Chính trị – Xã hội
Đảng Cộng sản trước nhu cầu cải tổ (BBC) —-Ai đứng sau vụ cấm báo Thanh Niên tổ chức tri ân chiến sĩ? (RFA)
Đói giáp hạt tại Thanh Hóa (RFA) —Thanh niên chết bí ẩn trong lúc tạm giam (RFA) —Bắt giữ 6 nghi can buôn người (RFA) —Việt Nam nhắm phát triển năng lượng xanh (RFA) —-Vụ 44 tỉ đồng: nguyên Cục phó Điện ảnh Việt Nam bị bắt giữ (RFA)
Xuất khẩu lao động Việt Nam: hơn cả buôn ma tuý! (Lê diễn Đức – RFA) -Vì sao nhà cầm quyền VN lại làm ngơ trước thân phận khốn cùng của người lao động VN ở nước ngoài và ngăn cản giúp đỡ họ? Những người nghèo khổ đi nước ngoài lao động thực chất bị vứt vào canh bạc chót và chờ vào sự may mắn. Nơi nào ông chủ tốt hoặc nước sở tại có môi trường xã hội văn minh bảo vệ quyền lợi người lao động, thì tuy vất vả nhưng còn thực hiện được một phần mơ ước. Gặp ông chủ bất nhân, chính quyền sở tại làm ngơ, coi như mất trắng và thân tàn ma dại. — Mà Ông Đức ơi,cái dụ Mã lai mà có có đi nữa là do “bọn tư bản nó bóc lột” đấy chớ,chúng tớ đâu có,ở chỗ “thiên đường” chúng tớ sướng lắm-Chúng tớ “gài bẩy” để “chứng minh” bọn “tư bổn giãy chết nó bóc lột để rồi chết” đấy Ông ạ.-Xem đây nầy : ‘Lao động Việt Nam kẹt ở Malaysia không bị đối xử tệ’ (VnEx) —-‘Lao động VN ở Malaysia không bị bỏ đói, hay bóc lột (Đất Việt) —-Việt Nam sẽ siết chặt quản lý thuê bao di động (VOA)
ĂN THẾ NÀY, HỌC THẾ NÀO?.. (Maithanhhai)-
Nhìn cơm các con đang ăn mà mình chụp ảnh mãi không được, tay cứ run run vì xúc động nên máy toàn bị rung. Cơm nước thế này thì nuốt thế nào được, hả giời?.. =======>>>
Thấy hông? quan đã bảo đâu có đói,mấy người đưa tin “bậy bạ ” không hà,không “định hướng” gì cả ,”phải định hướng XHCN” chớ,còn cái Anh Hải kêu Giời nỗi gì? có ăn cơm đấy chứ.có đói đâu nào? —-’Đừng để nạn ăn xin trở thành nỗi nhục quốc thể’ (VTC)
Bà Nguyễn Thị Mai Thanh nhận lương 100 triệu đồng/tháng (Dantri) -Mức lương này của bà chủ REE dự kiến vẫn giữ nguyên trong năm 2012 này, và còn dược hưởng chế độ khen thưởng trên lợi nhuận vượt kế hoạch kèm theo.
Hải Phòng: Đập phá nhà dân, nhiều cán bộ phường “lĩnh án” (Dantri) —-Chưa thỏa thuận đã ủi sập nhà dân! (DV)
Đề nghị truy tố Phó Chi cục Thi hành án dân sự Lâm Đồng (Dantri) —-Hai VĐV bỏ trốn tại Australia: Trăm sự tại nghèo? (Dân Việt) – Vụ việc hai VĐV đua thuyền rowing Nguyễn Phương Đông, Lương Đức Toàn bỏ trốn tại Australia sau chuyến tập huấn đang khiến những người làm thể thao đau đầu về chuyện đãi ngộ cho VĐV.
