữ: Được ăn, được nói, được gói, được mở! Ăn để duy trì sự sống. Được ăn chính là được sống, là quyền sống. Ngay câu đầu tiên Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác nhận quyền sống của con người: Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Được gói là được gói ghém giữ kín những góc đời riêng tư của mỗi người. Được mở là quyền được mở tầm nhìn, được bước ra thế giới rộng lớn để nâng giá trị và ý nghĩa cuộc sống. Quyền được nói là quyền đứng thứ hai ngay sau quyền sống!
Em bé đang học lớp sáu Lê Xuân Dũng và ông nông dân Lê Hữu Nam ở Tĩnh Hải, Tĩnh Gia, Thanh Hóa bị bắn chết cũng chỉ vì là người nói lên tiếng nói bất bình của người dân trước sự thu hồi đất đai bất công!
Những người bị công an đặt chốt gác quanh nhà, những người bị công an ném lên thùng ô tô như ném một con heo chở về giam giữ ở đồn công an chỉ là những người nói lên tiếng nói đòi quyền được nói! Hiến pháp cho người dân quyền tự do ngôn luận nhưng cho đến nay giữa thời văn minh tin học, người dân Việt Nam vẫn chưa được quyền nói! Có đau xót, tủi nhục cho người dân Việt Nam không, hỡi những người còn lí trí và lương tâm?

 

Nước mất nguồn – cây mất gốc”

http://phamtayson.files.wordpress.com/2012/03/bannuoc2.jpg?w=481&h=143
“Đằng sau Hoàng Sa và Trường Sa chỉ có một Tổ Quốc Việt Nam. 
Đằng trước Hoàng Sa và Trường Sa chỉ có một kẻ thù là quân xâm lược TQ” 
Khá nhiều đồng bào Việt Nam và con em mình là các chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân Đội NDVN, hình như trong những ngày này rất muốn biết trong tận cùng sâu thẳm nội tâm của liệt vị “tam đầu chế” có cùng tộc họ Nguyễn, đang ngồi ghế lãnh đạo, chỉ đường, nắm vận mệnh quốc gia:
ông Nguyễn Phú Trọng (TBT/ đảng CSVN)
ông Nguyễn Sinh Hùng (CT/QH)
ông Nguyễn Tấn Dũng (TT/CP)
Sẽ có cảm nghĩ và phản ứng ra sao?: Nếu bất chợt trong hoàn cảnh, phát hiện bia mộ song thân (Cha, Mẹ) mình bị ai đó đục bỏ danh tính thậm chí phá nát tan hoang và lại còn để lại thư báo “cấm làm giổ kỵ” nhắc nhở đến người dưới mộ?.
Khách quan dự đoán, bởi không chắc có câu đáp từ, nhưng chẳng thể nào khác được, sẽ chỉ nằm trong hai khả năng xảy ra:
1) Quí ngài ấy, rất đau đớn “nộ khí xung thiên, nỗi trận lôi đình” bằng mọi cách bắt cho được thủ phạm để buộc phải trả cái giá đắt nhất cho hành vi “đại phạm thượng” dòng tộc nhà mình, không thể tha thứ được –
2) Vì bã vinh hoa, quí ngài bình thản, dửng dưng như kẻ thiểu năng trí tuệ trong cách nghĩ người chết là hết, chỉ biết đến quyền lợi cá nhân trước mắt mà không cần quan tâm, là ai đã sinh ra, nuôi dưỡng, dạy dỗ mình lớn khôn
100% khả năng thứ nhất phải là tất yếu (cái ghế quyền lực thay mặt quí ngài nói lên điều ấy) và ít ra mọi người cũng cảm thông được với phản xạ này.
Tuy nhiên, nhân dân, chiến sĩ, đồng bào mình rất lấy làm lạ, cái khả năng thứ hai nói trên, tuồng như chỉ dành cho phường “giá áo túi cơm” (Ẩn dụ của PCT/TQ Tập Cận Bình khi nói về các đảng viên CSTQ mới đây) chứ đó, đâu thể nào là tư duy mẫu mực biết “lễ nghĩa liêm sỉ ” uống nước nhớ nguồn của nhân cách yếu nhân “lãnh đạo” quốc gia?.
Nhưng rồi thực tế lại rất đáng buồn, khi cái khả năng thứ nhất gần gũi với tính người (nhân tính) thì chưa xảy ra mà cái khả năng thứ hai mang bản năng như loài súc vật lại hiển hiện, rất công khai giữa thanh thiên bạch nhật:
Đền thờ Vua Quang Trung trên đỉnh núi Quyết.TP/Vinh (Ảnh: Cao Đông)
“…Trong nghi ngút trầm hương, TS Nguyễn Quang Hồng, giảng viên khoa Lịch sử, Đại học TP/Vinh say sưa hướng dẫn sinh viên tham quan. Vị Tiến sĩ này tấm tắc cho PV Dân trí và sinh viên biết cảm nhận của mình: “ Càng nghiên cứu, sưu tầm càng thấy công lao to lớn của Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ với đất nước ta…” (xalo.tintuc.com). Trận Kỷ Dậu 1789 quân Nam đại phá, đánh tan quân Thanh, giải phóng Thăng Long thành là một trận đánh thần tốc, tinh hoa của “chiến thuật” nổi danh trong lịch sử cận đại Việt Nam, đưa Hoàng Đế họ Nguyễn… Quang Trung thành một trong những vị tướng Dũng Lược song toàn xuất sắc của Việt Nam.
Vậy mà trong ngôi đền uy linh của vì Hoàng Đế họ Nguyễn ấy, 2 tấm bia ghi nhận công trạng cho cháu con hậu thế làm gương soi rọi để nung chí kiên cường mà chống ngoại xâm được nhân dân kính cẩn cung tiến an vị từ thuở lập đền thì nay lại bị “ai đó” phũ phàng ra lệnh đục bỏ thay thế bằng 2 tấm bia khác không còn vết tích của đại chiến công huy hoàng đại phá quân “Tàu” năm Kỷ Dậu!?. Dù không muốn, nhưng khiến mọi người phải phải chát chua mà suy diễn: Chắc chỉ có con cháu của Lê Chiêu Thống, Lê Duy Kỳ (hoàng gia cuối cùng, hậu nhà Lê cầu viện, bám gót quân “Tàu” rước voi về dày mã Tổ) mới đành tâm làm chuyện này cốt cho “tiên đế”? mình, bớt ngậm ngùi vì ô nhục dưới suối vàng, chứ cháu con giòng tộc họ Nguyễn xa gần và đồng bào cả nước mấy ai có can đảm làm chuyện hèn mọn nhơ nhuốc xấu hổ không còn nhân cách này!?.
Văn Bia Chiến công Nguyễn Huệ đánh đuổi giặc Xiêm-Tàu, 
do chính ông HCM làm thơ khằc bia tôn vinh. 
Ai ra lệnh… Thay thế bằng một cái bia nội dung… vô thưởng…vô phạt…? 

Bia công trạng ghi lại chiến tích đại thắng quân “Tàu”… 

Ai? Ra lệnh…Thay vào một bia này, không còn lưu dấu tích chiến công vĩ đại ấy !?.. 
Trước đó là một bi kịch khác, khi mà hàng trăm ngàn bàn thờ các liệt sĩ QĐND/VN hy sinh trong các trận chiến chống quân TQ xâm lược trên biên giới phía Bắc còn lan toả khói hương, thì ngoài thực địa những bia tưởng niệm bị “ai đó” ra lệnh đục bỏ chiến công và xoá đi vết tích “xâm lược” của quân TQ!?.
Tấm bia kỷ niệm chiến thắng tại đầu cầu Khánh Khê. 
Nhưng dòng chữ “quân TQ xâm lược” bị đục bỏ trên bia tưởng niệm – Ảnh: Trường Sơn
“….Trung đoàn 197 phối hợp cùng Sư đoàn 337, tham gia các trận đánh ác liệt, chận đứng quân TQ xâm lược tại khu vực cầu Khánh Khê. Trong trận đánh, một tiểu đội chỉ còn có 7 người do đại đội trưởng Vi Văn Thắng chỉ huy đã kiên cường chiến đấu bằng một mũi tiến công hy sinh quả cảm tiêu diệt hàng trăm tên địch. Đạn hết, cả tiểu đội đã tuốt lưỡi lê xông lên đánh giáp lá cà cản chân địch để giữ nguyên trận địa chờ quân tiếp viện, đến lúc tất cả đều hy sinh. Xác các anh nằm chồng lên xác địch, mắt nhắm, tắt thở nhưng tay không rời súng…”.(ViBay. blog).
Đồng bào thân nhân các chiến sĩ mặt trận biên giới cũng phải ngậm ngùi đau xót để tự hỏi: Xương máu cha ông chồng con mình hy sinh đánh đuổi bọn giặc nào đây? Không lẽ như Đặng Tiểu Bình CT/quân uỷ TW/TQ (kẻ chủ trương ra lệnh tấn công biên giới VN) đã nói: Đó là cách “dạy cho Việt Nam một bài học” Và “ai đó” của VN đã đồng lòng vui vẻ ra lệnh xóa đi từ “ TQ xâm lược” như một cách hiểu khác: Quân TQ tràn qua biên giới VN là để “dạy bảo” chúng ta chứ không phải là xâm lược!?.
Mới đây nhất, cũng giống các trường hợp đau lòng kể trên nhưng đau thương và đoạn trường hơn.
Tháng 1/1974 sau khi xâm lược bằng hải quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa từ tay hải quân QLVN/Cộng Hòa. Ngày 14/3/1988 hải quân TQ bất ngờ xua quân đánh chiếm bãi đá Colin, bãi đá Len Đao và bãi Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa chủ quyền trên biển Đông của Việt Nam, để bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền, 64 chiến sĩ hải quân QĐNDVN đã anh dũng hy sinh nằm lại trong lòng biển mẹ để lại bao nỗi tiếc thương cho gia đình, đồng bào và đồng đội:
Bức tranh miêu tả cuộc chiến đấu bảo vệ đảo Gạc Ma của chiến sĩ Hải quân Việt Nam ngày 14-3-1988 (đang được treo trang trọng tại Phòng Truyền thống của Vùng 4 Hải quân) 
24 năm rồi mà Má Lê Thị Niệm ở Tây Hòa, Phú Yên, cứ nhìn hình ảnh con trai hy sinh ở Gạc Ma mà cứ thầm hỏi: “Chừng nào con về?” – Ảnh: Trần Đăng 
Cùng tâm trạng của mẹ Dư, bà Lê Thị Lan, 70 tuổi ở Hòa Cường, Đà Nẵng, mẹ liệt sĩ Nguyễn Hữu Lộc cũng chỉ hỏi một câu: “Có khi mô người ta tìm được hài cốt thằng Lộc không vậy cháu?”. Tôi không dám trả lời câu hỏi ấy, cũng không dám nhìn vào khuôn mặt nhăn nheo của người mẹ này. Đã bao nhiêu năm rồi, ngày nào người mẹ ấy cũng thức dậy thật sớm, thắp trên bàn thờ con mình một nén nhang trước khi rời nhà để đến một quán ăn trong thành phố rửa chén bát đến tận khuya rồi nhận từ tay bà chủ quán 60.000đ. Trộm nghĩ, nếu anh Lộc còn sống lành lặn và ra quân như Dũng, hẳn mẹ anh đã không phải lận đận kiếm cơm như thế.
Mẹ Niệm, mẹ Lan cùng bao nhiêu bà mẹ khác đã sống lặng lẽ và mong chờ trong vô vọng suốt 24 năm qua như thế.
Thứ ba, ngày 13 tháng ba năm 2012
Vợ chồng Liệt Sĩ Trần văn Phương ngày xưa 
Vợ, con của liệt sĩ Trần Văn Phương thắp hương giỗ chồng
Hôm nay bên bờ biển Đông, làng cát Đơn Sa, Quảng Phúc, Quảng Trạch Quảng Bình. Nơi đó có ngôi mộ của liệt sĩ Trần Văn Phương hy sinh cùng 63 liệt sĩ khác trong trận chiến bảo vệ đảo Gạc Ma. Mộ anh khói hương nghi ngút, làng cát Đơn Sa thương nhớ ngày hy sinh của một người con anh hùng.
Mẹ, Trương Thị Ngừ thường kể về sự hy sinh của con mình, ở đảo Gạc Ma liệt sĩ Trương Văn Hướng, bên cạnh những kỷ vật còn lại. 
Đám tang liệt sĩ Hướng, gia đình mẹ Ngừ thuê người làm hình nộm tượng trưng cho hình hài của anh để bỏ vào quan tài rồi sau đó tiễn đưa ra Nghĩa trang Liệt sĩ xã Hiền Ninh an nghỉ. Suốt nhiều tháng năm sau đó, bà luôn sống trong nỗi nhớ con. Có ai hỏi về Hướng, mẹ Ngừ vẫn quả quyết: “Con tôi vẫn đi bộ đội”. Theo mẹ, anh đang sống và bảo vệ mảnh đất thiêng liêng, là hương hỏa của cha ông để lại ở vùng biển Tổ quốc ngoài kia.
Riêng phường An Hải Tây Đà Nẵng có 2 chiến sĩ tham gia trận đánh lịch sử này, thì một người đã hy sinh là anh Lê Thế, người còn lại là Phan Văn Đức, hiện còn sống ở tổ 28 phường Mân Thái (quận Sơn Trà). 24 năm, dù không có bất cứ chế độ đãi ngộ nào nhưng thời gian không xóa nhòa những ký ức của binh nhất Phan Văn Đức, để giờ đây, ngày ngày anh thơ thẩn dọc bãi biển Sơn Trà, ngóng về đại dương mịt mù, tìm lại hồn anh như còn vĩnh viễn ở lại ngoài ấy với các đồng đội …
“CHUNG MỘT CHIẾN HÀO” 
Liệt sĩ Đinh Ngọc Doanh, Trung úy Hải Quân NDVN, quê Ninh Bình, cùng các đồng đội anh dũng hy sinh khi bảo vệ Bãi Đá Gạc Ma, quần đảo Trường Sa, trước quân Trung Quốc xâm lược ngày 14/3/1988. Tấm Ảnh của anh chụp với con gái Đinh Mỹ Lệ trước khi lên đường đi vào Vòng Tròn Bất Tử.
24 năm sau, bé thơ Đinh Mỹ Lệ ngày nào đã cùng ông Lữ Công Bảy, nguyên Thượng sĩ Hải Quân VNCH tham gia trận Hoàng Sa trên chiến hạm Trần Khánh Dư HQ-04, cùng đi thăm gia đình liệt sĩ hạm trưởng Ngụy Văn Thà và liệt sĩ Nguyễn Thành Trí, hạm phó của Hải Quân QLVNCH. Hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa với quân TQ xâm lược 1974.
Thật đẹp, một trái tim thơ ngây trong nhân cách bình dị nhưng sáng ngời chính nghĩa, như thay cho cha mình cô bé cất cao lời:
“ĐẰNG SAU HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CHỈ CÓ MỘT TỔ QUỐC LÀ VIỆT NAM. 

ĐẰNG TRƯỚC HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CHỈ CÓ MỘT KẺ THÙ LÀ QUÂN XÂM LƯỢC TRUNG QUỐC. ” 
24 năm sau – Để tưởng niệm “Gạc Ma” đau thương, ngày 14/3/2012, thay vì Đảng CSVN, thì Xã Hội VN – nhiều ban ngành tư nhân đoàn thể đã chung tay tổ chức một Ngày Giổ cho anh linh các chiến sĩ hy sinh vì CQ-88 (Chủ quyền-88) “ Trận Chiến Gạc Ma ” và tự nguyện đóng góp gửi một chút nghĩa tình cho thân nhân các anh em chiến sĩ ấy nơi quê nhà. Nhưng cuối cùng thì:
“KHÓC CHO ANH EM HY SINH, CŨNG KHÔNG ĐƯỢC PHÉP”…

Mai Thanh Hải – Nhà báo T, Phóng viên Báo X kể với mình buổi sáng:
Từ mấy tháng trước, anh T thay mặt Báo, lặn lội tìm đến thăm gia đình 34/64 Liệt sĩ hy sinh tại Gạc Ma ngày 14/3/1988, ở các tỉnh từ Quảng Bình đến Khánh Hòa (30 gia đình còn lại ở các địa phương khác, sẽ thăm sau).
Báo cũng đã làm việc và thống nhất tổ chức cuộc gặp mặt 34 gia đình Liệt sĩ, tại Cam Ranh (Khánh Hòa).
Thành phần buổi gặp mặt bao gồm các mẹ của Liệt sĩ (mỗi mẹ được đưa 1 người thân đi cùng), lãnh đạo đại diện Hải quân và cơ quan chức năng của tỉnh Khánh Hòa…
Cuộc gặp mặt được sự giúp đỡ của Hội Cựu Chiến binh của 1 Doanh nghiệp: Đài thọ tiền đi lại cho thân nhân Liệt sĩ; tặng quà cho mỗi gia đình…
Tất cả mọi việc đã hoàn tất, giấy mời đã được phát đi, hẹn ngày 14/3/2012 gặp mặt tại Cam Ranh.
Đùng cái, cách đây 3 ngày (11/3/2012), có lệnh của “trên” yêu cầu hủy cuộc gặp mặt.
Nhà báo T cay đắng: “Anh trở thành người đi phỉnh (lừa) các mẹ Liệt sĩ” và chán nản: “Giỗ anh em hy sinh mà không dám tổ chức. Khóc anh em hy sinh cũng không được phép khóc!”…
Mình nghe xong câu chuyện, cũng chán ặt người: “Tổ quốc có bao giờ HÈN thế này không?”..
Kế hoạch vinh danh, tri ân Liệt sĩ Gạc Ma, Trường Sa bị ngăn chặn
Nhà báo V.V.T.
Trước 14-3-2012 gần 2 tháng, hội Cựu chiến binh ngành Dầu khí VN có kế hoạch hoạch đúng ngày 14-3-2012, sẽ tổ chức lễ vinh danh, tri ân và trao tặng (đợt 1) một số gia đình có thân nhân là Liệt sĩ hy sinh ngày 14-3-1988 ở Trường Sa, hiện có hoàn cảnh khó khăn, tổng số tiền tròn 200 triệu đồng.
Đợt 2 sẽ trao cho các gia đình liệt sĩ 14-3-88 khác, vào 14-3-2013.
Theo kế hoạch phối hợp cùng báo Thanh niên (Văn phòng đại diện tại Nha Trang) và các báo Nông thôn ngày nay, Cựu chiến binh VN … buổi lễ sẽ diễn ra tại trụ sở Vùng 4 hải quân (bán đảo Cam Ranh) – có đơn vị trực thuộc là Lữ đoàn 146 đang trấn giữ Trường Sa.
Được sự thống nhất và hoan nghênh của lãnh đạo bộ Tư lệnh quân chủng Hải quân, đại diện các báo trên đã cấp tốc đến Vùng 4, làm việc với chủ nhiệm Chính trị và trưởng ban Chính sách Vùng 4, bàn kế hoạch phối hợp triển khai khá chi tiết. Theo đó, Vùng 4 lo bố trí, trang trí hội trường buổi lễ, phòng ốc và ăn uống cũng như xe đưa đón đại diện gia đình liệt sĩ từ sân bay Cam Ranh, ga Nha Trang về nhà khách Vùng 4, với chi phí do phía Dầu khí đài thọ (khoảng 140 triệu, ngoài 200 triệu quà trao nói trên), kể cả chi phí khẩu hiệu, phông màn, … Các báo lo liên hệ mời, mua vé phương tiện đưa thân nhân liệt sĩ đến nhà khách Vùng 4.
Biết tin, rất nhiều thân nhân liệt sĩ và cựu chiến binh Trường Sa khấp khởi mong đến ngày lễ đầy ý nghĩa này.
Hỡi ôi! Gần đến 14-3-2012, tin sét đánh: thượng cấp không cho làm!
Buồn quá!
Nghĩ mà tủi phận các Liệt sĩ, gần một phần tư thế kỷ vẫn lạnh lẽo trong con tàu 604 nơi dưới đáy biển Gạc Ma xa xôi. Cũng chẳng ai đoái hoài việc yêu cầu TQ không làm khó VN ra quy tập các anh về đất liền quê nhà. Gia đình các anh thì nghèo khổ, còn nhân dân, đồng đội muốn vinh danh, tri ân các anh cũng chẳng được.
Ngày giỗ các anh, chẳng thấy nhân vật chóp bu nào hé môi nhắc.
Chẳng lẽ máu xương, sinh mệnh các anh hiến dâng cho Tổ quốc thành uổng phí?
*
Không ai tham khảo những thông tin trên mà không tiếc một lời để bình luận, nhiều quá, vì vậy ghi vào đây thêm nữa có khi là thừa, chúng ta mọi người Việt Nam không phân biệt chính kiến hãy lắng nghe nhịp đậm trái tim và lương tri mình để tự vấn: TẠI SAO??.

Cù Huy Hà Vũ và nhà thơ Hữu Loan

http://phamtayson.files.wordpress.com/2012/03/huuloan-chhv-danlambao.jpg?w=539&h=160
Danlambao  -Nhân ngày giỗ của Nhà thơ Hữu Loan 18/3/2010, một người được Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ vô cùng trân quý, anh đã lặn lội đến thăm Nhà thơ để được vẽ Ông và để được Ông viết tặng thơ. Để tưởng nhớ Nhà thơ Hữu Loan, tôi xin thay mặt Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, gửi tặng độc giả mấy tấm ảnh của Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ khi tới thăm Nhà thơ Hữu Loan tại nhà ở Thanh Hóa. Kính nhờ Quý Báo cho đăng.
Xin trân trọng cảm ơn,
Dương Hà


Gạc Ma ém, Cổ Thành khoe

http://phamtayson.files.wordpress.com/2012/03/bannhac-danlambao.jpg?w=471&h=140

Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) – Triệt để chấp hành lời “bạn nhắc”, Đảng-bay cùng một lúc vừa “đừng Tây hóa” vừa Tàu hóa một cách ráo riết khẩn trương. Hành động Tàu hóa của đảng-bay thì, vốn đã nhiều vô kể qua việc làm nổi cộm của bác từ khuya, và của bộ sậu cháu ngoan sau này. Mọi người dân đã thấy; nhắc ra đây không chỉ làm cho bạn đọc nhàm chán mà còn ứa gan thêm.
Hành động “đừng Tây hóa” thì, trên màn sân khấu đỏ hoe trong Đại hội Đảng-bay lần thứ Xì Dách (XI) vừa rồi, hình ba ông cố nội râu xồm đã bị các cháu “kiên trì lấy tư tưởng… làm nền tảng” hô biến mất tiêu.
Thế nhưng làm cả hai việc Tàu hóa lẫn đừng Tây hóa cùng một lúc khẩn trương như hiện tại, chứng tỏ Đảng-bay bức xúc trước lời “bạn nhắn” là dường nào.
Đó là ngay sau khi Đảng-bay ra lệnh cấm buổi “lễ vinh danh, tri ân và trao tặng một số gia đình có thân nhân là liệt sĩ hy sinh ngày 14-3-2988 ở Trường Sa, hiện có hoàn cảnh khó khăn, do Hội Cựu chiến binh ngành Dầu khí VN chuẩn bị gần hai tháng để tổ chức” (1) đúng vào ngày quân Tàu tàn sát quân Ta, chiếm đảo Gạc Ma của ta, 14 tháng 3 năm 2012.
Ba hôm sau, ngày 17-3-2012 tại Hà Nội, Đảng ta, à quên, đảng-bay treo giải thưởng bốn huy chương Cánh Diều Vàng cho phim Mùi Cỏ Cháy nói về trận đánh 81 ngày để giữ thành Quảng Trị hồi năm 1972. (2). (Quảng trị vào thời điểm đó thuộc lãnh thổ nước VNCH có chủ quyền được thế giới công nhận, theo chủ nghĩa Tư Bản, cái chủ nghĩa mà nước CHXHCN đã xin hội nhập, và đang nài nỉ xin hội nhập trọn gói, nhưng thằng Mỹ-Cút nó chưa OK vì còn lủng lẳng cái đuôi XHCN định hướng.)
 http://phamtayson.files.wordpress.com/2012/03/120318160931_mui_co_chay_304x171_muicochay.jpg?w=300
Chuyện Anh em Nam Bắc giết nhau thì Đảng-bay đem khoe mãi, dù cái mồm lải nhải “hòa giải hòa hợp”. Tàu giết chiến sĩ ta, cướp đất liền, biển đảo ta, giết người, cướp của, bắt làm con tin đòi tiền chuộc ngư dân ta, thì Đảng bay ém nhẹm, dù mõm thì “Vua Hùng có công dựng nước, bác cháu ta phải ra công giữ nước”.
Nước đâu không bằng nước “Bạn nhắc..”:. Gạc Ma ém, Cổ Thành khoe.
___________________________________
Ghi chú:

Đừng chờ ai đó làm thay

http://phamtayson.files.wordpress.com/2012/03/chiakhoathaydoi-danlambao.jpg?w=532&h=158
Le Nguyen (Danlambao) – Có thể thấy ngay thời điểm hiện tại, nói như đảng trưởng cộng sản là một bộ phận không nhỏ nhân dân đã tỏ tường tội ác của đảng cộng sản gieo rắc xuống đất nước, dân tộc này chất chồng cao hơn núi đến độ “trúc Nam Sơn không ghi hết tội, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”(1)…
Thế tại sao một đảng cường hung cực ác, mạo danh cách mạng, nhân danh nhân dân hiện nguyên hình là một đảng cướp khát máu, chuyên nghề lừa đảo vẫn tồn tại, thách thức lòng bao dung, sức chịu đựng nhẫn nhục lẫn hờn căm ngút ngàn của dân tộc Việt Nam?
Có lẽ, hiện tượng trái khoáy không bình thường, hiện tượng kẻ thủ ác ngang nhiên thách thức, khiêu khích, khinh thường lòng sục sôi căm hận của khối người lương thiện hẳn có nguyên nhân của nó.
Chẳng hạn như, lòng người dân căm hận có thừa nhưng lại sợ sệt “muốn an thân và tiếc máu xương”(2) hoặc ngây thơ hy vọng có một ngày đẹp trời nào đó đảng cướp hồi tâm buông đao đồ tể trở về con đường thiện. Xa hơn nữa là trông chờ vào phép lạ, vào đấng minh quân, vào anh hùng hiệp sĩ từ trong truyện thần thoại, cổ tích nhảy bổ ra làm thay cho khát vọng tự do, hạnh phúc của mình. Nên nhớ rằng tự do cũng như tình yêu không ai cho không, biếu không, có nhiều dân tộc phải trả giá máu, rất nhiều máu để đổi lấy tự do cho dân tộc mình. Dân tộc Việt Nam cũng không là ngoại lệ đã đổ rất nhiều xương máu nhưng vẫn chưa có tự do, chưa được sống như là một con người với đầy đủ quyền tự do mà tạo hóa ban tặng trong cuộc đời làm người!
Xét cho cùng nguyên nhân của nhiều nguyên nhân, dù lòng dân căm giận, phẫn uất như quả bóng căng đầy nhưng kẻ thủ ác vẫn nhởn nhơ, tội ác vẫn tồn tại, chung quy là do thiếu lãnh đạo và tổ chức hay nói cách khác là thiếu các hạt nhân chủ chốt vạch trần tội ác, đưa tội ác vang xa trong dư luận xã hội tạo thành sức mạnh biến ước mơ tự do thành hành động cụ thể.
Mặt khác, qua nhiều năm dõi theo, quan sát các trang mạng lề dân và đọc góp ý, bày tỏ chính kiến thầm lặng, chân thành nhiệt tình bền bỉ của các còm sĩ, số lượng năm sau nhiều hơn năm trước với nội dung đa dạng, đa sắc màu, nhiều trình độ, nhận định khác nhau. Từ lời lẽ rụt rè, nhẹ nhàng khuyên nhủ kẻ thủ ác hồi tâm nghe rất êm tai, đến dứt khoát máu lửa không khoan nhượng với tội ác, sai trái, xấu xa của đảng cướp cộng sản nghe hơi chói tai, thậm chí các còm sĩ còn tranh cãi gay gắt với nhau vì khác chính kiến nhưng tất cả đều cùng quan điểm, nhận định cộng sản là nguồn gốc của tội ác, đảng cộng sản phải bước xuống, cút đi trả lại quyền làm chủ cho nhân dân.
Ngoài ra, bên ngoài thế giới ảo còn có những hoạt động tranh đấu cụ thể, mới nhất là sự kiện gây chấn động dư luận việt Nam lẫn nhân dân Hoa Kỳ, bởi gần một trăm năm mươi ngàn người Việt thầm lặng ở Hoa Kỳ ký thỉnh nguyện thư vận động chính giới, chính quyền đòi hỏi đảng cộng sản Việt Nam trả tự do cho các tù nhân lương tâm, trong đó có nhạc sĩ trẻ Việt Khang chỉ vì sáng tác nhạc tỏ bày “Anh là ai, sao bắt tôi, tôi làm điều gì sai… tình yêu quê hương này, dân tộc này đã lắm nhiều đắng cay…” mà bị bắt nhốt tù đã chạm đến trái tim nhân bản của nhân loại, thôi thúc họ hành động!
Phải công nhận, sự thành công của công tác vận động ký thỉnh nguyện, có phần không nhỏ của các hạt nhân tích cực thuộc thế hệ thứ hai của giòng thác người chạy nạn cộng sản năm xưa, trong số họ đa phần không liên quan, dính dáng hoặc có trách nhiệm trực tiếp đến cuộc nội chiến hai mươi năm để vướng mắc mang lòng kiêu căng, hận thù hay định kiến, mặc cảm của kẻ thắng người thua nhưng những con người này vẫn nhập cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền. Như thế đủ để lột trần bộ mặt tuyên truyền dối trá của cộng sản, về sự thật của công cuộc đấu tranh dân chủ cho Việt Nam, là chỉ có một số người già nua chế độ cũ chống cộng cực đoan, điên cuồng bởi hào quang quá khứ và còn mang nặng lòng thù hận, mặc cảm thua trận?
Có thể nói với số lượng còm sĩ phân định chính kiến rạch ròi thuộc nhiều thế hệ trên các báo lề dân, các hạt nhân tích cực mới xuất hiện trong phong trào vận động ký thỉnh nguyện thư ở Hoa Kỳ và số đông yêu nước thầm lặng, không đao to búa lớn sống rải rác khắp nơi trên thế giới nếu cùng nhau đồng loạt nhập cuộc, đã đủ điều kiện để loại bỏ ác đảng cộng sản, mạo danh cách mạng, nhân danh nhân dân làm điều vô đạo, tàn dân hại nước.
Tuy nhiên, muốn biến ước mơ dân chủ thành sự thật rất cần hơn nữa những hành động tích cực: một là các còm sĩ cần bước ra thế giới ảo nhập vào hoạt động đấu tranh của đời sống thực; hai là các hạt nhân tích cực trong phong trào ký thỉnh nguyện thư cần có kế hoạch dài hạn và cụ thể hóa mục tiêu đấu tranh trong ngắn hạn; ba là các cá nhân yêu nước thầm lặng cần can đảm rời bỏ sợ hãi để tự tổ chức, tự lãnh đạo nhóm nhỏ đấu tranh đòi hỏi dân sinh, dân quyền và chuẩn bị tiến đến mục tiêu đấu tranh cho dân chủ khi thời cơ tới.
Dù thế, với ba thành phần vừa đề cập đến ở trên, có nguồn gốc, môi trường làm việc và nhận thức khác nhau nên mỗi người chỉ đấu tranh, đóng góp cho dân chủ theo hoàn cảnh cũng như điều kiện khách quan cho phép trừ những cá nhân chọn lựa hoạt động đặc biệt chuyên nghiệp. Do đó, trong tiến trình đấu tranh loại trừ độc tài cộng sản, thực thi dân chủ cho Việt Nam cần phát động toàn diện, cần trong đánh ra, ngoài đánh vào và không thể thiếu công tác ngoại vận, quốc tế vận. Chỉ nhìn vào ba mục tiêu đó, mở ra cho chúng ta thấy rằng không có cá nhân nào đủ khả năng đồng lúc thực hiện, đạt hiệu quả được ba mục mà phải cần đến tổ chức hoạt động chính trị chuyên nghiệp và chỉ có tổ chức mới đủ nhân sự sở hữu chuyên môn đa dạng khác nhau để thi hành điều phối kế hoạch tổng thể khả thi và hiệu quả.
Để thực hiện được mục tiêu trong đánh ra, ngoài đánh vào và công tác ngoại vận, quốc tế vận hiệu quả chúng ta cần nhận ra những việc làm cụ thể:
Thứ nhất: với “trong đánh ra” chúng ta cần cán bộ, đảng viên, viên chức chính phủ, công an, bộ đội phản tỉnh nhận ra đảng cộng sản là sai lầm lịch sử, là tội ác chống nhân dân để các cá nhân này tích cực tự diễn biến, tự chuyển hóa nằm trong lòng chế độ chờ thời cơ đứng lên, góp công loại trừ độc tài cộng sản ra khỏi đất nước Việt Nam. Thế thì ai sẽ vận động, tập hợp lực lượng này nhập cuộc, nhân tuyển nào thích hợp, còn là câu hỏi cho các cá nhân cộng sản phản tỉnh trong cuộc giải đáp, hy vọng những người cộng sản phản tỉnh đã có lời giải?
Thứ hai: với “ngoài đánh vào” có nhiều cách, thật muôn hình vạn trạng nhưng lực lượng chủ lực vẫn là khối công nhân, nông dân, những người lao động tự do và họ chỉ là những ngòi nổ rời rạc có thể gây chấn động nhất thời chứ không thể làm nên đám cháy lớn chôn vùi chế độ bạo tàn cộng sản. Vậy, ai có thể tập trung các ngòi nổ để làm cuộc thay đổi lịch sử? Có thể thấy không khối nhân tuyển nào tốt hơn, thích hợp hơn lực lượng thanh niên sinh viên học sinh, khối nhân sự trẻ trung năng nổ giàu sức sống, đầy tiềm năng.
Thứ ba: với “ngoại vận, quốc tế vận” không nhân tuyển nào tốt hơn cộng đồng người Việt hải ngoại sống khắp nơi trên thế giới và khối người này đã liên tục đấu tranh cho một nước Việt Nam tự do, dân chủ không hề mệt mỏi suốt mấy mươi năm qua. Riêng công tác ngoại vận, người Việt Hải ngoại làm khá tốt, có kết quả khả quan, có lực lượng hậu bị và đã có nhiều nhân sự trẻ tiếp nối hoạt động ngoại vận chuyên nghiệp hữu hiệu, nhiều tiềm năng chúng ta không phải bận tâm nhiều về công tác ngoại vận.
Ngoài ra, số đông yêu nước thầm lặng sinh sống, làm việc ở trong nước hay ngoài nước, ở trong đảng hay ngoài đảng có thể đóng góp cho kế hoạch tổng thể của trong đánh ra, ngoài đánh vào và ngoại vận, quốc tế vận qua các việc cụ thể vì mọi người ai cũng có mối liên hệ bạn bè, lối xóm, thân nhân chằng chịt. Từ mối liên hệ này, chúng ta tìm cơ hội hướng dẫn, giới thiệu càng nhiều người càng tốt đến với các trang báo lề dân, nếu thấy thuận lợi và điều kiện cho phép. Rồi từ những nhân sự ban đầu, chúng ta tự tổ chức, tự lãnh đạo vận dụng những thông tin có được vạch trần bộ mặt buôn dân bán nước của ác đảng cộng sản, phản bác những tuyên truyền dối trá, lừa mị nhân dân, chỉ ra tội ác trời không dung đất không tha của cộng sản gây ra cho đất nước dân tộc này.
Bước kế tiếp là vận động nhân sự có sẵn hoặc tuyển chọn nhân sự thích hợp xâm nhập, tiếp cận ăn cùng, sống cùng, làm cùng với nông dân, công nhân, thành phần lao động, những người không có điều kiện thuận lợi, sử dụng các phương tiện thông tin hiện đại nhằm chỉ ra sai trái, tội ác của cộng sản. Cùng lúc hướng dẫn, giải thích cho họ biết quyền lợi sát sườn liên quan mật thiết đến cơm ăn áo mặc, những quyền đáng ra họ phải được hưởng và những việc, điều luật cấm cán bộ, đảng viên, nhân viên nhà nước không được làm để họ tự đứng lên đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng, thiết thực là quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc cho chính mình. Cuôí cùng, tiến đến việc cùng nhau xuống đường đấu tranh chống tội ác, chống bất công xã hội, hòa nhập vào giòng thác cách mạng dân chủ, đấu tranh dân chủ quét sạch ác đảng độc tài công sản ra khỏi bờ cõi Việt Nam.
Ý kiến vừa trình bày chỉ là gợi ý không phải là giải pháp tối ưu duy nhất đúng cho cách mạng dân chủ Việt Nam, ý kiến này chỉ gợi mở khái niệm về tổ chức và lãnh đạo làm nền cho cách mạng dân chủ khi chưa có “minh quân”, chưa có lãnh tụ “kiệt xuất” xuất hiện lãnh đạo công cuộc đấu tranh loại trừ ác đảng độc tài cộng sản Việt Nam và lực lượng quyết định cho cách mạng dân chủ chưa tiếp cận được với phương tiện thông tin hiện đại. Thiết nghĩ, theo quan sát tình hình thực tiễn, không nên chờ đợi lãnh tụ “tài đức vẹn toàn” ra đời dẫn dắt đấu tranh, vì thời đại này đã có những cuộc cách mạng dân chủ không cần lãnh tụ, đã thành công. Chúng ta cũng nên biết thêm, dù không có lãnh tụ nhưng họ vẫn phải âm thầm tổ chức, lãnh đạo nhiều nhóm nhỏ để khi thời cơ đến, họ phối hợp phát động xuống đường tháo mở xích xiềng nô lệ độc tài toàn trị cho dân tộc họ. Vì thế, muốn hoa tự do dân chủ sớm nở trên đất nước Việt Nam chúng ta cần bắt tay vào tổ chức và lãnh đạo các nhóm nhỏ theo hoàn cảnh, điều kiện, khả năng của mình thay vì thụ động ngồi chờ phép lạ, chờ lãnh tụ hay chờ ai đó làm thay cho chúng ta.
_____________________________________
Chú thích: 
1) Bình Ngô Đại Cáo của Đức Nguyễn Trãi.
2) Trích từ tập thơ Tiếng Vọng Từ Đáy Vực của Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện.

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

HỌC THUYẾT CHIẾN TRANH CỦA BARACK OBAMA

Tài liệu tham khảo đặc biệt  – Chủ nhật, ngày 18/3/2012   -TTXVN (Oasinhtơn 28/2)

Tạp chí Chính sách Đi ngoại (Foreign Policy) s ra tháng 3-4 đăng bài viết của nhà báo David Rohde, người từng hai lần đoạt giải Pulitzer, về học thuyết chiến tranh của Tng thống Mỹ Barack Obama. Sau đây là nội dung bài viết:

Khi Barack Obama nhậm chức ba năm trước đây, không ai gắn cụm từ “tiêu diệt có mục tiêu” với vị tổng thống trẻ đầy lạc quan. Trong diễn văn nhậm chức, cựu giáo sư luật 47 tuổi này chỉ nhắc đến từ “khủng bố” duy nhất một lần. Thay vào đó, ông hứa sẽ sử dụng công nghệ để “tận dụng mặt trời, gió và đất để làm nhiên liệu chạy xe và các nhà máy”.

Một cách kỳ lạ, công nghệ đã giúp Obama có thể trở thành người mà không mấy ai dự đoán: một tổng thống đã mở rộng rất nhiều khả năng của nhánh hành pháp trong việc phát động chiến tranh bí mật công nghệ cao. Với một quyết tâm khiến nhiều người ngạc nhiên, Obama đã tận dụng CIA, mở rộng quyền lực của CIA và chấp thuận các vụ tiêu diệt có mục tiêu với số lượng nhiều hơn bất cứ tổng thống đương đại nào. Trong ba năm qua, Chính quyền Obama đã thực hiện ít nhất 239 vụ tấn công bí mật bằng máy bay không người lái, nhiều hơn năm lần so với con số 44 vụ dưới thời Tổng thống George W. Bush. Và sau khi hứa sẽ tổ chức các chiến dịch chống khủng bố minh bạch hơn, cùng với kiềm chế quyền lực hành pháp, Obama đã làm ngược lại, duy trì tính bí mật và mở rộng quyền hạn của tổng thống.

Một điều không kém phần quan trọng là việc Chính phủ Mỹ sử dụng quá nhiều các vụ tấn công bằng máy bay không người lái đã làm tổn hại một trong những chính sách được hoan nghênh nhất: một cách tiếp cận mới, hậu 11/9, với việc sử dụng các lực lượng tiêu diệt của Mỹ, một cách tiếp cận đa phương, minh bạch và có trọng tâm.

Sự sẵn lòng của Obama trong việc sử dụng các lực lượng tiêu diệt của Mỹ không có gì đáng ngạc nhiên. Trong một bài diễn văn năm 2002, Thượng nghị sĩ bang Illinois Obama đã phản đối cuộc tấn công chiếm đóng Irắc sắp diễn ra của Tổng thống Bush, nhưng không phải là phản đối mọi cuộc chiến tranh, ông nói: “Tôi không phản đối tất cả các cuộc chiến, điều tôi phản đối là một cuộc chiến ngớ ngẩn . Và khi làm tổng thống, trong bài diễn văn nhận giải Nobel Hòa bình vào tháng 12/2009, Obama cảnh báo: “Sẽ có những thời điểm mà các quốc gia – hành động riêng lẻ hoặc tập thể – sẽ sử dụng vũ lực không chỉ khi cần thiết mà cả khi đúng về mặt đạo lý”. Từ đó đến nay, Obama không chỉ gửi quân đến Ápganixtan, Irắc, Libi, mà còn nhiều lần đồng ý cho tiến hành các cuộc tập kích của lính biệt kích tại Pakixtan và Xômali và trên biển, trong khi lãnh đạo một hệ thống đã thực hiện hàng trăm cuộc tấn công bằng máy bay không người lái.

Trong một loạt các cuộc phỏng vấn gần đây, các quan chức chính quyền đương nhiệm và đã rời nhiệm sở đã phác thảo cái có thể gọi là “học thuyết Obama” về sử dụng vũ lực. Việc Obama chủ trương theo chủ nghĩa đa phương, các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái, và sự hiện diện quân sự ít ỏi ở Libi, Pakixtan và Yêmen đã cho thấy hiệu quả hơn là cách tiếp cận đao to búa lớn của ông Bush ở Irắc và Ápganixtan. Ben Rhodes, Phó cố vấn an ninh quốc gia phụ trách truyền thông chiến lược, cho biết: “Chúng tôi sẽ sử dụng vũ lực đơn phương khi cần thiết để chống lại các mối đe dọa trực tiếp đối với Mỹ. Và chúng tôi sẽ sử dụng vũ lực một cách rất chính xác”.

Rhodes lập luận, các cuộc khủng hoảng mà Chính quyền Obama coi là các mối đe dọa gián tiếp đến Mỹ – như các cuộc nổi dậy ở Libi và Xyri – là “các mối đe dọa đối với an ninh toàn cầu” và được phản ứng bằng cách tiếp cận đa phương, không nhất thiết bằng vũ lực. Việc rút quân Mỹ tại Irăc và Ápganixtan, cũng như việc xây dựng một lực lượng quân đội nhỏ gọn, linh hoạt hơn trên khắp châu Á, Thái Bình Dương và Trung Đông, cũng là một phần của học thuyết. Sự ủng hộ một cách thận trọng đối với những người biểu tình ở Ai Cập, Iran và Xyri cũng như vậy.