Thu thuế linh hoạt như ‘đèn xanh đi – đèn đỏ dừng’ (VTC News) —-Thế nào là “khoan sức dân”? (DV) —–Đội mũ bảo hiểm ngược để… dễ kiểm tra tem (DV) đồ điên khùng!!! —–TP.HCM: Tay chân miệng “tấn công” trường học (VNN)
2 tàu cá, 21 ngư dân bị Trung Quốc bắt giữ (TN)
Kinh tế
Với giá năng lượng tăng cao, lạm phát năm 2012 sẽ đi về đâu? (Trần vinh Dự – VOA) – Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang chuẩn bị xin tăng giá điện khiến nhiều người lo ngại về khả năng tiếp tục xảy ra bùng nổ lạm phát
Văn hóa – Giáo dục
Hậu Giang: Học sinh nam đóng cảnh “nóng” trong lớp (Dân trí)
Nữ sinh xử nhau ngay khuôn viên trường, hiệu trưởng chẳng hay (Danviet)
Thế giới
Nữ hoàng Anh đọc diễn văn nhân 60 năm trị vị (BBC) ================>>>
Cuộc chiến đổi màu (BBC) -Miến Điện trong xung đột sắc tộc và quan hệ đang đổi với TQ. —Tổ chức nhân quyền Mỹ tố cáo quân đội Miến Điện bức hại sắc tộc Kachin (RFI) —Pháp truy lùng thủ phạm ở Toulouse (BBC) —Quốc tế lên án vụ thảm sát tại trường học Do Thái ở Pháp (RFI) —An ninh Pháp ráo riết truy lùng thủ phạm vụ sát hại người Do Thái và lính Dù (RFI) —Pháp nâng mức báo động khủng bố trong lúc truy lùng kẻ sát nhân (VOA)
Trung Quốc lại tăng giá xăng dầu (BBC) —Thủ tướng Tây Tạng : Mọi kênh đối thoại với Bắc Kinh đều bế tắc (RFI) —Trung Quốc : Bất động sản mất giá, Nhà nước đau đầu (RFI) —Bruxelles và Bắc Kinh cùng giám sát tính an toàn của sản phẩm nhập từ Trung Quốc (RFI) —Trung Quốc tăng cường tuần tra ở vùng đảo tranh chấp trên biển Hoa Đông (RFI) —-Trung Quốc có thể thắng được cuộc chiến tranh văn hóa? (Nguyễn hưng Quốc-VOA) – Chính quyền Trung Quốc xem văn hóa như một mặt trận lớn, cả về đối nội lẫn đối ngoại —-Trung Quốc cảnh báo một cuộc chạy đua vũ trang ở châu Á (VOA)
Tổng Giám đốc BBC sẽ từ chức (BBC) —-Thẩm phán LHQ từ chức vụ xử Khmer Đỏ (RFA) —-Tòa án Tội phạm Chiến tranh Kampuchia gặp khủng hoảng (VOA) —Manila xác nhận sẽ tăng hợp tác quân sự với Mỹ (RFI) —-Thủy quân lục chiến Mỹ sẽ đến Úc vào tháng Tư 2012 (RFI)
Bình Nhưỡng mời Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế trở lại Bắc Triều Tiên (RFI) —IAEA nhận được lời mời để các thanh sát viên trở lại Bắc Triều Tiên (VOA) —-Căng thẳng gia tăng giữa chính quyền và đối lập Cuba (RFI)
Nga sẵn sàng hậu thuẫn kế hoạch của ông Annan về Syria (VOA) —Trao đổi thương mại Nga-Mỹ bị ảnh hưởng bởi Jackson-Vanik (VOA) —-HRW: Nga nên ngưng can thiệp các cuộc biểu tình ôn hòa (VOA) —-Nga tìm cách đứng xa đồng minh Syria (VOA)
Một loạt các vụ nổ bom khắp Iraq giết chết 38 người (VOA) —Đài Loan: tàu chìm, 6 chết, 2 mất tích (RFA) —-Động đất gần Acapulco, Mexico (VOA)
XÃ HỘI
Xe bồn mất lái nghiền nát xe máy (Dantri) —-Sau “yêu” chồng thích mò mẫm, còn vợ ưa gì? (DV) —-”Tú bà” 22 tuổi cầm đầu đường dây bán người (DV) —-Bán thuốc tây nhưng không biết… chữ! (TN) —-Cưa trộm trụ sắt thi công cầu Cần Thơ (TN) —Bắt một giám đốc vụ ẩu đả với 2 công an (VNN)
Trung úy công an “chôm” 30 triệu đồng của con bạc (NLĐ) —Thuê người chém nhân viên kiểm tra xe buýt (NLĐ) —-VnExpress/BM -Cá nhân nữ đại gia thủy sản nợ 100 tỷ đồng —–Hà Nội: Lại đột nhập, phá két và lấy đi 1,7 tỷ đồng (VN+)

– Về buổi thuyết trình của GS-TS Nguyễn Quang Ngọc, bữa nay xin tiếp, về chuyện có nên đưa tranh chấp HS-TS với Trung Quốc ra tòa án quốc tế hay không. Những bàn luận hầu như chỉ tập trung vào vấn đề pháp lý, nên còn có thể tung hỏa mù, dọa ngáo ộp. Trong khi đó, cái “tử huyệt” thực ra lại nằm chỗ khác, đó là chính trị. Nhiều người không nhận ra, và nhiều người quá biết nhưng muốn lờ đi, đánh lạc hướng. Mấu chốt của vấn đề chính là cả hai nước đều chung một thứ thể chế chính trị luôn muốn “Đóng cửa bảo nhau!”, tranh chấp không giống chút nào với các nước khác. Cho nên:
1- Đem nhau ra tòa quốc tế là phơi mặt cho toàn thế giới thấy rõ thêm thứ tình nghĩa “môi hở răng …cắn”, “đồng chí … chóe”. Tụi “thế lực thù địch” nó lợi dụng. Bộ mặt đẹp của “thiên đường XHCN” còn đâu?
2- Thế nhưng, trong khi một bên vẫn say sưa đặt cái gọi là “lợi ích giai cấp”, sự tồn vong của chế độ lên trên lợi ích dân tộc, thì một bên thực chất đã vứt bỏ để làm ngược lại. Bên nào có lợi thế quá dễ thấy.
3- Trong nước thì sẽ bị phơi lưng ra với dân chúng, không những mất “thiêng”, mà còn dễ bị ê chề nếu thua kiện.
4- Dân chúng thì tận dụng cơ hội này tha hồ moi bới những bí mật lâu nay được chôn giấu, tha hồ tự vũ trang cho nhau kiến thức, tinh thần để không còn mơ hồ, yếm thế như trước. Rất nguy!
5- Một khi đã tới nước muối mặt lôi nhau ra cho tụi “tư bổn giãy chết” nó mổ xẻ, thì cũng sẽ không chừa một thủ đoạn nào. Sẽ có những bí mật của nhau từng thề bồi “sống để bụng, chết mang theo” thì giờ đây phải tung hê hết hoặc chí ít thì hé lộ dần để giành lợi thế. Vụ chơi xỏ đơn phương tiết lộ Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 chỉ là khúc dạo đầu. Và còn nữa … Như vụ đột nhiên tung hê lên báo đảng Nhân dân nhật báo bài “Một người vợ Trung Quốc khác của Hồ Chí Minh” chẳng hạn. “Võ Tàu” đấy! … Lắm kẻ cứ gọi là sợ chết khiếp!
Trần Khải :Nhượng Quyền Biển Đông?
Chính phủ Phi Luật Tân đã dịu giọng với Trung Quốc về Biển Đông, và gửi lời nhắn là có thể sẽ có một thỏa hiệp để chấp nhận Trung Quốc vào vùng đảo Trường Sa nơi Phi đang tranh chủ quyền để “cùng khai thác dầu khí” với điều kiện 60% lợi tức sẽ thuộc về chính phủ Phi. Đó là một chuyển biến đáng ngại cho Việt Nam.
Hãy hình dung rằng, nếu VN chấp nhận cho TQ vào vùng biển do VN đang kiểm soát và đang tranh chấp chủ quyền với TQ để khai thác dầu, với khẩu hiệu TQ luôn luôn đưa ra là tạm gác tranh chấp để cùng khai thác kinh tế, chắc chắn sẽ là một cớ để TQ sau này ra Liên Hiệp Quốc tranh biện rằng chính VN đã chấp nhận vùng tranh chấp đó đã có sự hiện diện của TQ để khai thác kinh tế. Đó là một cớ để sẽ dằng dai hoài, cho dù có ra trước tòa quốc tế nào đi nữa.