Chiến lược đang nổi lên – cái mà Rhodes gọi là “đường hướng có trọng tâm cụ thể hơn nhiều đối với các đối thủ” – là một sự thay đổi đáng hoan nghênh từ các chính sách ưa dùng quân sự và ngôn từ hiếu chiến của cả Chính quyền Bush lẫn các ứng cử viên tổng thống hiện nay của đảng Cộng, hòa. Nhưng Obama đã cho CIA quá nhiều tự do trong việc thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái ở Pakixtan và Yêmen. Ở cả hai nước, các cuộc tấn công này thường có vẻ bị phản tác dụng.

Obama và các quan chức chính quyền khác cho rằng các máy bay không người lái được sử dụng hạn chế và làm chết rất ít dân thường. Trong một bình luận công khai hiếm hoi về chương trình này vào cuôi tháng Một vừa qua, Tổng thống Obama lên tiếng bảo vệ các cuộc tấn công. Obama nói: “Tôi muốn chắc chắn rằng mọi người hiểu là các máy bay không người lái không gây ra một lượng thương vong lớn cho dân thường. Phần lớn đây là các cuộc tấn công rất chính xác nhằm vào Al-Qaeda và các tổ chức ngoại vi. Và chúng tôi rất thận trọng khi áp dụng .

Nhưng từ Pakixtan tới Yêmen, tới một Irắc thời hậu Mỹ, máy bay không người lái thường gây ra sự phản kháng sâu sắc ớ những nơi nó hoạt động. Khi tấn công, chúng giết chóc không hề kém một loại vũ khí chiến tranh nào. Việc Chính phủ Mỹ xếp các cuộc tấn công trong diện “bí mật” chỉ làm gia tăng sự giận dữ và nghi kỵ của người dân địa phương. Dưới thời Obama, các cuộc tấn công này đã trở nên quá thường xuyên, quá đơn phương, và quá gần với việc sử dụng sức mạnh Mỹ theo kiểu mạnh tay.

Năm 2008, tôi chứng kiến việc này lần đầu tiên. Hai đồng nghiệp người Ápganixtan và tôi bị Taliban bắt cóc và giữ làm con tin tại các vùng thiểu số của Pakixtan trong bảy tháng. Từ dưới mặt đất, máy bay không người lái là một thứ vũ khí đáng sợ mà người ta có thể nghe thấy nó lượn vòng trên đầu hàng giờ liền. Chúng có uy lực và là biểu tượng đáng sợ của sức mạnh Mỹ không thể bị ngăn chặn. Đồng thời, chúng lại rất hiệu quả, có thể tiêu diệt những kẻ sản xuất bom ở nước ngoài và ngăn chặn các chiến binh Taliban tập hợp thành các nhóm lớn. Kinh nghiệm này khiến tôi bị thuyết phục rằng các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái cần được thực hiện – nhưng phải rất có lựa chọn.

Trong các cuộc phỏng vấn, các quan chức cả đương nhiệm lẫn đã rời nhiệm sở của Chính quyền Obama nói rằng tổng thống và các cận sự cao cấp của ông đã sốt sắng ngay từ đầu trong việc thể hiện sự khác biệt giữa cách tiếp cận của họ tại Pakixtan và Ápganixtan với Chính quyền Bush. Không giống như Irắc, trường hợp mà những người của đảng Dân chủ cho rằng Chính quyền Bush đã quá hiếu chiến, họ lại cho rằng Nhà Trắng dưới thời Bush đã không đủ cứng rắn đối với các nhà lãnh đạo Ápganixtan và Pakixtan. Vì thế chính quyền mới có cách tiếp cận đơn phương, cứng rắn hơn tại Nam Á và cách tiếp cận này sau đó được áp dụng với những nơi khác. Khi còn tranh cử, Obama tuyên bố trong chiến dịch hồi năm 2007 về tổng thống của Pakixtan khi đó rằng “Nếu chúng ta có thông tin tình báo ở mức có thể hành động được về các đối tượng khủng bố có giá trị cao mà Tổng thống Musharraf không hành động, chúng ta sẽ hành động”.

Trong năm đầu tiên tại vị, Tổng thống Obama chuẩn y hai đợt tăng quân lớn ở Ápganixtan và gia tăng nhanh chóng số lượng các điệp viên CIA tại Pakixtan. CIA cũng được tự do hơn trong việc thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tại các, vùng thiểu số không được chính phủ kiểm soát tại nước này, nơi các chiến binh nước ngoài và địa phương lên kế hoạch tấn công vào Ápganixtan, Pakixtan và những nơi khác.

Quyết định này phản ảnh cả niềm tin của Obama vào sự cần thiết phải chủ động hơn tại Pakixtan lẫn ảnh hưởng của CIA trong chính quyền mới. Theo các quan chức cũ lẫn đương nhiệm của chính quyền, ở một phạm vi lớn hơn so với thời Bush, Obama và các cận sự cao cấp đã dựa vào CIA để có phân tích về tình hình Pakixtan. Kết quả là, duy trì khả năng của CIA trong việc thực hiện hoạt động chống khủng bố ở Pakixtan đã trở thành ưu tiên tối cao.

Một cựu quan chức nói: “Điều quan trọng nhất khi nói đến Pakixtan là phải có khả năng thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái, ngoài ra không có gì khác. Cái gọi là trọng tâm chiến lược của mối quan hệ song phương chỉ đơn thuần để phục vụ cho cách tiếp cận chống khủng bố”.

Ban đầu, CIA đã đúng. Việc gia tăng các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái đã loại bỏ các thành viên cao cấp của Al-Qaeda trong năm 2009. Sau đó, vào tháng 7/2010, những người Pakixtan làm việc cho CIA bám sát theo một chiếc Suzuki màu trắng trên các con phố đông đúc ở Peshawar. Sau đó người ta lần theo người lái xe tới một dinh thự lớn ở thành phố Abbottabad. Ngày 2/5/2011, lính biệt kích Mỹ đã tiêu diệt Osama Bin Laden tại đây.

Tuy nhiên, theo các cựu quan chức Mỹ, sự hiện diện của tình báo Mỹ đã vượt xa mục tiêu truy lùng Bin Laden. Có thời điểm CIA đã cố triển khai hàng trăm nhân viên ở khắp Pakixtan nhưng sau đó đã rút lại kế hoạch vì các quan chức Pakixtan đang nghi kỵ đã từ chối cấp thị thực cho những người này. Đồng thời, CIA đã tích cực sử dụng quyền tự do mà Obama cho phép để thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái nhiều nhất từ trước tới nay.

Được thành lập dưới thời Chính quyền Bush và Musharraf vào năm 2004, chương trình máy bay không người lái bí mật của CIA ban đầu chỉ thực hiện các cuộc tấn công “cá nhân” nhằm vào danh sách các thành viên cao cấp của Al-Qaeda đã được đồng ý trước. Các quan chức Pakixtan được thông báo trước khi diễn ra rất nhiều, nhưng không phải tất cả, các cuộc tấn công. Trong khoảng từ năm 2004 đến 2007, theo tổ chức New America Foundation, 9 cuộc tấn công như vậy được thực hiện tại Pakixtan.

Năm 2008, Chính quyền Bush nới lỏng hạn chế các cuộc tấn công vào các vùng thiểu số. Thay vì dựa trên thông tin tình báo về một cá nhân cụ thể, những người điều khiển máy bay không người lái của CIA có thể thực hiện các cuộc tấn công dựa trên hành vi của những người dưới mặt đất. Họ có thể thực hiện các cuộc tấn công nếu, chẳng hạn, thấy một nhóm người qua lại vùng biên giới Ápganixtan-Pakixtan. Trong năm 2008, Chính quyền Bush thực hiện 33 cuộc tấn công.

Dưới thời Obama, chiến dịch sử dụng máy bay không người lái gia tăng nhanh chóng. Con số các cuộc tấn công đã tăng gần gấp đôi lên 53 trong, năm 2009 và gấp đôi tiếp lên 118 vào năm 2010. Các quan chức cũ trong chính quyền nói rằng các quy định lỏng lẻo hơn đã dẫn đến việc giết hại nhiều thường dân hơn. Các quan chức đương nhiệm thì cho rằng Obama thực chất đã thắt chặt các quy định về việc sử dụng máy bay không người lái tấn công, kể từ khi nhậm chức đến nay. Họ nói rằng số lượng các vụ tấn công tăng lên dưới thời Obama là vì công nghệ được cải thiện và thông tin tình báo thu thập được đã tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các cuộc tấn công so với thời Bush.

Nhưng khi sự giận dữ của công luận tại Pakixtan gia tăng, các nhà ngoại giao khác cùng thể hiện sự lo ngại. Đại sứ Mỹ tại Pakixtan một thời là Anne Patterson đã phản đối nhiều vụ tấn công, nhưng CIA phớt lờ ý kiến của bà. Khi Cameron Munter thay thế Patterson vào tháng 10/2010, ông thậm chí còn phản đối mạnh mẽ hơn. Tờ Nhật báo Phố Uôn sau đó cho biết có ít nhất hai lần giám đốc CIA Leon Panetta đã gạt bỏ lời phản đối của Munter và cho phép các cuộc tấn công. Một cuộc xảy ra chỉ vài giờ sau khi Thượng nghị sĩ John Kerry, Chủ tịch ủy ban Đối ngoại Thượng viện, kết thúc chuyến thăm tới Ixlamabát.

Một cuộc tấn công vào tháng 3/2011 đã gây nên tranh cãi tại Nhà Trắng. Một ngày sau khi các quan chức Pakixtan đồng ý thả Raymond Davis, một nhân viên hợp đồng với CIA, cơ quan này – một lần nữa bất chấp phản đối của Đại sứ Munter – thực hiện một vụ tấn công mà người Pakixtan cho biết đã giết chết 4 phiến quân Taliban và 38 dân thường, vốn đã bất bình về vụ Raymond Davis, Tư lệnh Lục quân Pakixtan là Tướng Ashfaq Parvez Kayani ra một tuyên bố bất thường, nói rằng một nhóm người già thuộc sắc tộc thiếu số đã bị nhắm thành mục tiêu một cách bất cẩn và nhẫn tâm với thái độ coi thường hoàn toàn mạng sống con người. Các quan chức tình báo Mỹ đã phớt lờ phàn nàn của Pakixtan và khẳng định rằng 20 phiến quân đã bị tiêu diệt. Một quan chức nói với hãng tin AP rằng “Có mọi biểu hiện cho thấy đây là một nhóm khúng bố, không phải là một cơ sở rửa xe từ thiện nằm sâu trong lãnh thổ Pakixtan.

Bất ngờ trước phản ứng chính thức mạnh mẽ của Pakixtan, cố vấn an ninh quốc gia Tom Donilon đặt câu hỏi liệu các cuộc tấn công kiểu này có đáng làm hay không. Những người chỉ trích bên trong và ngoài Chính phủ Mỹ cho rằng một chương trình ban đầu vốn là nỗ lực có mục tiêu cẩn trọng nhằm tiêu diệt các lãnh đạo cao cấp của Al-Qaeda đã biến thành một chiến dịch đánh bom nhằm vào các phần tử Taliban cấp thấp. Một số nhà phân tích bên ngoài thậm chí còn cho rằng chính quyền đã thực hiện một chính sách bất thành văn là “diệt không cần bắt sống”, do không có khả năng đóng cứa nhà tù Guantanamo của thời Bush và xây dựng một hệ thống giam giữ mới.

Vào tháng 4/2011, giám đốc cơ quan tình báo Pakixtan, Trung tướng Ahmed Shuja Pasha, đến thăm Oasinhtơn trong một nỗ lực nhằm cải thiện lại quan hệ. Ngay sau chuyến thăm này, lại có thêm hai cuộc tấn công bằng máy bay không người lái xảy ra tại các khu vực người thiểu số, điều mà ông Pasha coi là một sự xỉ nhục đối với cá nhân mình. Trong một động thái nhượng bộ hiếm có, Leon Panetta đồng ý thông báo cho cơ quan tình báo Pakixtan trước khi Mỹ thực hiện bất cứ cuộc tấn công nào có thể giết chết trên 20 người.

Tháng Năm, sau khi cuộc tập kích Bin Laden gây ra thêm sự giận dữ cho các quan chức Pakixtan, một quan chức chính quyền cho biết cố vấn Donilon mở một cuộc tổng kết trong nội bộ về việc các cuộc tấn công đã được chấp thuận như thế nào. Nhưng sau đó các cuộc tấn công vẫn tiếp diễn. Cuối tháng đó, các quan chức của Bộ Ngoại giao Mỹ nổi giận khi có ba cuộc tấn công bằng tên lửa diễn ra sau chuyến thăm của Ngoại trưởng Hillary Clinton tới Pakixtan.

Khi chương trình tổng kết của cố vấn an ninh Donilon tiến triển, tờ Nhật báo Phố Uôn cho biết đã diễn ra một cuộc tranh cãi gay gắt trong Chính quyền Obama về việc sử dụng máy bay không người lái. Đô đốc Mike Mullen, khi đó là Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, nói rằng các cuộc tấn công nên có chọn lọc hơn. Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates canh báo rằng các quan chức Pakixtan đang giận dữ có thể cắt các tiếp viện cho quân Mỹ tại Ápganixtan. Bà Clinton cảnh báo rằng việc quá nhiều thương vong cho đân thường có thể củng cố phe đối lập tại Pakixtan trước tổng thống Asif Ali Zardari đang ở thế yếu.

Theo một cựu quan chức, CIA phản bác lại rằng các phiến quân Taliban là các mục tiêu hợp lệ vì họ đang thực hiện các cuộc tấn công ở bên kia biên giới nhằm vào các lực lượng Mỹ. Đến tháng Sáu, Obama đứng về phía CIA, Panetta chấp thuận rằng sẽ không thực hiện vụ tấn công nào khi các quan chức Pakixtan đến thăm Oasinhtơn và rằng Ngoại trưởng Clinton và đại sứ Munter có thể phản đối các kế hoạch tấn công. Nhưns Obama vẫn cho phép giám đốc CIA quyền quyết định cuối cùng.

Tháng 11/2011, tình huống xấu nhất mà Mullen, Gates và Clinton cảnh báo đã xảy ra. Sau khi các cuộc không kích của NATO giết nhầm 24 binh lính Pakixtan trên biên giới Ápganixtan-Pakixtan, Kayani yêu cầu chấm dứt các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái và chặn đường tiếp tế cho binh sĩ Mỹ tại Ápeanixtan. Đồng thời, phe đối lập với Tổng thống Zardar mạnh lên nhanh chóng. Sau khoảng gần hai tháng tạm lắng cho phép các phiến quân tập hợp lại, các cuộc tấn công lại tiếp diễn tại các vùng thiểu số hồi tháng Một vừa qua. Nhưng theo một cựu quan chức cao cấp, các cuộc tấn công dựa trên “dấu hiệu” đã không còn được phép vào lúc này.

Đối với người dân Pakixtan, các cuộc tấn công có tác động rất tai hại. Trong một thăm dò của Trung tâm nghiên cứu PEW, 97% người dân Pakixtan được biết về các cuộc tấn công cho rằng các vụ việc này là một điều tồi tệ. 73% người Pakixtan có quan điểm không ủng hộ Mỹ, cao hơn 10% so với năm 2008. Các quan chức chính quyền nói rằng các cuộc tấn công này được sự ủng hộ của những người Pakixtan ở vùng sắc tộc và đã mệt mỏi với sự cai trị tàn bạo của lực lượng thánh chiến, Và họ cho rằng các quan chức Chính phủ Pakixtan – trong khi chỉ trích các cuộc tấn công trước công luận – lại đồng ý khi riêng tư rằng chúng giúp chống lại lực lượng phiến quân. Các quan chức Mỹ cũng đồng tình rằng việc minh bạch hơn các cuộc tấn công có thể giảm bớt sự giận dữ của công luận tại những nơi khác ở Pakixtan. Nhưng họ nói rằng một số bộ phận trong Chính phủ Pakixtan tiếp tục đòi hỏi giữ bí mật các cuộc tấn công.

Điều chung quy là đường hướng của cả hai chính phủ đều đang thất bại. Nền kinh tế Pakixtan đang hết sức khó khăn. Lực lượng quân sự tiếp tục che chở cho các phiến quân Taliban mà họ coi là vũ khí để chống lại ảnh hưởng của Ấn Độ tại Ápganixtan. Tỉ lệ người Pakixtan ủng hộ việc sử dụng quân đội Pakixtan chống lại các phần tử cực đoan ở vùng sắc tộc – điều mấu chốt đế loại bỏ phiến quân – đã giảm nhanh chóng từ mức 53% năm 2009 xuống còn 37% vào năm ngoái. Pakixtan hiện bất ổn hơn so với khi ông Obama nhậm chức.

Một động lực tương tự đang tạo ra kết quả thậm chí còn xấu hơn ở điểm phía Nam của Bán đảo Arập. Sau một thời gian dài Mỹ không chú ý, Yêmen đột ngột trở thành tâm điểm sau một cuộc tấn công liều chết vào tàu USS Cole khiến 17 thủy thủ Mỹ thiệt mạng ở cảng Aden vào năm 2000. Năm 2002, Chính quyền Bush thực hiện một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tại Yemen, giết chết Abu Ali al-Harithi, một nhân vật Al- Qaeda có vai trò chủ chốt trong việc tổ chức cuộc tấn công vào tàu Cole. Trong những năm sau đó, Chính phủ Mỹ chuyển dần sự chú ý tới Irắc và các nhóm phiến quân bắt đầu tập hợp lại.

Vụ tấn công không thành vào tháng 12/2009 của một phiến quân được huấn luyện tại Yemen khi tên này định phát nổ một trái bom trên một chuyến bay đến Detroit đã khiến Obama chú ý đến quốc gia này. Trong hai năm sau đó, Mỹ thực hiện khoảng 20 vụ không kích tại Yemen, hầu hết trong năm 2011. Ngoài việc tiêu diệt các phần tử có liên hệ với Al – Qaeda, các cuộc tấn công còn làm chết hàng chục dân thường. Theo Gregory Johnsen, một chuyên gia về Yêmen tại Đại học Princeton, thay vì làm suy yếu Al-Qaeda, các cuộc tấn công của Obama đã làm tăng thêm quân số của tổ chức tại vùng Bán đảo Arập từ 300 năm 2009 lên hơn 1000 hiện nay. Tháng Một vừa qua, tổ chức này còn kiểm soát được trong thời gian ngắn thị trấn Radda chỉ cách thủ đô Sanaa 100 dặm. Chuyên gia Johnsen nói: “Tôi không tin rằng Mỹ có một chính sách đối với Yêmen. Cái mà Mỹ có là một chiến lược chống khủng bố áp dụng vào Yemen .

Cái chết của Bin Laden và các cận sự là một bước tiến, nhưng Pakixtan và Yêmen đang ngày càng bất ổn. Pakixtan là một nước có vũ khí hạt nhân với 180 triệu dân và các mạng lưới phiến quân ngoan cường. Yêmen, một quốc gia nghèo đói và thất bại, đang nhanh chóng trở thành căn cứ địa mới của Al-Qaeda. Một cựu quan chức của Chính quyền Obama nói: “Họ nghĩ rằng họ đã chiến thắng vì đường hướng này. Nhiều người trong chúng tôi cho rằng sẽ có nhiều vấn đề lớn hơn trong tương lai”.

Sự phản tác dụng từ các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tại các quốc gia mà Mỹ áp dụng không phải là điều lo ngại duy nhất. Tại Mỹ, các tổ chức dân quyền và nhân quyền đang ngày càng quan ngại về phạm vi quyền lực mà Obama dành cho phía hành pháp khi mà ông phát động một hình thức chiến tranh mới.

Trong cuộc xung đột Libi, Chính phủ Mỹ đã dùng đến máy bay không người lái để tạo một tiền lệ pháp lý mới. Theo Nghị quyết Quyền hạn Chiến tranh, tổng thống phải được sự chấp thuận của Quốc hội cho các hành động quân sự trong vòng 60 ngày. Khi sắp hết thời hạn đó hồi tháng Năm, chính quyền thông báo rằng vì các cuộc tấn công của NATO và máy bay không người lái đang thực hiện sứ mệnh, nên không có mối đe dọa nghiêm trọng nào về nhân mạng đối với Mỹ và vì thế không cần sự phê chuẩn của Quốc hội. Theo Peter Singer, một nhà nghiên cứu của Viện Brookings, “nó đã thay đổi cách các chính trị gia nói về điều gì nên là quan trọng nhất mà một quốc gia tham gia .

Mùa Thu năm ngoái, một loạt các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tại Yêmen đã tạo nên một tiền lệ nguy hiểm khác, theo các tổ chức tự do dân quyền và nhân quyền. Không có bất cứ một tiến trình pháp luật công khai nào, Chính phủ Mỹ hành quyết ba công dân của chính mình. Ngày 30/9, một cuộc tấn công bằng máy bay lchông người lái đã giết chết Anwar al-Awlaki, một giáo sĩ có uy tín sinh ra tại Mỹ mang gốc Yêmen bị cho là khích động các cuộc tấn công khủng bố trên khắp thế giới. Samir Khan, một phần tử thánh chiến người Mỹ gốc Pakixtan đi cùng cùng bị giết. Nhiều tuần sau đó, một cuộc tấn công khác đã giết chết con trai 16 tuổi của Awlaki, Abdulrahman al-Awlaki, cũng là một công dân Mỹ. Các quan chức chính quyền khẳng định rằng Bộ Tư pháp đã xem xét và cho phép các vụ tấn công, nhưng lại từ chối cung cấp văn bản.

Jameel Jaffer, Phó Giám đốc phụ trách pháp lý của Liên minh Quyền tự do Dân sự Mỹ, nói: “Chính quyền đã cho mình quyền thực hiện các cuộc hành quyết ngoại tụng đối với công dân Mỹ trên cơ sở chứng cứ bí mật và không ai thấy bao giờ. Rất khó có thể hiểu điều này đã tuân thủ hiến pháp như thế nào.

Sau khi chỉ trích Chính quyền Bush đã giữ bí mật chi tiết về các hoạt động giám sát, tham vấn và giam giữ, Obama giờ đang làm điều tương tự. Chính quvền của ông đã từ chối cung cấp các chi tiết về việc tại sao lại đặt một người vào danh sách cần tiêu diệt, thực hiện các vụ nghe trộm ở Mỹ, hay quyết định phải giam giữ ai ở nước ngoài. Chính quyền Obama cũng đang truy tố sáu cựu quan chức chính phủ với các cáo buộc làm lộ thông tin mật cho giới truyền thông – nhiều hơn tất cả các vụ việc của các chính quyền trước đó cộng lại.

Các quan chức chính quyền bác bỏ việc giữ bí mật và khẳng định rằng họ đã công bố thông tin về các hoạt động chống khủng bố nhiều hơn so với Chính quyền Bush, vốn đã từ chối quyết liệt việc công bố các chi tiết về “cuộc chiến chống khủng bố” và lập ra chương trình máy bay không người lái bí mật tại Pakixtan. Các quan chức của Obama nói họ đã xây dựng cách tiếp cận minh bạch hơn và linh hoạt hơn bên ngoài Pakixtan, có liên quan tới các cuộc tập kích quân sự, tấn công bằng máy bay không người lái, và các nỗ lực khác. Họ cho biết mọi cuộc tấn công tại Yêmen đều được các quan chức Yêmen chấp thuận. Cuối cùng, họ hy vọng biến các cuộc tấn công này thành các hoạt động chung, được thực hiện một cách công khai với chính quyền địa phương.

Theo Jaffer, việc giữ bí mật các hoạt động này khiến các tòa án Mỹ không thể xem xét tính hợp hiến của nó. Chuyên gia này chỉ ra rằng nếu một tổng thống của đảng Cộng hòa đi theo các chính sách như vậy, sự phản đối từ phía tả sẽ cực kỳ ồn ào. Jaffer nói: “Cần phái nhớ rằng quyền hạn này sẽ được chính quyền tiếp theo và tiếp sau nữa sử dụng.

Một cách xứng đáng, Obama và các quan chức cao cấp của ông đã thành công trong việc giới hạn lại cuộc chiến toàn cầu của ông Bush thành một cuộc chiến có trọng điểm hơn nhằm vào Al-Qaeda. Họ đã chấm dứt sử dụng thuật ngữ “cuộc chiến chống khủng bố” và thay vào đó coi đây là chiến dịch nhằm vào một tổ chức riêng biệt, được xác định rõ ràng.

Các quan chức Chính quyền Obama coi việc lật đổ Muammar Gaddafi là một ví dụ điển hình cho sự thành công của cách tiếp cận đa phương và có trọng điểm hơn trong sử dụng vũ lực. Với chi phí nhân mạng của Mỹ bằng không và 1 tỉ USD, cuộc can thiệp ở Libi đã loại bỏ được một kẻ độc tài trong 5 tháng. Cuộc tấn công chiếm đóng Irắc đã làm 4484 người Mỹ thiệt mạng, tiêu tốn ít nhất 700 tỉ USD, và kéo dài gần 9 năm.

Phó cố vấn an ninh quốc gia Ben Rhodes nói: “Dấu ấn nhỏ của Mỹ không chỉ mang lại ích lợi về nhân mạng và nguồn lực. Chúng tôi tin rằng cuộc cách mạng Libi còn được coi là có tính chính danh hơn. Mỹ được hoan nghênh hơn. Và có ít khả năng xảy ra nổi dậy hơn vì không có sự hiện diện của các lực lượng nước ngoài .

Trong đề xuất tham vọng nhất của mình, Chính quyền Obama đang cố gắng tái cấu trúc quân đội Mỹ, thực hiện cắt giảm mạnh chi tiêu, và đưa về “quy mô đúng” các lực lượng Mỹ trên khắp thế giới. Theo kế hoạch của Obama, Lục quân Mỹ sẽ giảm 80.000 quân, một số đơn vị của Mỹ sẽ được chuyển từ Trung Đông sang Thái Bình Dương, và mở thêm các căn cứ nhỏ, bí mật. Các đơn vị thuộc Lực lượng Đặc biệt đã mở rộng quy mô rất lớn tại Irắc và Ápganixtan sẽ huấn luyện các lực lượng địa phương và thực hiện các cuộc tập kích chống khủng bố. Tuyên bố Al-Qaeda gần như đã bị đánh bại, các quan chức chính quyền nói giờ là lúc chuyển sang một trọng tâm mới.

Ben Rhodes nói: “Mỹ sẽ có lợi ích lớn hơn ở đâu vào năm 2020? Là châu Á – Thái Bình Dương hay Yêmen? Rõ ràng, khu vực châu Á – Thái, Bình Dương đang ngày càng trở nên quan trọng hơn . Ben Rhodes có lý, nhưng Pakixtan và vũ khí hạt nhân của họ – cũng như Yêmen và vị trí lân cận của nó đối với các mỏ dầu và đường biển tối quan trọng – nhiều khả năng vẫn sẽ ám ảnh Mỹ trong nhiều năm nữa./.

 

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

LIỆU NGÔI NHÀ CHÂU ÂU B CHIA RẼ CÓ TH ĐNG VỮNG?

Tài liệu tham khảo đặc biệt   -Thứ hai, ngày 19/3/2012   —-(Hugo Dixon – Tạp chí Foreign Affairs )

Theo sự hiểu biết thông thường, khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu không thể có một liên minh tiền tệ mà không có một liên minh tài chính. Những người ủng hộ nhiệt tình đồng euro coi đồng tiền chung duy nhất như là bàn đạp đầu tiên hướng tới một liên minh kinh tế rộng lớn hơn vốn vẫn là giấc mơ của họ. Những người hoài nghi về đồng euro cũng có suy nghĩ như vậy nhưng họ coi kết cục đó như một địa ngục và muốn hủy bỏ đồng tiền chung duy nhất.

Đối với nhiều nhà quan sát, cuộc khủng hoang đồng euro đã củng cố những quan niệm này. Cả hai phe tranh luận rằng những nỗ lực không cân xứng của các nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro nhằm xây dựng một liên minh tiền tệ mà không có một liên minh tài chính giải thích vì sao liên minh này đã trở thành một thứ hỗn độn kiểu như vậy. Nhiều người hăng hái ủng hộ nói rằng con đường tiến về phía trước là 17 nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro phát hành các trái phiếu ngoại lai (euro bonds) mà tất cả họ phải đứng ra bảo đảm (một trong một vài biến tấu trên chủ đề về học thuyết liên minh tiền tệ). Ngay cả Chính phủ Đức vốn miễn cưỡng phải bỏ tiền ra để bảo trợ cho các nền kinh tế yếu kém hơn nền kinh tế nước này cũng cho rằng kiểu góp vốn nhất định có thể là cần thiết một khi những vấn đề nợ nần được giải quyết.

Một liên minh tài chính sẽ không xuất hiện ngay vào bất kỳ lúc nào, và chắc chắn không đến nhanh đủ mức để giải quyết cuộc khủng hoảng hiện nay. Liên minh này cần có một hiệp ước mới và điều đó đòi hỏi một sự nhất trí đồng thuận. Thật khó tưởng tượng làm thế nào để nhanh chóng đạt được một thỏa thuận kiểu như vậy do sự phản đối quyết liệt của các chính khách và công chúng ở các nền kinh tế tương đối lành mạnh thuộc khu vực sử dụng đồng euro (dẫn đầu là Phần Lan, Đức và Hà Lan) đối với việc tiếp tục cứu trợ tài chính những nước yếu kém hơn họ (như Hy Lạp, Alien, Italia, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha). Ngoài ra, một khi cuộc khủng hoảng này được giải quyết, nhiệt tình dành cho việc thiết lập một liên minh tài chính có thể bị giảm sút. Ngay cho là Đức hiện vẫn chuẩn bị chia sẻ một số trách nhiệm về vấn đề ngân sách nước này sẽ yêu cầu áp đặt kỷ luật chặt chẽ về việc các nước khác có thể chi tiêu và vay mượn như thế nào. Trong khi đó, các nước yếu hơn có thể không muốn qui phục một sự trói tay trói chân của người Giécmanh. một khi nỗi lo ngại trước mắt về việc phá sản đã trôi qua.

Nhưng không chỉ có hai con đường ở phía trước: liên minh tiền tệ hoặc xóa bỏ đồng euro. Có một sự lựa chọn thứ ba thích hợp hơn: một kiểu ký luật thị trường kết hợp với nhiệt tình mạnh mẽ. Theo giải pháp này, cá nhân mỗi nước sẽ phải có trách nhiệm tối đa đối với nền tài chính của những nước đó nhưng họ cũng cần phải chấp nhận mạnh mẽ hơn thị trường tự do. Các chính phủ đã vay mượn quá nhiều tiền sẽ phải được tự do phá sản. Cũng cần có những sự cứu trợ tài chính hạn chế dành cho các chính phủ và ngân hàng ít gặp rắc rối hơn, mặc dù đổi lại phải tiến hành công cuộc cải cách kinh tế và việc thắt lưng buộc bụng. Kết quả dẫn đến sẽ là các nền kinh tế thích hợp hơn và một châu Âu có đủ sức mạnh để đóng một vai trò lớn hơn trên vũ đài thế giới.

Khi bài báo này được đăng, cuộc khủng hoảng ở khu vực sử dụng đồng euro đã ở trong giai đoạn đặc biệt gay gắt. Các thị trường ở trong tình trạng rất lo ngại, việc cứu trợ cả gói mới đây nhất cho Hy Lạp cũng vấp phải khó khăn, và hầu hết khu vực này đã mấp mé ở bên bờ vực của suy thoái. Tây Ban Nha đang ở giữa chiến dịch tổng tuyển cử, và Chính phủ của Silvio Berlusconi ở Italia đã để mất chính quyền. Tuy nhiên, giữa sự hỗn độn, đã có những dấu hiệu cho thấy khu vực sử dụng đồng euro có thể luẩn quấn vụng về tiến tới một cái gì đó giống như sự lựa chọn quy tắc thị trường cộng thêm nhiệt tình mạnh mẽ để giải quyết những cuộc khủng hoảng trước mắt. Khu vực này cũng cần phải chấp nhận nó như một mô hình dài hạn.

Sự chia rẽ

về lý thuyết, một đồng tiền chung có nhiều lợi thế đối với thị trường chung duy nhất của Liên minh châu Âu, trong đó cũng bao gồm các nước, chẳng hạn như Liên hiệp Vương quốc Anh, đã quyết định đứng ngoài khu vực sử dụng đồng euro. Khi người dân không lo ngại về những đồng tiền bị thay đổi thất thường, họ có thể làm ăn kinh doanh xuyên biên giới dễ dàng hơn, tham gia đầu tư dài hạn ở bất kỳ đâu trên thị trường này đồng thời xây dựng các hãng kinh doanh xuyên quốc gia. Khả năng khai thác các nền kinh tể có quy mô và cơ hội để cạnh tranh trên khắp lục địa là những phần thưởng đáng giá.

Nhưng cũng có một bất lợi lớn: các nước riêng biệt đã để tuột mất khả năng làm cho các chính sách tiền tệ của họ thích ứng với những nhu câu đặc biệt của họ bằng việc định ra các tỉ lệ lãi suất riêng của họ. Thay cho việc này, Ngân hàng Trung ương châu Âu đã định ra các lãi suất, và đây là cả một vấn đề vì các nền kinh tế khác nhau đang chuyển động với những tốc độ khác nhau. Ví dụ như các lãi suất thấp trên khắp khu vực sử dụng đồng euro trong những năm sát năm 2007 đã thổi phồng bong bóng nhà ở xảy ra sau đó ở Tây Ban Nha.

Liệu những lợi ích của việc có một đồng tiền chung duy nhất có lớn hơn những chi phí để có được đồng tiền này hay không phụ thuộc chủ yếu vào ba nhân tố: nét tương tự giữa các nền kinh tế được bảo vệ bởi chính sách tiền tệ chung duy nhất, sự linh hoạt của chúng và việc duy trì một ngân sách trung ương lớn có thể được sử dụng để chuyển tiền từ những khu vực phát đạt sang những khu vực đang phải vật lộn để phát triển. Các nền kinh tế với những cơ cấu và chu kỳ tương tự cảm thấy dễ dàng hơn trong việc chung sống với một chính sách tiền tệ một cỡ vừa cho tất cả . Thậm chí các nền kinh tế khác hiệt có thể đối phó với một đồng tiền chung duy nhất chừng nào mà họ vẫn có khả năng thích ứng – cụ thể là chừng nào mà các doanh nghiệp của họ có thể đễ dàng thuê và sa thải nhân viên và người dân sẵn sàng vượt biên giới để tìm kiếm việc làm.

Khu vực sử dụng đồng euro không thể nổi lên một cách tốt đẹp bằng bất kỳ giải pháp nào trong số những giải pháp này, đặc biệt khi so sánh với Mỹ. Các nền kinh tế châu Âu hiện đa dạng, các thị trường lao động của khu vực này bị bao vây bởi những hạn chế phức tạp, và châu Âu chỉ có một ngân sách trung ương nhỏ mà nhờ đó có thể giúp các khu vực đang vấp phải khó khăn. Đây là lý do vì sao những người nhiệt tình ủng hộ đồng euro cũng như những người còn hoài nghi về đồng tiền này – từ Jacques Delors, cựu Chủ tịch Ủy ban châu Âu và là một trong những kiến trúc sư chủ đạo của việc dưa ra đồng tiền chung duy nhất, cho tới Boris Johnson, thị trưởng Luân Đôn lập luận rằng một liên minh tài chính là cần thiết để bôi trơn những bánh xe của liên minh tiền tệ.

Tăng thêm nnần

Nhưng có một cách sống khác trong những sự kiềm chế của một chinh sách tiền tệ một cỡ vừa cho tất cả : củng cố các nước thành viên yếu kém hơn của châu Âu, đặc biệt bằng việc làm cho các nền kinh tế của họ trở nên linh hoạt hơn. Trước khi đồng tiền chung duy nhất được đưa ra vào năm 1999, các chính phủ không có động cơ thực thi những cải cách cứng rắn cần thiết để làm cho điều đó xảy ra. Bất kỳ khi nào các nước như Hy Lạp hoặc Italia thấy họ trở nên không có khả năng cạnh tranh, các chính phủ của họ lại phá phá các đồng tiền của nước họ. Sau khi liên minh tiền tệ được thiết lập, các nền kinh tế không đạt tiêu chuẩn cần thiết của khu vực sử dụng đồng euro đã tìm thấy một lối thoát khác: họ đã đi vay mượn tiền. Việc này cho phép các chính phủ đó tài trợ những mức chi phí cao mà không cần tăng thuế. Nhưng khi các nền kinh tế này trở nên yếu kém hơn, sự cạnh tranh của họ đã bị giảm sút.

Nhiều nước cũng đã bị chồng chất nợ nần, gieo hạt cho cuộc khủng hoảng nợ hiện nay. Theo Hiệp ước Maastricht, hiệp ước đã mở ra tiến trình thiết lập liên minh tiền tệ, các chính phủ được cho là không vấp phải nợ nần tương đương trên 60% của GDP, nhưng tất cả các nền kinh tế chủ yếu của khu vực sử dụng đồng euro đã vượt đáng kể mức đó. Sau khi nền kinh tế thể giới trở nên trì trệ vào đầu thế kỷ này, các nước được coi là có đạo đức, chẳng hạn như Pháp và Đức, đã bắt đầu các nguyên tắc coi thường nhằm hạn chế mức thâm hụt ngân sách. Rồi sau đó không có cơ hội để làm cho những nước khác tuân theo kỷ luật. Năm ngoái, các tỉ lệ nợ so với GDP của Pháp và Đức đã vượt quá 80%; tỉ lệ trên của Italia lên tới 119% và của Hy Lạp là 143%.

Nợ nần tăng không chỉ vì các chính phủ đã phá vỡ luật lệ; Nợ nần tăng do các chính phũ đã tìm cách thuyết phục các nhà đầu tư, đặc biệt là các ngân hàng và các công ty bảo hiểm, cho họ vay tiền. Bắt đầu từ đầu năm 2010, các nhà dầu tư cuối cùng đã ngừng tài trợ cho Hy Lạp; sau đó, họ đã ngừng tài trợ cho Ailen và Bồ Đào Nha. Nhưng tác động của trái phiếu này đã phải mất một thời gian dài đáng sợ mới xuất hiện. Thất bại của thị trường trong việc đưa các chính phủ di vào kỷ luật sớm hơn chủ yếu là do hậu quả của chính bản thân của các chính phủ đó. Họ đã lợi dụng quan điểm rộng rãi cho rằng các nước châu Âu không thể bị vỡ nợ. Việc này đã được củng cố theo cách các ngân hàng đã và vẫn đang được chấn chỉnh. Cái gọi là những luật lệ Basel, những khuyến nghị về các quy định của ngân hàng do các giám đốc Ngân hàng Trung ương của các nước thuộc nhóm G-20 và những nước khác đưa ra, cho rằng các trái phiếu của chính phủ là những tài sản không chịu rủi ro và vì vậy các ngân hàng không phải giữ bất kỳ nguồn vốn nào khi họ đầu tư vào chúng. Chẳng có gì ngạc nhiên, các ngân hàng đã đầu tư vào trái phiếu, với hậu quả dẫn đến là các vấn đề nợ chính phủ cũng đã ảnh hưởng đến các ngân hàng đó. Ngoài ra, cả trước và sau khi hàng Lehman Brothers bị phá sản hồi tháng 9/2008, các Ngân hàng Trung ương ở cả hai hên bờ Đại Tây Dương đã làm tràn ngập thế giới bằng loại tiền được đem bán với  giá rẻ, bóp méo các thị trường tiền tệ và tạo điều kiện dễ dàng cho các chính phủ mắc thêm nợ nần, Chính là sự phá vỡ luật lệ có chủ tâm của các chính phủ cũng như sự lũng đoạn thị trường của họ nhằm ủng hộ các trái phiếu của chính phủ, chứ không phải việc thiếu một liên minh tài chính, đã dẫn đến các cuộc khủng hoảng hiện nay.

 

Sự lệ thuộc đồng euro

Tuy nhiên, việc này không ngăn cản các nền kinh tế yếu kém của châu Âu kêu gọi việc thiết lập một liên minh tài chính. Hoàn toàn ngược lại: họ đang tìm kiếm một cách khác để tiếp tục sống theo kiểu vung tay quá trán. George Papandreou, Thủ tướng Hy Lạp, và Giulio Tremonti, Bộ trưởng Tài chính Italia, muốn các nước của họ có khả năng phát hành các trái phiếu euro bonds. Người ta có thể thấy sự hấp dẫn: các trái phiếu trên sẽ bảo vệ những nước yếu kém tránh khỏi kỷ luật của thị trường bằng việc báo hiệu cho các nhà đầu tư rằng Đức và những nước thích hợp khác cuối cùng sẽ thanh toán hóa đơn nếu Hy Lạp và Italia bị vỡ nợ. Nhưng theo quan điểm của các nước mạnh, việc cho phép phát hành các trái phiếu bonds euro sẽ cấp giấy phép cho các nền kinh tế yếu kém chi tiêu hoang phí, trừ phi nó được thực thi theo cách được kiểm soát rất chặt chẽ. Ngoài ra, sự cần thiết phải gánh nợ cho toàn thể các nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro cuối cùng có thể cũng làm kiệt sức các nước có nền kinh tế mạnh.

Một vài cách diễn giải ý tưởng này được cho là dễ chấp nhận hơn đã được đưa ra. Một báo cáo do tổ chức tư vấn Bruegel có trụ sở tại Brúcxen công bố đề nghị giới hạn các trái phiếu bonds euro ở mức 60% GDP của mỗi nước. Trở ngại bất ngờ là các nước gặp khó khăn hiện có khoản nợ trên mức đó, điều đặt ra câu hỏi họ sẽ phải tự tài trợ như thế nào. Đây là lý do mà George Soros và các chuyên gia giỏi khác về thị trường đã biện luận ủng hộ một con số cao hơn nhiều.

Đức, nước trang trải chủ yếu của khu vực sử dụng đồng euro, sẵn sàng ủng hộ ý tưởng thiết lập một liên minh tài chính, nhưng chỉ sau một tiến trình hợp nhất lâu dài một khi cuộc khủng hoảng này được giải quyết. Nước này cũng đòi đưa ra những luật lệ mới rõ ràng hạn chế khoản tiền mà cá nhân các nước có thể vay mượn đồng thời bắt các nưóc vi phạm những luật lệ trên phải chịu phạt. Trong khi đó, Mark Rutte, Thủ tướng Hà Lan, đã đề nghị thiết lập chức người phụ trách ngân sách Ủy ban châu Âu để kiểm soát các luật lệ này.

Nếu các nước tiếp tục coi thường những luật lệ trên, người phụ trách này sẽ có quyền nói cho họ cách điều hành các nền kinh tế của họ, chẳng hạn như bảo họ tăng thuế. Nếu họ không làm theo những gì mà họ đã được chỉ dẫn, họ sẽ phải từ bỏ đồng tiền chung duy nhất.

Nhưng tất cả điều này – nếu có – vẫn còn là xa vời trong tương lai. Cho đến nay, việc xử lý cuộc khủng hoảng hiện tại bao gồm các khoản cứu trợ kinh tế đối với từng trường hợp một. Để đổi lại việc được vay tiền với lãi suất thấp từ các quĩ chiến tranh châu Âu khác nhau cũng như từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế, các nước gặp khó khăn đã phải cải cách các nền kinh tế cũng như giảm bớt việc vay mượn của họ. Những khoản cứu trợ này bao gồm số tiền viện trợ từ các nước mạnh về mặt tài chính chuyển cho các nước yếu kém hơn, nhưng không nhiều như nó vẫn thường diễn ra trong một liên minh tài chính chính thức.