Thêm câu hỏi nữa: nếu tạm gác tranh chấp để cùng khai thác kinh tế, tại sao không để ngư dân VN vào đánh cá ở vùng biển Hoàng Sa, nơi nhiều thế hệ ông cha của ngư dân Việt đã đánh cá từ lâu và là nơi Hải Quân TQ tấn công Hải Quân VNCH để đánh chiếm từ năm 1974?
Nhà bình luận Xu Tianran trên ấn bản 19-3-2012 của báo Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times) ở Bắc Kinh vui mừng gọi diễn biến hôm Chủ Nhật là “Chính phủ Manila dịu giọng về Đảo Trường Sa (TQ gọi là Nansha)”.
Tại sao Phi mời TQ vào khai thác chung ở vùng Trường Sa thuộc Phi?
Ngoại Trưởng Phi Albert del Rosario qua cuộc phỏng vấn của News5 nói rằng TQ đã có nhiều gợi ý về thăm dò chung và khai thác chung vùng đảo Trường Sa, thuộc Biển Tây Phi mà Việt Nam gọi là Biển Đông, ngay cả khi TQ nói rõ rằng vùng tranh chấp đó là thuộc chủ quyền TQ.
Hiện thời vùng Trường Sa ở Biển Đông là thuộc một phần hay toàn phần tranh chấp bởi 6 quôc gia, đó là Phi, TQ, Việt Nam, Đaì Loan, Brunei và Mã Lai và là nơi được tin là có nhiều mỏ dầu, khí và khoáng sản.
Mới đây, Bộ Năng Lượng Phi nói là sẽ cho thăm dò vùng Recto Bank (còn gọi là Bãi Cỏ Rong — Reed Bank). Năm ngoái, một tàu thăm dò do hãng Phi thuê đã bị tàu TQ chận lại ở Bãi Cỏ Rong, nơi mà TQ nói là chủ quyền TQ. Rồi mới đây, Đaì Loan loan báo phản đối thăm dò dầu ở Bãi này.
Del Rosario khẳng định rằng Bãi Recto Bank là thuộc chủ quyền Phi. Phó Chủ Tịch TQ Shin Jingping là một trong vài người nếu ý tưởng khai thác chung, và Del Rosario thú nhận rằng vẫn chưa đóng cửa về khả năng này.
Del Rosario nói, “Nếu họ muốn khai thác chung, thăm dò chung ở đó — chúng ta sẽ đồng ý như thế, với điều kiện làm theo luật Phi.” Ông nói rằng, theo luật Phi, sẽ có 60% thương vụ của hợp tác đó là thuộc về chính phủ Phi.
Tuy nhiên, rõ ràng là Phi đã nhượng bộ như thế, sẵn sàng chia tứ-lục, vậy mà TQ vẫn chưa hài lòng.
Tờ Hoàn Cầu Thời Báo ghi lời một số học giả TQ rằng, TQ sẽ không đồng ý cho Phi chia phần lớn hơn trong hợp tác khai thác chung này.
Zhuang Guotu, người tự nhận là chuyên gia về Biển Đông và hiện là Khoa Trưởng Đại Học Nghiên Cứu Đông Nam Á tại đại học Xiamen University, nói với Hoàn Cầu Thời Báo, “TQ sẽ không chấp nhận rằng 60% mức thu là về phía Phi, vì điều kiện này lá chấp nhận chủ quyền lãnh thổ của Phi [trên Bãi Cỏ Rong].”
Zhuang cũng ghi nhận, dù vậy, như thế là Phi cũng dịu giọng rồi. Đồng thời, Zhuang hù dọa, rằng tuy TQ cam kết không giải quyết chủ quyền Trường Sa bằng vũ lực, nhưng “TQ sẽ bảo vệ quyền lợi TQ bằng cách củng cố hoạt động tuần hải và thực thi luật hàng hải.”
Lời đó hẳn nhiên là nặng kí, vì năm ngoáí đã có chuyện xảy ra: hồi tháng 3-2011, một nhóm tàu hải giám Trung Quốc đã tới xua đuổi tàu thăm dò dầu do Phi đưa tới Bãi Cỏ Rong tại Trường Sa.
Có nghĩa là, muốn khai thác dầu Biển Đông là sẽ bị TQ quấy rối hoài.
Một điểm cần chú ý cũng hôm Chủ Nhật 18-3-2012, báo Business Mirror của Phi Luật Tân ghi lời chuyên gia về chính trị Đông Nam Á Carlyle Thayer, giáo sư đạị học ở University of New South Wales và Học Viện Quốc Phòng Úc Châu, thúc giục chính phủ Phi Luật Tân và chính phủ CSVN phải có những bước củng cố “chủ quyền quốc gia” về các khu đặc quyền kinh tế ở Biển Đông.
Trong bài viết nhan đề “Security Cooperation in the South China Sea: An Assessment of Recent Trends” (Hợp Tác An Ninh ở Biển Đông: Lượng Định Các Khuynh Hướng Gần Đây), GS Thayer nói rằng sự mềm yếu của Manila sẽ chỉ mời gọi Bắc Kinh “hành động hung hăng thêm.”
Ông cũng thúc giục ASEAN và cộng đồng quốc tế, những nước có tàu hàng đi xuyên qua Biển Đông, hãy chạm trán về mặt ngoại giao với TQ về hành vi “hung hăng giành biển.”
Bản đồ chín khúc, hay bản đồ lưỡi bò hình chữ U mà TQ vẽ lấy chủ quyền ở Biển Đông đã lẹm vào nhiều đảo của Việt Nam và Phi. Do vậy, Thayer gọi đó là phi lý, khi việc thăm dò dầu của taù Phi ở Bãi Cỏ Rong và khu vực khác ở nhóm đảo KIG, và ngay cả khi VN thăm dò dầu trong vùng biển VN cũng bị TQ xem là hành vi “cướp bóc tàì nguyên” và là một thách thức với hiện hữu của TQ.
Soong Enlai, chủ tịch hội đồng quản trị của hãng dầu quốc doanh TQ China National Offshore Oil Corp. (CNOOC), trước đó đã nói rằng đất nước TQ mất khoảng 20 triệu tấn dầu hàng năm, tức là khoảng 40% tổng sản lượng dầu khai thác hải ngoại của TQ, chỉ vì các hành vi như thế ở Biển Đông (do Phi và VN khai thác dầu).
Thayer nhắc rằng, hồi tháng 3 năm ngoái, Ngoạị Trưởng TQ Yang Jiechi tuyên bố rằng chính sách ngoiạ giao TQ sẽ phục vụ cho phát triển kinh tế TQ. Tuyên bố này ngay lập tức theo sau là một lời cảnh cáo đối với bất kỳ việc thăm dò nào trong các vùng biển mà TQ đã khoanh bản đồ ở Biển Đông, đồng thời tăng cường tuần hải và tuyển mộ thêm 1,000 thủy thủ cho lực lượng hải giám TQ để nâng quân số này lên 10,000 người.
Nhìn các diễn biến mấy năm qua, chúng ta đã thấy Việt Nam thực tế đã dịu giọng từ trước khi Phi Luật Tân dịu giọng. Những cuộc biểu tình đòi chủ quyền Biển Đông ở Sài Gòn và Hà Nội đã bị vùi dập tệ hại, trong đó chị Bùi Minh Hằng đã bị đẩy vào trại cải huấn lấy cớ là gây rối loạn đường phố.
Không chỉ chuyện của năm ngoáí. Thực ra, cuộc biểu tình đầu tiên đòi chủ quyền Biển Đông là cuối năm 2007, do anh Điếu Cày và Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do tổ chức ngay giữa Sài Gòn sau khi TQ tuyên bố lập huyện Tam Sa để quản lý cả Hoàng Sa và Trường Sa của VN. Bây giờ anh Điếu Cày vẫn còn bị giam, bất kể là án tù đã mãn từ lâu.
Chính phủ Hà Nội đã dịu giọng từ lâu. Bây giờ chính phủ Phi cũng dịu giọng. Có vẻ như, Biển Đông sắp bị bán cho TQ, không kiểu này thì cũng kiểu khác.