Do các điều kiện thị trường xấu đi và có thêm nhiều nước bị cuốn vào cơn lốc sụp đổ kinh tế, việc cứu trợ tài chính này đã diễn ra theo một vài phương thức khác nhau. 17 nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro vấp phải khó khăn trong việc nhất trí sẽ phải làm những gì, dẫn đến những rác rối trong việc đưa ra chính sách, điều làm suy yếu dần niềm tin của nhà đầu tư và gây ra những khó khăn kinh tế không cần thiết.

Tuy nhiên, mặc dù có những khiếm khuyết của nó, chính sách trên đã có một vài thành công. Các chính phủ châu Âu yếu hơn đã buộc phải tiến hành công cuộc cải cách mà họ đă né tránh trong hàng thập kỷ. Họ đang mở rộng tự do các thị trường lao động của họ, trừ tận gốc việc trốn thuế, tăng độ tuổi về hưu còn quá thấp, giảm bớt tệ quan liêu, tư nhân hóa các ngành công ngbiệp và mở ra các ngành công nghiệp cần có sự phối hợp giữa các bên, chẳng hạn như trong lĩnh vực dược và các dịch vụ tắcxi. Điều này đang diễn ra không chỉ ở Hy Lạp, Ailen và Bồ Đào Nha, ba nước đã được nhận các khoản cứu trợ tài chính. Italia và Tây Ban Nha cũng đã chấp nhận các chế độ thích hợp riêng của họ, mặc dù vẫn còn do dự. Nếu các nước này có đủ khả năng phát hành trái phiếu euro bonds, họ sẽ không có động cơ để phát triển.

Quyền tự do phá sản

Mặc dù vậy, việc giải quyết cuộc khủng hoảng hiện nay vẫn là phiến điện xét theo một mặt quan trọng. ít nhất, vào lúc bài báo này được đăng trên báo chí, không một nước vỡ nợ nào được phép công bố phá sản. Các khoản nợ của Hy Lạp đã tăng liên tục và thoát khỏi tầm kiểm soát vào thời diểm đó,

nhưng kế hoạch cứu trợ tài chính được đặt ra cho nước này tại hội nghị cấp cao các nước châu Âu diễn ra hồi tháng 7/2011 đã khuyến khích các ngân hàng cho nước này vay tiền để thoát khỏi nợ nần hoặc gia hạn thời hạn thanh toán nợ của họ. Đó là cả một chặng đường dài kể từ khi cải cách cơ cấu nợ nần theo đúng cách, việc sẽ làm cho Aten có mức nợ thấp hơn, mức mà người ta có thể hỗ trợ nó một cách thực tế.

Các công ty và cá nhân trên khắp thế giới cơ cấu lại các khoản nợ của họ. Các chính phủ ngoài châu Âu bị vỡ nợ. Tại sao các nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro lại cần phải được miễn khỏi phá sản? Dĩ nhiên phá sản cũng chẳng tốt đẹp gì. Những người cho vay bị mất tiền; những người đi vay có thể bị tẩy chay trong nhiều năm hoặc phải trang trải nợ nần với lãi suất cao hơn. Nhưng đây là những gì cần phải như vậy. Giống như các nhà đầu tư cho vay một cách không khôn ngoan, các chính phủ vay mượn quá nhiều sẽ không thể rũ nợ mà không bị trừng phạt. Nếu họ không cảm nhận bất kỳ một sự nhức nhối nào, họ sẽ mắc lại chính những sai lầm đó. Quả thực, nỗi lo bị đẩy vào tình trạng phá sản có thể ngăn các chính phủ trước tiên không được vay mượn quá mức. Giải pháp vỡ nợ tài chính theo cách có thể kiểm soát được phải là một phần của đường hướng xử lý khủng hoảng hiện nay đối với các chính phủ thực sự không trang trải được các khoản nợ của họ: chắc chắn đó là Hy Lạp và cũng có thể là Ailen và Bồ Đào Nha.

Tuy nhiên, hầu hết các nhà hoạch định chính sách châu Âu cho đến nay coi vỡ nợ như một việc đáng nguyền rủa vì họ lo ngại đến ảnh hưởng xấu của nó. Nếu Hy Lạp bị vỡ nợ, các ngân hàng cho nước này vay tiền có thể cũng bị phá sản. Thị trường có thể đi đến kết luận rằng các chính phủ yếu kém khác cũng sẽ vỡ nợ, gây khó khăn cho họ trong việc vay tiền. Một vài nhà hoạch định chính sách hiện lo ngại rằng tình trạng hỗn loạn bị thả lỏng sẽ giống như, hoặc thậm chí tồi tệ hơn, tình trạng hỗn loạn đã diễn ra sau vụ phá sản của hãng Lehman Brothers. Vào thời điểm bài báo này được đăng, quả thực đã có dấu hiệu cho thấy cuộc khủng hoảng này đang lan sang Italia: chính phủ nước này đang cảm thấy ngày càng tốn kém khi phải vay tiền trên thị trường trái phiếu.

Nhưng bài học về sự sụp đổ của hãng Lehman không có nghĩa là các ngân hàng hoặc các chính phủ sẽ không bao giờ được phép phá sản. Bài học là vỡ nợ cần được kiểm soát và những ai bị đặt vào tình thế có thể bị lây nhiễm cần phải chuẩn bị cho điều đó. Tuy nhiên, khu vực sử dụng đồng euro dường như vẫn chưa rút ra được bài học từ vụ việc này. Các ngân hàng có nhiều trái phiếu chính phủ mới chỉ bị thúc đẩy trong việc cân đối các bản quyết toán của họ. Trong khi Mỹ và Anh đã chỉ đạo các cuộc thử nghiệm căng thẳng khắt khe đối với các ngân hàng của họ từ đầu năm 2009, châu Âu mới chỉ thực hiện được 3 vụ xem xét lại khá chậm chạp trong hai năm qua. Ngay cả việc xem xét lại gần đây nhất diễn ra vào tháng 7/2011 cũng không đưa ra được mô hình cho việc vỡ nợ có thể xay ra ở Hy Lạp. Trong khi đó, các chính phủ dễ bị lây nhiễm tỏ ra chậm chạp trong việc giảm các khoản nợ ngân sách và lự do hóa các nền kinh tế của họ. Ví dụ như Berlusconi, đã hành động giống như một Nero ngày nay, rong chơi nhàn rỗi trong khi thành La Mã bốc cháy. Ngay cả Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy cho đến gần đây đã xử sự như thể Pháp đã sống trong một thế giới đầy quyến rũ nơi mà việc vay mượn là đặc ân của nước này.

Nhưng vẫn còn chưa quá muộn để đặt trở lại giải pháp vỡ nợ có kiểm soát lên bàn. Do những sai lầm chính sách mà Pháp và Đức hiện chịu trách nhiệm – từ việc coi thường những luật lệ về mức thâm hụt đầu tiên cho dến việc cản đường quá trình tái cơ cấu đầy nhạy cảm về khoản nợ của Hy Lạp – họ cần ít nhiều gánh chịu hậu quả. Và họ sẽ như vậy, dưới hình thức chỉ thu lãi suất thấp đối với khoản tiền mà họ đã cho các nền kinh tế đang gặp khó khăn vay và dưới hình thức huy động thêm vốn mà họ có thể cần phải đổ vào các ngân hàng của chính họ để trang trải cho chi phí của những khoản cho vay khó đòi mà nước này đã dành cho Hy Lạp và có thể cho cả các nước khác. Việc này sẽ tiêu tốn một khoản tiền lớn, nhưng còn ít hơn việc đổ thêm những khoản tiền có thể đòi được sau những khoản tiền khó đòi để tránh vỡ nợ. Và việc này chắc chắn sẽ ít tốn kém hơn việc thiết lập một liên minh tài chính chính thức.

Th chế cho vay cuối cùng

Một phần của nghệ thuật xử lý một cuộc khủng hoảng tài chính là phân biệt các thể chế không có khả năng trả được nợ với các thể chế đơn thuần không dễ dàng trả được nợ. Các khoản nợ của các thể chế vỡ nợ cần được cơ cấu lại, trong khi các thể chế khó trả được nợ cần được nhận tài trợ. Giống như một nước với đồng tiền riêng của mình, khu vực sử dụng đồng euro cần có một thể chế cho vay cuối cùng. Tuy nhiên, điều then chốt sẽ là phái bảo đảm rằng nó không trở thành thể chế cho vay đầu tiên, vì điều đó sẽ xóa bỏ sự khích lệ các nhà nước và các ngân hàng trong việc giải quyết có trách nhiệm các công việc của chính họ.

Sau khi bước vào kiểm soát tín dụng năm 2007 mà không có một kế hoạch được suy tính kỹ một cách thích đáng về việc một thể chế cho vay cuối cùng sẽ hoạt động ra sao, khu vực sử dụng đồng euro đã đưa ra một chính sách không thực tế. Ngân hàng Trung ương châu Âu đã đổ tiền mặt cho các ngân hàng kể từ khi phải chịu tác động của cuộc khủng hoảng, nhưng việc này thực sự cần được thực thi kết hợp với việc giám sát hợp nhất ngân hàng trên khắp khu vực sử dụng đồng euro. Thay vào đó, quy định là vụn vặn và trong một chừng mực nhất định đang tiếp tục như vậy, Ngân hàng Trung ương châu Âu cũng đã giúp tài trợ các chính phủ gặp khó khăn – trước tiên là Hy Lạp, Ailen và Bồ Đào Nha; sau đó là Italia và Tây Ban Nha – bằng việc mua các ngân phiếu của họ. Ngân hàng trên hy vọng rằng việc này sẽ làm tăng giá trị các trái phiếu và tạo điều kiện dễ dàng hơn để các chính phủ phát hành các trái phiếu mới. (Do các trái phiếu được mua trên thị trường, việc này không hoàn toàn giống như việc chuyển cho các chính phủ tiền mặt.)

Tuy nhiên, Ngân hàng Trung ương châu Âu đã tỏ ra khó chịu với vai trò này, vì ngân hàng không tin rằng các chính phủ cần in tiền để giảm bớt những khoản thâm hụt của họ. Vì vậy, các nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro đã đi đến quyết định tại hội nghị cấp cao diễn ra trong tháng 7/2011 rằng nhiệm vụ này cần phải chuyển cho quỹ Tạo điều kiện ổn định về tài chính (EFSF) một quỹ đen mới được thành lập để giúp xử lý khủng hoảng. Đồng thời, họ đã nhất trí mở rộng khuôn khổ của tố chức này, trao quyền cho tổ chức đó cấp tiền cho các ngân hàng không có đủ tiền mặt cũng như mở các đường dây tín dụng khẩn cấp cho các chính phủ hiện không nằm trong các chương trình cứu trợ tài chính chính thức.

Nhưng việc này không kết thúc cuộc tranh luận về chính sách nào là tốt nhất. Willem Buiter, nhà kinh tế trưởng của tổ chức Citigroup, trong số những nhân vật khác, đã lập luận rằng bất chấp khoản tiền mở rộng lên tới 440 tỉ euro, EFSF hiện vẫn còn quá nhỏ để giải quyết các trường hợp cứu trợ tài chính đầy đủ cho của Italia và Tây Ban Nha. Mặc dù việc này là sự thực, thể chế cho vay cuối cùng dẫu sao không nên được sử dụng như một chỗ dựa lâu đài. Italia và Tây Ban Nha có thể giải quyết các vấn đề của chính họ nếu họ có ý chí chính trị để thắt lưng buộc bụng. Việc cứu trợ đầy đủ sẽ trở nên cần thiết chỉ nếu như họ lẩn tránh trách nhiệm đó.

EFSF sẽ được thay thế vào giữa năm 2013 bởi một quỹ cứu trợ tài chính mới được gọi là Cơ chế ổn định châu Âu (ESM), một phương tiện lâu dài. Ở một khía cạnh quan trọng, ESM sẽ tốt hơn EFSF; nó sẽ được yêu cầu phân biệt các chính phủ không có khả năng trả nợ với các chính phủ không dễ dàng trả được nợ khi quyết định cho vay mượn. Trong trường hợp các chính phủ không có khả năng trả nợ, khoản nợ đó ,các chủ nợ thuộc khu vực tư nhân nắm giữ sẽ phải được cơ cấu lại để có thể kéo dài các khoản nợ của chính phủ. Điều tồi tệ là cơ chế này sẽ không có hiệu lực gần hai năm nữa.

Cách thứ ba

Do những phức tạp này, nhiều người hoài nghi đồng euro cho rằng sẽ là điều tốt hơn để từ bò hoàn toàn dự án đồng euro. Nhưng đây là một ỷ tưởng tồi tệ. Liên minh tiền tệ có thể đã phát triển quá sớm, nhưng không ai làm theo cách cho thuốc đánh răng trở lại tuýp thuốc đánh răng. Ví dụ như nếu Atens một lúc nào đó quyết định lại đưa đồng đrácma trở lại sử dụng, người dân sẽ nhanh chóng rút đồng euro của họ ra khỏi các ngân hàng Hy Lạp, làm cho hệ thống tài chính của nước này sụp đổ thậm chí ngay cả trước khi đồng tiền mới được tạo ra. Những người gửi tiền ở các nước yếu kém khác sau đó sẽ rút tiền của họ ra khỏi các ngân hàng của những nước đó, gây ra một chuỗi sụp đổ và một sự suy thoái sâu sắc. Còn có một giải pháp khác: kỷ luật thị trường cộng thêm nhiệt tình mạnh mẽ. Viên thuốc này sẽ khó nuốt, nhưng cuối cùng nó sẽ dẫn đến một châu Âu lành mạnh hơn.

*

*       *

TTXVN (Luân Đôn 12/3)

Nhật Bản đã vượt qua được một thập k chịu nhiều thiệt thòi, mt mát trong những năm 1990 sau khi tình trạng bùng n bong bóng thị trường nhà đất bùng nổ ở nước này. Nhưng Tony Barber, phụ trách mng châu Âu của tờ Thời báo tài chính cho rằng châu Âu không được chuẩn bị tốt như vậy đ chống đỡ với những năm kinh tế tăng trưởng bng không. Bài phân tích của tác giả được Viện Hoàng gia Nghiên cứu các Vn đề Quốc tế (Chatham House có trụ sở tại Luân Đôn) đăng trên mục Thế giới ngày nay s tháng 2/2012.

Ngay cả trước khi ngành tài chính và cuộc khủng hoảng nợ công bắt đầu làm mất ổn định hệ thống ngân hàng của châu Âu, các nhà lãnh đạo châu lục này đã bày tỏ lo ngại rằng Thế giới Cũ có thể sẽ gặp phải những vấn đề đang diễn ra trên toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, trì trệ về nhân khẩu học, quân sự yếu đi, suy giảm tài nguyên thiên nhiên và sự nổi lên của các cường quốc không phải ở châu Âu đe dọa một tương lai ảm đạm do sự suy giảm không thể đảo ngược gây ra, Ông Herman Van Rompuy, trong bài phát biểu nhậm chức Chủ tịch Liên minh châu Âu năm 2009 đã nói: Những gì đang bị đe dọa là sự tồn tại của những thành quả đã được dày công xây dựng nên. ít nhất chúng ta phải tăng gấp đôi tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hiện đang ơ mức thấp 1% Một nền kinh tế mạnh là cần thiết để chúng ta không những có thể đóng vai trò quan trọng trên thế giới, mà trên tất cả, còn bảo vệ an toàn những thành tựu của chuẩn mực cuộc sống châu Âu. Có thể nói rằng tình hình hiện nay còn đen tối hơn những gì Van Rompuy đã miêu tả cách đây hai năm. Do cuộc khủng hoảng tài chính, châu Âu đang trên bờ vực của một thập kỷ mất mát tương tự những gi mà Nhật Bản đã trải qua trong những năm 1990 và ở một số lĩnh vực nhât định hiện vẫn còn chưa kết thúc. Các nước châu Âu hầu hết chỉ đạt tăng trưởng kinh tế thấp hoặc tăng trưởng âm. Nền tài chính của nhiều nước đang bị suy yếu nghiêm trọng và sẽ phải mất nhiều năm mới có thẻ phục hồi. Các ngân hàng gặp nguy hiểm trước khả năng khu vực đồng tiền chung châu Âu bị tan vỡ. Hơn thế nữa, ngay cả nếu liên minh tiền tệ sống sót được qua cơn khủng hoảng thì các quốc gia châu Âu vẫn phải đối mặt với vấn đề mà Van Rompuy đã chỉ ra: chi phí quá cao nhưng thiếu bền vững cho các dịch vụ công một cách hào phóng cho các công dân. Thiếu một sự tăng trưởng kinh tế đột biến mà hoàn toàn không thể xảy ra từ nay đến năm 2020, hàng triệu người dân châu Âu phải đối mặt với một thập kỷ đình trệ hoặc suy giảm mức sống, giảm các phúc lợi và kéo dài tuổi lao động – nếu họ còn có thể có công ăn việc làm.

Một thập kỷ mất mát ở châu Âu sẽ không hoàn toàn giống như những gì đã diễn ra ở Nhật Bản. Tính đồng nhất trong xã hội Nhật Bản tương phản với sự đa dạng về tôn giáo, quốc gia và dân tộc của các nước châu Âu, một điều kiện làm tăng nguy cơ căng thẳng xã hội và văn hóa. Quan trọng không kém, tỷ lệ thất nghiệp ở Nhật Bản dù ở mức cao nhất nhưng cũng chưa bao giờ vượt quá 5,5% lực lượng lao động – một mức mà hầu hết các nước châu Âu coi là mức thấp đáng mong ước.

Tuy nhiên, thất nghiệp cao là một đặc tính để xác định một thập kỷ mất mát của châu Âu. Hãy nhìn vào Tây Ban Nha, nơi Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) dự đoán rằng tỷ lệ thất nghiệp, hiện nay đang chiếm hơn 20% lực lượng lao động, sẽ không giảm xuống 16% cho đến năm 2016. Điều đó không phải chỉ do những việc làm được tạo ra trong thời kỳ bùng nổ bong bóng xây dựng và bất động sản của Tây Ban Nha nay đã biến mất. Trong một thập kỷ tới, vấn đề nghiêm trọng hơn sẽ là việc những người nội bộ hưởng đặc quyền đặc lợi giữ chặt những việc làm trong lĩnh vực tư nhân được trả lương cao và lâu dài. Nếu không có cải cách mở ra phân khúc này của thị trường lao động, thì Tây Ban Nha – và các nước khác như Pháp, Hy Lạp và Italia – sẽ có số lượng rất lớn sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng lại không có khả năng kiếm được việc làm.

Các mức độ ảnh hưởng sẽ khác nhau ở từng nước. Ví dụ ơ Ailen, tính đến tháng 4/2011 có khoảng 40.000 người đã di cư chủ yếu đến nhiều nước nói tiếng Anh. Hy Lạp sẽ có thể phải chứng kiến tình trạng mất ổn định chính trị, bất ộn lao động và biểu tình đường phố, đôi khi biến thành bạo lực giữa các phần tử cực đoan và cảnh sát. Nếu Hy Lạp ra khỏi khu vực đồng euro, có thể còn nhiều vấn đề khác nữa xảy ra, kích hoạt bằng việc các ngân hàng bị đóng cửa, đồng tiền mới sẽ nhanh chóng bị mất giá so với đồng euro, lạm phát tăng và lan tràn các hoạt động của thị trường chợ đen.

Còn ở các nước Trung và Đông Âu, các băng nhóm tội phạm có tổ chức có quyền lực lớn có thể có nhiều ảnh hưởng hơn đối với các đảng phái chính trị và nhà nước. Một vài băng đảng trong số này, đặc biệt có mối quan hệ với những ngành trong lĩnh vực năng lượng và cung cấp nguyên liệu thô, sẽ liên kết với các khách hàng quen ở Nga, Ucraina và ở nước ngoài.

Trên khắp châu Âu, các phong trào chính trị dân túy và bài ngoại sẽ tìm cách khai thác các mối lo ngại của một thập kỷ mất mát . Họ sẽ khuyến khích công dân đổ lỗi cho người nhập cư đã gây ra tình trạng thiếu việc làm, gây áp lực về tiền lương, tội phạm gia tăng và tăng cạnh tranh để nhận được chế độ phúc lợi của nhà nước. Người Hồi giáo ở Bắc Phi, Trung Đông và châu Á sẽ là các mục tiêu ở Bỉ, Pháp, Đức và một số nước ở vùng Scandinavia. Ở Italia, sự oán giận người nhập cư Trung Quốc bất hợp pháp sẽ tăng cao Sẽ có nhiều phản kháng căng thẳng hơn của dân chúng đối với lượng người nhập cư trên qui mô lớn vốn cần để bù đắp cho tỷ lệ sinh thấp ở châu Âu và ngăn chặn lực lượng lao động không bị co hẹp lại, Việc nhập cư, kể cả hợp pháp và bất hợp pháp, đều sẽ tiếp tục diễn ra, nhưng hầu hết đều bao gồm những lao động không có chuyên môn và bán chuyên môn hơn là những kỹ sư và các kỹ thuật viên máy tính được đào tạo mà nền kinh tế châu Âu cần đến.

Trong suốt thập kỷ này, áp lực về ngân sách cho hệ thống y tế, hưu trí và giáo dục sẽ ngày càng gia tăng khủng khiếp. Một số nhóm xã hội nhất định sẽ dễ bị rơi vào vòng nghèo khổ, bạo lực hình sự, và các bệnh truyền nhiễm. Các quỹ hưu trí mất đi do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng của các thị trường tài chính, sẽ cắt giảm các lợi ích của những người công nhân trẻ trong tương lai, kích động một cuộc xung đột thế hệ với những người lớn tuổi hơn. Bất bình đăng thu nhập gia tăng, bởi vì người giàu thì càng giàu và người nghèo thì nghèo đi, sự không tương xứng sẽ ảnh hưởng đến phụ nữ và thanh thiếu niên. Các trường đại học và trường phổ thông của nhà nước sẽ có chất lượng giáo dục thấp hơn.

Một thập kỷ mất mát sẽ không phá hủy toàn bộ chuẩn mực dời sống châu Âu hay chất lượng tinh tế của nó, nhưng nó sẽ làm suy yêu hình ảnh của châu Âu là nơi có cuộc sống tuyệt vời của thế giới. Và lần đầu tiên trong nhiều năm qua, đời sống của người dân châu Âu sẽ tồi tệ hơn rất nhiều so với cha mẹ họ./.

 

 

 

Thiên đường trên mặt đất”: Bắc Triều Tiên

Nguồn: thuymyrfi.blogspot.com/Boxitvn

Eunsun Kim: Mười hai năm trong địa ngục Bắc Triều Tiên

clip_image001

Eunsun Kim

(Paris Match) Cha bị chết đói, Eunsun Kim cùng với mẹ và chị đã chịu đựng bao gian nan khốn đốn để trốn khỏi chế độ của Kim Jong Il. Trong cuốn sách “Bắc Triều Tiên, chín năm để trốn khỏi địa ngục” vừa được nhà xuất bản Pháp Michel Lafont phát hành tuần qua, cô gái 26 tuổi này đã kể lại cuộc sống ở Bắc Triều Tiên cũng như sau khi đào thoát. Sau đây là lược dịch bài trả lời phỏng vấn Eunsun Kim của tuần báo Paris Match.

Paris Match: Cô có nghĩ rằng cuộc sống khốn khổ mà cô đã trải qua trong thập niên 90 đến nay vẫn còn kéo dài, và tại Bắc Triều Tiên người dân vẫn tiếp tục chết đói?

Eunsun Kim: Không còn là các trận đói khủng khiếp đã sát hại nhiều trăm ngàn người trong đó có ba tôi, nhưng, vâng, tình trạng bần cùng vẫn kéo dài tại Bắc Triều Tiên. Ngày nay có ít người chết đói hơn, vì những người yếu sức nhất đều đã chết hết cả rồi. Hơn nữa, việc cung ứng thực phẩm từ phía Trung Quốc đã được cải thiện.

Do chế độ không còn khả năng nuôi nổi dân chúng, nên mỗi người phải tự bươn chải, đặc biệt là ở chợ đen. Những khó khăn kinh tế vẫn tiếp diễn, nhiều người sống rất thiếu thốn. Khủng hoảng không chỉ dẫn đến nạn đói kém, mà còn làm giảm đi các giá trị. Đó là việc mạnh ai nấy sống. Một người tị nạn vừa mới đến được Seoul cho tôi biết là một số thanh niên nay đã tìm đến với ma túy, hay là chọn đó làm nghề nghiệp, như là tương lai duy nhất. Khi biết được điều này tôi thực sự nản lòng.

Tại sao không có ai nổi dậy cả?

Cần phải hiểu rằng chúng tôi đã bị tẩy não từ khi còn bé, các lãnh tụ họ Kim được giới thiệu như là các ân nhân của dân chúng. Lúc mới sinh ra thì không có ai ngu ngốc cả, nhưng do bị tuyên truyền dồn dập, người ta mới trở thành ngu, vì không được biết gì về thế giới bên ngoài! Ở Bắc Triều Tiên, chúng tôi không hề biết được tự do nghĩa là gì, còn nhân quyền thì lại càng khó hình dung được. Đó là một cái vòng lẩn quẩn, vẫn tiếp tục diễn ra với thế hệ thứ ba của họ nhà Kim.

clip_image002

Sinh viên BTT tị nạn tại Hàn Quốc biểu tình ngày 21/2/12 đòi TQ không trả người tị nạn về nước. Các thanh niên biểu tình đều đeo khẩu trang để tránh bị nhận diện, liên lụy đến người thân còn sống tại BTT.

Người dân có thể truy cập internet không?

Internet được dành riêng cho các cán bộ cấp cao của chế độ, những người này thì họ biết được những gì đang diễn ra ở thế giới bên ngoài. Điện thoại di động đã xuất hiện từ vài năm qua, nhưng bị hạn chế ở các cuộc gọi nội hạt. Tuy vậy nhờ phát triển nhanh chóng, một số người hy vọng một ngày nào đó điện thoại di động sẽ trở thành một công cụ nổi dậy để làm lung lay chế độ. Nhưng đồng thời đây cũng lại là một phương tiện để kiểm soát, giúp công an nghe được các cuộc đàm thoại và định vị được người sử dụng. Với lại điện thoại di động vẫn luôn rất đắt tiền, đa số dân chúng không thể mua nổi.

Vận chuyển công cộng đang trong tình trạng thê thảm, và các phương tiện thông tin thì cứ như thuộc về thế kỷ trước. Cùng một tuyến đường nếu ở Hàn Quốc tôi đi tàu cao tốc mất hai giờ, thì bên kia biên giới phải mất đến hai ngày. Để liên lạc với nhau, người ta gởi thư, nhưng chắc ăn nhất là gởi ai đó đến đưa tin. Vì ngay cả một lá thư cũng phải đi một tháng mới đến nơi, nếu mà nó đến được!

Chủ tịch trẻ tuổi Kim Jong Un vừa lên thay cha hồi tháng 12, có sẽ hiện đại hóa đất nước?

Tôi từng nuôi hy vọng mong manh là người kế vị này có thể mang lại những ý tưởng mới, nhờ trẻ tuổi và đã từng học tại Thụy Sĩ, nhưng tôi đã nhanh chóng thất vọng. Và tôi lại còn có cảm giác là chế độ ngày một tệ hại thêm. Vì thế mà những ai thành công trong việc trốn thoát khỏi Bắc Triều Tiên như tôi đều có trách nhiệm và cần phải đấu tranh cho nhân quyền, cho dân chủ hóa tại đất nước này.

clip_image003

Nông thôn Bắc Triều Tiên

Có sự khác biệt lớn giữa nông thôn và thủ đô Bình Nhưỡng?

Vâng, có một sự khác biệt hết sức lớn lao. Thủ đô là một đô thị với 2,5 triệu dân được ưu đãi, đó là gia đình có liên quan đến Đảng Lao động hay quân đội. Bình Nhưỡng là một thành phố sạch sẽ, với các tòa nhà chọc trời, được sử dụng như tủ kính mặt tiền mà các nhà độc tài muốn trưng ra trước khách nước ngoài.

Cũng có một sự ngăn cách rất lớn giữa hai thế giới: người dân một tỉnh nghèo có thể chết vì đói trong khi dân Bình Nhưỡng không hề hay biết. Chế độ nuông chiều dân chúng thủ đô, vốn là lực lượng hỗ trợ chủ yếu của họ. Tiêu chuẩn thức ăn do chính quyền phân phối cao hơn nhiều và cũng thường xuyên hơn, so với phần còn lại của đất nước vốn thường bị mất tiêu chuẩn. Tại các vùng nông thôn, mỗi người đều học được cách tồn tại mà không trông cậy vào nhà nước.

Có những thành phố lớn phát triển tại Bắc Triều Tiên không?

Ngoài Bình Nhưỡng còn có các thành phố lớn như Rajin, Sinuiju hay Hyesan, gần đây đã phát triển nhờ ở gần biên giới Trung Quốc. Thương mại với Trung Quốc tăng lên từ đầu những năm 2000 đã giúp các thành phố này giàu lên. Nhưng lợi tức từ thương mại lại lọt vào tay của Đảng, vì không có việc kinh doanh nào thực hiện được nếu không có sự hỗ trợ của hệ thống.

clip_image004

Lính biên phòng BTT canh gác bên bờ sông Áp Lục.

Ngày nay rời khỏi Bắc Triều Tiên dễ hơn hay là khó hơn trước?

Tôi thuộc về làn sóng tị nạn đầu tiên, sau các trận đói kinh hoàng cuối thập niên 90. Số người đào thoát không ngừng tăng lên, nhưng chế độ đã tăng cường kiểm soát biên giới vào đầu những năm 2000. Tôi nhận ra điều đó sau khi vượt biên lần thứ hai và bị công an Trung Quốc gởi trả về Bắc Triều Tiên. Kể từ năm ngoái và từ khi Kim Jong Un lên nắm quyền, vượt thoát khỏi Bắc Triều Tiên lại càng khó khăn hơn.

Nhà độc tài mới muốn ngăn chận làn sóng vượt biên – một sự chối bỏ chế độ – bằng mọi giá. Ông ta đã ra lệnh cho biên phòng nổ súng vào tất cả những ai muốn vượt qua biên giới một cách bất hợp pháp. Vài ngày sau khi Kim Jong Un nhậm chức, nhiều người tị nạn đã bị bắn hạ trong lúc đang vượt qua con sông lạnh giá, là ranh giới giữa Bắc Triều Tiên và Trung Quốc. Hiện nay vùng biên giới đang bị giám sát hết sức nghiêm ngặt.

Nguồn: thuymyrfi.blogspot.com

Sống sót trong địa ngục Bắc Triều Tiên

clip_image005

Trích dịch tác phẩm “Bắc Triều Tiên, chín năm để trốn khỏi địa ngục” của Eunsun Kim, kể lại những chuyện diễn ra từ tháng 12/1997, ngay sau các trận đói khủng khiếp năm 1995 và 1996 đã giết hại hai triệu người Bắc Triều Tiên, trong đó có cha của tác giả.

Từ gần một tuần qua, tôi đơn độc trong căn hộ lạnh lẽo tại Eundeok, ngôi làng nhỏ nơi tôi sinh ra ở Bắc Triều Tiên. Cha mẹ tôi đã bán hết tất cả đồ đạc trong nhà, chỉ trừ một chiếc bàn thấp và một tủ ngăn vách, để mua thức ăn. Gạch lót sàn cũng đã bị bán đi, tôi ngủ ngay trên nền xi-măng, trong một túi ngủ tạm bợ làm bằng quần áo cũ.

Trên các vách tường trơ trụi, chỉ còn lại mấy khung ảnh đặt cạnh nhau – chân dung “Chủ tịch vĩnh cửu” Kim Il Sung và tướng quân Kim Jong Il. Cả hai nhìn thẳng vào tôi. Nhưng đem bán các ảnh chân dung này sẽ bị xem là báng bổ, có nguy cơ bị tử hình.

Trời tối sẫm, dù vậy tôi vẫn đọc được những gì mình viết ra. Điện đóm không có, vả lại các bóng đèn đã biến mất từ lâu. Đêm nhẹ xuống sau buổi chiều tháng Chạp. Không còn lò sưởi nữa, nhưng tôi không thấy lạnh mấy, vì đã sức tàn lực kiệt. Tôi không có gì ăn từ nhiều ngày qua, tôi sẽ chết đói. Vì vậy mà tôi cố viết lại bản di chúc của mình. Tôi mười một tuổi […].

Từ khi ba mất đi, cuộc sống của chúng tôi trở thành địa ngục, với viễn tượng duy nhất là cuộc đấu tranh để tồn tại. Ngay cả bệnh viện cũng không còn phương tiện để nuôi dưỡng các bệnh nhân, và không có ai còn nhận được thực phẩm. Chị tôi và tôi không đến trường nữa, chúng tôi không có bộ cánh nào ra hồn. Nhất là chúng tôi không còn thời gian, toàn bộ ngày trời phải dành cho việc tìm ra thứ gì đó ăn được. Mấy mẹ con tôi sống như tu sĩ ẩn cư trong căn hộ, tránh những ánh mắt nhìn.

Mỗi ngày chúng tôi bí mật lẩn vào các cánh đồng để hái trộm lúa và bắp, né tránh các toán quân tuần tra. Chúng tôi lén bứt những ôm lúa, sau đó đi lên núi để tước hạt mà không ai nhìn thấy. Mẹ con tôi cũng đào rễ củ, tìm kiếm các thứ nấm. Đôi khi chúng tôi còn chặt củi, vốn ngày càng hiếm hoi, để đem bán, dành tiền mua những khẩu phần nhỏ nhoi hàng ngày […]

clip_image006

Tác giả Eunsun Kim

BỎ TRỐN SANG TRUNG QUỐC

Cùng với mẹ và chị gái, Eunsun cố sang bên kia biên giới bằng cách vượt qua con sông Đồ Môn.

Chính trong vài tuần lễ cuối mùa đông 1997-1998 mà số phận tôi đã thay đổi. Không còn cách nào kiếm sống, mẹ tôi đã dần đi đến một quyết định khó tưởng tượng nổi: vượt biên. Trốn khỏi Bắc Triều Tiên để đi đến một nơi chốn nào đó, để cứu sống các con gái […]

Thế là chúng tôi đã quay lại trong đêm tối. Với những bước chân nhẹ nhàng, chúng tôi tiến gần bờ sông Đồ Môn. Cách dòng sông vài mét, tôi nằm phục trên cát. Từ chỗ này có thể ngầm quan sát những toán tuần tra của lính biên phòng qua lại bên bờ sông. Chúng tôi nằm bất động nhiều tiếng đồng hồ, trong im lặng. Mẹ tính toán thời gian tuần tiễu và các vòng đi tuần của biên phòng.

Vào khoảng nửa đêm, sau khi một toán tuần tra đi qua, bà ra hiệu cho hai chị em tôi và tiến bước trên mặt cát, mỗi tay bà nắm một đứa kéo đi. Bỗng dưng bàn chân tôi chạm vào mặt nước. Thật là lạnh giá!

Chúng tôi không biết bơi, nhưng mẹ nắm tay chúng tôi rất chặt. Nước nhanh chóng lên đến đầu gối tôi, đến bụng, rồi dâng lên đến cổ. Tôi cảm thấy mình sẽ bị chìm. Tôi sợ hãi. Keumsun và tôi cố kéo mẹ lại, tuy mẹ vẫn rất cương quyết. Cuối cùng bà cũng nhận ra là nước quá sâu, và lùi về phía các đụn cát. Tôi thở ra nhẹ nhõm!

Nhưng mẹ rất bướng bỉnh. Bà yêu cầu chúng tôi phải ở yên ngoan ngoãn chờ đợi, để một mình bà cố gắng tìm kiếm một lối thoát. Bóng dáng của mẹ từ từ chìm sâu vào dòng nước đen như mực, và ngày càng nhỏ dần.

Tôi run rẩy, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập, trông thấy dáng mẹ tôi hòa lẫn vào bóng tối. Bà sẽ chết chìm. Chúng tôi sẽ không bao giờ còn được nhìn thấy mẹ nữa. Và nếu bà thành công trong việc sang được đến  bờ bên kia, thì chị Keumsun và tôi sẽ ra sao? Mẹ tôi đã biến mất, tim tôi đập loạn cả lên.

Bỗng dưng sau những phút giây dài dằng dặc, hình thù mẹ lại hiện ra bên bờ sông, nước chảy ròng ròng trên người bà. Mẹ run lập cập, cố gắng lắm mới bước đi được. Tôi tự hỏi liệu mẹ sẽ ngất xỉu hay không, dòng nước lạnh như nước đá đã làm cho bà kiệt sức. Chỉ cách bờ bên kia có ba mét, lòng sông bỗng sụt xuống và bà bị hụt chân. Chỉ còn có ba mét nữa là bà đặt chân lên được đất Trung Quốc!

Tôi vô cùng hoảng hốt. Trong đêm đen, hai đứa bé gái đơn độc, cố gắng trợ giúp một người mẹ bệnh hoạn, run rẩy. Làm thế nào bây giờ? “Đành thôi, mẹ con mình đành phải nộp mạng cho biên phòng vậy” – bà quyết định một cách nhẫn nhục […]

Nguồn: thuymyrfi.blogspot.com

Được đăng bởi bauxitevn

Nguoibuongio :Với cụ Lê Hiền Đức

Nguoibuongio  -Cụ Lê Hiền Đức mình gặp đầu tiên trong lần vừa rồi đi thăm chị Bùi Hằng. Ấn tượng đầu tiên mình thấy là cụ còn khỏe và minh mẫn, cụ nói sang sảng cả tiếng đồng hồ mà không cần nghỉ, uống nước, nhất là cụ đứng nói chứ không phải ngồi. Kiến thức của cụ thật đồ sộ. Cụ chỉ mình hỏi.

– Mày tên gì.?

– Dạ thưa cụ con tên Hiếu

– Mày làm gì ?

– Dạ con làm hàn sắt, biển quảng cáo nhưng đôi khi có vài người gọi con là phản động.

Cụ Lê Hiền Đức thở dài.

– Người ta cũng bảo bà là pê đê ( PĐ), không phải là pê đê đồng tính đâu, mà cũng như kiểu họ gọi mày đấy. Thế mày có hay đọc báo, vào mạng  không .?

– Dạ con thỉnh thoảng đọc báo bóng đá, công an thôi ạ?

Cụ nhìn mình kỹ, rồi lắc đầu.

– Mày hỏng, thanh niên chả biết gì. ?

https://i0.wp.com/multiply.com/mu/nguoibuongio1972/image/AS2kz5fWzopoN8syKTc4pg/photos/1M/300x300/1230/422404-153745888081250-100003375183258-203127-1818992238-n.jpg

Cụ đi ra bụi tre đằng ngà, chỗ nhà dân có mấy ông quan xã ngồi. Nói về chuyện ghế ngồi gì đó, rồi chuyện tham nhũng, pháp luật. Lát sau bé Cải mang ghế cho cụ. Thủng thỉnh xách cái ghế đến chỗ mình ngồi. ( trước cổng trại Thanh Hà). Cụ đặt ghế trước mặt mình rồi nói rất nghiêm trọng.

– Mày biết không, xã đốt nhà, huyện cướp đất, tỉnh bao che.

Mình xì một tiếng dài, và nói như kiểu chuyện xưa ai cũng biết rồi

– Ối dời, chuyện cụ hồi nhỏ chứ gì, thời thực dân đế quốc là bọn nó ác thế đấy. Bọn đấy thì kinh rồi, đốt nhà đã là gì, chúng nó còn âm mưu vu khống nhốt người ta vào tù để chiếm nhà, chiếm đất cơ. Đốt nhà đã ăn thua gì, đốt nhà vẫn còn đất. Cái bọn thời đó nó còn cướp sạch đẩy người ra vào Bước Đường Cùng tăm tối như đêm 30 mà Tắt Đèn ấy.

Mình ngừng lại, thấy cụ Hiền Đức mở to mắt ngạc nhiên nhìn mình như thằng ở trong hang sâu 40 năm mới chui ra. Mình nói tiếp.

– Gì chứ, bọn thực dân đế quốc giờ mà kể tội chúng thì nhiều lắm, cái này bọn cháu học ở trường cô giáo dạy nhiều lắm, nhiều đến nỗi loạn đầu. Chỉ biết nói đến bọn thực dân, đế quốc, tay sai bù nhìn là chúng độc ác, tham lam, áp bức nhân dân…

Cụ Lê Hiền Đức mắt long lên, cụ cáu thực sự. Cụ chỉ mặt mình đay.

– Mày, mày,..đúng loại không biết gì. Thời nay đây con ạ, thời này này. Mày không biết à, dân oan người ta đưa đơn đến nhà tao mấy chục nghìn tờ đơn. mày phải đến mà xem mới biết thế nào con ạ. Trời ơi, nhìn mày thanh niên thời đại thế này mà không, chả biết tí gì, chán quá

Cụ nói giọng đay nghiến, trì triết mình. Khiến mình phải thanh minh rối rít như xin chuộc tội.

– Thì bà bảo con biết được gì, hàng ngày con xem tivi thời sự đều, đọc báo đều có thấy nói chuyện đó bao giờ đâu. Giờ có bà con mới nghe chuyện đó.

Cụ hất hàm hỏi mình.

– Thế mày có vào mạng không ?

– Dạ con có vào ạ.

– Thế bà bảo nhé, mày phải vào facebook của bà mà đọc thì biết con ạ?

Quả này thì mình trợn mắt ngạc nhiên hỏi lại.

– Bà cụ cũng có facebook à ?

Cụ Đức bĩu môi nhìn mình lần nữa.

– Chán loại mày, tao dùng từ lâu rồi. Tao thấy mấy người đây cứ gọi mày là buôn gió, mày thì buôn cái gì, tao đặt cho mày là thằng phải gió. Mày đúng là phải gió nên mới không biết cái gì. Về mà đọc facebook của cụ. Rồi gọi điện cho bà nói xem sao, đây ghi số bà đi.

Mình vâng dạ cuống quýt, ghi số điện, ghi địa chỉ facebook của bà. Cụ Lê Hiền Đức thấy mình vậy, quay ra nói với mọi người.

– Đấy, khổ, thanh niên bây giờ nó có biết gì đâu, phải bảo chúng nó mới biết được.

Nguoibuongio :Mặt tốt của trại cải tạo Thanh Hà

Nguoibuongio  -Có người hỏi mình, tại sao viết chỉ nhìn một mặt.

Mình nói rằng thường thì mình chỉ viết điều nhìn thấy, thiên hạ đọc tự đánh giá, ít khi mình đưa kết luận ra. Người kia bảo nhưng mình có ý thiên vị.
Vậy hôm nay mình viết khen trại Thanh Hà vậy.

https://i0.wp.com/multiply.com/mu/nguoibuongio1972/image/85iC3r%2Br%2BGDiQrnfAMA9iA/photos/1M/300x300/1224/IMG-1038.JPG
Trại Thanh Hà là một cơ sở giáo dục những học viên từng vi phạm các tệ nạn xã hội. Do quy định chặt chẽ của cơ sở giáo dục này chúng tôi chỉ đứng được bên ngoài không   được vào tham quan bên trong.
Từ bên ngoài quan sát chúng tôi thấy cơ ngơi của khối văn phòng, nhà ở cán bộ xây dựng rất khang trang, đẹp đẽ chứng tỏ đời sống của cán bộ trại rất được nhà nước ta quan tâm.