Riêng với VN, chắc chắn TQ không chỉ đòi Biển Đông, mà đã và đang dùng nhiều cách để hiện diện ở các vùng khác và lĩnh vực tại VN, từ rừng đầu nguồn cho tới mỏ bauxite, từ phim Lý Thái Tổ cho tới đòi hỏi dạy tiếng Hoa cho trẻ em VN 4 tiết/tuần.
Không lẽ, tới thời nhà Hồ là VN bị xóa sổ hay sao? Có cơ may nào khác hơn không? Đành chờ vậy.
2 tàu cá, 21 ngư dân bị Trung Quốc bắt giữ
21/03/2012 3:48 – Thanhnien
Chiều 20.3, UBND huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) cho biết 2 tàu cá của ngư dân huyện đảo này vừa bị phía Trung Quốc bắt giữ khi đang khai thác hải sản tại ngư trường Hoàng Sa của Việt Nam vào chiều 3.3.
Đó là tàu QNg-66074 TS, công suất 45 CV do ông Trần Hiền (32 tuổi, ở thôn Tây, xã An Vĩnh, Lý Sơn) là chủ tàu kiêm thuyền trưởng, trên tàu có 11 lao động và tàu QNg-66101 TS, công suất 39 CV do ông Bùi Thu (48 tuổi, ở thôn Tây, xã An Vĩnh) làm thuyền trưởng, trên tàu có 10 lao động. Bà Lê Thị Phúc, vợ thuyền trưởng Trần Hiền, cho biết ngày 12.3 chồng bà gọi điện về nói 2 tàu cá và các ngư dân đang bị giam giữ tại đảo Phú Lâm (thuộc quần đảo Hoàng Sa); phía Trung Quốc yêu cầu mỗi tàu phải nộp 70.000 nhân dân tệ thì mới thả tàu.
UBND H.Lý Sơn đã có văn bản kiến nghị với UBND tỉnh Quảng Ngãi và các ngành chức năng T.Ư có biện pháp can thiệp để phía Trung Quốc sớm thả tàu và ngư dân. BLV: Ô HAY, BIỂN CHỦ QUYỀN CỦA MÌNH MÀ SAO NÓ LẠI ĐÒI TIỀN NHỈ????
Văn Mịnh
ĂN THẾ NÀY, HỌC THẾ NÀO?..
Maithanhhai
Nhìn cơm các con đang ăn mà mình chụp ảnh mãi không được, tay cứ run run vì xúc động nên máy toàn bị rung. Cơm nước thế này thì nuốt thế nào được, hả giời?..
Mỗi đứa ôm một cái âu đựng cơm chan nước canh. Tản mát: Chỗ này thì túm tụm chục đứa con trai, vừa nhai trệu trạo vừa nói chuyện lầm rầm; chỗ kia thì cắm cúi vài ba đứa con gái, ngồi im lặng ăn một cách uể oải; lại có đứa đứng ăn một mình, trong xó bếp tối tăm…
Nhìn vào âu cơm thấy gì đây?.
Cơm thì vón cục vón hòn, lõng bõng cái gọi là nước canh- Một thứ canh gọi là “canh khoai”, nhưng nhìn toét mắt chả thấy khoai đâu!. Thức ăn mặn thì chả có.
Ăn uống thế này, để tồn tại còn khó, nói gì đến học hành?..
Mình mau chóng chụp vài shot hình xong liền đi ra ngoài. Cố gắng tránh không làm chúng nó mất tự nhiên, để miếng cơm nhạt trôi xuống cái dạ dày rỗng được trơn tru.
Vừa uể oải ăn, vừa lầm rầm trò chuyện. Thấy khách đến, chúng ngượng ngùng giấu mặt.
Nhóm con trai tụ tập ăn trong im lặng, cái chậu bên dưới chân chúng nó dùng để đựng canh “khoai”.
Nhóm ăn trong bếp, thỉnh thoảng nói với nhau vài câu thổ ngữ rời rạc, những chậu canh sẵn khói, thừa nước nhưng trong veo. Nhìn đố biết là canh gì, nếu không có ai “bật mí”…
Mỗi đứa một góc ăn cho xong bữa
Nhiều đứa gần như bỏ lại nguyên âu cơm
Những ánh mắt hân hoan khi sắp được nhận quà.