Tuy rằng số lượng học viên không nhiều, nhưng để đảm bảo chất lượng giảng dạy cũng như bảo vệ tính mạng của học viên. Số lượng cán bộ,nhân viên của trại lúc nào cũng rất đông chắc để luân phiên thay thế nhau giáo dục và bảo vệ học viên cho chất lượng. Khi chúng tôi đến ngoài những người đang làm việc ra , còn rất nhiều cán bộ đang ngồi thảnh thơi nghỉ ngơi chờ đến ca trực của mình.

https://i0.wp.com/multiply.com/mu/nguoibuongio1972/image/cih20hmruuOzAxTDW3uceg/photos/1M/300x300/1225/IMG-1042.JPG
Mới đây để cho bà con thân nhân tiện thăm gặp học viên, chính quyền địa phương đã đổ con đường bê tông từ bên ngoài vào tận cổng trại. Con đường này làm chưa xong, nhưng phần trước cổng trại và phần bên ngoài vào đã hoàn thiện. Khu vực trước cổng trại còn được các cán bộ công an xã năng tuần tra để bảo vệ, mặc dù ngoài giờ hành chính, ngày nghỉ những các đồng chí công an xã vẫn túc trực hơn một tiểu đội để bảo vệ đường. Khi được hỏi tại sao các đồng chí không trải đều quân bảo vệ cả con đường dài mấy cây số. Một đồng chí cho biết con đường này do chúng tôi ( chắc đồng chí ấy muốn nói là huyện nhà, xã nhà ) làm, cho nên đoạn nào thích thì bảo vệ. Đúng là người cán bộ của nhân dân, làm việc vì lý những vẫn có tình cảm, vẫn có những cảm giác riêng gắn bó với đồng quê, bụi cây của quê hương.

 

https://i0.wp.com/multiply.com/mu/nguoibuongio1972/image/ViFAwMiJO1LTjiVRjpYK8A/photos/1M/300x300/1226/IMG-1026.JPG Do sợ bụi bay vào làm ô nhiễm không khí trong trai,ảnh hưởng đến sức khỏe của các học viên. Ban giám thị trại Thanh Hà đã đầu tư hàng trăm mét lưới chắn bụi, những lớp lưới được giăng cẩn thận bao quanh trại gồm mấy lớp lưới. Trại còn đầu tư lắp đặt máy camera để quan sát kẻ gian đột nhập vào trại trộm cắp. Làm thêm những tấm biển cấm tụ tập đông người để giữ sự yên tĩnh, tập trung cho học viên. Ước gì các trường học khác của chúng ta cũng được đảm bảo như vậy, không để hàng rong, quán xá bán tràn làn trước cổng trường. Hơn nữa để đảm bảo được giáo trình dạy bằng những phương pháp khoa học do đội ngũ cán bộ nhiều kinh nghiệm dày công soạn giáo án không lọt ra ngoài, ban giám thị trại Thanh Hà đã dựng những tấm biển cấm quy phim, chụp ảnh. Chương trình giảng dạy cho các học viên là chương trình mà phải tốn nhiều chất xám, công sức đáng được gọi là một phát minh khoa học. Cần phải giữ bản quyền như những phát minh khác.
https://i0.wp.com/multiply.com/mu/nguoibuongio1972/image/TM0Ufbwc77unwinfDA6Rqw/photos/1M/300x300/1227/IMG-1015.JPG
Không những quan tâm đến đời sống tinh thần học viên như chỉ cho ruột thịt vào thăm, hạn chế bạn bè xấu vào rủ rê, trại còn tạo điều kiện cho lao động, rèn luyện để tăng cường sức khỏe trong những lúc có thể. Chẳng hạn như học viên ủy quyền cho luật sư thảo đơn. Luật sư đánh may đơn gửi cho học viên ký, thế nhưng nhân thấy đây là cơ hội tốt để học viên rèn luyện thân thể nhanh tay, nhanh mắt nên ban giám thị trại Thanh Hà đã bắt học viên phải chép bằng tay gần 10 trang giấy.
https://i0.wp.com/multiply.com/mu/nguoibuongio1972/image/kkiP9v8HbrpvfyvDBt-IHw/photos/1M/300x300/1228/DSC-0145.JPG

Không những công an xã, công an trại giam mà ngay đến cả công an giao thông địa phương cũng rất quan tâm đến sự an toàn của người đi thăm học viên đi lại trên đường. Mặc dù có rất nhiều xe qua lại, nhưng các chiến sĩ cảnh sát giao thông địa phương phải lập một chốt ngay đâu đường ở trại cải tạo ra để kiểm tra giấy tờ, nhắc nhở những người đi thăm cẩn thận khi tham gia giao thông.

https://i0.wp.com/multiply.com/mu/nguoibuongio1972/image/WlNYjwduyXuEo-Jxhv593A/photos/1M/300x300/1229/IMG-1049.JPG
Tổng kết con đường vào trại cải tạo Thanh Hà đã được nâng cấp, cảnh sát giao thông luôn có mặt hướng dẫn, kiểm tra mọi người tham gia giao thông an toàn, chấp hành đầy đủ luật lệ lưu thông trên đường. Cơ sở vật chất của trại khang trang, đảm bảo vệ sinh, độ yên tĩnh. An ninh , trật tự luôn được chú ý bảo vệ chặt chẽ. Thái độ cán bộ trực trại được bồi dưỡng đào tạo nói năng giở sách và ảnh ra minh

họa. Các cán bộ lãnh đạo thường xuyên đi nghỉ ngơi, đi công tác, đi họp để bảo vệ sức khỏe nhằm phục vụ tốt hơn cho học viên, cho nên nếu bạn có ý kiến gì cần gặp mà họ không có mặt thì đó cũng là lý do chính đáng.

TIN NGÀY 21/3/2012

Chính trị – Xã hội

Đảng Cộng sản trước nhu cầu cải tổ (BBC)  —-Ai đứng sau vụ cấm báo Thanh Niên tổ chức tri ân chiến sĩ? (RFA)

Đói giáp hạt tại Thanh Hóa (RFA)   —Thanh niên chết bí ẩn trong lúc tạm giam  (RFA)   —Bắt giữ 6 nghi can buôn người  (RFA)   —Việt Nam nhắm phát triển năng lượng xanh (RFA)   —-Vụ 44 tỉ đồng: nguyên Cục phó Điện ảnh Việt Nam bị bắt giữ (RFA)

Xuất khẩu lao động Việt Nam: hơn cả buôn ma tuý! (Lê diễn Đức – RFA)  -Vì sao nhà cầm quyền VN lại làm ngơ trước thân phận khốn cùng của người lao động VN ở nước ngoài và ngăn cản giúp đỡ họ? Những người nghèo khổ đi nước ngoài lao động thực chất bị vứt vào canh bạc chót và chờ vào sự may mắn. Nơi nào ông chủ tốt hoặc nước sở tại có môi trường xã hội văn minh bảo vệ quyền lợi người lao động, thì tuy vất vả nhưng còn thực hiện được một phần mơ ước. Gặp ông chủ bất nhân, chính quyền sở tại làm ngơ, coi như mất trắng và thân tàn ma dại.    — Mà Ông Đức ơi,cái dụ Mã lai mà có có đi nữa là do “bọn tư bản nó bóc lột” đấy chớ,chúng tớ đâu có,ở chỗ “thiên đường” chúng tớ sướng lắm-Chúng tớ “gài bẩy” để “chứng minh” bọn “tư bổn giãy chết nó bóc lột để rồi chết” đấy Ông ạ.-Xem đây nầy : ‘Lao động Việt Nam kẹt ở Malaysia không bị đối xử tệ’ (VnEx)    —-‘Lao động VN ở Malaysia không bị bỏ đói, hay bóc lột (Đất Việt)   —-Việt Nam sẽ siết chặt quản lý thuê bao di động (VOA)

http://phamtayson.files.wordpress.com/2012/03/by-xuandong_02411.jpg?w=300

ĂN THẾ NÀY, HỌC THẾ NÀO?.. (Maithanhhai)-

Nhìn cơm các con đang ăn mà mình chụp ảnh mãi không được, tay cứ run run vì xúc động nên máy toàn bị rung. Cơm nước thế này thì nuốt thế nào được, hả giời?.. =======>>>

 

Thấy hông? quan đã bảo đâu có đói,mấy người đưa tin “bậy bạ ” không hà,không “định hướng” gì cả ,”phải định hướng  XHCN” chớ,còn cái Anh Hải kêu Giời nỗi gì? có ăn cơm đấy chứ.có đói đâu nào?  —-’Đừng để nạn ăn xin trở thành nỗi nhục quốc thể’ (VTC)

Bà Nguyễn Thị Mai Thanh nhận lương 100 triệu đồng/tháng (Dantri) -Mức lương này của bà chủ REE dự kiến vẫn giữ nguyên trong năm 2012 này, và còn dược hưởng chế độ khen thưởng trên lợi nhuận vượt kế hoạch kèm theo.

Hải Phòng: Đập phá nhà dân, nhiều cán bộ phường “lĩnh án” (Dantri)   —-Chưa thỏa thuận đã ủi sập nhà dân! (DV)

Đề nghị truy tố Phó Chi cục Thi hành án dân sự Lâm Đồng (Dantri)   —-Hai VĐV bỏ trốn tại Australia: Trăm sự tại nghèo? (Dân Việt) – Vụ việc hai VĐV đua thuyền rowing Nguyễn Phương Đông, Lương Đức Toàn bỏ trốn tại Australia sau chuyến tập huấn đang khiến những người làm thể thao đau đầu về chuyện đãi ngộ cho VĐV.

Thu thuế linh hoạt như ‘đèn xanh đi – đèn đỏ dừng’ (VTC News)   —-Thế nào là “khoan sức dân”? (DV)    —–Đội mũ bảo hiểm ngược để… dễ kiểm tra tem (DV) đồ điên khùng!!!     —–TP.HCM: Tay chân miệng “tấn công” trường học (VNN)

2 tàu cá, 21 ngư dân bị Trung Quốc bắt giữ (TN)

Kinh tế

Với giá năng lượng tăng cao, lạm phát năm 2012 sẽ đi về đâu? (Trần vinh Dự – VOA) – Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang chuẩn bị xin tăng giá điện khiến nhiều người lo ngại về khả năng tiếp tục xảy ra bùng nổ lạm phát

Văn hóa – Giáo dục

Hậu Giang: Học sinh nam đóng cảnh “nóng” trong lớp (Dân trí)

Nữ sinh xử nhau ngay khuôn viên trường, hiệu trưởng chẳng hay (Danviet)

Thế giới

https://i0.wp.com/wscdn.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2012/03/20/120320151454_queen_144x81_x_nocredit.jpgNữ hoàng Anh đọc diễn văn nhân 60 năm trị vị (BBC) ================>>>

Cuộc chiến đổi màu (BBC) -Miến Điện trong xung đột sắc tộc và quan hệ đang đổi với TQ.    —Tổ chức nhân quyền Mỹ tố cáo quân đội Miến Điện bức hại sắc tộc Kachin (RFI)  —Pháp truy lùng thủ phạm ở Toulouse (BBC)  —Quốc tế lên án vụ thảm sát tại trường học Do Thái ở Pháp (RFI)   —An ninh Pháp ráo riết truy lùng thủ phạm vụ sát hại người Do Thái và lính Dù (RFI)   —Pháp nâng mức báo động khủng bố trong lúc truy lùng kẻ sát nhân (VOA)

Trung Quốc lại tăng giá xăng dầu (BBC)    —Thủ tướng Tây Tạng : Mọi kênh đối thoại với Bắc Kinh đều bế tắc  (RFI)   —Trung Quốc : Bất động sản mất giá, Nhà nước đau đầu (RFI)  —Bruxelles và Bắc Kinh cùng giám sát tính an toàn của sản phẩm nhập từ Trung Quốc (RFI)  —Trung Quốc tăng cường tuần tra ở vùng đảo tranh chấp trên biển Hoa Đông (RFI)  —-Trung Quốc có thể thắng được cuộc chiến tranh văn hóa? (Nguyễn hưng Quốc-VOA) Chính quyền Trung Quốc xem văn hóa như một mặt trận lớn, cả về đối nội lẫn đối ngoại    —-Trung Quốc cảnh báo một cuộc chạy đua vũ trang ở châu Á (VOA)

Tổng Giám đốc BBC sẽ từ chức (BBC)   —-Thẩm phán LHQ từ chức vụ xử Khmer Đỏ (RFA)   —-Tòa án Tội phạm Chiến tranh Kampuchia gặp khủng hoảng  (VOA)   —Manila xác nhận sẽ tăng hợp tác quân sự với Mỹ (RFI)   —-Thủy quân lục chiến Mỹ sẽ đến Úc vào tháng Tư 2012 (RFI)

Bình Nhưỡng mời Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế trở lại Bắc Triều Tiên (RFI)   —IAEA nhận được lời mời để các thanh sát viên trở lại Bắc Triều Tiên (VOA)  —-Căng thẳng gia tăng giữa chính quyền và đối lập Cuba (RFI)

Nga sẵn sàng hậu thuẫn kế hoạch của ông Annan về Syria (VOA)    —Trao đổi thương mại Nga-Mỹ bị ảnh hưởng bởi Jackson-Vanik (VOA)  —-HRW: Nga nên ngưng can thiệp các cuộc biểu tình ôn hòa (VOA)  —-Nga tìm cách đứng xa đồng minh Syria  (VOA)

Một loạt các vụ nổ bom khắp Iraq giết chết 38 người  (VOA)  —Đài Loan: tàu chìm, 6 chết, 2 mất tích  (RFA)  —-Động đất gần Acapulco, Mexico  (VOA)

XÃ HỘI

Xe bồn mất lái nghiền nát xe máy (Dantri)   —-Sau “yêu” chồng thích mò mẫm, còn vợ ưa gì? (DV)  —-”Tú bà” 22 tuổi cầm đầu đường dây bán người (DV)   —-Bán thuốc tây nhưng không biết… chữ! (TN)   —-Cưa trộm trụ sắt thi công cầu Cần Thơ (TN)   —Bắt một giám đốc vụ ẩu đả với 2 công an (VNN)

Trung úy công an “chôm” 30 triệu đồng của con bạc (NLĐ)   —Thuê người chém nhân viên kiểm tra xe buýt (NLĐ)  —-VnExpress/BM -Cá nhân nữ đại gia thủy sản nợ 100 tỷ đồng  —–Hà Nội: Lại đột nhập, phá két và lấy đi 1,7 tỷ đồng  (VN+)
http://anhbasam.files.wordpress.com/2012/03/h317.jpg?w=192&h=172

  – Về buổi thuyết trình của GS-TS Nguyễn Quang Ngọc, bữa nay xin tiếp, về chuyện có nên đưa tranh chấp HS-TS với Trung Quốc ra tòa án quốc tế hay không. Những bàn luận hầu như chỉ tập trung vào vấn đề pháp lý, nên còn có thể tung hỏa mù, dọa ngáo ộp. Trong khi đó, cái “tử huyệt” thực ra lại nằm chỗ khác, đó là chính trị. Nhiều người không nhận ra, và nhiều người quá biết nhưng muốn lờ đi, đánh lạc hướng. Mấu chốt của vấn đề chính là cả hai nước đều chung một thứ thể chế chính trị luôn muốn “Đóng cửa bảo nhau!”, tranh chấp không giống chút nào với các nước khác. Cho nên:

1- Đem nhau ra tòa quốc tế là phơi mặt cho toàn thế giới thấy rõ thêm thứ tình nghĩa “môi hở răng …cắn”, “đồng chí … chóe”. Tụi “thế lực thù địch” nó lợi dụng. Bộ mặt đẹp của “thiên đường XHCN” còn đâu?

2- Thế nhưng, trong khi một bên vẫn say sưa đặt cái gọi là “lợi ích giai cấp”, sự tồn vong của chế độ lên trên lợi ích dân tộc, thì một bên thực chất đã vứt bỏ để làm ngược lại. Bên nào có lợi thế quá dễ thấy.

3- Trong nước thì sẽ bị phơi lưng ra với dân chúng, không những mất “thiêng”, mà còn dễ bị ê chề nếu thua kiện.

4- Dân chúng thì tận dụng cơ hội này tha hồ moi bới những bí mật lâu nay được chôn giấu, tha hồ tự vũ trang cho nhau kiến thức, tinh thần để không còn mơ hồ, yếm thế như trước. Rất nguy!

5- Một khi đã tới nước muối mặt lôi nhau ra cho tụi “tư bổn giãy chết” nó mổ xẻ, thì cũng sẽ không chừa một thủ đoạn nào. Sẽ có những bí mật của nhau từng thề bồi “sống để bụng, chết mang theo” thì giờ đây phải tung hê hết hoặc chí ít thì hé lộ dần để giành lợi thế. Vụ chơi xỏ đơn phương tiết lộ Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 chỉ là khúc dạo đầu. Và còn nữa … Như vụ đột nhiên tung hê lên báo đảng Nhân dân nhật báo bài “Một người vợ Trung Quốc khác của Hồ Chí Minh” chẳng hạn. “Võ Tàu” đấy! … Lắm kẻ cứ gọi là sợ chết khiếp!

Trần Khải :Nhượng Quyền Biển Đông?

Tác giả : Trần KhảiVietbao

Chính phủ Phi Luật Tân đã dịu giọng với Trung Quốc về Biển Đông, và gửi lời nhắn là có thể sẽ có một thỏa hiệp để chấp nhận Trung Quốc vào vùng đảo Trường Sa nơi Phi đang tranh chủ quyền để “cùng khai thác dầu khí” với điều kiện 60% lợi tức sẽ thuộc về chính phủ Phi. Đó là một chuyển biến đáng ngại cho Việt Nam.

Hãy hình dung rằng, nếu VN chấp nhận cho TQ vào vùng biển do VN đang kiểm soát và đang tranh chấp chủ quyền với TQ để khai thác dầu, với khẩu hiệu TQ luôn luôn đưa ra là tạm gác tranh chấp để cùng khai thác kinh tế, chắc chắn sẽ là một cớ để TQ sau này ra Liên Hiệp Quốc tranh biện rằng chính VN đã chấp nhận vùng tranh chấp đó đã có sự hiện diện của TQ để khai thác kinh tế. Đó là một cớ để sẽ dằng dai hoài, cho dù có ra trước tòa quốc tế nào đi nữa.

Thêm câu hỏi nữa: nếu tạm gác tranh chấp để cùng khai  thác kinh tế, tại sao không để ngư dân VN vào đánh cá ở vùng biển Hoàng Sa, nơi nhiều thế hệ ông cha của ngư dân Việt đã đánh cá từ lâu và là nơi Hải Quân TQ tấn công Hải Quân VNCH để đánh chiếm từ  năm 1974?

Nhà bình luận Xu Tianran trên ấn bản 19-3-2012 của báo Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times) ở Bắc Kinh vui mừng gọi diễn biến hôm Chủ Nhật là “Chính phủ Manila dịu giọng về Đảo Trường Sa (TQ gọi là Nansha)”.

Tại sao Phi mời TQ vào khai thác chung ở vùng Trường Sa thuộc Phi?

Ngoại Trưởng Phi Albert del Rosario qua cuộc phỏng vấn của News5 nói rằng TQ đã có nhiều gợi ý về thăm dò chung và khai thác chung vùng đảo Trường Sa, thuộc Biển Tây Phi mà Việt Nam gọi là Biển Đông, ngay cả khi TQ nói rõ rằng vùng tranh chấp đó là thuộc chủ quyền TQ.

Hiện thời vùng Trường Sa ở Biển Đông là thuộc một phần hay toàn phần tranh chấp bởi 6 quôc gia, đó là Phi, TQ, Việt Nam, Đaì Loan, Brunei và Mã Lai và là nơi được tin là có nhiều mỏ dầu, khí và khoáng sản.

Mới đây, Bộ Năng Lượng Phi nói là sẽ cho thăm dò vùng Recto Bank (còn gọi là Bãi Cỏ Rong — Reed Bank). Năm ngoái, một tàu thăm dò do hãng Phi thuê đã bị tàu TQ chận lại ở Bãi Cỏ Rong, nơi mà TQ nói là chủ quyền TQ. Rồi mới đây, Đaì Loan loan báo phản đối thăm dò dầu ở Bãi này.

Del Rosario khẳng định rằng Bãi Recto Bank là thuộc chủ quyền Phi. Phó Chủ Tịch TQ Shin Jingping là một trong vài người nếu ý tưởng khai thác chung, và Del Rosario thú nhận rằng vẫn chưa đóng cửa về khả năng này.

Del Rosario nói, “Nếu họ muốn khai thác chung, thăm dò chung ở đó — chúng ta sẽ   đồng ý như thế, với điều kiện làm theo luật Phi.” Ông nói rằng, theo luật Phi, sẽ có 60% thương vụ của hợp tác đó là thuộc về chính phủ Phi.

Tuy nhiên, rõ ràng là Phi đã nhượng bộ như thế, sẵn sàng chia tứ-lục, vậy mà TQ vẫn chưa hài lòng.

Tờ Hoàn Cầu Thời Báo ghi lời một số học giả TQ rằng, TQ sẽ không đồng ý cho Phi chia phần lớn hơn trong hợp tác khai thác chung này.

Zhuang Guotu, người tự nhận là chuyên gia về Biển Đông và hiện là Khoa Trưởng Đại Học Nghiên Cứu Đông Nam Á tại đại học Xiamen University, nói với Hoàn Cầu Thời Báo, “TQ sẽ không chấp nhận rằng 60% mức thu là về phía Phi, vì điều kiện này lá chấp nhận chủ quyền lãnh thổ của Phi [trên Bãi Cỏ Rong].”

Zhuang cũng ghi nhận, dù vậy, như thế là Phi cũng dịu giọng rồi. Đồng thời, Zhuang hù dọa, rằng tuy TQ cam kết không giải quyết chủ quyền Trường Sa bằng vũ lực, nhưng “TQ  sẽ bảo vệ quyền lợi TQ bằng cách củng cố hoạt động tuần hải và thực thi luật hàng hải.”

Lời đó hẳn nhiên là nặng kí, vì năm ngoáí đã có chuyện xảy ra: hồi tháng 3-2011, một nhóm tàu hải giám Trung Quốc đã tới xua đuổi tàu thăm dò dầu do Phi đưa tới Bãi Cỏ Rong tại Trường Sa.

Có nghĩa là, muốn khai thác dầu  Biển Đông là sẽ bị TQ quấy rối hoài.

Một điểm cần chú ý cũng hôm Chủ Nhật 18-3-2012, báo Business Mirror của Phi Luật Tân ghi lời chuyên gia về chính trị Đông Nam Á Carlyle Thayer, giáo sư đạị học ở University of New South Wales và Học Viện Quốc Phòng Úc Châu, thúc giục chính phủ Phi Luật Tân và chính phủ CSVN phải  có những bước củng cố “chủ quyền quốc gia” về các khu đặc quyền kinh tế ở Biển Đông.

Trong bài viết nhan đề “Security Cooperation in the South China Sea: An Assessment of Recent Trends” (Hợp Tác An Ninh ở Biển Đông: Lượng Định Các Khuynh Hướng Gần Đây), GS  Thayer nói rằng sự mềm yếu của Manila sẽ chỉ mời gọi Bắc Kinh “hành động hung hăng thêm.”

Ông cũng thúc giục ASEAN và cộng đồng quốc tế, những nước có tàu hàng đi xuyên qua Biển Đông, hãy chạm trán về mặt ngoại giao với TQ về hành vi “hung hăng giành biển.”

Bản đồ chín khúc, hay bản đồ lưỡi bò hình chữ U mà TQ vẽ lấy chủ quyền ở Biển Đông đã lẹm vào nhiều đảo của Việt Nam và Phi. Do vậy, Thayer gọi đó là phi lý, khi việc thăm dò dầu của taù Phi  ở Bãi Cỏ Rong và khu vực khác ở nhóm đảo KIG, và ngay cả khi VN thăm dò dầu trong vùng biển VN cũng bị TQ xem là hành vi “cướp bóc tàì nguyên” và là một  thách thức với hiện hữu của TQ.

Soong Enlai, chủ tịch hội đồng quản trị của hãng dầu quốc doanh TQ China National Offshore Oil Corp. (CNOOC), trước đó đã nói rằng đất nước TQ mất khoảng 20 triệu tấn dầu hàng năm, tức là khoảng 40% tổng sản lượng dầu khai thác hải ngoại của TQ, chỉ vì các hành vi như thế ở Biển Đông (do Phi và VN khai thác dầu).

Thayer nhắc rằng, hồi tháng 3 năm ngoái, Ngoạị Trưởng TQ Yang Jiechi tuyên bố rằng chính sách ngoiạ giao TQ sẽ phục vụ cho phát triển kinh tế TQ. Tuyên bố này ngay lập tức theo sau là một lời cảnh cáo đối với bất kỳ việc thăm dò nào trong các vùng biển mà TQ đã khoanh bản đồ ở Biển Đông, đồng thời tăng cường tuần hải và tuyển mộ thêm 1,000 thủy thủ cho lực lượng hải giám TQ để nâng quân số này lên 10,000 người.

Nhìn các diễn biến mấy năm qua, chúng ta đã thấy Việt Nam thực tế đã dịu giọng từ trước khi Phi Luật Tân dịu giọng. Những cuộc biểu tình đòi chủ quyền Biển Đông ở Sài Gòn và Hà Nội đã bị vùi dập tệ hại, trong đó chị Bùi Minh Hằng đã bị đẩy vào trại cải huấn lấy cớ là gây rối loạn đường phố.

Không chỉ chuyện của năm ngoáí. Thực ra, cuộc biểu tình đầu tiên đòi chủ quyền Biển Đông là cuối năm 2007, do anh Điếu Cày và Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do  tổ chức ngay giữa Sài Gòn sau khi TQ tuyên bố lập huyện Tam Sa để quản lý cả Hoàng Sa và Trường Sa của VN. Bây giờ anh Điếu Cày vẫn còn bị giam, bất kể là án tù đã mãn từ lâu.

Chính phủ Hà Nội đã dịu giọng từ lâu. Bây giờ chính phủ Phi cũng dịu giọng. Có vẻ như, Biển Đông sắp bị bán cho TQ, không kiểu này thì cũng kiểu khác.

Riêng với VN, chắc chắn TQ không chỉ  đòi Biển Đông, mà  đã và đang dùng nhiều cách để hiện diện ở các vùng khác và lĩnh vực tại VN, từ rừng đầu nguồn cho tới mỏ bauxite, từ phim Lý Thái Tổ cho tới đòi hỏi dạy tiếng Hoa cho trẻ em VN 4 tiết/tuần.

Không lẽ, tới thời nhà Hồ là VN bị xóa sổ hay sao? Có cơ may nào khác hơn không? Đành chờ vậy.

2 tàu cá, 21 ngư dân bị Trung Quốc bắt giữ

ĂN THẾ NÀY, HỌC THẾ NÀO?..

Maithanhhai

Xuân Đông – Đến Thượng Tân (Bắc Mê, Hà Giang) vào giữa trưa.Ngó xuống Khu Nội trú phía sau dãy phòng học, thấy lố nhố trẻ con đang bưng mỗi đứa một cái âu nhựa ăn cơm. Mình đi thẳng vào xem chúng nó uống thế nào.

Nhìn cơm các con đang ăn mà mình chụp ảnh mãi không được, tay cứ run run vì xúc động nên máy toàn bị rung. Cơm nước thế này thì nuốt thế nào được, hả giời?..

Mỗi đứa ôm một cái âu đựng cơm chan nước canh. Tản mát: Chỗ này thì túm tụm chục đứa con trai, vừa nhai trệu trạo vừa nói chuyện lầm rầm; chỗ kia thì cắm cúi vài ba đứa con gái, ngồi im lặng ăn một cách uể oải; lại có đứa đứng ăn một mình, trong xó bếp tối tăm…

Nhìn vào âu cơm thấy gì đây?.

Cơm thì vón cục vón hòn, lõng bõng cái gọi là nước canh- Một thứ canh gọi là “canh khoai”, nhưng nhìn toét mắt chả thấy khoai đâu!. Thức ăn mặn thì chả có.

Ăn uống thế này, để tồn tại còn khó, nói gì đến học hành?..

Mình mau chóng chụp vài shot hình xong liền đi ra ngoài. Cố gắng tránh không làm chúng nó mất tự nhiên, để miếng cơm nhạt trôi xuống cái dạ dày rỗng được trơn tru.

Vừa uể oải ăn, vừa lầm rầm trò chuyện. Thấy khách đến, chúng ngượng ngùng giấu mặt.

Nhóm con trai tụ tập ăn trong im lặng, cái chậu bên dưới chân chúng nó dùng để đựng canh “khoai”.

Nhóm ăn trong bếp, thỉnh thoảng nói với nhau vài câu thổ ngữ rời rạc, những chậu canh sẵn khói, thừa nước nhưng trong veo. Nhìn đố biết là canh gì, nếu không có ai “bật mí”…

Mỗi đứa một góc ăn cho xong bữa

Nhiều đứa gần như bỏ lại nguyên âu cơm

Những ánh mắt hân hoan khi sắp được nhận quà.

Bữa ăn chúng nó là vậy, thế mà vẫn có người nói chúng nó chưa đến nỗi khổ!. Đéo hiểu cái chuẩn khổ, nó phải như thế nào nữa, hả người?..

-“Bom” nước khổng lồ chờ nổ: Lời cảnh Báo của Nhà Văn Võ Thị Hảo đã bắt đầu ứng nghiệm.

20/03/2012

http://chauxuannguyen.files.wordpress.com/2012/03/20120320100915_st-2.jpg?w=150&h=112  -Lê Tùng Châu tổng hợp từ VNE và Tuổi Trẻ 17/3/2012

LTC: Còn nhớ năm 2010, nhà văn Võ Thị Hảo đã viết bài “Miền Trung ơi! Người đã bị thí mạng?!” trong đó nêu lên lời cảnh báo nguy cơ treo bom nước trên đầu dân đồng bằng. Vì đâu? xin trích:

MARCH 19, 2012

Cục trưởng Cục đê điều và phòng chống lụt bão Nguyễn Xuân Diệu công bố: tổng lượng mưa năm 2009 nhỏ hơn tổng lượng mưa năm 1999 tại miềm Trung nhưng đỉnh lũ năm 09 lại vượt đỉnh lũ năm 99 tới cả 1,5 m.
Ngày 24/11/2009, một đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Yên cho biết, thực tế lũ năm 2007 cho thấy, chỉ một trận mưa 330 mm tại tỉnh này, mà thiệt hại lớn hơn mức lũ “lịch sử” năm 1991 với lượng mưa 1.300 mm, bởi vì nhà máy thủy điện Sông Ba hạ ở đây đã xả lũ hết công suất với vận tốc 11.400 m3/s!
Sau trận lũ lụt thảm khốc tại miền Trung hồi tháng 11/2009, nhiều đại biểu Quốc hội đã chất vấn chính phủ về nguyên nhân lũ lụt miền Trung. Một số nhà chuyên môn có uy tín đã phát hiện là “do yếu tố con người” – do những nhà máy thuỷ điện vì lợi ích cục bộ của mình, không thực hiện quy trình đã cam kết về vận hành hồ chứa phòng lũ, cứ tích đầy nước để chạy máy phát điện tối đa, đến lúc mưa lớn tràn về, liền mở cửa xã lũ ào ạt để bảo vệ đập và nhà máy, bất kể hậu quả cho dân vùng hạ lưu.
Về cơ bản, ngành thủy điện và thủy lợi cam kết khi xây dựng rằng các hồ chứa có thể chống hạn và cắt lũ, nhưng trên thực tế khảo sát đã được công bố từ cơ quan chức năng thì việc vận hành hệ thống hồ xả lũ ở đây là tùy tiện, không hề có một “nhạc trưởng”…

Mời bạn đọc lại bài viết của Nhà Văn Võ Thị Hảo và những nguy cơ từ lời báo trước ấy đã bắt đầu xuất hiện dưới đây…

Nhiều ngày qua, hàng nghìn người dân vùng hạ lưu công trình thủy điện Sông Tranh 2 ở huyện Bắc Trà My (Quảng Nam) lo lắng vì phát hiện nhiều vết nứt, rò rỉ nước ở thân đập chính của công trình này. Ngoài vết nứt toác lún sâu bên trái gần đập chính, chính quyền địa phương cùng người dân ở huyện Bắc Trà My phát hiện nhiều vết nứt, rò rỉ nước từ lòng hồ xuyên qua thân đập chính công trình thủy điện sông Tranh 2.

Thủy điện Sông Tranh 2 có tổng mức đầu tư 5.194 tỷ đồng, xây dựng từ tháng 3/2006 gồm hai tổ máy (tổng cộng 190MW), dự kiến khánh thành trong năm 2012 này.
Cuối năm 2010 cả hai tổ máy này đều chính thức phát điện. Dung tích hồ chứa nước của thủy điện Sông Tranh 2 thuộc hàng lớn nhất miền Trung, vị trí bờ đập chính nằm sát tỉnh lộ 616 là hồ chứa nước thuộc 2 xã Trà Tân và Trà Đốc với khoảng 730 triệu mét khối nước, cao hơn vùng hạ lưu khoảng 100 m.

Những phản hồi mâu thuẫn

Từ EVN

Trần tình về vết nứt thủy điện Sông Tranh 2, Ban Quản lý Dự án Thủy điện 3 (thuộc EVN) có công văn thông báo khẩn giải thích về hiện tượng “có dòng nước chảy ra phía hạ lưu đập dâng, tràn” ở Công trình Thủy điện sông Tranh 2, đã khẳng định, dòng thấm chảy ra phía hạ lưu đập và toàn bộ lưu lượng thấm qua là khoảng 30 lít một giây nên không ảnh hưởng đến an toàn, ổn định của công trình.

“…Tổng lượng thấm của đập đã được Hội đồng nghiệm thu Nhà nước các công trình xây dựng, Hội đồng nghiệm thu cấp Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Hội đồng nghiệm thu cơ cở, cơ quan thiết kế đánh giá là đạt yêu cầu kỹ thuật, đảm bảo chất lượng công trình.

Ban quản lý cho rằng, hiện tượng nước chảy ra ở 3 vị trí hạ lưu đập là các vị trí khe nhiệt chứ không phải khe nứt. 30 khe nhiệt được thiết kế bố trí và thi công đều trên toàn tuyến đập. Mục đích bố trí các khe nhiệt này là nhằm triệt tiêu ứng suất nhiệt gây nứt bê tông trong quá trình thi công và vận hành công trình. Các khe nhiệt này xuyên suốt từ phía thượng lưu về hạ lưu.
Đơn vị thi công là Tổng công ty xây dựng Thủy lợi 4- CTCP và Ban Quản lý Dự án Thủy điện 3 đã và đang tiếp tục xử lý thấm của đập để làm giảm tổng lượng thấm nêu trên để chất lượng công trình tốt hơn. Ban quản lý dự án khẳng định vấn đề kỹ thuật này hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến an toàn ổn định của dự án.

Từ “Viện Vật lý Địa Cầu”

Giáo sư Cao Đình Triều cho rằng thân đập chính của công trình thủy điện Sông Tranh 2 (Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam) xuất hiện đến 4 điểm nứt, rò rỉ nước từ lòng hồ xuyên qua đập là đáng lo ngại. Các cơ quan chuyên môn cùng đơn vị chủ đầu tư cần khẩn cấp vào cuộc kiểm tra các vết nứt, rò rỉ này để tránh gây thảm họa cho vùng hạ lưu.

Giáo sư Triều nhận định, thân đập thủy điện Sông Tranh 2 nằm trên đới đứt gãy đang hoạt động mạnh nên gây ra những vết nứt, rò rỉ. Do vậy, trước mắt, các cơ quan chuyên môn cần sớm thăm dò, đo đạc mức độ nguy hiểm của vết nứt để có giải pháp xử lý kịp thời, phù hợp.

“Nếu để lâu ngày, vết nứt lan rộng, thân đập bị đứt gãy thì hàng trăm triệu mét khối treo ở độ cao 100 mét so với vùng hạ lưu ào xuống thì hiểm họa thật khó lường”

Khu vực lòng hồ thủy điện Sông Tranh 2 chứa khoảng 730 triệu mét khối nước nằm ở độ cao 100 mét so với vùng hạ lưu. Nếu sự cố xảy ra, vùng lòng hồ có nguy cơ trở thành thác nước khổng lồ gây thảm họa cho khu vực dân cư vùng hạ lưu bên dưới. Ảnh: Trí Tín.

 

Phản đối từ Bắc Trà My

Hiện 4 điểm nứt ở phần thân trái đập rò nước khá mạnh từ khu vực lòng hồ chảy thấm qua thân đập tuôn xuống hệt như khe suối.

Theo ông Trần Văn Hải, Trưởng Ban quản lý dự án thủy điện Sông Tranh 2, những vết nứt trên đều ở vị trí các khe nhiệt của khối bêtông bờ đập. Ông Hải cho rằng, hiện tượng thấm nước qua khe nhiệt bị nứt nằm trong tầm kiểm soát, rò thấm nước với cường độ 30 lít một giây xuất hiện từ tháng 11/2011 trong phạm vi yêu cầu thiết kế, không thể gây nguy hiểm gì.

Còn ông Nguyễn Kim Sơn, Phó Bí thư thường trực Huyện ủy Bắc Trà My phản đối, vào chiều 19/3/2012: “Lãnh đạo Ban quản lý thủy điện Sông Tranh 2 bảo rằng vết nứt trong mức cho phép thiết kế, không gây nguy hiểm gì là vô lý. Nước từ khu vực lòng hồ rò rỉ qua thân đập bê tông cốt thép tuôn chảy mạnh như dòng suối mà nói bình thường thì thật đáng ngờ. Tôi đã điện thoại yêu cầu Ban quản lý báo cáo bằng văn bản, thế nhưng đến chiều nay vẫn chưa thấy trả lời”.

Thân đập chính công trình thủy điện Sông Tranh 2, nơi xuất hiện 4 vết nứt, rò rỉ nước. Ảnh: Trí Tín.

“Nếu trong vòng hai ngày tới, Ban quản lý công trình thủy điện Sông Tranh 2 không báo cáo về việc đập bị rò rỉ và giải pháp khắc phục, chính quyền huyện sẽ báo cáo tỉnh can thiệp”, ông Phó Bí thư thường trực huyện ủy Bắc Trà My nhấn mạnh.

Video Clip của Tuổi Trẻ: “Bom” nước khổng lồ chờ nổ
http://tv.tuoitre.vn/js/player/player.swf
Giữa năm ngoái, lòng đất Bắc Trà My phát ra nhiều tiếng nổ bất thường làm rung chuyển nhà cửa đồ đạc khiến người dân lo lắng. Tháng 12/2011, Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam kết luận nguyên nhân tiếng nổ trong lòng đất là động đất kích thích do hoạt động hồ chứa tích nước công trình thủy điện Sông Tranh 2. Các chuyên gia cũng đã đề xuất Bộ Khoa học công nghệ giúp địa phương này lắp đặt trạm quan trắc động đất phòng ngừa nguy hiểm cho người dân, thế nhưng đến nay vẫn chưa có sự hỗ trợ nào.

Từ sau tết Nhâm Thìn đến nay, lòng đất ở vùng hạ lưu công trình thủy điện sông Tranh 2 vẫn còn xuất hiện những đợt dư chấn gây rung chuyển mặt đất nhưng nhẹ hơn so với trước.

Kiêu binh thời Đảng trị

http://phamtayson.files.wordpress.com/2012/03/ca-298-danlambao.jpg?w=447&h=133
 
Phạm Đình Trọng – Ngày nay đất nước hòa bình, yên hàn mà bộ máy công cụ công an phình ra khổng lồ! Tướng công an lên tới hàng trăm, nhiều như vịt đàn thả đồng! Giám đốc công an một tỉnh heo hút, nghèo xơ xác cũng là một ông tướng!… Đó là sự phát triển của nỗi đe dọa, căng thẳng, của cuộc sống không bình yên, sự phát triển của nhà nước “mang bục công an đặt giữa tim người”! …

Vì sao người dân bị bắt vào trụ sở công an lại chết nhanh, chết nhiều như vậy? Xin hãy xem ứng xử của công an với người dân để thấy rằng: Được coi là thần bảo hộ của đảng, là công cụ bảo vệ đảng, bảo đảm sự tồn tại áp đặt của đảng, được đảng o bế, dung túng, lực lượng công an đã trở thành kiêu binh hung hãn, côn đồ như thế nào, đã coi thường nhân phẩm, mạng sống của người dân như thế nào!… 
*
Lịch sử Việt Nam đã từng ghi nhận, cuối thế kỉ XVIII, thời Lê mạt, triều chính thối nát. Trịnh Kiểm với danh nghĩa cứu nước phò vua, bảo vệ ngôi báu nhà Lê, đã tạo nên thế lực chính trị độc quyền họ Trịnh, trở thành Chúa Trịnh bên cạnh Vua Lê! Là bộ tham mưu của Vua Lê nhưng quyền lực Chúa Trịnh lấn át Vua Lê, trùm lên Vua Lê! Quyền bính trong triều, Chúa Trịnh nắm cả, Vua Lê chỉ là bù nhìn. Một triều đình, hai bộ máy! Bên cạnh cung Vua thâm nghiêm nhưng im lìm vắng lặng là phủ Chúa nguy nga, lớp lớp lính canh, rầm rập quan quân lui tới! Bộ máy thực quyền Chúa Trịnh giật dây, chỉ huy bộ máy hình thức của Vua Lê! Mọi việc Vua Lê phải hỏi Chúa Trịnh! Vua muốn đề bạt ai, Chúa quyết, Vua mới được ban sắc phong! Hai bộ máy cồng kềnh, xa hoa và sa đọa cưỡi trên lưng, đè trên đầu dân đen nghèo đói! Coi thường Vua, quan lại ở phủ Chúa lộng hành, không coi kỉ cương phép nước của Vua ra gì, mặc sức cướp bóc, bóp nặn dân và sống xa xỉ, hoang tàn vô độ! Dân đói khổ, bất bình! Giặc giã nổi lên khắp nơi!
Để trấn áp sự chống đối của dân ở kinh đô, bảo vệ phủ Chúa, duy trì thể chế ngang trái Vua Lê – Chúa Trịnh mà thực chất là thể chế độc tài Chúa trị, Chúa Trịnh lấy tiền thuế của dân nuôi dưỡng đội quân cấm vệ đông đúc. Là công cụ trấn áp dân, bảo vệ nghiệp Chúa, quân cấm vệ được ban nhiều bổng lộc, được phong cấp binh cao chót vót cho hàng loạt kẻ thân tín, được nuông chiều trở thành đám kiêu binh, mặc sức cướp của, giết người, hãm hiếp đàn bà con gái! Đám kiêu binh coi dân đen như cỏ rác, coi mạng sống của người dân chỉ như mạng ruồi, mạng muỗi!
Ba thế kỉ đã trôi qua! Ba thế kỉ liên tiếp những cuộc cách mạng xã hội và dồn dập, ào ạt những cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, đưa xã hội loài người bước những bước dài đến văn minh. Ngày nay loài người đã bước vào nền văn minh tin học, rôbốt làm thay con người trong nhiều việc chân tay và internet thay con người trong nhiều việc quản lí. Với nền văn minh tin học, ở các nước dân chủ văn minh, bộ máy nhà nước đều rất gọn nhẹ, thực sự là bộ máy phục vụ dân, gần dân, thân thiện với dân. Tưởng rằng thể chế đã tạo ra hai thảm họa cho người dân: một nhà nước, hai bộ máy quản lí khổng lồ đè lên nhau rồi cùng đè xuống đầu dân đen và đám hung thần kiêu binh coi mạng người dân như cỏ rác đã vĩnh viễn chôn vùi trong quá vãng cùng chế độ phong kiến thối nát! Nhưng không ngờ những người thực thi chủ nghĩa cộng sản thủ tiêu nhà nước của ông Mác ông Lê nin lại khôi phục đầy đủ hai thảm họa của thời ngang trái, rối ren, đau khổ và nhục nhã của lịch sử Việt Nam, thời Vua Lê Chúa Trịnh! Cũng một nhà nước hai bộ máy công quyền quan liêu khổng lồ ngự trị trên đầu dân đen! Cũng nảy nòi thứ hung thần kiêu binh thản nhiên giết dân lành vô tội như giết kiến và nhơn nhơn vô can đứng trên pháp luật!
Thời Vua Lê Chúa Trịnh, thời độc tài Chúa trị, một nhà nước hai bộ máy chỉ có ở trung ương, lầu Chúa bên cạnh cung Vua chỉ có ở kinh đô! Đám hung thần kiêu binh chỉ có ở kinh kì! Thời đảng trị ngày nay, hai bộ máy lạnh lùng, quan liêu, nặng nề thiết lập đến tận phường xã, thôn ấp, tổ dân phố. Bên cạnh trụ sở Ủy ban Nhân dân bề thế là trụ sở đảng ủy nghênh ngang, ngạo nghễ! Và khủng khiếp hơn là những hung thần kiêu binh đông đúc cũng nghênh ngang ngạo nghễ ở mọi hang cùng ngõ hẻm!
Thật mỉa mai khi dân chúng đang xôn xao ngơ ngác, đang băn khoăn lo lắng trước tin hội trường Ba Đình, nơi diễn ra hội nghị Diên Hồng thời kháng chiến chống Mĩ sẽ bị đập phá để xây nhà Quốc hội, khi Quốc hội vừa đưa ra bàn có nên phá một di tích linh thiêng như hội trường Ba Đình thì có ý kiến lạnh lùng phán: Việc phá bỏ hội trường Ba Đình, Bộ Chính trị của đảng đã quyết rồi! Thế là Quốc hội khỏi bàn, chỉ còn bỏ phiếu cho đủ thủ tục lựa chọn phá hay không phá! Bỏ phiếu thủ tục vì việc lựa chọn, đảng cũng đã chọn cho rồi, các đại biểu Quốc hội cũng chẳng cần đắn đo lựa chọn! Gần trăm phần trăm đại biểu Quốc hội là đảng viên phải chấp hành nghị quyết của đảng nên gần trăm phần trăm phiếu tán thành phá bỏ một công trình kiến trúc rất tiêu biểu, rất đặc trưng của một thời lịch sử, phá bỏ một chứng tích hiên ngang của một thời lịch sử hào hùng! Bến Bình Than, nơi có mái nhà tranh dân dã để các bô lão cả nước họp hội nghị Diên Hồng hạ quyết tâm kháng chiến dẫn đến thắng lợi trong ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông. Mái nhà tranh Diên Hồng đã bị thời gian hủy hoại, nay chỉ còn cái tên Diên Hồng! Hội trường Ba Đình xây bằng vật liệu và qui trình công nghệ hiện đại, xi măng mác cao, bê tông cốt thép có thể thách đố sự tàn phá của thời gian hàng trăm năm nhưng đã bị nghị quyết của Bộ Chính trị với hơn chục người phá trong thoáng chốc! Hội trường Ba Đình lịch sử nay cũng chỉ còn cái tên Ba Đình! Lòng dân trống rỗng và lịch sử hoang vắng!
Đến vụ cho người nước ngoài vào Đắc Nông đào bới bô xít mới càng cám cảnh cho thân phận nhà nước đảng trị! Đất nước đang hối hả công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà điện thiếu, công nghệ hiện đại càng thiếu! Đất nước cần điện, cần kĩ thuật công nghệ hiện đại chứ không cần nhôm! Có trữ lượng lớn quặng bô xít đấy nhưng chế biến từ bô xít ra nhôm tốn quá nhiều điện, giá nhôm ở thị trường thế giới lại rẻ, có nhôm xuất cũng chẳng mang lại lời lãi cho nền kinh tế! Từ lúc các nước xã hội chủ nghĩa còn là một hệ thống rộng lớn, hùng hậu trên thế giới, Việt Nam là thành viên của khối Tương trợ Kinh tế Xã hội Chủ nghĩa COMECOM. COMECOM đang cần nhôm và các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế COMECOM đã đến tận mảnh đất bô xit Đắc Nông, Lâm Đồng, Việt Nam giải bài toán kinh tế khai thác bô xít đã đi đến đáp án: Hiệu quả kinh tế là con số âm! Bốn kì đại hội đảng qua đi, gần hai mươi năm sau, ông Tổng bí thư vừa được bầu không biết đến bài toán kinh tế khai thác bô xít đó, lại bị đảng của nước lớn lừa mị nên ông đã hồn nhiên, ngây thơ liên tiếp kí với nước lớn, hết tuyên bố chung: Nhất trí thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trong dự án bô xít nhôm Đắc Nông! Lại thông báo chung: Khẩn trương bàn bạc và thực hiện các dự án lớn như bô xít Đắc Nông! Thế là người nước lớn ồ ạt kéo đến Đắc Nông. Người dân Việt Nam ở Tân Rai, Đắc Nông phải tức tưởi rời khỏi nhà cửa, đất đai, mồ mả tổ tiên để người nước lớn san bằng nhà cửa, san bằng những ngôi nhà mồ linh thiêng, san bằng những cánh rừng đại ngàn thâm nghiêm, san bằng những vườn cao su, cà phê đang thu hoạch, rồi giăng hàng rào, cắm biển ghi chữ nước lớn: Cấm người Việt Nam! Đau quá! Nhục quá! Nguy quá!
Dư luận sửng sốt, lo lắng thì ông Thủ tướng Chính phủ đồng thời là nhân vật lãnh đạo chủ chốt hàng thứ hai trong đảng liền lớn tiếng mang đảng ra trấn áp dư luận: Khai thác bô xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng! Đến lúc đó việc cho nước ngoài vào khai thác bô xít ở Tây Nguyên mới được đưa ra Quốc hội bàn chiếu lệ vì Quốc hội vừa bàn, ông Chủ tịch Quốc hội lại là nhân vật lãnh đạo chủ chốt hàng thứ ba trong đảng liền dẹp mọi ý kiến bằng câu nói xưng xưng áp đặt: Dự án khai thác bô xít Tây Nguyên đã được sự đồng thuận của xã hội! Thế là khỏi bàn! Thế là dự án khai thác bô xít của đất nước ta đang được người nước ngoài hối hả thực hiện, đang là gánh nặng của nền kinh tế đất nước, đang là hiểm họa hủy diệt tận gốc rễ nền văn hóa dân tộc Tây Nguyên, đang là tai họa tàn phá môi trường xanh của Tây Nguyên, đầu độc nguồn nước sinh sống của cả Trung và Nam Bộ, đang là mối nguy hiển hiện trước mắt: địa thế chiến lược Tây Nguyên đã trở thành lãnh địa của nước lớn, là thế đứng, là nơi tập kết lực lượng để họ thực hiện tham vọng bành trướng thôn tính Việt Nam!
Chỉ nêu hai việc cũng đủ nhận ra trang sử buồn một nhà nước gồng mình gánh hai bộ máy công quyền nặng nề mang đầy đủ bản chất phong kiến thời Vua Lê – Chúa Trịnh đang sống lại ở xã hội nước ta giữa thời văn minh tin học hôm nay! Bộ máy công quyền phong kiến nào cũng mang căn bệnh mãn tính di truyền là quan liêu, lạm quyền, xa dân! Một bộ máy quan liêu, lạm quyền, dân đã điêu linh, khốn khổ! Hai bộ máy quan liêu, lạm quyền, cồng kềnh chồng lên nhau càng xa dân, càng đè nặng xuống đầu dân! Đồng tiền thuế của dân càng bị chia nhỏ, phần còn lại chăm lo phúc lợi cho dân càng còm cõi, hẩm hiu! Vì thế mà tình cảnh trong các bệnh viện ba, bốn người bệnh chen chúc, rên rỉ trên một chiếc giường đơn cứ kéo dài suốt mấy chục năm nay! Vì thế mà học trò đi học từ lớp một đã phải nộp đủ các khoản tiền đóng góp! Vì thế mà lương giáo viên quá thấp và giáo viên phải mang lương tâm, mang phẩm giá người thầy ra bán cho chính học trò của mình! Học trò muốn học tốt phải đến lớp học thêm của thầy! Học trò từ lớp một đã phải tối mắt tối mũi cắm đầu học thêm! Tuổi thơ, tuổi thần tiên của lớp lớp con trẻ bị những lớp học thêm cướp mất! Dã man quá! Vô nhân đạo quá! Người thầy như thế, làm sao đạo đức nhà trường không băng hoại! Nhà trường giáo dục, hình thành lên nhân cách con người! Đạo đức nhà trường băng hoại, tất đạo đức xã hội cũng băng hoại!
Độc đoán đảng trị, đến Quốc hội, Chính phủ, đảng cũng chỉ coi là cơ quan thừa hành, là tay chân, là công cụ của đảng thì nhân dân, đám đông quần chúng nào có nghĩa lí gì! Học thuyết Mác – Lê nin và chủ nghĩa xã hội của học thuyết đó, đã được thực tế chứng minh là sai lầm, là thảm họa của loài người, đã bị lịch sử lên án và vất bỏ! Nhiều trí thức Việt Nam đã dũng cảm, thẳng thắn lên tiếng chỉ ra những sai trái, tệ hại của mớ lí thuyết ảo tưởng Mác – Lê, của chủ nghĩa xã hội tồn tại bằng chuyên chính vô sản mất tính người! Nhưng những người nắm quyền lực trong đảng vì đặc quyền đặc lợi ích kỉ của họ, họ vẫn “kiên trì” học thuyết Mác – Lê ảo tưởng, vẫn “kiên trì” trong ngõ cụt chủ nghĩa xã hội, họ đã đưa đảng vào thế hoàn toàn đối lập với nhân dân, hoàn toàn đối lập với dân tộc!
Trong thế đối lập đó, để duy trì đảng thực chất chỉ để duy trì đặc quyền, đặc lợi ích kỉ của nhóm người nắm quyền trong đảng, lại như thời Vua Lê – Chúa Trịnh, họ lại lấy tiền thuế của dân nuôi dưỡng, biệt đãi, vỗ về, nuông chiều bộ máy công cụ công an khổng lồ để trấn áp nhân dân, để thẳng tay bóp chết những tiếng nói dũng cảm, trung thực, thẳng thắn bộc lộ chính kiến khác biệt!
Thời chiến tranh thù trong, giặc ngoài vô cùng nguy nan! Ở miền Nam có mặt hơn nửa triệu quân nước ngoài! Ở miền Bắc, gián điệp, biệt kích len lỏi hoạt động khắp nơi, cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt, dai dẳng diễn ra trên mọi lĩnh vực nhưng lực lượng công an rất ít ỏi, hoạt động lặng lẽ, được nhân dân ủng hộ nên đầy hiệu quả! Sắc áo công an thưa vắng hòa trong dân, không nhan nhản, xấc xược, hung hãn, là nỗi ám ảnh nặng nề, nỗi đe dọa bất an đối với người dân như hôm nay! Giám đốc công an tỉnh, thành phố chỉ là trung tá, thượng tá! Giám đốc công an Hà Nội đông dân và phức tạp nhất nước cũng chỉ đại tá! Toàn bộ lực lượng công an chỉ có hai thiếu tướng là thiếu tướng Tùng, cục trưởng cục cảnh sát và thiếu tướng Phạm Kiệt, tư lệnh công an nhân dân vũ trang và chưa đến mười người không mang hàm tướng mà hưởng lương tướng! Ngày ấy, lực lượng công an vũ trang có vị tư lệnh là thiếu tướng Phạm Kiệt nhiều công lao và đức độ, đã từng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Ba Tơ, lính của ông, những chiến sĩ công an vũ trang lặn lội nơi biên giới biển đảo có câu nói vui về quân, tướng của họ là: quân nghèo, tướng kiệt!
Ngày nay đất nước hòa bình, yên hàn mà bộ máy công cụ công an phình ra khổng lồ! Tướng công an lên tới hàng trăm, nhiều như vịt đàn thả đồng! Giám đốc công an một tỉnh heo hút, nghèo xơ xác cũng là một ông tướng! Tướng tá công an nhiều là thể hiện sự phát triển của đất nước ư? Đất nước phát triển phải thể hiện ở kinh tế, ở văn hóa, thể hiện ở cuộc sống dân chủ, văn minh. Tướng tá công an nhiều chỉ thể hiện sự phát triển từ nhà nước dân sự thời chiến tranh sang nhà nước cảnh sát thời hòa bình! Đó là sự phát triển của nỗi đe dọa, căng thẳng, của cuộc sống không bình yên, sự phát triển của nhà nước “mang bục công an đặt giữa tim người”!
Ngân sách nghèo của đất nước đã phải nuôi bộ máy đảng cồng kềnh, nhiều đặc lợi, nhiều chế độ đãi ngộ cao! Ủy viên trung ương đảng phải đi ô tô có giá trị hơn một tỉ đồng! Số tiền mua ô tô cho Ủy viên Bộ Chính trị còn bộn hơn nữa! Nay đảng lại biến lực lượng giữ gìn an ninh cuộc sống thành đội cận vệ con cưng của đảng với đội quân đông đúc, cấp hàm lớn, lương cao, với trang thiết bị tối tân đắt đỏ! Bộ máy của đảng thiết lập tới tận thôn xóm nên lực lượng công an cận vệ của đảng cũng giăng tới tận thôn xóm, giám sát từng gia đình, từng người dân! Lực lượng công an cận vệ của đảng đông đến nỗi chỉ một tiếng nói khác biệt với đảng, một tiếng nói đòi dân chủ cất lên lập tức có ngay một tốp công an kéo đến lập chốt gác đằng trước, đằng sau nhà! Quanh nhà người có chính kiến khác biệt đó, lúc nào cũng có ba, bốn công an gác chặn suốt ngày đêm trong thời gian dài! Một phụ nữ mảnh mai như luật sư Lê Thị Công Nhân cũng chỉ vì có chính kiến khác biệt mà bị tù tội, bị quản thúc, chị vừa đến nhà hàng liền bị hàng chục công an xô đẩy làm cho ngã lăn trên cầu thang xuống đất rồi bị khiêng ném lên thùng xe chở về trụ sở công an như chở heo! Đồng tiền thuế mồ hôi nước mắt của dân được dùng để nuôi những người kìm kẹp dân như vậy đó! Ngân sách nghèo của đất nước lại phải cắt xén thêm phần phúc lợi xã hội còm cõi để có tiền nuôi đội cận vệ khổng lồ con cưng của đảng, những kiêu binh kinh hoàng với dân!
Một lực lượng vũ trang được trang bị công cụ bắt bớ, tra khảo, giết người: Còng sắt, dùi cui, roi điện, súng ngắn, súng dài, được ưu ái, nuông chiều, được ban phát ân sủng, được dung túng bao che cho những việc làm chà đạp lên pháp luật lại với nhận thức méo mó, sai lạc: Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình! đã thực sự trở thành thứ kiêu binh có mặt ở khắp thôn cùng ngõ hẻm, giáng tai ương xuống dân lành, mang chết chóc đến cho bao người dân lương thiện! Những kiêu binh đó ra uy bắt bớ, tra tấn, giết hại dân lành đã trở thành chuyện thường ngày.
Ngày 14.7.2009, chỉ vì đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, anh Phạm Ngọc Đến, 29 tuổi bị cảnh sát giao thông Gia Lai truy đuổi dẫn đến cái chết thảm thương. Hàng ngàn người dân Gia Lai kéo đến công an biểu lộ thái độ bất bình trước hành xử thiếu tính người của công an. Không phục thiện, vẫn hung hãn kiêu binh, công an Gia Lai đã bắt 75 người dân tống giam! Hôm sau, trong số người bị bắt, anh thanh niên trẻ khỏe Trần Minh Sỹ, 23 tuổi, chết âm thầm trong nhà giam công an Gia Lai!
Ngày 21.11.2009, anh Nguyễn Mạnh Hùng, 33 tuổi, chết trong trại tạm giam công an quận Hà Đông, Hà Nội!
Ngày 28.11.2009, anh Đặng Trung Trịnh, 32 tuổi, chết ở trụ sở công an xã Tiên Động, huyện Tứ Kì, Hải Dương!
Ngày 22.12.2009, ông Nguyễn Văn Long, 41 tuổi, chiều bị công an xã Bom Bo, huyện Bù Đăng, Bình Phước bắt. Tối vợ đến thăm thấy ông Long sưng u, bầm dập khắp người và nghe ông Long rên rỉ: Bị đánh dữ! Đau lắm! Chắc không sống nổi! Quả nhiên, sáng hôm sau công an đến báo cho vợ ông Long biết: Ông Long đã chết!
Ngày 21.1.2010, anh Nguyễn Quốc Bảo, 33 tuổi, chết tại trại tạm giam của công an quận Hai Bà Trưng, Hà Nội!
Ngày 24.4.2010, anh Huỳnh Tấn Nam, 21 tuổi, đi xe máy không đội mũ bảo hiểm bị một cảnh sát giao thông và một công an xã Diên Phú, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa đánh chấn thương nặng đốt sống cổ, lún xương thái dương phải, vỡ xương bướm và xương cung gò má phải, dập tủy, đứt dây chằng dọc trước, gãy bốn răng, tính mạng nguy kịch!
Ngày 7.5.2010, anh Võ Văn Khánh, 29 tuổi, chết khi bị giam ở công an Điện Bàn, Quảng Nam!
Ngày 25.5.2010, dân xã Tĩnh Hải, Tĩnh Gia, Thanh Hóa tập trung ngăn cản không cho chính quyền thu hồi đất một cách cưỡng bức, áp đặt, công an liền nổ súng bắn gục hai người dân, em Lê Xuân Dũng, 12 tuổi chết tại chỗ, ông Lê Hữu Nam, 43 tuổi, bị thương nặng, năm ngày sau chết!
Ngày 7.6.2010, ông Nguyễn Phú Trung, 41 tuổi bị hai công an xã Thủy Xuân Tiên, Chương Mỹ, Hà Nội đánh chết!
Ngày 30.6.2010, ông Vũ Văn Hiền, 40 tuổi, chết khi bị tạm giam ở công an Đại Từ, Thái Nguyên!
Ngày 3.7.2010, ông Nguyễn Thành Nam, 43 tuổi, bị công an và dân phòng đánh chết trong đám tang ở Cồn Dầu, Đà Nẵng!
Ngày 23.7.2010, anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, bị bắt vào công an huyện Tân Yên, Bắc Giang, chỉ mấy giờ sau, chết gục trong nhà công an!
Ngày 6.8.2010, chị Hoàng Thị Trà, 20 tuổi, sinh viên, bị cảnh sát mặc thường phục bắn, viên đạn xuyên đùi, phá vỡ xương chậu!
Ngày 8.8.2010, anh Trần Duy Hải, 32 tuổi, chết khi bị giam ở công an Hậu Giang!
Ngày 9.9.2010, ông Trần Ngọc Đường, 52 tuổi, chết khi bị công an tạm giữ tại trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Thanh Bình, Trảng Bom, Đồng Nai!
Ngày 28.2.2011, ông Trịnh Xuân Tùng đi xe máy không đội mũ bảo hiểm đến ga Giáp Bát, Hà Nội, bị công an bắt dẫn về trụ sở công an phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai. Đến tối ông Tùng bị bầm dập khắp người, tê liệt toàn thân. Bệnh viện Việt Đức phải mổ cấp cứu xác định ông Tùng bị giập hai đốt sống cổ và chấn thương khắp người! Tám ngày sau ông Tùng chết!
Những người dân lương thiện chết tức tưởi trong trụ sở công an cứ kéo dài theo năm tháng!
Vì sao người dân bị bắt vào trụ sở công an lại chết nhanh, chết nhiều như vậy? Xin hãy xem ứng xử của công an với người dân để thấy rằng: Được coi là thần bảo hộ của đảng, là công cụ bảo vệ đảng, bảo đảm sự tồn tại áp đặt của đảng, được đảng o bế, dung túng, lực lượng công an đã trở thành kiêu binh hung hãn, côn đồ như thế nào, đã coi thường nhân phẩm, mạng sống của người dân như thế nào!
Chiều 30.7.2010, ông nông dân Nguyễn Văn Trung, 46 tuổi ở xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận trên đường đi làm rẫy về được mấy người quen trong quán nhậu gọi vô. Thấy ở bàn nhậu có Trương Quang Hiếu, công an xã Tân Lập, ông Trung liền hỏi việc nhờ Hiếu nhập hộ khẩu cho đứa cháu, xong việc đã đưa phong bì cho Hiếu, nhờ Hiếu mời những người đã làm hộ khẩu cho cháu ông Trung đi nhậu nhưng sao vẫn có người trách ông Trung vô ơn? Đăng kí hộ khẩu cho dân là trách nhiệm, là công việc của công an nhận đồng lương từ tiền thuế của dân phải làm! Nhưng thói quen của quan chức nhà nước Việt Nam từ lâu nay là động chân động tay việc gì cho dân thì dân đều phải có phong bì đưa lại! Với kiêu binh công an thì phong bì càng phải chu đáo! Đăng kí hộ khẩu không phải việc của công an xã, kiêu binh Hiếu chỉ là trung gian. Câu hỏi của ông Trung có lẽ đã vô tình làm lộ ra sự ăn chặn của kẻ trung gian làm cho trung gian Hiếu nổi xung lớn tiếng mắng át lời ông Trung. Ông nông dân quá thật thà mới đem chuyện đưa phong bì lót tay ra nói giữa đám đông! Cũng vì thật thà ông lại tưởng kiêu binh Hiếu giận vì cho rằng ông chưa đưa phong bì nên ông nông dân càng cố chứng minh! Không chịu nổi, kiêu binh Hiếu liền xông đến đánh ông Trung! Sợ bữa nhậu phải gián đoạn, mọi người đều xúm lại kéo ông kiêu binh cấp xã ra!
Không được trút tức giận, kiêu binh liền bấm điện thoại gọi thêm kiêu binh và dân phòng đến. Lực lượng dân phòng là tổ chức vũ trang thô sơ bất hợp pháp vì không có bộ luật nào cho phép hình thành tổ chức này! Biết thế nguy, ông Trung vội ra lấy xe máy định tháo lui nhưng lực lượng mới đến đã quây quanh ông nông dân thật thà, vung dùi cui vụt tới tấp! Bất ngờ bị đánh đau quá, ông Trung quì giữa đường chắp tay vái các hung thần như tế sao xin tha! Kiêu binh, công cụ của đảng và dân phòng, tay chân của kiêu binh đều không có trái tim người, vẫn lạnh lùng đánh cho đến khi ông Trung gục xuống bất tỉnh! Đám công cụ và tay chân của công cụ lại xốc cái xác ông Trung đưa lên xe máy chạy về trụ sở xã! Thấy ông Trung bị còng ở góc nhà đã tỉnh lại, Hiếu và một kiêu binh cấp xã tiếp tục vừa chửi vừa đấm đá! Máu từ miệng ông Trung ói ra sàn nhà, Hiếu tháo còng cho ông Trung, bắt ông cởi áo ra lau sạch máu rồi lại còng, lại đánh! Mười giờ đêm, vợ con ông Trung mới biết chuyện chạy đến trụ sở xã khóc than kêu cứu, ông Trung mới được kiêu binh Hiếu tháo còng để gia đình đưa ông đi bệnh viện!
Man rợ và khủng khiếp như thời lãnh Chúa Trung cổ, chưa có nhà nước, chưa có luật pháp! Nếu đêm đó vợ con ông Trung không biết chuyện đến đưa ông Trung đi bệnh viện thì sáng hôm sau tất phải đến nhận xác ông đưa về chôn và cái chết của ông Trung sẽ được giải thích là do ông có tiền sử bệnh tim, bệnh phổi hoặc sẽ được tạo dựng thành một cuộc tự sát! May mắn thoát chết, chuyện ông Trung vô cớ bị đánh tàn bạo mới được phanh phui trên báo chí! Trong sử sách Việt Nam ghi lại nhiều sự việc càn rỡ của đám kiêu binh thời Vua Lê – Chúa Trịnh cũng không có sự việc nào độc ác, man rợ như việc kiêu binh Trương Quang Hiếu đối với ông nông dân Nguyễn Văn Trung ở Bình Thuận thời đảng trị hôm nay! Được tin cậy và dung túng, ở ông kiêu binh cấp xã Trương Quang Hiếu tích tụ đầy đủ mọi thói tật rất phổ biến của quan chức nhà nước hôm nay, nhũng nhiễu, hống hách, ức hiếp dân, say sưa ăn nhậu tối ngày!
Điều đặc biệt nghiêm trọng là tất cả những vụ kiêu binh đánh người, bắn người, bắt bớ, giam cầm dẫn đến cái chết tức tưởi với thương tích mang đầy trên thân thể người dân đều được bao che, không bị truy tố! Sự dung túng này chính là nguyên nhân hình thành, nuôi dưỡng, khuyến khích lực lượng công an hùng hậu của đảng trở thành đội quân kiêu binh đông đúc lộng hành gây tai họa cho dân trên khắp đất nước, dẫn đến những cái chết thê thảm của người dân trong trại giam công an cứ kéo dài cùng thể chế đảng trị! Với sự dung túng bất chấp pháp luật đó, không phải chỉ công an đảng trị mới trở thành kiêu binh mà con cái họ cũng đã trở thành đám kiêu binh tiềm năng thách thức pháp luật! Đến nay người dân vẫn còn nhớ cuộc đua ô tô du lịch kinh hoàng trên đường Láng – Hòa Lạc, Hà Nội, làm chết hai nữ sinh năm trước để thấy cuộc sống này, xã hội này quá bất an với người dân vì kiêu binh và con cái kiêu binh! Những kẻ lái ô tô du lịch Matis chạy đua trên con đường thênh thang Láng – Hòa Lạc đều là các công tử con quan và kẻ lái chiếc xe giết chết hai nữ sinh lại là con quan trung tá kiêu binh Hà Nội! Kẻ giết người là con quan kiêu binh! Điều tra vụ án lại là kiêu binh! Pháp y cũng của cơ quan kiêu binh! Hiện trường và hồ sơ vụ án đều được thay đổi làm cho tội của kẻ giết người trở nên nhẹ hều! Vì ưu ái, nuông chiều kiêu binh và con cái kiêu binh mà chà đạp lên pháp luật, làm sai lệch công lí, dung dưỡng tội phạm thì cuộc sống người dân còn vô cùng bất an, tính mạng người dân vô cùng mong manh, người dân không được pháp luật bảo vệ, trần trụi, bơ vơ trong xã hội đầy bất công và bất trắc vì quyền đảng khuynh loát đứng trên pháp luật và kiêu binh lộng hành chà đạp pháp luật!
Một xã hội lành mạnh, tử tế, một nhà nước có luật pháp, thì công an phải của nhà nước chứ không phải của đảng! Công an là công cụ của nhà nước để bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, để Hiến pháp và pháp luật được thực hiện nghiêm minh trong cuộc sống! Công an là chỗ dựa của nhân dân trong cuộc đấu tranh trấn áp tội phạm xã hội, bảo đảm an ninh cho cuộc sống. Dù là đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo nhà nước thì đảng cũng chỉ là một tổ chức chính trị xã hội như mọi tổ chức chính trị xã hội khác hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật nhà nước! Đảng có mặt trong cuộc sống và đảng lãnh đạo nhà nước bằng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối chứ không thể bằng công cụ! Khi đảng sử dụng bộ máy công cụ nhà nước: công an, tòa án, nhà tù để trấn áp những chính kiến khác biệt với đảng là đảng đã trở thành siêu – nhà – nước – đảng đứng trên nhà – nước – dân, đưa cuộc sống vào xã hội đảng trị, phá vỡ cấu trúc ổn định và bền vững của xã hội lành mạnh, bình yên! Khi siêu – nhà – nước – đảng nắm công an, tòa án, nhà tù đứng trên nhà – nước – dân thì hiển nhiên đó là nhà nước độc tài đảng trị, không thể biện minh!
Sau nửa thế kỉ hăm hở xây dựng xã hội chủ nghĩa, Liên Xô và cả hệ thống Cộng sản Đông Âu phải cay đắng nhận ra đầy đủ những sai lầm, ảo tưởng, bế tắc của học thuyết Mác – Lê nin và chủ nghĩa xã hội! Cay đắng nhận lấy sự phá sản của học thuyết Mác – Lê nin và sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội! Những người Cộng sản đau đớn giã từ quyền lực và cả đau đớn nhận ra sự lầm lạc của mình trước nhân dân, trước lịch sử! Còn nhân dân Liên Xô và các nước Đông Âu thì hân hoan vui sướng giã từ học thuyết Mác – Lê nin và chủ nghĩa xã hội nghiệt ngã, trì trệ, trái tự nhiên, giã từ cuộc sống giả với những đau khổ, cay đắng thật để trở về với cuộc sống thật với niềm vui khám phá, sáng tạo, mỗi người đều có niềm vui khám phá, phát hiện ra tài năng của mình và được thể hiện hết tài năng làm đẹp cuộc đời, làm đẹp phẩm chất người, làm đẹp xã hội loài người!
Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa nhân dân Việt Nam vào cuộc thí nghiệm xây dựng xã hội chủ nghĩa suốt gần nửa thế kỉ và nhân dân Việt Nam đã phải trả giá quá đắt! Mấy thế hệ người Việt Nam trở thành vật hi sinh cho cuộc thí nghiệm đó! Hàng chục vạn người bị giết, bị tù đày trong những cuộc đấu tranh giai cấp sắt máu diễn ra triền miên và rộng khắp từ nông thôn tới thành phố, từ giới kinh doanh đến giới trí thức! Mấy thế hệ trí thức, nghệ sĩ, những tinh hoa, tài sản quí giá nhất của dân tộc bị khinh rẻ, đày đọa, bị biến thành bung xung, bị biến thành chim mồi, cá cảnh! Trả giá đắt như vậy để có một chủ nghĩa xã hội hiện hình là một nền văn hóa thấp kém, lạc hậu, đạo đức xã hội suy đồi, hạ tầng xã hội tồi tàn, kinh tế suy sụp, cuộc sống người dân đến đáy cùng cực nghèo đói! Cực chẳng đã, đảng Cộng sản phải rời bỏ những nguyên lí kinh tế của học thuyết Mác – Lê nin, trở lại với những nguyên lí mà trước đó đảng Cộng sản đã quyết liệt tiêu diệt! Trở lại chính cái đã từng bị tiêu diệt, đảng dùng mĩ từ tự làm sang là “đổi mới”! Và tự đề cao: Đường lối đổi mới là sự sáng tạo tài tình của đảng!
Đổi mới về kinh tế nhưng vẫn “kiên trì” học thuyết Mác – Lê nin, “kiên trì” chủ nghĩa xã hội để “kiên trì” đặc quyền đặc lợi của nhóm người nắm quyền lực trong đảng! Đưa cả dân tộc vào cuộc thí nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, một cuộc thí nghiệm bằng máu và nước mắt của cả dân tộc suốt gần nửa thế kỉ đã thất bại thê thảm! Nhưng vì đặc quyền đặc lợi của nhóm người lãnh đạo đảng, họ vẫn đang tâm tiếp tục cuộc thí nghiệm bằng máu và nước mắt cả dân tộc: Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là công cuộc vĩ đại chưa có tiền lệ, vừa mở đường, vừa tiến lên!” (Dự thảo báo cáo Chính trị đại hội XI) Gần nửa thế kỉ mở đường xây dựng chủ nghĩa xã hội đã dẫn đến nghèo đói, bế tắc, phải đổi mới, phải từ bỏ những nguyên lí kinh tế xã hội chủ nghĩa để tìm lối thoát! Bây giờ lại tiếp tục “Xây dựng chủ nghĩa xã hội . . . vừa mở đường vừa tiến lên”! Lại tiếp tục cuộc thí nghiệm vô vọng bằng máu và nước mắt nhân dân! Thật là nhẫn tâm! Chỉ riêng điều đó đã làm cho đảng không thực sự còn trong tình cảm nhân dân nữa rồi! Duy trì học thuyết đã bị thời đại loại bỏ, đã bị nhân dân Việt Nam nhận ra là một tai họa dân tộc, đảng Cộng sản Việt Nam trở nên lạc lõng giữa thời đại và lẻ loi giữa nhân dân. Trong tình thế đó đảng phải nắm chắc công cụ bạo lực là lực lượng công an để đảng tồn tại bằng bạo lực áp đặt!
“Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình”! Câu khẩu hiệu đó là lời thú nhận công khai rằng đảng đang sử dụng lực lượng công an để duy trì sự tồn tại của đảng! Đó là lời thú nhận rằng đảng tồn tại không phải do đòi hỏi của cuộc sống mà đảng tồn tại bằng bạo lực áp đặt! Đó cũng là lời thú nhận rằng công an đã trở thành công cụ chỉ để bảo vệ đảng! Công an chỉ biết có đảng! Công an chỉ còn khi đảng còn! Đó là nhận thức mê muội, cuồng tín, thiển cận, sai trái, vô ơn với nhân dân và phản bội nhà nước!
Công an là thành phần trong cơ cấu nhà nước. Chỉ nhà nước mới có công an! Nhà nước có lúc thịnh lúc suy nhưng nhà nước tồn tại mãi mãi với dân tộc! Còn dân tộc, còn nhà nước! Và còn nhà nước thì còn công an! Công an là công cụ của nhà nước, không thể là công cụ của đảng! Đảng chỉ là sự tập hợp nhất thời của những người cùng một học thuyết, cùng một trào lưu chính trị! Khi đương thời, đảng nào cũng cố tuyên truyền, cố khẳng định rằng đảng mình là đúng đắn, là đảng của dân tộc, là đại biểu cho lợi ích dân tộc! Nhưng dân tộc Việt Nam đã phải chứng kiến sự ra đời và tiêu vong của bao nhiêu đảng phái chính trị tuyên bố hùng hồn, lực lượng mạnh mẽ! Chúa Trịnh cũng mang tính chất như một đảng chính trị độc tài dựng lên nhà Hậu Lê, mang danh nghĩa phò Lê dựng nước để tồn tại! Có đội kiêu binh đông đúc, hung hãn, quyền uy khuynh loát, lấn át cả Vua Lê nhưng rồi Chúa Trịnh cũng tiêu vong để lại vết nhơ không bao giờ phai mờ trong lịch sử Việt Nam!
Nhân dân đóng thuế nuôi nhà nước, nuôi công an. Đây là điều đương nhiên, bình thường, mọi nhà nước trên thế giới đều như vậy. Nhưng không bình thường khi đồng tiền thuế của dân phải gánh chi phí quá lớn cho mọi hoạt động của đảng, trong đó có quá nhiều hoạt động hình thức, phô trương, tốn kém, phải chi trả lương cho đội ngũ cán bộ đông đúc của đảng, từ Tổng Bí thư tới bí thư chi bộ phường, xã, phải nuôi những viện chuyên nghiên cứu để tán dương một học thuyết đã sụp đổ và nuôi quá đông những giáo sư, tiến sĩ trong những viện đó! Chỉ ở các nước đảng Cộng sản cầm quyền thì tiền thuế của dân mới phải gánh khoản chi khổng lồ và không có giá trị tái sản xuất này! Trả lương cho người công nhân giúp họ phục hồi sức khỏe để tái sản xuất. Trả lương cao chót vót cho những giáo sư, tiến sĩ của học thuyết không còn áp dụng được trong cuộc sống thì hoàn toàn không có giá trị tái sản suất! Tám mươi nhăm triệu dân, chỉ có ba triệu đảng viên!
Tám mươi hai triệu dân không phải đảng viên, trong đó có những người không tán thành tư tưởng triết lí của đảng, không tán thành sự lãnh đạo của đảng cũng phải đóng thuế nuôi đảng! Đảng tồn tại bằng đồng tiền mồ hôi nước mắt của dân! Đảng cũng phải nhận lương từ dân! Đảng không có tiền trả lương cho công an đâu! Nhận thức “Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình” là sự vô ơn với nhân dân!
“Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình”! Câu khẩu chữ lớn trên tấm panô khổng lồ hàng chục mét vuông choán cả mặt trước trụ sở bộ Công an phố Yết Kiêu, Hà Nội chính là tiếng nói chính thức của bộ Công an, là tư tưởng, nhận thức của lãnh đạo bộ Công an, là cái tâm và cái tầm của lãnh đạo bộ Công an! Cái tâm và cái tầm đó đã biến công an, công cụ của nhà nước để bảo vệ hiến pháp và pháp luật trở thành kiêu binh của đảng chà đạp lên hiến pháp và pháp luật!
Hỡi những công dân Việt Nam còn lí trí và lương tâm đang mặc sắc phục công an! Vì có chút lí trí và lương tâm, tôi phải viết những dòng đau xót về những kiêu binh thời đại đang là ác mộng, đang là nỗi ám ảnh khủng khiếp của người dân! Tôi cũng biết những người đang mang sắc phục công an còn lí trí và lương tâm là số đông cũng sẽ phải đau xót, nhức nhối không yên trước cái chết tức tưởi trong trụ sở công an của hàng chục người dân lương thiện! Những người dân đó chết bởi đồng đội các anh nhưng là những đồng đội không còn lí trí và lương tâm! Không có lí trí và lương tâm, chỉ có sức mạnh bạo quyền họ mới trở thành công cụ của người khác, họ mới trở thành kiêu binh!
Điều 69 Hiến pháp hiện hành ghi: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo qui định của pháp luật. Nhưng một đất nước không có báo chí tư nhân thì làm gì có quyền tự do ngôn luận! Trong các quyền cơ bản của con người thì quyền tự do ngôn luận là quyền sơ đẳng nhất, bức thiết nhất, quan trọng nhất! Đến quyền sơ đẳng, bức thiết ấy, người dân Việt Nam cũng không có! Từ xa xưa trong đêm trường tăm tối của chế độ phong kiến, dân gian ta đã nhận ra những quyền tối thiểu không thể thiếu của mọi con người có mặt trên thế gian bằng câu thành ngữ: Được ăn, được nói, được gói, được mở! Ăn để duy trì sự sống. Được ăn chính là được sống, là quyền sống. Ngay câu đầu tiên Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác nhận quyền sống của con người: Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Được gói là được gói ghém giữ kín những góc đời riêng tư của mỗi người. Được mở là quyền được mở tầm nhìn, được bước ra thế giới rộng lớn để nâng giá trị và ý nghĩa cuộc sống. Quyền được nói là quyền đứng thứ hai ngay sau quyền sống!
Em bé đang học lớp sáu Lê Xuân Dũng và ông nông dân Lê Hữu Nam ở Tĩnh Hải, Tĩnh Gia, Thanh Hóa bị bắn chết cũng chỉ vì là người nói lên tiếng nói bất bình của người dân trước sự thu hồi đất đai bất công!
Những người bị công an đặt chốt gác quanh nhà, những người bị công an ném lên thùng ô tô như ném một con heo chở về giam giữ ở đồn công an chỉ là những người nói lên tiếng nói đòi quyền được nói! Hiến pháp cho người dân quyền tự do ngôn luận nhưng cho đến nay giữa thời văn minh tin học, người dân Việt Nam vẫn chưa được quyền nói! Có đau xót, tủi nhục cho người dân Việt Nam không, hỡi những người còn lí trí và lương tâm?

Nước mất nguồn – cây mất gốc”

http://phamtayson.files.wordpress.com/2012/03/bannuoc2.jpg?w=481&h=143
“Đằng sau Hoàng Sa và Trường Sa chỉ có một Tổ Quốc Việt Nam. 
Đằng trước Hoàng Sa và Trường Sa chỉ có một kẻ thù là quân xâm lược TQ” 
Khá nhiều đồng bào Việt Nam và con em mình là các chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân Đội NDVN, hình như trong những ngày này rất muốn biết trong tận cùng sâu thẳm nội tâm của liệt vị “tam đầu chế” có cùng tộc họ Nguyễn, đang ngồi ghế lãnh đạo, chỉ đường, nắm vận mệnh quốc gia:
ông Nguyễn Phú Trọng (TBT/ đảng CSVN)
ông Nguyễn Sinh Hùng (CT/QH)
ông Nguyễn Tấn Dũng (TT/CP)
Sẽ có cảm nghĩ và phản ứng ra sao?: Nếu bất chợt trong hoàn cảnh, phát hiện bia mộ song thân (Cha, Mẹ) mình bị ai đó đục bỏ danh tính thậm chí phá nát tan hoang và lại còn để lại thư báo “cấm làm giổ kỵ” nhắc nhở đến người dưới mộ?.
Khách quan dự đoán, bởi không chắc có câu đáp từ, nhưng chẳng thể nào khác được, sẽ chỉ nằm trong hai khả năng xảy ra:
1) Quí ngài ấy, rất đau đớn “nộ khí xung thiên, nỗi trận lôi đình” bằng mọi cách bắt cho được thủ phạm để buộc phải trả cái giá đắt nhất cho hành vi “đại phạm thượng” dòng tộc nhà mình, không thể tha thứ được –
2) Vì bã vinh hoa, quí ngài bình thản, dửng dưng như kẻ thiểu năng trí tuệ trong cách nghĩ người chết là hết, chỉ biết đến quyền lợi cá nhân trước mắt mà không cần quan tâm, là ai đã sinh ra, nuôi dưỡng, dạy dỗ mình lớn khôn
100% khả năng thứ nhất phải là tất yếu (cái ghế quyền lực thay mặt quí ngài nói lên điều ấy) và ít ra mọi người cũng cảm thông được với phản xạ này.
Tuy nhiên, nhân dân, chiến sĩ, đồng bào mình rất lấy làm lạ, cái khả năng thứ hai nói trên, tuồng như chỉ dành cho phường “giá áo túi cơm” (Ẩn dụ của PCT/TQ Tập Cận Bình khi nói về các đảng viên CSTQ mới đây) chứ đó, đâu thể nào là tư duy mẫu mực biết “lễ nghĩa liêm sỉ ” uống nước nhớ nguồn của nhân cách yếu nhân “lãnh đạo” quốc gia?.
Nhưng rồi thực tế lại rất đáng buồn, khi cái khả năng thứ nhất gần gũi với tính người (nhân tính) thì chưa xảy ra mà cái khả năng thứ hai mang bản năng như loài súc vật lại hiển hiện, rất công khai giữa thanh thiên bạch nhật:
Đền thờ Vua Quang Trung trên đỉnh núi Quyết.TP/Vinh (Ảnh: Cao Đông)
“…Trong nghi ngút trầm hương, TS Nguyễn Quang Hồng, giảng viên khoa Lịch sử, Đại học TP/Vinh say sưa hướng dẫn sinh viên tham quan. Vị Tiến sĩ này tấm tắc cho PV Dân trí và sinh viên biết cảm nhận của mình: “ Càng nghiên cứu, sưu tầm càng thấy công lao to lớn của Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ với đất nước ta…” (xalo.tintuc.com). Trận Kỷ Dậu 1789 quân Nam đại phá, đánh tan quân Thanh, giải phóng Thăng Long thành là một trận đánh thần tốc, tinh hoa của “chiến thuật” nổi danh trong lịch sử cận đại Việt Nam, đưa Hoàng Đế họ Nguyễn… Quang Trung thành một trong những vị tướng Dũng Lược song toàn xuất sắc của Việt Nam.
Vậy mà trong ngôi đền uy linh của vì Hoàng Đế họ Nguyễn ấy, 2 tấm bia ghi nhận công trạng cho cháu con hậu thế làm gương soi rọi để nung chí kiên cường mà chống ngoại xâm được nhân dân kính cẩn cung tiến an vị từ thuở lập đền thì nay lại bị “ai đó” phũ phàng ra lệnh đục bỏ thay thế bằng 2 tấm bia khác không còn vết tích của đại chiến công huy hoàng đại phá quân “Tàu” năm Kỷ Dậu!?. Dù không muốn, nhưng khiến mọi người phải phải chát chua mà suy diễn: Chắc chỉ có con cháu của Lê Chiêu Thống, Lê Duy Kỳ (hoàng gia cuối cùng, hậu nhà Lê cầu viện, bám gót quân “Tàu” rước voi về dày mã Tổ) mới đành tâm làm chuyện này cốt cho “tiên đế”? mình, bớt ngậm ngùi vì ô nhục dưới suối vàng, chứ cháu con giòng tộc họ Nguyễn xa gần và đồng bào cả nước mấy ai có can đảm làm chuyện hèn mọn nhơ nhuốc xấu hổ không còn nhân cách này!?.
Văn Bia Chiến công Nguyễn Huệ đánh đuổi giặc Xiêm-Tàu, 
do chính ông HCM làm thơ khằc bia tôn vinh. 
Ai ra lệnh… Thay thế bằng một cái bia nội dung… vô thưởng…vô phạt…? 

Bia công trạng ghi lại chiến tích đại thắng quân “Tàu”… 

Ai? Ra lệnh…Thay vào một bia này, không còn lưu dấu tích chiến công vĩ đại ấy !?.. 
Trước đó là một bi kịch khác, khi mà hàng trăm ngàn bàn thờ các liệt sĩ QĐND/VN hy sinh trong các trận chiến chống quân TQ xâm lược trên biên giới phía Bắc còn lan toả khói hương, thì ngoài thực địa những bia tưởng niệm bị “ai đó” ra lệnh đục bỏ chiến công và xoá đi vết tích “xâm lược” của quân TQ!?.
Tấm bia kỷ niệm chiến thắng tại đầu cầu Khánh Khê. 
Nhưng dòng chữ “quân TQ xâm lược” bị đục bỏ trên bia tưởng niệm – Ảnh: Trường Sơn
“….Trung đoàn 197 phối hợp cùng Sư đoàn 337, tham gia các trận đánh ác liệt, chận đứng quân TQ xâm lược tại khu vực cầu Khánh Khê. Trong trận đánh, một tiểu đội chỉ còn có 7 người do đại đội trưởng Vi Văn Thắng chỉ huy đã kiên cường chiến đấu bằng một mũi tiến công hy sinh quả cảm tiêu diệt hàng trăm tên địch. Đạn hết, cả tiểu đội đã tuốt lưỡi lê xông lên đánh giáp lá cà cản chân địch để giữ nguyên trận địa chờ quân tiếp viện, đến lúc tất cả đều hy sinh. Xác các anh nằm chồng lên xác địch, mắt nhắm, tắt thở nhưng tay không rời súng…”.(ViBay. blog).
Đồng bào thân nhân các chiến sĩ mặt trận biên giới cũng phải ngậm ngùi đau xót để tự hỏi: Xương máu cha ông chồng con mình hy sinh đánh đuổi bọn giặc nào đây? Không lẽ như Đặng Tiểu Bình CT/quân uỷ TW/TQ (kẻ chủ trương ra lệnh tấn công biên giới VN) đã nói: Đó là cách “dạy cho Việt Nam một bài học” Và “ai đó” của VN đã đồng lòng vui vẻ ra lệnh xóa đi từ “ TQ xâm lược” như một cách hiểu khác: Quân TQ tràn qua biên giới VN là để “dạy bảo” chúng ta chứ không phải là xâm lược!?.
Mới đây nhất, cũng giống các trường hợp đau lòng kể trên nhưng đau thương và đoạn trường hơn.
Tháng 1/1974 sau khi xâm lược bằng hải quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa từ tay hải quân QLVN/Cộng Hòa. Ngày 14/3/1988 hải quân TQ bất ngờ xua quân đánh chiếm bãi đá Colin, bãi đá Len Đao và bãi Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa chủ quyền trên biển Đông của Việt Nam, để bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền, 64 chiến sĩ hải quân QĐNDVN đã anh dũng hy sinh nằm lại trong lòng biển mẹ để lại bao nỗi tiếc thương cho gia đình, đồng bào và đồng đội:
Bức tranh miêu tả cuộc chiến đấu bảo vệ đảo Gạc Ma của chiến sĩ Hải quân Việt Nam ngày 14-3-1988 (đang được treo trang trọng tại Phòng Truyền thống của Vùng 4 Hải quân) 
24 năm rồi mà Má Lê Thị Niệm ở Tây Hòa, Phú Yên, cứ nhìn hình ảnh con trai hy sinh ở Gạc Ma mà cứ thầm hỏi: “Chừng nào con về?” – Ảnh: Trần Đăng 
Cùng tâm trạng của mẹ Dư, bà Lê Thị Lan, 70 tuổi ở Hòa Cường, Đà Nẵng, mẹ liệt sĩ Nguyễn Hữu Lộc cũng chỉ hỏi một câu: “Có khi mô người ta tìm được hài cốt thằng Lộc không vậy cháu?”. Tôi không dám trả lời câu hỏi ấy, cũng không dám nhìn vào khuôn mặt nhăn nheo của người mẹ này. Đã bao nhiêu năm rồi, ngày nào người mẹ ấy cũng thức dậy thật sớm, thắp trên bàn thờ con mình một nén nhang trước khi rời nhà để đến một quán ăn trong thành phố rửa chén bát đến tận khuya rồi nhận từ tay bà chủ quán 60.000đ. Trộm nghĩ, nếu anh Lộc còn sống lành lặn và ra quân như Dũng, hẳn mẹ anh đã không phải lận đận kiếm cơm như thế.
Mẹ Niệm, mẹ Lan cùng bao nhiêu bà mẹ khác đã sống lặng lẽ và mong chờ trong vô vọng suốt 24 năm qua như thế.
Thứ ba, ngày 13 tháng ba năm 2012
Vợ chồng Liệt Sĩ Trần văn Phương ngày xưa 
Vợ, con của liệt sĩ Trần Văn Phương thắp hương giỗ chồng
Hôm nay bên bờ biển Đông, làng cát Đơn Sa, Quảng Phúc, Quảng Trạch Quảng Bình. Nơi đó có ngôi mộ của liệt sĩ Trần Văn Phương hy sinh cùng 63 liệt sĩ khác trong trận chiến bảo vệ đảo Gạc Ma. Mộ anh khói hương nghi ngút, làng cát Đơn Sa thương nhớ ngày hy sinh của một người con anh hùng.
Mẹ, Trương Thị Ngừ thường kể về sự hy sinh của con mình, ở đảo Gạc Ma liệt sĩ Trương Văn Hướng, bên cạnh những kỷ vật còn lại. 
Đám tang liệt sĩ Hướng, gia đình mẹ Ngừ thuê người làm hình nộm tượng trưng cho hình hài của anh để bỏ vào quan tài rồi sau đó tiễn đưa ra Nghĩa trang Liệt sĩ xã Hiền Ninh an nghỉ. Suốt nhiều tháng năm sau đó, bà luôn sống trong nỗi nhớ con. Có ai hỏi về Hướng, mẹ Ngừ vẫn quả quyết: “Con tôi vẫn đi bộ đội”. Theo mẹ, anh đang sống và bảo vệ mảnh đất thiêng liêng, là hương hỏa của cha ông để lại ở vùng biển Tổ quốc ngoài kia.
Riêng phường An Hải Tây Đà Nẵng có 2 chiến sĩ tham gia trận đánh lịch sử này, thì một người đã hy sinh là anh Lê Thế, người còn lại là Phan Văn Đức, hiện còn sống ở tổ 28 phường Mân Thái (quận Sơn Trà). 24 năm, dù không có bất cứ chế độ đãi ngộ nào nhưng thời gian không xóa nhòa những ký ức của binh nhất Phan Văn Đức, để giờ đây, ngày ngày anh thơ thẩn dọc bãi biển Sơn Trà, ngóng về đại dương mịt mù, tìm lại hồn anh như còn vĩnh viễn ở lại ngoài ấy với các đồng đội …
“CHUNG MỘT CHIẾN HÀO” 
Liệt sĩ Đinh Ngọc Doanh, Trung úy Hải Quân NDVN, quê Ninh Bình, cùng các đồng đội anh dũng hy sinh khi bảo vệ Bãi Đá Gạc Ma, quần đảo Trường Sa, trước quân Trung Quốc xâm lược ngày 14/3/1988. Tấm Ảnh của anh chụp với con gái Đinh Mỹ Lệ trước khi lên đường đi vào Vòng Tròn Bất Tử.
24 năm sau, bé thơ Đinh Mỹ Lệ ngày nào đã cùng ông Lữ Công Bảy, nguyên Thượng sĩ Hải Quân VNCH tham gia trận Hoàng Sa trên chiến hạm Trần Khánh Dư HQ-04, cùng đi thăm gia đình liệt sĩ hạm trưởng Ngụy Văn Thà và liệt sĩ Nguyễn Thành Trí, hạm phó của Hải Quân QLVNCH. Hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa với quân TQ xâm lược 1974.
Thật đẹp, một trái tim thơ ngây trong nhân cách bình dị nhưng sáng ngời chính nghĩa, như thay cho cha mình cô bé cất cao lời:
“ĐẰNG SAU HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CHỈ CÓ MỘT TỔ QUỐC LÀ VIỆT NAM. 

ĐẰNG TRƯỚC HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CHỈ CÓ MỘT KẺ THÙ LÀ QUÂN XÂM LƯỢC TRUNG QUỐC. ” 
24 năm sau – Để tưởng niệm “Gạc Ma” đau thương, ngày 14/3/2012, thay vì Đảng CSVN, thì Xã Hội VN – nhiều ban ngành tư nhân đoàn thể đã chung tay tổ chức một Ngày Giổ cho anh linh các chiến sĩ hy sinh vì CQ-88 (Chủ quyền-88) “ Trận Chiến Gạc Ma ” và tự nguyện đóng góp gửi một chút nghĩa tình cho thân nhân các anh em chiến sĩ ấy nơi quê nhà. Nhưng cuối cùng thì:
“KHÓC CHO ANH EM HY SINH, CŨNG KHÔNG ĐƯỢC PHÉP”…

Mai Thanh Hải – Nhà báo T, Phóng viên Báo X kể với mình buổi sáng:
Từ mấy tháng trước, anh T thay mặt Báo, lặn lội tìm đến thăm gia đình 34/64 Liệt sĩ hy sinh tại Gạc Ma ngày 14/3/1988, ở các tỉnh từ Quảng Bình đến Khánh Hòa (30 gia đình còn lại ở các địa phương khác, sẽ thăm sau).
Báo cũng đã làm việc và thống nhất tổ chức cuộc gặp mặt 34 gia đình Liệt sĩ, tại Cam Ranh (Khánh Hòa).
Thành phần buổi gặp mặt bao gồm các mẹ của Liệt sĩ (mỗi mẹ được đưa 1 người thân đi cùng), lãnh đạo đại diện Hải quân và cơ quan chức năng của tỉnh Khánh Hòa…
Cuộc gặp mặt được sự giúp đỡ của Hội Cựu Chiến binh của 1 Doanh nghiệp: Đài thọ tiền đi lại cho thân nhân Liệt sĩ; tặng quà cho mỗi gia đình…
Tất cả mọi việc đã hoàn tất, giấy mời đã được phát đi, hẹn ngày 14/3/2012 gặp mặt tại Cam Ranh.
Đùng cái, cách đây 3 ngày (11/3/2012), có lệnh của “trên” yêu cầu hủy cuộc gặp mặt.
Nhà báo T cay đắng: “Anh trở thành người đi phỉnh (lừa) các mẹ Liệt sĩ” và chán nản: “Giỗ anh em hy sinh mà không dám tổ chức. Khóc anh em hy sinh cũng không được phép khóc!”…
Mình nghe xong câu chuyện, cũng chán ặt người: “Tổ quốc có bao giờ HÈN thế này không?”..
Kế hoạch vinh danh, tri ân Liệt sĩ Gạc Ma, Trường Sa bị ngăn chặn
Nhà báo V.V.T.
Trước 14-3-2012 gần 2 tháng, hội Cựu chiến binh ngành Dầu khí VN có kế hoạch hoạch đúng ngày 14-3-2012, sẽ tổ chức lễ vinh danh, tri ân và trao tặng (đợt 1) một số gia đình có thân nhân là Liệt sĩ hy sinh ngày 14-3-1988 ở Trường Sa, hiện có hoàn cảnh khó khăn, tổng số tiền tròn 200 triệu đồng.
Đợt 2 sẽ trao cho các gia đình liệt sĩ 14-3-88 khác, vào 14-3-2013.
Theo kế hoạch phối hợp cùng báo Thanh niên (Văn phòng đại diện tại Nha Trang) và các báo Nông thôn ngày nay, Cựu chiến binh VN … buổi lễ sẽ diễn ra tại trụ sở Vùng 4 hải quân (bán đảo Cam Ranh) – có đơn vị trực thuộc là Lữ đoàn 146 đang trấn giữ Trường Sa.
Được sự thống nhất và hoan nghênh của lãnh đạo bộ Tư lệnh quân chủng Hải quân, đại diện các báo trên đã cấp tốc đến Vùng 4, làm việc với chủ nhiệm Chính trị và trưởng ban Chính sách Vùng 4, bàn kế hoạch phối hợp triển khai khá chi tiết. Theo đó, Vùng 4 lo bố trí, trang trí hội trường buổi lễ, phòng ốc và ăn uống cũng như xe đưa đón đại diện gia đình liệt sĩ từ sân bay Cam Ranh, ga Nha Trang về nhà khách Vùng 4, với chi phí do phía Dầu khí đài thọ (khoảng 140 triệu, ngoài 200 triệu quà trao nói trên), kể cả chi phí khẩu hiệu, phông màn, … Các báo lo liên hệ mời, mua vé phương tiện đưa thân nhân liệt sĩ đến nhà khách Vùng 4.
Biết tin, rất nhiều thân nhân liệt sĩ và cựu chiến binh Trường Sa khấp khởi mong đến ngày lễ đầy ý nghĩa này.
Hỡi ôi! Gần đến 14-3-2012, tin sét đánh: thượng cấp không cho làm!
Buồn quá!
Nghĩ mà tủi phận các Liệt sĩ, gần một phần tư thế kỷ vẫn lạnh lẽo trong con tàu 604 nơi dưới đáy biển Gạc Ma xa xôi. Cũng chẳng ai đoái hoài việc yêu cầu TQ không làm khó VN ra quy tập các anh về đất liền quê nhà. Gia đình các anh thì nghèo khổ, còn nhân dân, đồng đội muốn vinh danh, tri ân các anh cũng chẳng được.
Ngày giỗ các anh, chẳng thấy nhân vật chóp bu nào hé môi nhắc.
Chẳng lẽ máu xương, sinh mệnh các anh hiến dâng cho Tổ quốc thành uổng phí?
*
Không ai tham khảo những thông tin trên mà không tiếc một lời để bình luận, nhiều quá, vì vậy ghi vào đây thêm nữa có khi là thừa, chúng ta mọi người Việt Nam không phân biệt chính kiến hãy lắng nghe nhịp đậm trái tim và lương tri mình để tự vấn: TẠI SAO??.

Cù Huy Hà Vũ và nhà thơ Hữu Loan

http://phamtayson.files.wordpress.com/2012/03/huuloan-chhv-danlambao.jpg?w=539&h=160
Danlambao  -Nhân ngày giỗ của Nhà thơ Hữu Loan 18/3/2010, một người được Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ vô cùng trân quý, anh đã lặn lội đến thăm Nhà thơ để được vẽ Ông và để được Ông viết tặng thơ. Để tưởng nhớ Nhà thơ Hữu Loan, tôi xin thay mặt Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, gửi tặng độc giả mấy tấm ảnh của Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ khi tới thăm Nhà thơ Hữu Loan tại nhà ở Thanh Hóa. Kính nhờ Quý Báo cho đăng.
Xin trân trọng cảm ơn,
Dương Hà


Gạc Ma ém, Cổ Thành khoe

http://phamtayson.files.wordpress.com/2012/03/bannhac-danlambao.jpg?w=471&h=140

Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) – Triệt để chấp hành lời “bạn nhắc”, Đảng-bay cùng một lúc vừa “đừng Tây hóa” vừa Tàu hóa một cách ráo riết khẩn trương. Hành động Tàu hóa của đảng-bay thì, vốn đã nhiều vô kể qua việc làm nổi cộm của bác từ khuya, và của bộ sậu cháu ngoan sau này. Mọi người dân đã thấy; nhắc ra đây không chỉ làm cho bạn đọc nhàm chán mà còn ứa gan thêm.
Hành động “đừng Tây hóa” thì, trên màn sân khấu đỏ hoe trong Đại hội Đảng-bay lần thứ Xì Dách (XI) vừa rồi, hình ba ông cố nội râu xồm đã bị các cháu “kiên trì lấy tư tưởng… làm nền tảng” hô biến mất tiêu.
Thế nhưng làm cả hai việc Tàu hóa lẫn đừng Tây hóa cùng một lúc khẩn trương như hiện tại, chứng tỏ Đảng-bay bức xúc trước lời “bạn nhắn” là dường nào.
Đó là ngay sau khi Đảng-bay ra lệnh cấm buổi “lễ vinh danh, tri ân và trao tặng một số gia đình có thân nhân là liệt sĩ hy sinh ngày 14-3-2988 ở Trường Sa, hiện có hoàn cảnh khó khăn, do Hội Cựu chiến binh ngành Dầu khí VN chuẩn bị gần hai tháng để tổ chức” (1) đúng vào ngày quân Tàu tàn sát quân Ta, chiếm đảo Gạc Ma của ta, 14 tháng 3 năm 2012.
Ba hôm sau, ngày 17-3-2012 tại Hà Nội, Đảng ta, à quên, đảng-bay treo giải thưởng bốn huy chương Cánh Diều Vàng cho phim Mùi Cỏ Cháy nói về trận đánh 81 ngày để giữ thành Quảng Trị hồi năm 1972. (2). (Quảng trị vào thời điểm đó thuộc lãnh thổ nước VNCH có chủ quyền được thế giới công nhận, theo chủ nghĩa Tư Bản, cái chủ nghĩa mà nước CHXHCN đã xin hội nhập, và đang nài nỉ xin hội nhập trọn gói, nhưng thằng Mỹ-Cút nó chưa OK vì còn lủng lẳng cái đuôi XHCN định hướng.)
 http://phamtayson.files.wordpress.com/2012/03/120318160931_mui_co_chay_304x171_muicochay.jpg?w=300
Chuyện Anh em Nam Bắc giết nhau thì Đảng-bay đem khoe mãi, dù cái mồm lải nhải “hòa giải hòa hợp”. Tàu giết chiến sĩ ta, cướp đất liền, biển đảo ta, giết người, cướp của, bắt làm con tin đòi tiền chuộc ngư dân ta, thì Đảng bay ém nhẹm, dù mõm thì “Vua Hùng có công dựng nước, bác cháu ta phải ra công giữ nước”.
Nước đâu không bằng nước “Bạn nhắc..”:. Gạc Ma ém, Cổ Thành khoe.
___________________________________
Ghi chú:

Đừng chờ ai đó làm thay

http://phamtayson.files.wordpress.com/2012/03/chiakhoathaydoi-danlambao.jpg?w=532&h=158
Le Nguyen (Danlambao) – Có thể thấy ngay thời điểm hiện tại, nói như đảng trưởng cộng sản là một bộ phận không nhỏ nhân dân đã tỏ tường tội ác của đảng cộng sản gieo rắc xuống đất nước, dân tộc này chất chồng cao hơn núi đến độ “trúc Nam Sơn không ghi hết tội, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”(1)…
Thế tại sao một đảng cường hung cực ác, mạo danh cách mạng, nhân danh nhân dân hiện nguyên hình là một đảng cướp khát máu, chuyên nghề lừa đảo vẫn tồn tại, thách thức lòng bao dung, sức chịu đựng nhẫn nhục lẫn hờn căm ngút ngàn của dân tộc Việt Nam?
Có lẽ, hiện tượng trái khoáy không bình thường, hiện tượng kẻ thủ ác ngang nhiên thách thức, khiêu khích, khinh thường lòng sục sôi căm hận của khối người lương thiện hẳn có nguyên nhân của nó.
Chẳng hạn như, lòng người dân căm hận có thừa nhưng lại sợ sệt “muốn an thân và tiếc máu xương”(2) hoặc ngây thơ hy vọng có một ngày đẹp trời nào đó đảng cướp hồi tâm buông đao đồ tể trở về con đường thiện. Xa hơn nữa là trông chờ vào phép lạ, vào đấng minh quân, vào anh hùng hiệp sĩ từ trong truyện thần thoại, cổ tích nhảy bổ ra làm thay cho khát vọng tự do, hạnh phúc của mình. Nên nhớ rằng tự do cũng như tình yêu không ai cho không, biếu không, có nhiều dân tộc phải trả giá máu, rất nhiều máu để đổi lấy tự do cho dân tộc mình. Dân tộc Việt Nam cũng không là ngoại lệ đã đổ rất nhiều xương máu nhưng vẫn chưa có tự do, chưa được sống như là một con người với đầy đủ quyền tự do mà tạo hóa ban tặng trong cuộc đời làm người!
Xét cho cùng nguyên nhân của nhiều nguyên nhân, dù lòng dân căm giận, phẫn uất như quả bóng căng đầy nhưng kẻ thủ ác vẫn nhởn nhơ, tội ác vẫn tồn tại, chung quy là do thiếu lãnh đạo và tổ chức hay nói cách khác là thiếu các hạt nhân chủ chốt vạch trần tội ác, đưa tội ác vang xa trong dư luận xã hội tạo thành sức mạnh biến ước mơ tự do thành hành động cụ thể.
Mặt khác, qua nhiều năm dõi theo, quan sát các trang mạng lề dân và đọc góp ý, bày tỏ chính kiến thầm lặng, chân thành nhiệt tình bền bỉ của các còm sĩ, số lượng năm sau nhiều hơn năm trước với nội dung đa dạng, đa sắc màu, nhiều trình độ, nhận định khác nhau. Từ lời lẽ rụt rè, nhẹ nhàng khuyên nhủ kẻ thủ ác hồi tâm nghe rất êm tai, đến dứt khoát máu lửa không khoan nhượng với tội ác, sai trái, xấu xa của đảng cướp cộng sản nghe hơi chói tai, thậm chí các còm sĩ còn tranh cãi gay gắt với nhau vì khác chính kiến nhưng tất cả đều cùng quan điểm, nhận định cộng sản là nguồn gốc của tội ác, đảng cộng sản phải bước xuống, cút đi trả lại quyền làm chủ cho nhân dân.
Ngoài ra, bên ngoài thế giới ảo còn có những hoạt động tranh đấu cụ thể, mới nhất là sự kiện gây chấn động dư luận việt Nam lẫn nhân dân Hoa Kỳ, bởi gần một trăm năm mươi ngàn người Việt thầm lặng ở Hoa Kỳ ký thỉnh nguyện thư vận động chính giới, chính quyền đòi hỏi đảng cộng sản Việt Nam trả tự do cho các tù nhân lương tâm, trong đó có nhạc sĩ trẻ Việt Khang chỉ vì sáng tác nhạc tỏ bày “Anh là ai, sao bắt tôi, tôi làm điều gì sai… tình yêu quê hương này, dân tộc này đã lắm nhiều đắng cay…” mà bị bắt nhốt tù đã chạm đến trái tim nhân bản của nhân loại, thôi thúc họ hành động!
Phải công nhận, sự thành công của công tác vận động ký thỉnh nguyện, có phần không nhỏ của các hạt nhân tích cực thuộc thế hệ thứ hai của giòng thác người chạy nạn cộng sản năm xưa, trong số họ đa phần không liên quan, dính dáng hoặc có trách nhiệm trực tiếp đến cuộc nội chiến hai mươi năm để vướng mắc mang lòng kiêu căng, hận thù hay định kiến, mặc cảm của kẻ thắng người thua nhưng những con người này vẫn nhập cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền. Như thế đủ để lột trần bộ mặt tuyên truyền dối trá của cộng sản, về sự thật của công cuộc đấu tranh dân chủ cho Việt Nam, là chỉ có một số người già nua chế độ cũ chống cộng cực đoan, điên cuồng bởi hào quang quá khứ và còn mang nặng lòng thù hận, mặc cảm thua trận?
Có thể nói với số lượng còm sĩ phân định chính kiến rạch ròi thuộc nhiều thế hệ trên các báo lề dân, các hạt nhân tích cực mới xuất hiện trong phong trào vận động ký thỉnh nguyện thư ở Hoa Kỳ và số đông yêu nước thầm lặng, không đao to búa lớn sống rải rác khắp nơi trên thế giới nếu cùng nhau đồng loạt nhập cuộc, đã đủ điều kiện để loại bỏ ác đảng cộng sản, mạo danh cách mạng, nhân danh nhân dân làm điều vô đạo, tàn dân hại nước.
Tuy nhiên, muốn biến ước mơ dân chủ thành sự thật rất cần hơn nữa những hành động tích cực: một là các còm sĩ cần bước ra thế giới ảo nhập vào hoạt động đấu tranh của đời sống thực; hai là các hạt nhân tích cực trong phong trào ký thỉnh nguyện thư cần có kế hoạch dài hạn và cụ thể hóa mục tiêu đấu tranh trong ngắn hạn; ba là các cá nhân yêu nước thầm lặng cần can đảm rời bỏ sợ hãi để tự tổ chức, tự lãnh đạo nhóm nhỏ đấu tranh đòi hỏi dân sinh, dân quyền và chuẩn bị tiến đến mục tiêu đấu tranh cho dân chủ khi thời cơ tới.
Dù thế, với ba thành phần vừa đề cập đến ở trên, có nguồn gốc, môi trường làm việc và nhận thức khác nhau nên mỗi người chỉ đấu tranh, đóng góp cho dân chủ theo hoàn cảnh cũng như điều kiện khách quan cho phép trừ những cá nhân chọn lựa hoạt động đặc biệt chuyên nghiệp. Do đó, trong tiến trình đấu tranh loại trừ độc tài cộng sản, thực thi dân chủ cho Việt Nam cần phát động toàn diện, cần trong đánh ra, ngoài đánh vào và không thể thiếu công tác ngoại vận, quốc tế vận. Chỉ nhìn vào ba mục tiêu đó, mở ra cho chúng ta thấy rằng không có cá nhân nào đủ khả năng đồng lúc thực hiện, đạt hiệu quả được ba mục mà phải cần đến tổ chức hoạt động chính trị chuyên nghiệp và chỉ có tổ chức mới đủ nhân sự sở hữu chuyên môn đa dạng khác nhau để thi hành điều phối kế hoạch tổng thể khả thi và hiệu quả.
Để thực hiện được mục tiêu trong đánh ra, ngoài đánh vào và công tác ngoại vận, quốc tế vận hiệu quả chúng ta cần nhận ra những việc làm cụ thể:
Thứ nhất: với “trong đánh ra” chúng ta cần cán bộ, đảng viên, viên chức chính phủ, công an, bộ đội phản tỉnh nhận ra đảng cộng sản là sai lầm lịch sử, là tội ác chống nhân dân để các cá nhân này tích cực tự diễn biến, tự chuyển hóa nằm trong lòng chế độ chờ thời cơ đứng lên, góp công loại trừ độc tài cộng sản ra khỏi đất nước Việt Nam. Thế thì ai sẽ vận động, tập hợp lực lượng này nhập cuộc, nhân tuyển nào thích hợp, còn là câu hỏi cho các cá nhân cộng sản phản tỉnh trong cuộc giải đáp, hy vọng những người cộng sản phản tỉnh đã có lời giải?
Thứ hai: với “ngoài đánh vào” có nhiều cách, thật muôn hình vạn trạng nhưng lực lượng chủ lực vẫn là khối công nhân, nông dân, những người lao động tự do và họ chỉ là những ngòi nổ rời rạc có thể gây chấn động nhất thời chứ không thể làm nên đám cháy lớn chôn vùi chế độ bạo tàn cộng sản. Vậy, ai có thể tập trung các ngòi nổ để làm cuộc thay đổi lịch sử? Có thể thấy không khối nhân tuyển nào tốt hơn, thích hợp hơn lực lượng thanh niên sinh viên học sinh, khối nhân sự trẻ trung năng nổ giàu sức sống, đầy tiềm năng.
Thứ ba: với “ngoại vận, quốc tế vận” không nhân tuyển nào tốt hơn cộng đồng người Việt hải ngoại sống khắp nơi trên thế giới và khối người này đã liên tục đấu tranh cho một nước Việt Nam tự do, dân chủ không hề mệt mỏi suốt mấy mươi năm qua. Riêng công tác ngoại vận, người Việt Hải ngoại làm khá tốt, có kết quả khả quan, có lực lượng hậu bị và đã có nhiều nhân sự trẻ tiếp nối hoạt động ngoại vận chuyên nghiệp hữu hiệu, nhiều tiềm năng chúng ta không phải bận tâm nhiều về công tác ngoại vận.
Ngoài ra, số đông yêu nước thầm lặng sinh sống, làm việc ở trong nước hay ngoài nước, ở trong đảng hay ngoài đảng có thể đóng góp cho kế hoạch tổng thể của trong đánh ra, ngoài đánh vào và ngoại vận, quốc tế vận qua các việc cụ thể vì mọi người ai cũng có mối liên hệ bạn bè, lối xóm, thân nhân chằng chịt. Từ mối liên hệ này, chúng ta tìm cơ hội hướng dẫn, giới thiệu càng nhiều người càng tốt đến với các trang báo lề dân, nếu thấy thuận lợi và điều kiện cho phép. Rồi từ những nhân sự ban đầu, chúng ta tự tổ chức, tự lãnh đạo vận dụng những thông tin có được vạch trần bộ mặt buôn dân bán nước của ác đảng cộng sản, phản bác những tuyên truyền dối trá, lừa mị nhân dân, chỉ ra tội ác trời không dung đất không tha của cộng sản gây ra cho đất nước dân tộc này.
Bước kế tiếp là vận động nhân sự có sẵn hoặc tuyển chọn nhân sự thích hợp xâm nhập, tiếp cận ăn cùng, sống cùng, làm cùng với nông dân, công nhân, thành phần lao động, những người không có điều kiện thuận lợi, sử dụng các phương tiện thông tin hiện đại nhằm chỉ ra sai trái, tội ác của cộng sản. Cùng lúc hướng dẫn, giải thích cho họ biết quyền lợi sát sườn liên quan mật thiết đến cơm ăn áo mặc, những quyền đáng ra họ phải được hưởng và những việc, điều luật cấm cán bộ, đảng viên, nhân viên nhà nước không được làm để họ tự đứng lên đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng, thiết thực là quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc cho chính mình. Cuôí cùng, tiến đến việc cùng nhau xuống đường đấu tranh chống tội ác, chống bất công xã hội, hòa nhập vào giòng thác cách mạng dân chủ, đấu tranh dân chủ quét sạch ác đảng độc tài công sản ra khỏi bờ cõi Việt Nam.
Ý kiến vừa trình bày chỉ là gợi ý không phải là giải pháp tối ưu duy nhất đúng cho cách mạng dân chủ Việt Nam, ý kiến này chỉ gợi mở khái niệm về tổ chức và lãnh đạo làm nền cho cách mạng dân chủ khi chưa có “minh quân”, chưa có lãnh tụ “kiệt xuất” xuất hiện lãnh đạo công cuộc đấu tranh loại trừ ác đảng độc tài cộng sản Việt Nam và lực lượng quyết định cho cách mạng dân chủ chưa tiếp cận được với phương tiện thông tin hiện đại. Thiết nghĩ, theo quan sát tình hình thực tiễn, không nên chờ đợi lãnh tụ “tài đức vẹn toàn” ra đời dẫn dắt đấu tranh, vì thời đại này đã có những cuộc cách mạng dân chủ không cần lãnh tụ, đã thành công. Chúng ta cũng nên biết thêm, dù không có lãnh tụ nhưng họ vẫn phải âm thầm tổ chức, lãnh đạo nhiều nhóm nhỏ để khi thời cơ đến, họ phối hợp phát động xuống đường tháo mở xích xiềng nô lệ độc tài toàn trị cho dân tộc họ. Vì thế, muốn hoa tự do dân chủ sớm nở trên đất nước Việt Nam chúng ta cần bắt tay vào tổ chức và lãnh đạo các nhóm nhỏ theo hoàn cảnh, điều kiện, khả năng của mình thay vì thụ động ngồi chờ phép lạ, chờ lãnh tụ hay chờ ai đó làm thay cho chúng ta.
_____________________________________
Chú thích: 
1) Bình Ngô Đại Cáo của Đức Nguyễn Trãi.
2) Trích từ tập thơ Tiếng Vọng Từ Đáy Vực của Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện.

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

HỌC THUYẾT CHIẾN TRANH CỦA BARACK OBAMA

Tài liệu tham khảo đặc biệt  – Chủ nhật, ngày 18/3/2012   -TTXVN (Oasinhtơn 28/2)

Tạp chí Chính sách Đi ngoại (Foreign Policy) s ra tháng 3-4 đăng bài viết của nhà báo David Rohde, người từng hai lần đoạt giải Pulitzer, về học thuyết chiến tranh của Tng thống Mỹ Barack Obama. Sau đây là nội dung bài viết:

Khi Barack Obama nhậm chức ba năm trước đây, không ai gắn cụm từ “tiêu diệt có mục tiêu” với vị tổng thống trẻ đầy lạc quan. Trong diễn văn nhậm chức, cựu giáo sư luật 47 tuổi này chỉ nhắc đến từ “khủng bố” duy nhất một lần. Thay vào đó, ông hứa sẽ sử dụng công nghệ để “tận dụng mặt trời, gió và đất để làm nhiên liệu chạy xe và các nhà máy”.

Một cách kỳ lạ, công nghệ đã giúp Obama có thể trở thành người mà không mấy ai dự đoán: một tổng thống đã mở rộng rất nhiều khả năng của nhánh hành pháp trong việc phát động chiến tranh bí mật công nghệ cao. Với một quyết tâm khiến nhiều người ngạc nhiên, Obama đã tận dụng CIA, mở rộng quyền lực của CIA và chấp thuận các vụ tiêu diệt có mục tiêu với số lượng nhiều hơn bất cứ tổng thống đương đại nào. Trong ba năm qua, Chính quyền Obama đã thực hiện ít nhất 239 vụ tấn công bí mật bằng máy bay không người lái, nhiều hơn năm lần so với con số 44 vụ dưới thời Tổng thống George W. Bush. Và sau khi hứa sẽ tổ chức các chiến dịch chống khủng bố minh bạch hơn, cùng với kiềm chế quyền lực hành pháp, Obama đã làm ngược lại, duy trì tính bí mật và mở rộng quyền hạn của tổng thống.

Một điều không kém phần quan trọng là việc Chính phủ Mỹ sử dụng quá nhiều các vụ tấn công bằng máy bay không người lái đã làm tổn hại một trong những chính sách được hoan nghênh nhất: một cách tiếp cận mới, hậu 11/9, với việc sử dụng các lực lượng tiêu diệt của Mỹ, một cách tiếp cận đa phương, minh bạch và có trọng tâm.

Sự sẵn lòng của Obama trong việc sử dụng các lực lượng tiêu diệt của Mỹ không có gì đáng ngạc nhiên. Trong một bài diễn văn năm 2002, Thượng nghị sĩ bang Illinois Obama đã phản đối cuộc tấn công chiếm đóng Irắc sắp diễn ra của Tổng thống Bush, nhưng không phải là phản đối mọi cuộc chiến tranh, ông nói: “Tôi không phản đối tất cả các cuộc chiến, điều tôi phản đối là một cuộc chiến ngớ ngẩn . Và khi làm tổng thống, trong bài diễn văn nhận giải Nobel Hòa bình vào tháng 12/2009, Obama cảnh báo: “Sẽ có những thời điểm mà các quốc gia – hành động riêng lẻ hoặc tập thể – sẽ sử dụng vũ lực không chỉ khi cần thiết mà cả khi đúng về mặt đạo lý”. Từ đó đến nay, Obama không chỉ gửi quân đến Ápganixtan, Irắc, Libi, mà còn nhiều lần đồng ý cho tiến hành các cuộc tập kích của lính biệt kích tại Pakixtan và Xômali và trên biển, trong khi lãnh đạo một hệ thống đã thực hiện hàng trăm cuộc tấn công bằng máy bay không người lái.

Trong một loạt các cuộc phỏng vấn gần đây, các quan chức chính quyền đương nhiệm và đã rời nhiệm sở đã phác thảo cái có thể gọi là “học thuyết Obama” về sử dụng vũ lực. Việc Obama chủ trương theo chủ nghĩa đa phương, các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái, và sự hiện diện quân sự ít ỏi ở Libi, Pakixtan và Yêmen đã cho thấy hiệu quả hơn là cách tiếp cận đao to búa lớn của ông Bush ở Irắc và Ápganixtan. Ben Rhodes, Phó cố vấn an ninh quốc gia phụ trách truyền thông chiến lược, cho biết: “Chúng tôi sẽ sử dụng vũ lực đơn phương khi cần thiết để chống lại các mối đe dọa trực tiếp đối với Mỹ. Và chúng tôi sẽ sử dụng vũ lực một cách rất chính xác”.

Rhodes lập luận, các cuộc khủng hoảng mà Chính quyền Obama coi là các mối đe dọa gián tiếp đến Mỹ – như các cuộc nổi dậy ở Libi và Xyri – là “các mối đe dọa đối với an ninh toàn cầu” và được phản ứng bằng cách tiếp cận đa phương, không nhất thiết bằng vũ lực. Việc rút quân Mỹ tại Irăc và Ápganixtan, cũng như việc xây dựng một lực lượng quân đội nhỏ gọn, linh hoạt hơn trên khắp châu Á, Thái Bình Dương và Trung Đông, cũng là một phần của học thuyết. Sự ủng hộ một cách thận trọng đối với những người biểu tình ở Ai Cập, Iran và Xyri cũng như vậy.

Chiến lược đang nổi lên – cái mà Rhodes gọi là “đường hướng có trọng tâm cụ thể hơn nhiều đối với các đối thủ” – là một sự thay đổi đáng hoan nghênh từ các chính sách ưa dùng quân sự và ngôn từ hiếu chiến của cả Chính quyền Bush lẫn các ứng cử viên tổng thống hiện nay của đảng Cộng, hòa. Nhưng Obama đã cho CIA quá nhiều tự do trong việc thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái ở Pakixtan và Yêmen. Ở cả hai nước, các cuộc tấn công này thường có vẻ bị phản tác dụng.

Obama và các quan chức chính quyền khác cho rằng các máy bay không người lái được sử dụng hạn chế và làm chết rất ít dân thường. Trong một bình luận công khai hiếm hoi về chương trình này vào cuôi tháng Một vừa qua, Tổng thống Obama lên tiếng bảo vệ các cuộc tấn công. Obama nói: “Tôi muốn chắc chắn rằng mọi người hiểu là các máy bay không người lái không gây ra một lượng thương vong lớn cho dân thường. Phần lớn đây là các cuộc tấn công rất chính xác nhằm vào Al-Qaeda và các tổ chức ngoại vi. Và chúng tôi rất thận trọng khi áp dụng .

Nhưng từ Pakixtan tới Yêmen, tới một Irắc thời hậu Mỹ, máy bay không người lái thường gây ra sự phản kháng sâu sắc ớ những nơi nó hoạt động. Khi tấn công, chúng giết chóc không hề kém một loại vũ khí chiến tranh nào. Việc Chính phủ Mỹ xếp các cuộc tấn công trong diện “bí mật” chỉ làm gia tăng sự giận dữ và nghi kỵ của người dân địa phương. Dưới thời Obama, các cuộc tấn công này đã trở nên quá thường xuyên, quá đơn phương, và quá gần với việc sử dụng sức mạnh Mỹ theo kiểu mạnh tay.

Năm 2008, tôi chứng kiến việc này lần đầu tiên. Hai đồng nghiệp người Ápganixtan và tôi bị Taliban bắt cóc và giữ làm con tin tại các vùng thiểu số của Pakixtan trong bảy tháng. Từ dưới mặt đất, máy bay không người lái là một thứ vũ khí đáng sợ mà người ta có thể nghe thấy nó lượn vòng trên đầu hàng giờ liền. Chúng có uy lực và là biểu tượng đáng sợ của sức mạnh Mỹ không thể bị ngăn chặn. Đồng thời, chúng lại rất hiệu quả, có thể tiêu diệt những kẻ sản xuất bom ở nước ngoài và ngăn chặn các chiến binh Taliban tập hợp thành các nhóm lớn. Kinh nghiệm này khiến tôi bị thuyết phục rằng các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái cần được thực hiện – nhưng phải rất có lựa chọn.

Trong các cuộc phỏng vấn, các quan chức cả đương nhiệm lẫn đã rời nhiệm sở của Chính quyền Obama nói rằng tổng thống và các cận sự cao cấp của ông đã sốt sắng ngay từ đầu trong việc thể hiện sự khác biệt giữa cách tiếp cận của họ tại Pakixtan và Ápganixtan với Chính quyền Bush. Không giống như Irắc, trường hợp mà những người của đảng Dân chủ cho rằng Chính quyền Bush đã quá hiếu chiến, họ lại cho rằng Nhà Trắng dưới thời Bush đã không đủ cứng rắn đối với các nhà lãnh đạo Ápganixtan và Pakixtan. Vì thế chính quyền mới có cách tiếp cận đơn phương, cứng rắn hơn tại Nam Á và cách tiếp cận này sau đó được áp dụng với những nơi khác. Khi còn tranh cử, Obama tuyên bố trong chiến dịch hồi năm 2007 về tổng thống của Pakixtan khi đó rằng “Nếu chúng ta có thông tin tình báo ở mức có thể hành động được về các đối tượng khủng bố có giá trị cao mà Tổng thống Musharraf không hành động, chúng ta sẽ hành động”.

Trong năm đầu tiên tại vị, Tổng thống Obama chuẩn y hai đợt tăng quân lớn ở Ápganixtan và gia tăng nhanh chóng số lượng các điệp viên CIA tại Pakixtan. CIA cũng được tự do hơn trong việc thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tại các, vùng thiểu số không được chính phủ kiểm soát tại nước này, nơi các chiến binh nước ngoài và địa phương lên kế hoạch tấn công vào Ápganixtan, Pakixtan và những nơi khác.

Quyết định này phản ảnh cả niềm tin của Obama vào sự cần thiết phải chủ động hơn tại Pakixtan lẫn ảnh hưởng của CIA trong chính quyền mới. Theo các quan chức cũ lẫn đương nhiệm của chính quyền, ở một phạm vi lớn hơn so với thời Bush, Obama và các cận sự cao cấp đã dựa vào CIA để có phân tích về tình hình Pakixtan. Kết quả là, duy trì khả năng của CIA trong việc thực hiện hoạt động chống khủng bố ở Pakixtan đã trở thành ưu tiên tối cao.

Một cựu quan chức nói: “Điều quan trọng nhất khi nói đến Pakixtan là phải có khả năng thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái, ngoài ra không có gì khác. Cái gọi là trọng tâm chiến lược của mối quan hệ song phương chỉ đơn thuần để phục vụ cho cách tiếp cận chống khủng bố”.

Ban đầu, CIA đã đúng. Việc gia tăng các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái đã loại bỏ các thành viên cao cấp của Al-Qaeda trong năm 2009. Sau đó, vào tháng 7/2010, những người Pakixtan làm việc cho CIA bám sát theo một chiếc Suzuki màu trắng trên các con phố đông đúc ở Peshawar. Sau đó người ta lần theo người lái xe tới một dinh thự lớn ở thành phố Abbottabad. Ngày 2/5/2011, lính biệt kích Mỹ đã tiêu diệt Osama Bin Laden tại đây.

Tuy nhiên, theo các cựu quan chức Mỹ, sự hiện diện của tình báo Mỹ đã vượt xa mục tiêu truy lùng Bin Laden. Có thời điểm CIA đã cố triển khai hàng trăm nhân viên ở khắp Pakixtan nhưng sau đó đã rút lại kế hoạch vì các quan chức Pakixtan đang nghi kỵ đã từ chối cấp thị thực cho những người này. Đồng thời, CIA đã tích cực sử dụng quyền tự do mà Obama cho phép để thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái nhiều nhất từ trước tới nay.

Được thành lập dưới thời Chính quyền Bush và Musharraf vào năm 2004, chương trình máy bay không người lái bí mật của CIA ban đầu chỉ thực hiện các cuộc tấn công “cá nhân” nhằm vào danh sách các thành viên cao cấp của Al-Qaeda đã được đồng ý trước. Các quan chức Pakixtan được thông báo trước khi diễn ra rất nhiều, nhưng không phải tất cả, các cuộc tấn công. Trong khoảng từ năm 2004 đến 2007, theo tổ chức New America Foundation, 9 cuộc tấn công như vậy được thực hiện tại Pakixtan.

Năm 2008, Chính quyền Bush nới lỏng hạn chế các cuộc tấn công vào các vùng thiểu số. Thay vì dựa trên thông tin tình báo về một cá nhân cụ thể, những người điều khiển máy bay không người lái của CIA có thể thực hiện các cuộc tấn công dựa trên hành vi của những người dưới mặt đất. Họ có thể thực hiện các cuộc tấn công nếu, chẳng hạn, thấy một nhóm người qua lại vùng biên giới Ápganixtan-Pakixtan. Trong năm 2008, Chính quyền Bush thực hiện 33 cuộc tấn công.

Dưới thời Obama, chiến dịch sử dụng máy bay không người lái gia tăng nhanh chóng. Con số các cuộc tấn công đã tăng gần gấp đôi lên 53 trong, năm 2009 và gấp đôi tiếp lên 118 vào năm 2010. Các quan chức cũ trong chính quyền nói rằng các quy định lỏng lẻo hơn đã dẫn đến việc giết hại nhiều thường dân hơn. Các quan chức đương nhiệm thì cho rằng Obama thực chất đã thắt chặt các quy định về việc sử dụng máy bay không người lái tấn công, kể từ khi nhậm chức đến nay. Họ nói rằng số lượng các vụ tấn công tăng lên dưới thời Obama là vì công nghệ được cải thiện và thông tin tình báo thu thập được đã tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các cuộc tấn công so với thời Bush.

Nhưng khi sự giận dữ của công luận tại Pakixtan gia tăng, các nhà ngoại giao khác cùng thể hiện sự lo ngại. Đại sứ Mỹ tại Pakixtan một thời là Anne Patterson đã phản đối nhiều vụ tấn công, nhưng CIA phớt lờ ý kiến của bà. Khi Cameron Munter thay thế Patterson vào tháng 10/2010, ông thậm chí còn phản đối mạnh mẽ hơn. Tờ Nhật báo Phố Uôn sau đó cho biết có ít nhất hai lần giám đốc CIA Leon Panetta đã gạt bỏ lời phản đối của Munter và cho phép các cuộc tấn công. Một cuộc xảy ra chỉ vài giờ sau khi Thượng nghị sĩ John Kerry, Chủ tịch ủy ban Đối ngoại Thượng viện, kết thúc chuyến thăm tới Ixlamabát.

Một cuộc tấn công vào tháng 3/2011 đã gây nên tranh cãi tại Nhà Trắng. Một ngày sau khi các quan chức Pakixtan đồng ý thả Raymond Davis, một nhân viên hợp đồng với CIA, cơ quan này – một lần nữa bất chấp phản đối của Đại sứ Munter – thực hiện một vụ tấn công mà người Pakixtan cho biết đã giết chết 4 phiến quân Taliban và 38 dân thường, vốn đã bất bình về vụ Raymond Davis, Tư lệnh Lục quân Pakixtan là Tướng Ashfaq Parvez Kayani ra một tuyên bố bất thường, nói rằng một nhóm người già thuộc sắc tộc thiếu số đã bị nhắm thành mục tiêu một cách bất cẩn và nhẫn tâm với thái độ coi thường hoàn toàn mạng sống con người. Các quan chức tình báo Mỹ đã phớt lờ phàn nàn của Pakixtan và khẳng định rằng 20 phiến quân đã bị tiêu diệt. Một quan chức nói với hãng tin AP rằng “Có mọi biểu hiện cho thấy đây là một nhóm khúng bố, không phải là một cơ sở rửa xe từ thiện nằm sâu trong lãnh thổ Pakixtan.

Bất ngờ trước phản ứng chính thức mạnh mẽ của Pakixtan, cố vấn an ninh quốc gia Tom Donilon đặt câu hỏi liệu các cuộc tấn công kiểu này có đáng làm hay không. Những người chỉ trích bên trong và ngoài Chính phủ Mỹ cho rằng một chương trình ban đầu vốn là nỗ lực có mục tiêu cẩn trọng nhằm tiêu diệt các lãnh đạo cao cấp của Al-Qaeda đã biến thành một chiến dịch đánh bom nhằm vào các phần tử Taliban cấp thấp. Một số nhà phân tích bên ngoài thậm chí còn cho rằng chính quyền đã thực hiện một chính sách bất thành văn là “diệt không cần bắt sống”, do không có khả năng đóng cứa nhà tù Guantanamo của thời Bush và xây dựng một hệ thống giam giữ mới.

Vào tháng 4/2011, giám đốc cơ quan tình báo Pakixtan, Trung tướng Ahmed Shuja Pasha, đến thăm Oasinhtơn trong một nỗ lực nhằm cải thiện lại quan hệ. Ngay sau chuyến thăm này, lại có thêm hai cuộc tấn công bằng máy bay không người lái xảy ra tại các khu vực người thiểu số, điều mà ông Pasha coi là một sự xỉ nhục đối với cá nhân mình. Trong một động thái nhượng bộ hiếm có, Leon Panetta đồng ý thông báo cho cơ quan tình báo Pakixtan trước khi Mỹ thực hiện bất cứ cuộc tấn công nào có thể giết chết trên 20 người.

Tháng Năm, sau khi cuộc tập kích Bin Laden gây ra thêm sự giận dữ cho các quan chức Pakixtan, một quan chức chính quyền cho biết cố vấn Donilon mở một cuộc tổng kết trong nội bộ về việc các cuộc tấn công đã được chấp thuận như thế nào. Nhưng sau đó các cuộc tấn công vẫn tiếp diễn. Cuối tháng đó, các quan chức của Bộ Ngoại giao Mỹ nổi giận khi có ba cuộc tấn công bằng tên lửa diễn ra sau chuyến thăm của Ngoại trưởng Hillary Clinton tới Pakixtan.

Khi chương trình tổng kết của cố vấn an ninh Donilon tiến triển, tờ Nhật báo Phố Uôn cho biết đã diễn ra một cuộc tranh cãi gay gắt trong Chính quyền Obama về việc sử dụng máy bay không người lái. Đô đốc Mike Mullen, khi đó là Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, nói rằng các cuộc tấn công nên có chọn lọc hơn. Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates canh báo rằng các quan chức Pakixtan đang giận dữ có thể cắt các tiếp viện cho quân Mỹ tại Ápganixtan. Bà Clinton cảnh báo rằng việc quá nhiều thương vong cho đân thường có thể củng cố phe đối lập tại Pakixtan trước tổng thống Asif Ali Zardari đang ở thế yếu.

Theo một cựu quan chức, CIA phản bác lại rằng các phiến quân Taliban là các mục tiêu hợp lệ vì họ đang thực hiện các cuộc tấn công ở bên kia biên giới nhằm vào các lực lượng Mỹ. Đến tháng Sáu, Obama đứng về phía CIA, Panetta chấp thuận rằng sẽ không thực hiện vụ tấn công nào khi các quan chức Pakixtan đến thăm Oasinhtơn và rằng Ngoại trưởng Clinton và đại sứ Munter có thể phản đối các kế hoạch tấn công. Nhưns Obama vẫn cho phép giám đốc CIA quyền quyết định cuối cùng.

Tháng 11/2011, tình huống xấu nhất mà Mullen, Gates và Clinton cảnh báo đã xảy ra. Sau khi các cuộc không kích của NATO giết nhầm 24 binh lính Pakixtan trên biên giới Ápganixtan-Pakixtan, Kayani yêu cầu chấm dứt các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái và chặn đường tiếp tế cho binh sĩ Mỹ tại Ápeanixtan. Đồng thời, phe đối lập với Tổng thống Zardar mạnh lên nhanh chóng. Sau khoảng gần hai tháng tạm lắng cho phép các phiến quân tập hợp lại, các cuộc tấn công lại tiếp diễn tại các vùng thiểu số hồi tháng Một vừa qua. Nhưng theo một cựu quan chức cao cấp, các cuộc tấn công dựa trên “dấu hiệu” đã không còn được phép vào lúc này.

Đối với người dân Pakixtan, các cuộc tấn công có tác động rất tai hại. Trong một thăm dò của Trung tâm nghiên cứu PEW, 97% người dân Pakixtan được biết về các cuộc tấn công cho rằng các vụ việc này là một điều tồi tệ. 73% người Pakixtan có quan điểm không ủng hộ Mỹ, cao hơn 10% so với năm 2008. Các quan chức chính quyền nói rằng các cuộc tấn công này được sự ủng hộ của những người Pakixtan ở vùng sắc tộc và đã mệt mỏi với sự cai trị tàn bạo của lực lượng thánh chiến, Và họ cho rằng các quan chức Chính phủ Pakixtan – trong khi chỉ trích các cuộc tấn công trước công luận – lại đồng ý khi riêng tư rằng chúng giúp chống lại lực lượng phiến quân. Các quan chức Mỹ cũng đồng tình rằng việc minh bạch hơn các cuộc tấn công có thể giảm bớt sự giận dữ của công luận tại những nơi khác ở Pakixtan. Nhưng họ nói rằng một số bộ phận trong Chính phủ Pakixtan tiếp tục đòi hỏi giữ bí mật các cuộc tấn công.

Điều chung quy là đường hướng của cả hai chính phủ đều đang thất bại. Nền kinh tế Pakixtan đang hết sức khó khăn. Lực lượng quân sự tiếp tục che chở cho các phiến quân Taliban mà họ coi là vũ khí để chống lại ảnh hưởng của Ấn Độ tại Ápganixtan. Tỉ lệ người Pakixtan ủng hộ việc sử dụng quân đội Pakixtan chống lại các phần tử cực đoan ở vùng sắc tộc – điều mấu chốt đế loại bỏ phiến quân – đã giảm nhanh chóng từ mức 53% năm 2009 xuống còn 37% vào năm ngoái. Pakixtan hiện bất ổn hơn so với khi ông Obama nhậm chức.

Một động lực tương tự đang tạo ra kết quả thậm chí còn xấu hơn ở điểm phía Nam của Bán đảo Arập. Sau một thời gian dài Mỹ không chú ý, Yêmen đột ngột trở thành tâm điểm sau một cuộc tấn công liều chết vào tàu USS Cole khiến 17 thủy thủ Mỹ thiệt mạng ở cảng Aden vào năm 2000. Năm 2002, Chính quyền Bush thực hiện một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tại Yemen, giết chết Abu Ali al-Harithi, một nhân vật Al- Qaeda có vai trò chủ chốt trong việc tổ chức cuộc tấn công vào tàu Cole. Trong những năm sau đó, Chính phủ Mỹ chuyển dần sự chú ý tới Irắc và các nhóm phiến quân bắt đầu tập hợp lại.

Vụ tấn công không thành vào tháng 12/2009 của một phiến quân được huấn luyện tại Yemen khi tên này định phát nổ một trái bom trên một chuyến bay đến Detroit đã khiến Obama chú ý đến quốc gia này. Trong hai năm sau đó, Mỹ thực hiện khoảng 20 vụ không kích tại Yemen, hầu hết trong năm 2011. Ngoài việc tiêu diệt các phần tử có liên hệ với Al – Qaeda, các cuộc tấn công còn làm chết hàng chục dân thường. Theo Gregory Johnsen, một chuyên gia về Yêmen tại Đại học Princeton, thay vì làm suy yếu Al-Qaeda, các cuộc tấn công của Obama đã làm tăng thêm quân số của tổ chức tại vùng Bán đảo Arập từ 300 năm 2009 lên hơn 1000 hiện nay. Tháng Một vừa qua, tổ chức này còn kiểm soát được trong thời gian ngắn thị trấn Radda chỉ cách thủ đô Sanaa 100 dặm. Chuyên gia Johnsen nói: “Tôi không tin rằng Mỹ có một chính sách đối với Yêmen. Cái mà Mỹ có là một chiến lược chống khủng bố áp dụng vào Yemen .

Cái chết của Bin Laden và các cận sự là một bước tiến, nhưng Pakixtan và Yêmen đang ngày càng bất ổn. Pakixtan là một nước có vũ khí hạt nhân với 180 triệu dân và các mạng lưới phiến quân ngoan cường. Yêmen, một quốc gia nghèo đói và thất bại, đang nhanh chóng trở thành căn cứ địa mới của Al-Qaeda. Một cựu quan chức của Chính quyền Obama nói: “Họ nghĩ rằng họ đã chiến thắng vì đường hướng này. Nhiều người trong chúng tôi cho rằng sẽ có nhiều vấn đề lớn hơn trong tương lai”.

Sự phản tác dụng từ các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tại các quốc gia mà Mỹ áp dụng không phải là điều lo ngại duy nhất. Tại Mỹ, các tổ chức dân quyền và nhân quyền đang ngày càng quan ngại về phạm vi quyền lực mà Obama dành cho phía hành pháp khi mà ông phát động một hình thức chiến tranh mới.

Trong cuộc xung đột Libi, Chính phủ Mỹ đã dùng đến máy bay không người lái để tạo một tiền lệ pháp lý mới. Theo Nghị quyết Quyền hạn Chiến tranh, tổng thống phải được sự chấp thuận của Quốc hội cho các hành động quân sự trong vòng 60 ngày. Khi sắp hết thời hạn đó hồi tháng Năm, chính quyền thông báo rằng vì các cuộc tấn công của NATO và máy bay không người lái đang thực hiện sứ mệnh, nên không có mối đe dọa nghiêm trọng nào về nhân mạng đối với Mỹ và vì thế không cần sự phê chuẩn của Quốc hội. Theo Peter Singer, một nhà nghiên cứu của Viện Brookings, “nó đã thay đổi cách các chính trị gia nói về điều gì nên là quan trọng nhất mà một quốc gia tham gia .

Mùa Thu năm ngoái, một loạt các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tại Yêmen đã tạo nên một tiền lệ nguy hiểm khác, theo các tổ chức tự do dân quyền và nhân quyền. Không có bất cứ một tiến trình pháp luật công khai nào, Chính phủ Mỹ hành quyết ba công dân của chính mình. Ngày 30/9, một cuộc tấn công bằng máy bay lchông người lái đã giết chết Anwar al-Awlaki, một giáo sĩ có uy tín sinh ra tại Mỹ mang gốc Yêmen bị cho là khích động các cuộc tấn công khủng bố trên khắp thế giới. Samir Khan, một phần tử thánh chiến người Mỹ gốc Pakixtan đi cùng cùng bị giết. Nhiều tuần sau đó, một cuộc tấn công khác đã giết chết con trai 16 tuổi của Awlaki, Abdulrahman al-Awlaki, cũng là một công dân Mỹ. Các quan chức chính quyền khẳng định rằng Bộ Tư pháp đã xem xét và cho phép các vụ tấn công, nhưng lại từ chối cung cấp văn bản.

Jameel Jaffer, Phó Giám đốc phụ trách pháp lý của Liên minh Quyền tự do Dân sự Mỹ, nói: “Chính quyền đã cho mình quyền thực hiện các cuộc hành quyết ngoại tụng đối với công dân Mỹ trên cơ sở chứng cứ bí mật và không ai thấy bao giờ. Rất khó có thể hiểu điều này đã tuân thủ hiến pháp như thế nào.

Sau khi chỉ trích Chính quyền Bush đã giữ bí mật chi tiết về các hoạt động giám sát, tham vấn và giam giữ, Obama giờ đang làm điều tương tự. Chính quvền của ông đã từ chối cung cấp các chi tiết về việc tại sao lại đặt một người vào danh sách cần tiêu diệt, thực hiện các vụ nghe trộm ở Mỹ, hay quyết định phải giam giữ ai ở nước ngoài. Chính quyền Obama cũng đang truy tố sáu cựu quan chức chính phủ với các cáo buộc làm lộ thông tin mật cho giới truyền thông – nhiều hơn tất cả các vụ việc của các chính quyền trước đó cộng lại.

Các quan chức chính quyền bác bỏ việc giữ bí mật và khẳng định rằng họ đã công bố thông tin về các hoạt động chống khủng bố nhiều hơn so với Chính quyền Bush, vốn đã từ chối quyết liệt việc công bố các chi tiết về “cuộc chiến chống khủng bố” và lập ra chương trình máy bay không người lái bí mật tại Pakixtan. Các quan chức của Obama nói họ đã xây dựng cách tiếp cận minh bạch hơn và linh hoạt hơn bên ngoài Pakixtan, có liên quan tới các cuộc tập kích quân sự, tấn công bằng máy bay không người lái, và các nỗ lực khác. Họ cho biết mọi cuộc tấn công tại Yêmen đều được các quan chức Yêmen chấp thuận. Cuối cùng, họ hy vọng biến các cuộc tấn công này thành các hoạt động chung, được thực hiện một cách công khai với chính quyền địa phương.

Theo Jaffer, việc giữ bí mật các hoạt động này khiến các tòa án Mỹ không thể xem xét tính hợp hiến của nó. Chuyên gia này chỉ ra rằng nếu một tổng thống của đảng Cộng hòa đi theo các chính sách như vậy, sự phản đối từ phía tả sẽ cực kỳ ồn ào. Jaffer nói: “Cần phái nhớ rằng quyền hạn này sẽ được chính quyền tiếp theo và tiếp sau nữa sử dụng.

Một cách xứng đáng, Obama và các quan chức cao cấp của ông đã thành công trong việc giới hạn lại cuộc chiến toàn cầu của ông Bush thành một cuộc chiến có trọng điểm hơn nhằm vào Al-Qaeda. Họ đã chấm dứt sử dụng thuật ngữ “cuộc chiến chống khủng bố” và thay vào đó coi đây là chiến dịch nhằm vào một tổ chức riêng biệt, được xác định rõ ràng.

Các quan chức Chính quyền Obama coi việc lật đổ Muammar Gaddafi là một ví dụ điển hình cho sự thành công của cách tiếp cận đa phương và có trọng điểm hơn trong sử dụng vũ lực. Với chi phí nhân mạng của Mỹ bằng không và 1 tỉ USD, cuộc can thiệp ở Libi đã loại bỏ được một kẻ độc tài trong 5 tháng. Cuộc tấn công chiếm đóng Irắc đã làm 4484 người Mỹ thiệt mạng, tiêu tốn ít nhất 700 tỉ USD, và kéo dài gần 9 năm.

Phó cố vấn an ninh quốc gia Ben Rhodes nói: “Dấu ấn nhỏ của Mỹ không chỉ mang lại ích lợi về nhân mạng và nguồn lực. Chúng tôi tin rằng cuộc cách mạng Libi còn được coi là có tính chính danh hơn. Mỹ được hoan nghênh hơn. Và có ít khả năng xảy ra nổi dậy hơn vì không có sự hiện diện của các lực lượng nước ngoài .

Trong đề xuất tham vọng nhất của mình, Chính quyền Obama đang cố gắng tái cấu trúc quân đội Mỹ, thực hiện cắt giảm mạnh chi tiêu, và đưa về “quy mô đúng” các lực lượng Mỹ trên khắp thế giới. Theo kế hoạch của Obama, Lục quân Mỹ sẽ giảm 80.000 quân, một số đơn vị của Mỹ sẽ được chuyển từ Trung Đông sang Thái Bình Dương, và mở thêm các căn cứ nhỏ, bí mật. Các đơn vị thuộc Lực lượng Đặc biệt đã mở rộng quy mô rất lớn tại Irắc và Ápganixtan sẽ huấn luyện các lực lượng địa phương và thực hiện các cuộc tập kích chống khủng bố. Tuyên bố Al-Qaeda gần như đã bị đánh bại, các quan chức chính quyền nói giờ là lúc chuyển sang một trọng tâm mới.

Ben Rhodes nói: “Mỹ sẽ có lợi ích lớn hơn ở đâu vào năm 2020? Là châu Á – Thái Bình Dương hay Yêmen? Rõ ràng, khu vực châu Á – Thái, Bình Dương đang ngày càng trở nên quan trọng hơn . Ben Rhodes có lý, nhưng Pakixtan và vũ khí hạt nhân của họ – cũng như Yêmen và vị trí lân cận của nó đối với các mỏ dầu và đường biển tối quan trọng – nhiều khả năng vẫn sẽ ám ảnh Mỹ trong nhiều năm nữa./.

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

LIỆU NGÔI NHÀ CHÂU ÂU B CHIA RẼ CÓ TH ĐNG VỮNG?

Tài liệu tham khảo đặc biệt   -Thứ hai, ngày 19/3/2012   —-(Hugo Dixon – Tạp chí Foreign Affairs )

Theo sự hiểu biết thông thường, khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu không thể có một liên minh tiền tệ mà không có một liên minh tài chính. Những người ủng hộ nhiệt tình đồng euro coi đồng tiền chung duy nhất như là bàn đạp đầu tiên hướng tới một liên minh kinh tế rộng lớn hơn vốn vẫn là giấc mơ của họ. Những người hoài nghi về đồng euro cũng có suy nghĩ như vậy nhưng họ coi kết cục đó như một địa ngục và muốn hủy bỏ đồng tiền chung duy nhất.

Đối với nhiều nhà quan sát, cuộc khủng hoang đồng euro đã củng cố những quan niệm này. Cả hai phe tranh luận rằng những nỗ lực không cân xứng của các nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro nhằm xây dựng một liên minh tiền tệ mà không có một liên minh tài chính giải thích vì sao liên minh này đã trở thành một thứ hỗn độn kiểu như vậy. Nhiều người hăng hái ủng hộ nói rằng con đường tiến về phía trước là 17 nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro phát hành các trái phiếu ngoại lai (euro bonds) mà tất cả họ phải đứng ra bảo đảm (một trong một vài biến tấu trên chủ đề về học thuyết liên minh tiền tệ). Ngay cả Chính phủ Đức vốn miễn cưỡng phải bỏ tiền ra để bảo trợ cho các nền kinh tế yếu kém hơn nền kinh tế nước này cũng cho rằng kiểu góp vốn nhất định có thể là cần thiết một khi những vấn đề nợ nần được giải quyết.

Một liên minh tài chính sẽ không xuất hiện ngay vào bất kỳ lúc nào, và chắc chắn không đến nhanh đủ mức để giải quyết cuộc khủng hoảng hiện nay. Liên minh này cần có một hiệp ước mới và điều đó đòi hỏi một sự nhất trí đồng thuận. Thật khó tưởng tượng làm thế nào để nhanh chóng đạt được một thỏa thuận kiểu như vậy do sự phản đối quyết liệt của các chính khách và công chúng ở các nền kinh tế tương đối lành mạnh thuộc khu vực sử dụng đồng euro (dẫn đầu là Phần Lan, Đức và Hà Lan) đối với việc tiếp tục cứu trợ tài chính những nước yếu kém hơn họ (như Hy Lạp, Alien, Italia, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha). Ngoài ra, một khi cuộc khủng hoảng này được giải quyết, nhiệt tình dành cho việc thiết lập một liên minh tài chính có thể bị giảm sút. Ngay cho là Đức hiện vẫn chuẩn bị chia sẻ một số trách nhiệm về vấn đề ngân sách nước này sẽ yêu cầu áp đặt kỷ luật chặt chẽ về việc các nước khác có thể chi tiêu và vay mượn như thế nào. Trong khi đó, các nước yếu hơn có thể không muốn qui phục một sự trói tay trói chân của người Giécmanh. một khi nỗi lo ngại trước mắt về việc phá sản đã trôi qua.

Nhưng không chỉ có hai con đường ở phía trước: liên minh tiền tệ hoặc xóa bỏ đồng euro. Có một sự lựa chọn thứ ba thích hợp hơn: một kiểu ký luật thị trường kết hợp với nhiệt tình mạnh mẽ. Theo giải pháp này, cá nhân mỗi nước sẽ phải có trách nhiệm tối đa đối với nền tài chính của những nước đó nhưng họ cũng cần phải chấp nhận mạnh mẽ hơn thị trường tự do. Các chính phủ đã vay mượn quá nhiều tiền sẽ phải được tự do phá sản. Cũng cần có những sự cứu trợ tài chính hạn chế dành cho các chính phủ và ngân hàng ít gặp rắc rối hơn, mặc dù đổi lại phải tiến hành công cuộc cải cách kinh tế và việc thắt lưng buộc bụng. Kết quả dẫn đến sẽ là các nền kinh tế thích hợp hơn và một châu Âu có đủ sức mạnh để đóng một vai trò lớn hơn trên vũ đài thế giới.

Khi bài báo này được đăng, cuộc khủng hoảng ở khu vực sử dụng đồng euro đã ở trong giai đoạn đặc biệt gay gắt. Các thị trường ở trong tình trạng rất lo ngại, việc cứu trợ cả gói mới đây nhất cho Hy Lạp cũng vấp phải khó khăn, và hầu hết khu vực này đã mấp mé ở bên bờ vực của suy thoái. Tây Ban Nha đang ở giữa chiến dịch tổng tuyển cử, và Chính phủ của Silvio Berlusconi ở Italia đã để mất chính quyền. Tuy nhiên, giữa sự hỗn độn, đã có những dấu hiệu cho thấy khu vực sử dụng đồng euro có thể luẩn quấn vụng về tiến tới một cái gì đó giống như sự lựa chọn quy tắc thị trường cộng thêm nhiệt tình mạnh mẽ để giải quyết những cuộc khủng hoảng trước mắt. Khu vực này cũng cần phải chấp nhận nó như một mô hình dài hạn.

Sự chia rẽ

về lý thuyết, một đồng tiền chung có nhiều lợi thế đối với thị trường chung duy nhất của Liên minh châu Âu, trong đó cũng bao gồm các nước, chẳng hạn như Liên hiệp Vương quốc Anh, đã quyết định đứng ngoài khu vực sử dụng đồng euro. Khi người dân không lo ngại về những đồng tiền bị thay đổi thất thường, họ có thể làm ăn kinh doanh xuyên biên giới dễ dàng hơn, tham gia đầu tư dài hạn ở bất kỳ đâu trên thị trường này đồng thời xây dựng các hãng kinh doanh xuyên quốc gia. Khả năng khai thác các nền kinh tể có quy mô và cơ hội để cạnh tranh trên khắp lục địa là những phần thưởng đáng giá.

Nhưng cũng có một bất lợi lớn: các nước riêng biệt đã để tuột mất khả năng làm cho các chính sách tiền tệ của họ thích ứng với những nhu câu đặc biệt của họ bằng việc định ra các tỉ lệ lãi suất riêng của họ. Thay cho việc này, Ngân hàng Trung ương châu Âu đã định ra các lãi suất, và đây là cả một vấn đề vì các nền kinh tế khác nhau đang chuyển động với những tốc độ khác nhau. Ví dụ như các lãi suất thấp trên khắp khu vực sử dụng đồng euro trong những năm sát năm 2007 đã thổi phồng bong bóng nhà ở xảy ra sau đó ở Tây Ban Nha.

Liệu những lợi ích của việc có một đồng tiền chung duy nhất có lớn hơn những chi phí để có được đồng tiền này hay không phụ thuộc chủ yếu vào ba nhân tố: nét tương tự giữa các nền kinh tế được bảo vệ bởi chính sách tiền tệ chung duy nhất, sự linh hoạt của chúng và việc duy trì một ngân sách trung ương lớn có thể được sử dụng để chuyển tiền từ những khu vực phát đạt sang những khu vực đang phải vật lộn để phát triển. Các nền kinh tế với những cơ cấu và chu kỳ tương tự cảm thấy dễ dàng hơn trong việc chung sống với một chính sách tiền tệ một cỡ vừa cho tất cả . Thậm chí các nền kinh tế khác hiệt có thể đối phó với một đồng tiền chung duy nhất chừng nào mà họ vẫn có khả năng thích ứng – cụ thể là chừng nào mà các doanh nghiệp của họ có thể đễ dàng thuê và sa thải nhân viên và người dân sẵn sàng vượt biên giới để tìm kiếm việc làm.

Khu vực sử dụng đồng euro không thể nổi lên một cách tốt đẹp bằng bất kỳ giải pháp nào trong số những giải pháp này, đặc biệt khi so sánh với Mỹ. Các nền kinh tế châu Âu hiện đa dạng, các thị trường lao động của khu vực này bị bao vây bởi những hạn chế phức tạp, và châu Âu chỉ có một ngân sách trung ương nhỏ mà nhờ đó có thể giúp các khu vực đang vấp phải khó khăn. Đây là lý do vì sao những người nhiệt tình ủng hộ đồng euro cũng như những người còn hoài nghi về đồng tiền này – từ Jacques Delors, cựu Chủ tịch Ủy ban châu Âu và là một trong những kiến trúc sư chủ đạo của việc dưa ra đồng tiền chung duy nhất, cho tới Boris Johnson, thị trưởng Luân Đôn lập luận rằng một liên minh tài chính là cần thiết để bôi trơn những bánh xe của liên minh tiền tệ.

Tăng thêm nnần

Nhưng có một cách sống khác trong những sự kiềm chế của một chinh sách tiền tệ một cỡ vừa cho tất cả : củng cố các nước thành viên yếu kém hơn của châu Âu, đặc biệt bằng việc làm cho các nền kinh tế của họ trở nên linh hoạt hơn. Trước khi đồng tiền chung duy nhất được đưa ra vào năm 1999, các chính phủ không có động cơ thực thi những cải cách cứng rắn cần thiết để làm cho điều đó xảy ra. Bất kỳ khi nào các nước như Hy Lạp hoặc Italia thấy họ trở nên không có khả năng cạnh tranh, các chính phủ của họ lại phá phá các đồng tiền của nước họ. Sau khi liên minh tiền tệ được thiết lập, các nền kinh tế không đạt tiêu chuẩn cần thiết của khu vực sử dụng đồng euro đã tìm thấy một lối thoát khác: họ đã đi vay mượn tiền. Việc này cho phép các chính phủ đó tài trợ những mức chi phí cao mà không cần tăng thuế. Nhưng khi các nền kinh tế này trở nên yếu kém hơn, sự cạnh tranh của họ đã bị giảm sút.

Nhiều nước cũng đã bị chồng chất nợ nần, gieo hạt cho cuộc khủng hoảng nợ hiện nay. Theo Hiệp ước Maastricht, hiệp ước đã mở ra tiến trình thiết lập liên minh tiền tệ, các chính phủ được cho là không vấp phải nợ nần tương đương trên 60% của GDP, nhưng tất cả các nền kinh tế chủ yếu của khu vực sử dụng đồng euro đã vượt đáng kể mức đó. Sau khi nền kinh tế thể giới trở nên trì trệ vào đầu thế kỷ này, các nước được coi là có đạo đức, chẳng hạn như Pháp và Đức, đã bắt đầu các nguyên tắc coi thường nhằm hạn chế mức thâm hụt ngân sách. Rồi sau đó không có cơ hội để làm cho những nước khác tuân theo kỷ luật. Năm ngoái, các tỉ lệ nợ so với GDP của Pháp và Đức đã vượt quá 80%; tỉ lệ trên của Italia lên tới 119% và của Hy Lạp là 143%.

Nợ nần tăng không chỉ vì các chính phủ đã phá vỡ luật lệ; Nợ nần tăng do các chính phũ đã tìm cách thuyết phục các nhà đầu tư, đặc biệt là các ngân hàng và các công ty bảo hiểm, cho họ vay tiền. Bắt đầu từ đầu năm 2010, các nhà dầu tư cuối cùng đã ngừng tài trợ cho Hy Lạp; sau đó, họ đã ngừng tài trợ cho Ailen và Bồ Đào Nha. Nhưng tác động của trái phiếu này đã phải mất một thời gian dài đáng sợ mới xuất hiện. Thất bại của thị trường trong việc đưa các chính phủ di vào kỷ luật sớm hơn chủ yếu là do hậu quả của chính bản thân của các chính phủ đó. Họ đã lợi dụng quan điểm rộng rãi cho rằng các nước châu Âu không thể bị vỡ nợ. Việc này đã được củng cố theo cách các ngân hàng đã và vẫn đang được chấn chỉnh. Cái gọi là những luật lệ Basel, những khuyến nghị về các quy định của ngân hàng do các giám đốc Ngân hàng Trung ương của các nước thuộc nhóm G-20 và những nước khác đưa ra, cho rằng các trái phiếu của chính phủ là những tài sản không chịu rủi ro và vì vậy các ngân hàng không phải giữ bất kỳ nguồn vốn nào khi họ đầu tư vào chúng. Chẳng có gì ngạc nhiên, các ngân hàng đã đầu tư vào trái phiếu, với hậu quả dẫn đến là các vấn đề nợ chính phủ cũng đã ảnh hưởng đến các ngân hàng đó. Ngoài ra, cả trước và sau khi hàng Lehman Brothers bị phá sản hồi tháng 9/2008, các Ngân hàng Trung ương ở cả hai hên bờ Đại Tây Dương đã làm tràn ngập thế giới bằng loại tiền được đem bán với  giá rẻ, bóp méo các thị trường tiền tệ và tạo điều kiện dễ dàng cho các chính phủ mắc thêm nợ nần, Chính là sự phá vỡ luật lệ có chủ tâm của các chính phủ cũng như sự lũng đoạn thị trường của họ nhằm ủng hộ các trái phiếu của chính phủ, chứ không phải việc thiếu một liên minh tài chính, đã dẫn đến các cuộc khủng hoảng hiện nay.

 

Sự lệ thuộc đồng euro

Tuy nhiên, việc này không ngăn cản các nền kinh tế yếu kém của châu Âu kêu gọi việc thiết lập một liên minh tài chính. Hoàn toàn ngược lại: họ đang tìm kiếm một cách khác để tiếp tục sống theo kiểu vung tay quá trán. George Papandreou, Thủ tướng Hy Lạp, và Giulio Tremonti, Bộ trưởng Tài chính Italia, muốn các nước của họ có khả năng phát hành các trái phiếu euro bonds. Người ta có thể thấy sự hấp dẫn: các trái phiếu trên sẽ bảo vệ những nước yếu kém tránh khỏi kỷ luật của thị trường bằng việc báo hiệu cho các nhà đầu tư rằng Đức và những nước thích hợp khác cuối cùng sẽ thanh toán hóa đơn nếu Hy Lạp và Italia bị vỡ nợ. Nhưng theo quan điểm của các nước mạnh, việc cho phép phát hành các trái phiếu bonds euro sẽ cấp giấy phép cho các nền kinh tế yếu kém chi tiêu hoang phí, trừ phi nó được thực thi theo cách được kiểm soát rất chặt chẽ. Ngoài ra, sự cần thiết phải gánh nợ cho toàn thể các nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro cuối cùng có thể cũng làm kiệt sức các nước có nền kinh tế mạnh.

Một vài cách diễn giải ý tưởng này được cho là dễ chấp nhận hơn đã được đưa ra. Một báo cáo do tổ chức tư vấn Bruegel có trụ sở tại Brúcxen công bố đề nghị giới hạn các trái phiếu bonds euro ở mức 60% GDP của mỗi nước. Trở ngại bất ngờ là các nước gặp khó khăn hiện có khoản nợ trên mức đó, điều đặt ra câu hỏi họ sẽ phải tự tài trợ như thế nào. Đây là lý do mà George Soros và các chuyên gia giỏi khác về thị trường đã biện luận ủng hộ một con số cao hơn nhiều.

Đức, nước trang trải chủ yếu của khu vực sử dụng đồng euro, sẵn sàng ủng hộ ý tưởng thiết lập một liên minh tài chính, nhưng chỉ sau một tiến trình hợp nhất lâu dài một khi cuộc khủng hoảng này được giải quyết. Nước này cũng đòi đưa ra những luật lệ mới rõ ràng hạn chế khoản tiền mà cá nhân các nước có thể vay mượn đồng thời bắt các nưóc vi phạm những luật lệ trên phải chịu phạt. Trong khi đó, Mark Rutte, Thủ tướng Hà Lan, đã đề nghị thiết lập chức người phụ trách ngân sách Ủy ban châu Âu để kiểm soát các luật lệ này.

Nếu các nước tiếp tục coi thường những luật lệ trên, người phụ trách này sẽ có quyền nói cho họ cách điều hành các nền kinh tế của họ, chẳng hạn như bảo họ tăng thuế. Nếu họ không làm theo những gì mà họ đã được chỉ dẫn, họ sẽ phải từ bỏ đồng tiền chung duy nhất.

Nhưng tất cả điều này – nếu có – vẫn còn là xa vời trong tương lai. Cho đến nay, việc xử lý cuộc khủng hoảng hiện tại bao gồm các khoản cứu trợ kinh tế đối với từng trường hợp một. Để đổi lại việc được vay tiền với lãi suất thấp từ các quĩ chiến tranh châu Âu khác nhau cũng như từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế, các nước gặp khó khăn đã phải cải cách các nền kinh tế cũng như giảm bớt việc vay mượn của họ. Những khoản cứu trợ này bao gồm số tiền viện trợ từ các nước mạnh về mặt tài chính chuyển cho các nước yếu kém hơn, nhưng không nhiều như nó vẫn thường diễn ra trong một liên minh tài chính chính thức.

Do các điều kiện thị trường xấu đi và có thêm nhiều nước bị cuốn vào cơn lốc sụp đổ kinh tế, việc cứu trợ tài chính này đã diễn ra theo một vài phương thức khác nhau. 17 nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro vấp phải khó khăn trong việc nhất trí sẽ phải làm những gì, dẫn đến những rác rối trong việc đưa ra chính sách, điều làm suy yếu dần niềm tin của nhà đầu tư và gây ra những khó khăn kinh tế không cần thiết.

Tuy nhiên, mặc dù có những khiếm khuyết của nó, chính sách trên đã có một vài thành công. Các chính phủ châu Âu yếu hơn đã buộc phải tiến hành công cuộc cải cách mà họ đă né tránh trong hàng thập kỷ. Họ đang mở rộng tự do các thị trường lao động của họ, trừ tận gốc việc trốn thuế, tăng độ tuổi về hưu còn quá thấp, giảm bớt tệ quan liêu, tư nhân hóa các ngành công ngbiệp và mở ra các ngành công nghiệp cần có sự phối hợp giữa các bên, chẳng hạn như trong lĩnh vực dược và các dịch vụ tắcxi. Điều này đang diễn ra không chỉ ở Hy Lạp, Ailen và Bồ Đào Nha, ba nước đã được nhận các khoản cứu trợ tài chính. Italia và Tây Ban Nha cũng đã chấp nhận các chế độ thích hợp riêng của họ, mặc dù vẫn còn do dự. Nếu các nước này có đủ khả năng phát hành trái phiếu euro bonds, họ sẽ không có động cơ để phát triển.

Quyền tự do phá sản

Mặc dù vậy, việc giải quyết cuộc khủng hoảng hiện nay vẫn là phiến điện xét theo một mặt quan trọng. ít nhất, vào lúc bài báo này được đăng trên báo chí, không một nước vỡ nợ nào được phép công bố phá sản. Các khoản nợ của Hy Lạp đã tăng liên tục và thoát khỏi tầm kiểm soát vào thời diểm đó,

nhưng kế hoạch cứu trợ tài chính được đặt ra cho nước này tại hội nghị cấp cao các nước châu Âu diễn ra hồi tháng 7/2011 đã khuyến khích các ngân hàng cho nước này vay tiền để thoát khỏi nợ nần hoặc gia hạn thời hạn thanh toán nợ của họ. Đó là cả một chặng đường dài kể từ khi cải cách cơ cấu nợ nần theo đúng cách, việc sẽ làm cho Aten có mức nợ thấp hơn, mức mà người ta có thể hỗ trợ nó một cách thực tế.

Các công ty và cá nhân trên khắp thế giới cơ cấu lại các khoản nợ của họ. Các chính phủ ngoài châu Âu bị vỡ nợ. Tại sao các nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro lại cần phải được miễn khỏi phá sản? Dĩ nhiên phá sản cũng chẳng tốt đẹp gì. Những người cho vay bị mất tiền; những người đi vay có thể bị tẩy chay trong nhiều năm hoặc phải trang trải nợ nần với lãi suất cao hơn. Nhưng đây là những gì cần phải như vậy. Giống như các nhà đầu tư cho vay một cách không khôn ngoan, các chính phủ vay mượn quá nhiều sẽ không thể rũ nợ mà không bị trừng phạt. Nếu họ không cảm nhận bất kỳ một sự nhức nhối nào, họ sẽ mắc lại chính những sai lầm đó. Quả thực, nỗi lo bị đẩy vào tình trạng phá sản có thể ngăn các chính phủ trước tiên không được vay mượn quá mức. Giải pháp vỡ nợ tài chính theo cách có thể kiểm soát được phải là một phần của đường hướng xử lý khủng hoảng hiện nay đối với các chính phủ thực sự không trang trải được các khoản nợ của họ: chắc chắn đó là Hy Lạp và cũng có thể là Ailen và Bồ Đào Nha.

Tuy nhiên, hầu hết các nhà hoạch định chính sách châu Âu cho đến nay coi vỡ nợ như một việc đáng nguyền rủa vì họ lo ngại đến ảnh hưởng xấu của nó. Nếu Hy Lạp bị vỡ nợ, các ngân hàng cho nước này vay tiền có thể cũng bị phá sản. Thị trường có thể đi đến kết luận rằng các chính phủ yếu kém khác cũng sẽ vỡ nợ, gây khó khăn cho họ trong việc vay tiền. Một vài nhà hoạch định chính sách hiện lo ngại rằng tình trạng hỗn loạn bị thả lỏng sẽ giống như, hoặc thậm chí tồi tệ hơn, tình trạng hỗn loạn đã diễn ra sau vụ phá sản của hãng Lehman Brothers. Vào thời điểm bài báo này được đăng, quả thực đã có dấu hiệu cho thấy cuộc khủng hoảng này đang lan sang Italia: chính phủ nước này đang cảm thấy ngày càng tốn kém khi phải vay tiền trên thị trường trái phiếu.

Nhưng bài học về sự sụp đổ của hãng Lehman không có nghĩa là các ngân hàng hoặc các chính phủ sẽ không bao giờ được phép phá sản. Bài học là vỡ nợ cần được kiểm soát và những ai bị đặt vào tình thế có thể bị lây nhiễm cần phải chuẩn bị cho điều đó. Tuy nhiên, khu vực sử dụng đồng euro dường như vẫn chưa rút ra được bài học từ vụ việc này. Các ngân hàng có nhiều trái phiếu chính phủ mới chỉ bị thúc đẩy trong việc cân đối các bản quyết toán của họ. Trong khi Mỹ và Anh đã chỉ đạo các cuộc thử nghiệm căng thẳng khắt khe đối với các ngân hàng của họ từ đầu năm 2009, châu Âu mới chỉ thực hiện được 3 vụ xem xét lại khá chậm chạp trong hai năm qua. Ngay cả việc xem xét lại gần đây nhất diễn ra vào tháng 7/2011 cũng không đưa ra được mô hình cho việc vỡ nợ có thể xay ra ở Hy Lạp. Trong khi đó, các chính phủ dễ bị lây nhiễm tỏ ra chậm chạp trong việc giảm các khoản nợ ngân sách và lự do hóa các nền kinh tế của họ. Ví dụ như Berlusconi, đã hành động giống như một Nero ngày nay, rong chơi nhàn rỗi trong khi thành La Mã bốc cháy. Ngay cả Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy cho đến gần đây đã xử sự như thể Pháp đã sống trong một thế giới đầy quyến rũ nơi mà việc vay mượn là đặc ân của nước này.

Nhưng vẫn còn chưa quá muộn để đặt trở lại giải pháp vỡ nợ có kiểm soát lên bàn. Do những sai lầm chính sách mà Pháp và Đức hiện chịu trách nhiệm – từ việc coi thường những luật lệ về mức thâm hụt đầu tiên cho dến việc cản đường quá trình tái cơ cấu đầy nhạy cảm về khoản nợ của Hy Lạp – họ cần ít nhiều gánh chịu hậu quả. Và họ sẽ như vậy, dưới hình thức chỉ thu lãi suất thấp đối với khoản tiền mà họ đã cho các nền kinh tế đang gặp khó khăn vay và dưới hình thức huy động thêm vốn mà họ có thể cần phải đổ vào các ngân hàng của chính họ để trang trải cho chi phí của những khoản cho vay khó đòi mà nước này đã dành cho Hy Lạp và có thể cho cả các nước khác. Việc này sẽ tiêu tốn một khoản tiền lớn, nhưng còn ít hơn việc đổ thêm những khoản tiền có thể đòi được sau những khoản tiền khó đòi để tránh vỡ nợ. Và việc này chắc chắn sẽ ít tốn kém hơn việc thiết lập một liên minh tài chính chính thức.

Th chế cho vay cuối cùng

Một phần của nghệ thuật xử lý một cuộc khủng hoảng tài chính là phân biệt các thể chế không có khả năng trả được nợ với các thể chế đơn thuần không dễ dàng trả được nợ. Các khoản nợ của các thể chế vỡ nợ cần được cơ cấu lại, trong khi các thể chế khó trả được nợ cần được nhận tài trợ. Giống như một nước với đồng tiền riêng của mình, khu vực sử dụng đồng euro cần có một thể chế cho vay cuối cùng. Tuy nhiên, điều then chốt sẽ là phái bảo đảm rằng nó không trở thành thể chế cho vay đầu tiên, vì điều đó sẽ xóa bỏ sự khích lệ các nhà nước và các ngân hàng trong việc giải quyết có trách nhiệm các công việc của chính họ.

Sau khi bước vào kiểm soát tín dụng năm 2007 mà không có một kế hoạch được suy tính kỹ một cách thích đáng về việc một thể chế cho vay cuối cùng sẽ hoạt động ra sao, khu vực sử dụng đồng euro đã đưa ra một chính sách không thực tế. Ngân hàng Trung ương châu Âu đã đổ tiền mặt cho các ngân hàng kể từ khi phải chịu tác động của cuộc khủng hoảng, nhưng việc này thực sự cần được thực thi kết hợp với việc giám sát hợp nhất ngân hàng trên khắp khu vực sử dụng đồng euro. Thay vào đó, quy định là vụn vặn và trong một chừng mực nhất định đang tiếp tục như vậy, Ngân hàng Trung ương châu Âu cũng đã giúp tài trợ các chính phủ gặp khó khăn – trước tiên là Hy Lạp, Ailen và Bồ Đào Nha; sau đó là Italia và Tây Ban Nha – bằng việc mua các ngân phiếu của họ. Ngân hàng trên hy vọng rằng việc này sẽ làm tăng giá trị các trái phiếu và tạo điều kiện dễ dàng hơn để các chính phủ phát hành các trái phiếu mới. (Do các trái phiếu được mua trên thị trường, việc này không hoàn toàn giống như việc chuyển cho các chính phủ tiền mặt.)

Tuy nhiên, Ngân hàng Trung ương châu Âu đã tỏ ra khó chịu với vai trò này, vì ngân hàng không tin rằng các chính phủ cần in tiền để giảm bớt những khoản thâm hụt của họ. Vì vậy, các nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro đã đi đến quyết định tại hội nghị cấp cao diễn ra trong tháng 7/2011 rằng nhiệm vụ này cần phải chuyển cho quỹ Tạo điều kiện ổn định về tài chính (EFSF) một quỹ đen mới được thành lập để giúp xử lý khủng hoảng. Đồng thời, họ đã nhất trí mở rộng khuôn khổ của tố chức này, trao quyền cho tổ chức đó cấp tiền cho các ngân hàng không có đủ tiền mặt cũng như mở các đường dây tín dụng khẩn cấp cho các chính phủ hiện không nằm trong các chương trình cứu trợ tài chính chính thức.

Nhưng việc này không kết thúc cuộc tranh luận về chính sách nào là tốt nhất. Willem Buiter, nhà kinh tế trưởng của tổ chức Citigroup, trong số những nhân vật khác, đã lập luận rằng bất chấp khoản tiền mở rộng lên tới 440 tỉ euro, EFSF hiện vẫn còn quá nhỏ để giải quyết các trường hợp cứu trợ tài chính đầy đủ cho của Italia và Tây Ban Nha. Mặc dù việc này là sự thực, thể chế cho vay cuối cùng dẫu sao không nên được sử dụng như một chỗ dựa lâu đài. Italia và Tây Ban Nha có thể giải quyết các vấn đề của chính họ nếu họ có ý chí chính trị để thắt lưng buộc bụng. Việc cứu trợ đầy đủ sẽ trở nên cần thiết chỉ nếu như họ lẩn tránh trách nhiệm đó.

EFSF sẽ được thay thế vào giữa năm 2013 bởi một quỹ cứu trợ tài chính mới được gọi là Cơ chế ổn định châu Âu (ESM), một phương tiện lâu dài. Ở một khía cạnh quan trọng, ESM sẽ tốt hơn EFSF; nó sẽ được yêu cầu phân biệt các chính phủ không có khả năng trả nợ với các chính phủ không dễ dàng trả được nợ khi quyết định cho vay mượn. Trong trường hợp các chính phủ không có khả năng trả nợ, khoản nợ đó ,các chủ nợ thuộc khu vực tư nhân nắm giữ sẽ phải được cơ cấu lại để có thể kéo dài các khoản nợ của chính phủ. Điều tồi tệ là cơ chế này sẽ không có hiệu lực gần hai năm nữa.

Cách thứ ba

Do những phức tạp này, nhiều người hoài nghi đồng euro cho rằng sẽ là điều tốt hơn để từ bò hoàn toàn dự án đồng euro. Nhưng đây là một ỷ tưởng tồi tệ. Liên minh tiền tệ có thể đã phát triển quá sớm, nhưng không ai làm theo cách cho thuốc đánh răng trở lại tuýp thuốc đánh răng. Ví dụ như nếu Atens một lúc nào đó quyết định lại đưa đồng đrácma trở lại sử dụng, người dân sẽ nhanh chóng rút đồng euro của họ ra khỏi các ngân hàng Hy Lạp, làm cho hệ thống tài chính của nước này sụp đổ thậm chí ngay cả trước khi đồng tiền mới được tạo ra. Những người gửi tiền ở các nước yếu kém khác sau đó sẽ rút tiền của họ ra khỏi các ngân hàng của những nước đó, gây ra một chuỗi sụp đổ và một sự suy thoái sâu sắc. Còn có một giải pháp khác: kỷ luật thị trường cộng thêm nhiệt tình mạnh mẽ. Viên thuốc này sẽ khó nuốt, nhưng cuối cùng nó sẽ dẫn đến một châu Âu lành mạnh hơn.

*

*       *

TTXVN (Luân Đôn 12/3)

Nhật Bản đã vượt qua được một thập k chịu nhiều thiệt thòi, mt mát trong những năm 1990 sau khi tình trạng bùng n bong bóng thị trường nhà đất bùng nổ ở nước này. Nhưng Tony Barber, phụ trách mng châu Âu của tờ Thời báo tài chính cho rằng châu Âu không được chuẩn bị tốt như vậy đ chống đỡ với những năm kinh tế tăng trưởng bng không. Bài phân tích của tác giả được Viện Hoàng gia Nghiên cứu các Vn đề Quốc tế (Chatham House có trụ sở tại Luân Đôn) đăng trên mục Thế giới ngày nay s tháng 2/2012.

Ngay cả trước khi ngành tài chính và cuộc khủng hoảng nợ công bắt đầu làm mất ổn định hệ thống ngân hàng của châu Âu, các nhà lãnh đạo châu lục này đã bày tỏ lo ngại rằng Thế giới Cũ có thể sẽ gặp phải những vấn đề đang diễn ra trên toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, trì trệ về nhân khẩu học, quân sự yếu đi, suy giảm tài nguyên thiên nhiên và sự nổi lên của các cường quốc không phải ở châu Âu đe dọa một tương lai ảm đạm do sự suy giảm không thể đảo ngược gây ra, Ông Herman Van Rompuy, trong bài phát biểu nhậm chức Chủ tịch Liên minh châu Âu năm 2009 đã nói: Những gì đang bị đe dọa là sự tồn tại của những thành quả đã được dày công xây dựng nên. ít nhất chúng ta phải tăng gấp đôi tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hiện đang ơ mức thấp 1% Một nền kinh tế mạnh là cần thiết để chúng ta không những có thể đóng vai trò quan trọng trên thế giới, mà trên tất cả, còn bảo vệ an toàn những thành tựu của chuẩn mực cuộc sống châu Âu. Có thể nói rằng tình hình hiện nay còn đen tối hơn những gì Van Rompuy đã miêu tả cách đây hai năm. Do cuộc khủng hoảng tài chính, châu Âu đang trên bờ vực của một thập kỷ mất mát tương tự những gi mà Nhật Bản đã trải qua trong những năm 1990 và ở một số lĩnh vực nhât định hiện vẫn còn chưa kết thúc. Các nước châu Âu hầu hết chỉ đạt tăng trưởng kinh tế thấp hoặc tăng trưởng âm. Nền tài chính của nhiều nước đang bị suy yếu nghiêm trọng và sẽ phải mất nhiều năm mới có thẻ phục hồi. Các ngân hàng gặp nguy hiểm trước khả năng khu vực đồng tiền chung châu Âu bị tan vỡ. Hơn thế nữa, ngay cả nếu liên minh tiền tệ sống sót được qua cơn khủng hoảng thì các quốc gia châu Âu vẫn phải đối mặt với vấn đề mà Van Rompuy đã chỉ ra: chi phí quá cao nhưng thiếu bền vững cho các dịch vụ công một cách hào phóng cho các công dân. Thiếu một sự tăng trưởng kinh tế đột biến mà hoàn toàn không thể xảy ra từ nay đến năm 2020, hàng triệu người dân châu Âu phải đối mặt với một thập kỷ đình trệ hoặc suy giảm mức sống, giảm các phúc lợi và kéo dài tuổi lao động – nếu họ còn có thể có công ăn việc làm.

Một thập kỷ mất mát ở châu Âu sẽ không hoàn toàn giống như những gì đã diễn ra ở Nhật Bản. Tính đồng nhất trong xã hội Nhật Bản tương phản với sự đa dạng về tôn giáo, quốc gia và dân tộc của các nước châu Âu, một điều kiện làm tăng nguy cơ căng thẳng xã hội và văn hóa. Quan trọng không kém, tỷ lệ thất nghiệp ở Nhật Bản dù ở mức cao nhất nhưng cũng chưa bao giờ vượt quá 5,5% lực lượng lao động – một mức mà hầu hết các nước châu Âu coi là mức thấp đáng mong ước.

Tuy nhiên, thất nghiệp cao là một đặc tính để xác định một thập kỷ mất mát của châu Âu. Hãy nhìn vào Tây Ban Nha, nơi Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) dự đoán rằng tỷ lệ thất nghiệp, hiện nay đang chiếm hơn 20% lực lượng lao động, sẽ không giảm xuống 16% cho đến năm 2016. Điều đó không phải chỉ do những việc làm được tạo ra trong thời kỳ bùng nổ bong bóng xây dựng và bất động sản của Tây Ban Nha nay đã biến mất. Trong một thập kỷ tới, vấn đề nghiêm trọng hơn sẽ là việc những người nội bộ hưởng đặc quyền đặc lợi giữ chặt những việc làm trong lĩnh vực tư nhân được trả lương cao và lâu dài. Nếu không có cải cách mở ra phân khúc này của thị trường lao động, thì Tây Ban Nha – và các nước khác như Pháp, Hy Lạp và Italia – sẽ có số lượng rất lớn sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng lại không có khả năng kiếm được việc làm.

Các mức độ ảnh hưởng sẽ khác nhau ở từng nước. Ví dụ ơ Ailen, tính đến tháng 4/2011 có khoảng 40.000 người đã di cư chủ yếu đến nhiều nước nói tiếng Anh. Hy Lạp sẽ có thể phải chứng kiến tình trạng mất ổn định chính trị, bất ộn lao động và biểu tình đường phố, đôi khi biến thành bạo lực giữa các phần tử cực đoan và cảnh sát. Nếu Hy Lạp ra khỏi khu vực đồng euro, có thể còn nhiều vấn đề khác nữa xảy ra, kích hoạt bằng việc các ngân hàng bị đóng cửa, đồng tiền mới sẽ nhanh chóng bị mất giá so với đồng euro, lạm phát tăng và lan tràn các hoạt động của thị trường chợ đen.

Còn ở các nước Trung và Đông Âu, các băng nhóm tội phạm có tổ chức có quyền lực lớn có thể có nhiều ảnh hưởng hơn đối với các đảng phái chính trị và nhà nước. Một vài băng đảng trong số này, đặc biệt có mối quan hệ với những ngành trong lĩnh vực năng lượng và cung cấp nguyên liệu thô, sẽ liên kết với các khách hàng quen ở Nga, Ucraina và ở nước ngoài.

Trên khắp châu Âu, các phong trào chính trị dân túy và bài ngoại sẽ tìm cách khai thác các mối lo ngại của một thập kỷ mất mát . Họ sẽ khuyến khích công dân đổ lỗi cho người nhập cư đã gây ra tình trạng thiếu việc làm, gây áp lực về tiền lương, tội phạm gia tăng và tăng cạnh tranh để nhận được chế độ phúc lợi của nhà nước. Người Hồi giáo ở Bắc Phi, Trung Đông và châu Á sẽ là các mục tiêu ở Bỉ, Pháp, Đức và một số nước ở vùng Scandinavia. Ở Italia, sự oán giận người nhập cư Trung Quốc bất hợp pháp sẽ tăng cao Sẽ có nhiều phản kháng căng thẳng hơn của dân chúng đối với lượng người nhập cư trên qui mô lớn vốn cần để bù đắp cho tỷ lệ sinh thấp ở châu Âu và ngăn chặn lực lượng lao động không bị co hẹp lại, Việc nhập cư, kể cả hợp pháp và bất hợp pháp, đều sẽ tiếp tục diễn ra, nhưng hầu hết đều bao gồm những lao động không có chuyên môn và bán chuyên môn hơn là những kỹ sư và các kỹ thuật viên máy tính được đào tạo mà nền kinh tế châu Âu cần đến.

Trong suốt thập kỷ này, áp lực về ngân sách cho hệ thống y tế, hưu trí và giáo dục sẽ ngày càng gia tăng khủng khiếp. Một số nhóm xã hội nhất định sẽ dễ bị rơi vào vòng nghèo khổ, bạo lực hình sự, và các bệnh truyền nhiễm. Các quỹ hưu trí mất đi do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng của các thị trường tài chính, sẽ cắt giảm các lợi ích của những người công nhân trẻ trong tương lai, kích động một cuộc xung đột thế hệ với những người lớn tuổi hơn. Bất bình đăng thu nhập gia tăng, bởi vì người giàu thì càng giàu và người nghèo thì nghèo đi, sự không tương xứng sẽ ảnh hưởng đến phụ nữ và thanh thiếu niên. Các trường đại học và trường phổ thông của nhà nước sẽ có chất lượng giáo dục thấp hơn.

Một thập kỷ mất mát sẽ không phá hủy toàn bộ chuẩn mực dời sống châu Âu hay chất lượng tinh tế của nó, nhưng nó sẽ làm suy yêu hình ảnh của châu Âu là nơi có cuộc sống tuyệt vời của thế giới. Và lần đầu tiên trong nhiều năm qua, đời sống của người dân châu Âu sẽ tồi tệ hơn rất nhiều so với cha mẹ họ./.

Thiên đường trên mặt đất”: Bắc Triều Tiên

Nguồn: thuymyrfi.blogspot.com/Boxitvn

Eunsun Kim: Mười hai năm trong địa ngục Bắc Triều Tiên

clip_image001

Eunsun Kim

(Paris Match) Cha bị chết đói, Eunsun Kim cùng với mẹ và chị đã chịu đựng bao gian nan khốn đốn để trốn khỏi chế độ của Kim Jong Il. Trong cuốn sách “Bắc Triều Tiên, chín năm để trốn khỏi địa ngục” vừa được nhà xuất bản Pháp Michel Lafont phát hành tuần qua, cô gái 26 tuổi này đã kể lại cuộc sống ở Bắc Triều Tiên cũng như sau khi đào thoát. Sau đây là lược dịch bài trả lời phỏng vấn Eunsun Kim của tuần báo Paris Match.

Paris Match: Cô có nghĩ rằng cuộc sống khốn khổ mà cô đã trải qua trong thập niên 90 đến nay vẫn còn kéo dài, và tại Bắc Triều Tiên người dân vẫn tiếp tục chết đói?

Eunsun Kim: Không còn là các trận đói khủng khiếp đã sát hại nhiều trăm ngàn người trong đó có ba tôi, nhưng, vâng, tình trạng bần cùng vẫn kéo dài tại Bắc Triều Tiên. Ngày nay có ít người chết đói hơn, vì những người yếu sức nhất đều đã chết hết cả rồi. Hơn nữa, việc cung ứng thực phẩm từ phía Trung Quốc đã được cải thiện.

Do chế độ không còn khả năng nuôi nổi dân chúng, nên mỗi người phải tự bươn chải, đặc biệt là ở chợ đen. Những khó khăn kinh tế vẫn tiếp diễn, nhiều người sống rất thiếu thốn. Khủng hoảng không chỉ dẫn đến nạn đói kém, mà còn làm giảm đi các giá trị. Đó là việc mạnh ai nấy sống. Một người tị nạn vừa mới đến được Seoul cho tôi biết là một số thanh niên nay đã tìm đến với ma túy, hay là chọn đó làm nghề nghiệp, như là tương lai duy nhất. Khi biết được điều này tôi thực sự nản lòng.

Tại sao không có ai nổi dậy cả?

Cần phải hiểu rằng chúng tôi đã bị tẩy não từ khi còn bé, các lãnh tụ họ Kim được giới thiệu như là các ân nhân của dân chúng. Lúc mới sinh ra thì không có ai ngu ngốc cả, nhưng do bị tuyên truyền dồn dập, người ta mới trở thành ngu, vì không được biết gì về thế giới bên ngoài! Ở Bắc Triều Tiên, chúng tôi không hề biết được tự do nghĩa là gì, còn nhân quyền thì lại càng khó hình dung được. Đó là một cái vòng lẩn quẩn, vẫn tiếp tục diễn ra với thế hệ thứ ba của họ nhà Kim.

clip_image002

Sinh viên BTT tị nạn tại Hàn Quốc biểu tình ngày 21/2/12 đòi TQ không trả người tị nạn về nước. Các thanh niên biểu tình đều đeo khẩu trang để tránh bị nhận diện, liên lụy đến người thân còn sống tại BTT.

Người dân có thể truy cập internet không?

Internet được dành riêng cho các cán bộ cấp cao của chế độ, những người này thì họ biết được những gì đang diễn ra ở thế giới bên ngoài. Điện thoại di động đã xuất hiện từ vài năm qua, nhưng bị hạn chế ở các cuộc gọi nội hạt. Tuy vậy nhờ phát triển nhanh chóng, một số người hy vọng một ngày nào đó điện thoại di động sẽ trở thành một công cụ nổi dậy để làm lung lay chế độ. Nhưng đồng thời đây cũng lại là một phương tiện để kiểm soát, giúp công an nghe được các cuộc đàm thoại và định vị được người sử dụng. Với lại điện thoại di động vẫn luôn rất đắt tiền, đa số dân chúng không thể mua nổi.

Vận chuyển công cộng đang trong tình trạng thê thảm, và các phương tiện thông tin thì cứ như thuộc về thế kỷ trước. Cùng một tuyến đường nếu ở Hàn Quốc tôi đi tàu cao tốc mất hai giờ, thì bên kia biên giới phải mất đến hai ngày. Để liên lạc với nhau, người ta gởi thư, nhưng chắc ăn nhất là gởi ai đó đến đưa tin. Vì ngay cả một lá thư cũng phải đi một tháng mới đến nơi, nếu mà nó đến được!

Chủ tịch trẻ tuổi Kim Jong Un vừa lên thay cha hồi tháng 12, có sẽ hiện đại hóa đất nước?

Tôi từng nuôi hy vọng mong manh là người kế vị này có thể mang lại những ý tưởng mới, nhờ trẻ tuổi và đã từng học tại Thụy Sĩ, nhưng tôi đã nhanh chóng thất vọng. Và tôi lại còn có cảm giác là chế độ ngày một tệ hại thêm. Vì thế mà những ai thành công trong việc trốn thoát khỏi Bắc Triều Tiên như tôi đều có trách nhiệm và cần phải đấu tranh cho nhân quyền, cho dân chủ hóa tại đất nước này.

clip_image003

Nông thôn Bắc Triều Tiên

Có sự khác biệt lớn giữa nông thôn và thủ đô Bình Nhưỡng?

Vâng, có một sự khác biệt hết sức lớn lao. Thủ đô là một đô thị với 2,5 triệu dân được ưu đãi, đó là gia đình có liên quan đến Đảng Lao động hay quân đội. Bình Nhưỡng là một thành phố sạch sẽ, với các tòa nhà chọc trời, được sử dụng như tủ kính mặt tiền mà các nhà độc tài muốn trưng ra trước khách nước ngoài.

Cũng có một sự ngăn cách rất lớn giữa hai thế giới: người dân một tỉnh nghèo có thể chết vì đói trong khi dân Bình Nhưỡng không hề hay biết. Chế độ nuông chiều dân chúng thủ đô, vốn là lực lượng hỗ trợ chủ yếu của họ. Tiêu chuẩn thức ăn do chính quyền phân phối cao hơn nhiều và cũng thường xuyên hơn, so với phần còn lại của đất nước vốn thường bị mất tiêu chuẩn. Tại các vùng nông thôn, mỗi người đều học được cách tồn tại mà không trông cậy vào nhà nước.

Có những thành phố lớn phát triển tại Bắc Triều Tiên không?

Ngoài Bình Nhưỡng còn có các thành phố lớn như Rajin, Sinuiju hay Hyesan, gần đây đã phát triển nhờ ở gần biên giới Trung Quốc. Thương mại với Trung Quốc tăng lên từ đầu những năm 2000 đã giúp các thành phố này giàu lên. Nhưng lợi tức từ thương mại lại lọt vào tay của Đảng, vì không có việc kinh doanh nào thực hiện được nếu không có sự hỗ trợ của hệ thống.

clip_image004

Lính biên phòng BTT canh gác bên bờ sông Áp Lục.

Ngày nay rời khỏi Bắc Triều Tiên dễ hơn hay là khó hơn trước?

Tôi thuộc về làn sóng tị nạn đầu tiên, sau các trận đói kinh hoàng cuối thập niên 90. Số người đào thoát không ngừng tăng lên, nhưng chế độ đã tăng cường kiểm soát biên giới vào đầu những năm 2000. Tôi nhận ra điều đó sau khi vượt biên lần thứ hai và bị công an Trung Quốc gởi trả về Bắc Triều Tiên. Kể từ năm ngoái và từ khi Kim Jong Un lên nắm quyền, vượt thoát khỏi Bắc Triều Tiên lại càng khó khăn hơn.

Nhà độc tài mới muốn ngăn chận làn sóng vượt biên – một sự chối bỏ chế độ – bằng mọi giá. Ông ta đã ra lệnh cho biên phòng nổ súng vào tất cả những ai muốn vượt qua biên giới một cách bất hợp pháp. Vài ngày sau khi Kim Jong Un nhậm chức, nhiều người tị nạn đã bị bắn hạ trong lúc đang vượt qua con sông lạnh giá, là ranh giới giữa Bắc Triều Tiên và Trung Quốc. Hiện nay vùng biên giới đang bị giám sát hết sức nghiêm ngặt.

Nguồn: thuymyrfi.blogspot.com

Sống sót trong địa ngục Bắc Triều Tiên

clip_image005

Trích dịch tác phẩm “Bắc Triều Tiên, chín năm để trốn khỏi địa ngục” của Eunsun Kim, kể lại những chuyện diễn ra từ tháng 12/1997, ngay sau các trận đói khủng khiếp năm 1995 và 1996 đã giết hại hai triệu người Bắc Triều Tiên, trong đó có cha của tác giả.

Từ gần một tuần qua, tôi đơn độc trong căn hộ lạnh lẽo tại Eundeok, ngôi làng nhỏ nơi tôi sinh ra ở Bắc Triều Tiên. Cha mẹ tôi đã bán hết tất cả đồ đạc trong nhà, chỉ trừ một chiếc bàn thấp và một tủ ngăn vách, để mua thức ăn. Gạch lót sàn cũng đã bị bán đi, tôi ngủ ngay trên nền xi-măng, trong một túi ngủ tạm bợ làm bằng quần áo cũ.

Trên các vách tường trơ trụi, chỉ còn lại mấy khung ảnh đặt cạnh nhau – chân dung “Chủ tịch vĩnh cửu” Kim Il Sung và tướng quân Kim Jong Il. Cả hai nhìn thẳng vào tôi. Nhưng đem bán các ảnh chân dung này sẽ bị xem là báng bổ, có nguy cơ bị tử hình.

Trời tối sẫm, dù vậy tôi vẫn đọc được những gì mình viết ra. Điện đóm không có, vả lại các bóng đèn đã biến mất từ lâu. Đêm nhẹ xuống sau buổi chiều tháng Chạp. Không còn lò sưởi nữa, nhưng tôi không thấy lạnh mấy, vì đã sức tàn lực kiệt. Tôi không có gì ăn từ nhiều ngày qua, tôi sẽ chết đói. Vì vậy mà tôi cố viết lại bản di chúc của mình. Tôi mười một tuổi […].

Từ khi ba mất đi, cuộc sống của chúng tôi trở thành địa ngục, với viễn tượng duy nhất là cuộc đấu tranh để tồn tại. Ngay cả bệnh viện cũng không còn phương tiện để nuôi dưỡng các bệnh nhân, và không có ai còn nhận được thực phẩm. Chị tôi và tôi không đến trường nữa, chúng tôi không có bộ cánh nào ra hồn. Nhất là chúng tôi không còn thời gian, toàn bộ ngày trời phải dành cho việc tìm ra thứ gì đó ăn được. Mấy mẹ con tôi sống như tu sĩ ẩn cư trong căn hộ, tránh những ánh mắt nhìn.

Mỗi ngày chúng tôi bí mật lẩn vào các cánh đồng để hái trộm lúa và bắp, né tránh các toán quân tuần tra. Chúng tôi lén bứt những ôm lúa, sau đó đi lên núi để tước hạt mà không ai nhìn thấy. Mẹ con tôi cũng đào rễ củ, tìm kiếm các thứ nấm. Đôi khi chúng tôi còn chặt củi, vốn ngày càng hiếm hoi, để đem bán, dành tiền mua những khẩu phần nhỏ nhoi hàng ngày […]

clip_image006

Tác giả Eunsun Kim

BỎ TRỐN SANG TRUNG QUỐC

Cùng với mẹ và chị gái, Eunsun cố sang bên kia biên giới bằng cách vượt qua con sông Đồ Môn.

Chính trong vài tuần lễ cuối mùa đông 1997-1998 mà số phận tôi đã thay đổi. Không còn cách nào kiếm sống, mẹ tôi đã dần đi đến một quyết định khó tưởng tượng nổi: vượt biên. Trốn khỏi Bắc Triều Tiên để đi đến một nơi chốn nào đó, để cứu sống các con gái […]

Thế là chúng tôi đã quay lại trong đêm tối. Với những bước chân nhẹ nhàng, chúng tôi tiến gần bờ sông Đồ Môn. Cách dòng sông vài mét, tôi nằm phục trên cát. Từ chỗ này có thể ngầm quan sát những toán tuần tra của lính biên phòng qua lại bên bờ sông. Chúng tôi nằm bất động nhiều tiếng đồng hồ, trong im lặng. Mẹ tính toán thời gian tuần tiễu và các vòng đi tuần của biên phòng.

Vào khoảng nửa đêm, sau khi một toán tuần tra đi qua, bà ra hiệu cho hai chị em tôi và tiến bước trên mặt cát, mỗi tay bà nắm một đứa kéo đi. Bỗng dưng bàn chân tôi chạm vào mặt nước. Thật là lạnh giá!

Chúng tôi không biết bơi, nhưng mẹ nắm tay chúng tôi rất chặt. Nước nhanh chóng lên đến đầu gối tôi, đến bụng, rồi dâng lên đến cổ. Tôi cảm thấy mình sẽ bị chìm. Tôi sợ hãi. Keumsun và tôi cố kéo mẹ lại, tuy mẹ vẫn rất cương quyết. Cuối cùng bà cũng nhận ra là nước quá sâu, và lùi về phía các đụn cát. Tôi thở ra nhẹ nhõm!

Nhưng mẹ rất bướng bỉnh. Bà yêu cầu chúng tôi phải ở yên ngoan ngoãn chờ đợi, để một mình bà cố gắng tìm kiếm một lối thoát. Bóng dáng của mẹ từ từ chìm sâu vào dòng nước đen như mực, và ngày càng nhỏ dần.

Tôi run rẩy, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập, trông thấy dáng mẹ tôi hòa lẫn vào bóng tối. Bà sẽ chết chìm. Chúng tôi sẽ không bao giờ còn được nhìn thấy mẹ nữa. Và nếu bà thành công trong việc sang được đến  bờ bên kia, thì chị Keumsun và tôi sẽ ra sao? Mẹ tôi đã biến mất, tim tôi đập loạn cả lên.

Bỗng dưng sau những phút giây dài dằng dặc, hình thù mẹ lại hiện ra bên bờ sông, nước chảy ròng ròng trên người bà. Mẹ run lập cập, cố gắng lắm mới bước đi được. Tôi tự hỏi liệu mẹ sẽ ngất xỉu hay không, dòng nước lạnh như nước đá đã làm cho bà kiệt sức. Chỉ cách bờ bên kia có ba mét, lòng sông bỗng sụt xuống và bà bị hụt chân. Chỉ còn có ba mét nữa là bà đặt chân lên được đất Trung Quốc!

Tôi vô cùng hoảng hốt. Trong đêm đen, hai đứa bé gái đơn độc, cố gắng trợ giúp một người mẹ bệnh hoạn, run rẩy. Làm thế nào bây giờ? “Đành thôi, mẹ con mình đành phải nộp mạng cho biên phòng vậy” – bà quyết định một cách nhẫn nhục […]

Nguồn: thuymyrfi.blogspot.com

Được đăng bởi bauxitevn

Nguoibuongio :Với cụ Lê Hiền Đức

Nguoibuongio  -Cụ Lê Hiền Đức mình gặp đầu tiên trong lần vừa rồi đi thăm chị Bùi Hằng. Ấn tượng đầu tiên mình thấy là cụ còn khỏe và minh mẫn, cụ nói sang sảng cả tiếng đồng hồ mà không cần nghỉ, uống nước, nhất là cụ đứng nói chứ không phải ngồi. Kiến thức của cụ thật đồ sộ. Cụ chỉ mình hỏi.

– Mày tên gì.?

– Dạ thưa cụ con tên Hiếu

– Mày làm gì ?

– Dạ con làm hàn sắt, biển quảng cáo nhưng đôi khi có vài người gọi con là phản động.

Cụ Lê Hiền Đức thở dài.

– Người ta cũng bảo bà là pê đê ( PĐ), không phải là pê đê đồng tính đâu, mà cũng như kiểu họ gọi mày đấy. Thế mày có hay đọc báo, vào mạng  không .?

– Dạ con thỉnh thoảng đọc báo bóng đá, công an thôi ạ?

Cụ nhìn mình kỹ, rồi lắc đầu.

– Mày hỏng, thanh niên chả biết gì. ?

https://i0.wp.com/multiply.com/mu/nguoibuongio1972/image/AS2kz5fWzopoN8syKTc4pg/photos/1M/300x300/1230/422404-153745888081250-100003375183258-203127-1818992238-n.jpg

Cụ đi ra bụi tre đằng ngà, chỗ nhà dân có mấy ông quan xã ngồi. Nói về chuyện ghế ngồi gì đó, rồi chuyện tham nhũng, pháp luật. Lát sau bé Cải mang ghế cho cụ. Thủng thỉnh xách cái ghế đến chỗ mình ngồi. ( trước cổng trại Thanh Hà). Cụ đặt ghế trước mặt mình rồi nói rất nghiêm trọng.

– Mày biết không, xã đốt nhà, huyện cướp đất, tỉnh bao che.

Mình xì một tiếng dài, và nói như kiểu chuyện xưa ai cũng biết rồi

– Ối dời, chuyện cụ hồi nhỏ chứ gì, thời thực dân đế quốc là bọn nó ác thế đấy. Bọn đấy thì kinh rồi, đốt nhà đã là gì, chúng nó còn âm mưu vu khống nhốt người ta vào tù để chiếm nhà, chiếm đất cơ. Đốt nhà đã ăn thua gì, đốt nhà vẫn còn đất. Cái bọn thời đó nó còn cướp sạch đẩy người ra vào Bước Đường Cùng tăm tối như đêm 30 mà Tắt Đèn ấy.

Mình ngừng lại, thấy cụ Hiền Đức mở to mắt ngạc nhiên nhìn mình như thằng ở trong hang sâu 40 năm mới chui ra. Mình nói tiếp.

– Gì chứ, bọn thực dân đế quốc giờ mà kể tội chúng thì nhiều lắm, cái này bọn cháu học ở trường cô giáo dạy nhiều lắm, nhiều đến nỗi loạn đầu. Chỉ biết nói đến bọn thực dân, đế quốc, tay sai bù nhìn là chúng độc ác, tham lam, áp bức nhân dân…

Cụ Lê Hiền Đức mắt long lên, cụ cáu thực sự. Cụ chỉ mặt mình đay.

– Mày, mày,..đúng loại không biết gì. Thời nay đây con ạ, thời này này. Mày không biết à, dân oan người ta đưa đơn đến nhà tao mấy chục nghìn tờ đơn. mày phải đến mà xem mới biết thế nào con ạ. Trời ơi, nhìn mày thanh niên thời đại thế này mà không, chả biết tí gì, chán quá

Cụ nói giọng đay nghiến, trì triết mình. Khiến mình phải thanh minh rối rít như xin chuộc tội.

– Thì bà bảo con biết được gì, hàng ngày con xem tivi thời sự đều, đọc báo đều có thấy nói chuyện đó bao giờ đâu. Giờ có bà con mới nghe chuyện đó.

Cụ hất hàm hỏi mình.

– Thế mày có vào mạng không ?

– Dạ con có vào ạ.

– Thế bà bảo nhé, mày phải vào facebook của bà mà đọc thì biết con ạ?

Quả này thì mình trợn mắt ngạc nhiên hỏi lại.

– Bà cụ cũng có facebook à ?

Cụ Đức bĩu môi nhìn mình lần nữa.

– Chán loại mày, tao dùng từ lâu rồi. Tao thấy mấy người đây cứ gọi mày là buôn gió, mày thì buôn cái gì, tao đặt cho mày là thằng phải gió. Mày đúng là phải gió nên mới không biết cái gì. Về mà đọc facebook của cụ. Rồi gọi điện cho bà nói xem sao, đây ghi số bà đi.

Mình vâng dạ cuống quýt, ghi số điện, ghi địa chỉ facebook của bà. Cụ Lê Hiền Đức thấy mình vậy, quay ra nói với mọi người.

– Đấy, khổ, thanh niên bây giờ nó có biết gì đâu, phải bảo chúng nó mới biết được.

Nguoibuongio :Mặt tốt của trại cải tạo Thanh Hà

Nguoibuongio  -Có người hỏi mình, tại sao viết chỉ nhìn một mặt.

Mình nói rằng thường thì mình chỉ viết điều nhìn thấy, thiên hạ đọc tự đánh giá, ít khi mình đưa kết luận ra. Người kia bảo nhưng mình có ý thiên vị.
Vậy hôm nay mình viết khen trại Thanh Hà vậy.

https://i0.wp.com/multiply.com/mu/nguoibuongio1972/image/85iC3r%2Br%2BGDiQrnfAMA9iA/photos/1M/300x300/1224/IMG-1038.JPG
Trại Thanh Hà là một cơ sở giáo dục những học viên từng vi phạm các tệ nạn xã hội. Do quy định chặt chẽ của cơ sở giáo dục này chúng tôi chỉ đứng được bên ngoài không   được vào tham quan bên trong.
Từ bên ngoài quan sát chúng tôi thấy cơ ngơi của khối văn phòng, nhà ở cán bộ xây dựng rất khang trang, đẹp đẽ chứng tỏ đời sống của cán bộ trại rất được nhà nước ta quan tâm.

Tuy rằng số lượng học viên không nhiều, nhưng để đảm bảo chất lượng giảng dạy cũng như bảo vệ tính mạng của học viên. Số lượng cán bộ,nhân viên của trại lúc nào cũng rất đông chắc để luân phiên thay thế nhau giáo dục và bảo vệ học viên cho chất lượng. Khi chúng tôi đến ngoài những người đang làm việc ra , còn rất nhiều cán bộ đang ngồi thảnh thơi nghỉ ngơi chờ đến ca trực của mình.

https://i0.wp.com/multiply.com/mu/nguoibuongio1972/image/cih20hmruuOzAxTDW3uceg/photos/1M/300x300/1225/IMG-1042.JPG
Mới đây để cho bà con thân nhân tiện thăm gặp học viên, chính quyền địa phương đã đổ con đường bê tông từ bên ngoài vào tận cổng trại. Con đường này làm chưa xong, nhưng phần trước cổng trại và phần bên ngoài vào đã hoàn thiện. Khu vực trước cổng trại còn được các cán bộ công an xã năng tuần tra để bảo vệ, mặc dù ngoài giờ hành chính, ngày nghỉ những các đồng chí công an xã vẫn túc trực hơn một tiểu đội để bảo vệ đường. Khi được hỏi tại sao các đồng chí không trải đều quân bảo vệ cả con đường dài mấy cây số. Một đồng chí cho biết con đường này do chúng tôi ( chắc đồng chí ấy muốn nói là huyện nhà, xã nhà ) làm, cho nên đoạn nào thích thì bảo vệ. Đúng là người cán bộ của nhân dân, làm việc vì lý những vẫn có tình cảm, vẫn có những cảm giác riêng gắn bó với đồng quê, bụi cây của quê hương.

https://i0.wp.com/multiply.com/mu/nguoibuongio1972/image/ViFAwMiJO1LTjiVRjpYK8A/photos/1M/300x300/1226/IMG-1026.JPG Do sợ bụi bay vào làm ô nhiễm không khí trong trai,ảnh hưởng đến sức khỏe của các học viên. Ban giám thị trại Thanh Hà đã đầu tư hàng trăm mét lưới chắn bụi, những lớp lưới được giăng cẩn thận bao quanh trại gồm mấy lớp lưới. Trại còn đầu tư lắp đặt máy camera để quan sát kẻ gian đột nhập vào trại trộm cắp. Làm thêm những tấm biển cấm tụ tập đông người để giữ sự yên tĩnh, tập trung cho học viên. Ước gì các trường học khác của chúng ta cũng được đảm bảo như vậy, không để hàng rong, quán xá bán tràn làn trước cổng trường. Hơn nữa để đảm bảo được giáo trình dạy bằng những phương pháp khoa học do đội ngũ cán bộ nhiều kinh nghiệm dày công soạn giáo án không lọt ra ngoài, ban giám thị trại Thanh Hà đã dựng những tấm biển cấm quy phim, chụp ảnh. Chương trình giảng dạy cho các học viên là chương trình mà phải tốn nhiều chất xám, công sức đáng được gọi là một phát minh khoa học. Cần phải giữ bản quyền như những phát minh khác.
https://i0.wp.com/multiply.com/mu/nguoibuongio1972/image/TM0Ufbwc77unwinfDA6Rqw/photos/1M/300x300/1227/IMG-1015.JPG
Không những quan tâm đến đời sống tinh thần học viên như chỉ cho ruột thịt vào thăm, hạn chế bạn bè xấu vào rủ rê, trại còn tạo điều kiện cho lao động, rèn luyện để tăng cường sức khỏe trong những lúc có thể. Chẳng hạn như học viên ủy quyền cho luật sư thảo đơn. Luật sư đánh may đơn gửi cho học viên ký, thế nhưng nhân thấy đây là cơ hội tốt để học viên rèn luyện thân thể nhanh tay, nhanh mắt nên ban giám thị trại Thanh Hà đã bắt học viên phải chép bằng tay gần 10 trang giấy.
https://i0.wp.com/multiply.com/mu/nguoibuongio1972/image/kkiP9v8HbrpvfyvDBt-IHw/photos/1M/300x300/1228/DSC-0145.JPG

Không những công an xã, công an trại giam mà ngay đến cả công an giao thông địa phương cũng rất quan tâm đến sự an toàn của người đi thăm học viên đi lại trên đường. Mặc dù có rất nhiều xe qua lại, nhưng các chiến sĩ cảnh sát giao thông địa phương phải lập một chốt ngay đâu đường ở trại cải tạo ra để kiểm tra giấy tờ, nhắc nhở những người đi thăm cẩn thận khi tham gia giao thông.

https://i0.wp.com/multiply.com/mu/nguoibuongio1972/image/WlNYjwduyXuEo-Jxhv593A/photos/1M/300x300/1229/IMG-1049.JPG
Tổng kết con đường vào trại cải tạo Thanh Hà đã được nâng cấp, cảnh sát giao thông luôn có mặt hướng dẫn, kiểm tra mọi người tham gia giao thông an toàn, chấp hành đầy đủ luật lệ lưu thông trên đường. Cơ sở vật chất của trại khang trang, đảm bảo vệ sinh, độ yên tĩnh. An ninh , trật tự luôn được chú ý bảo vệ chặt chẽ. Thái độ cán bộ trực trại được bồi dưỡng đào tạo nói năng giở sách và ảnh ra minh

họa. Các cán bộ lãnh đạo thường xuyên đi nghỉ ngơi, đi công tác, đi họp để bảo vệ sức khỏe nhằm phục vụ tốt hơn cho học viên, cho nên nếu bạn có ý kiến gì cần gặp mà họ không có mặt thì đó cũng là lý do chính đáng.

Bình luận về bài viết này