Bữa ăn chúng nó là vậy, thế mà vẫn có người nói chúng nó chưa đến nỗi khổ!. Đéo hiểu cái chuẩn khổ, nó phải như thế nào nữa, hả người?..
-“Bom” nước khổng lồ chờ nổ: Lời cảnh Báo của Nhà Văn Võ Thị Hảo đã bắt đầu ứng nghiệm.
-Lê Tùng Châu tổng hợp từ VNE và Tuổi Trẻ 17/3/2012
LTC: Còn nhớ năm 2010, nhà văn Võ Thị Hảo đã viết bài “Miền Trung ơi! Người đã bị thí mạng?!” trong đó nêu lên lời cảnh báo nguy cơ treo bom nước trên đầu dân đồng bằng. Vì đâu? xin trích:
MARCH 19, 2012
Cục trưởng Cục đê điều và phòng chống lụt bão Nguyễn Xuân Diệu công bố: tổng lượng mưa năm 2009 nhỏ hơn tổng lượng mưa năm 1999 tại miềm Trung nhưng đỉnh lũ năm 09 lại vượt đỉnh lũ năm 99 tới cả 1,5 m.
Ngày 24/11/2009, một đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Yên cho biết, thực tế lũ năm 2007 cho thấy, chỉ một trận mưa 330 mm tại tỉnh này, mà thiệt hại lớn hơn mức lũ “lịch sử” năm 1991 với lượng mưa 1.300 mm, bởi vì nhà máy thủy điện Sông Ba hạ ở đây đã xả lũ hết công suất với vận tốc 11.400 m3/s!
Sau trận lũ lụt thảm khốc tại miền Trung hồi tháng 11/2009, nhiều đại biểu Quốc hội đã chất vấn chính phủ về nguyên nhân lũ lụt miền Trung. Một số nhà chuyên môn có uy tín đã phát hiện là “do yếu tố con người” – do những nhà máy thuỷ điện vì lợi ích cục bộ của mình, không thực hiện quy trình đã cam kết về vận hành hồ chứa phòng lũ, cứ tích đầy nước để chạy máy phát điện tối đa, đến lúc mưa lớn tràn về, liền mở cửa xã lũ ào ạt để bảo vệ đập và nhà máy, bất kể hậu quả cho dân vùng hạ lưu.
Về cơ bản, ngành thủy điện và thủy lợi cam kết khi xây dựng rằng các hồ chứa có thể chống hạn và cắt lũ, nhưng trên thực tế khảo sát đã được công bố từ cơ quan chức năng thì việc vận hành hệ thống hồ xả lũ ở đây là tùy tiện, không hề có một “nhạc trưởng”…
Mời bạn đọc lại bài viết của Nhà Văn Võ Thị Hảo và những nguy cơ từ lời báo trước ấy đã bắt đầu xuất hiện dưới đây…
Nhiều ngày qua, hàng nghìn người dân vùng hạ lưu công trình thủy điện Sông Tranh 2 ở huyện Bắc Trà My (Quảng Nam) lo lắng vì phát hiện nhiều vết nứt, rò rỉ nước ở thân đập chính của công trình này. Ngoài vết nứt toác lún sâu bên trái gần đập chính, chính quyền địa phương cùng người dân ở huyện Bắc Trà My phát hiện nhiều vết nứt, rò rỉ nước từ lòng hồ xuyên qua thân đập chính công trình thủy điện sông Tranh 2.
Thủy điện Sông Tranh 2 có tổng mức đầu tư 5.194 tỷ đồng, xây dựng từ tháng 3/2006 gồm hai tổ máy (tổng cộng 190MW), dự kiến khánh thành trong năm 2012 này.
Cuối năm 2010 cả hai tổ máy này đều chính thức phát điện. Dung tích hồ chứa nước của thủy điện Sông Tranh 2 thuộc hàng lớn nhất miền Trung, vị trí bờ đập chính nằm sát tỉnh lộ 616 là hồ chứa nước thuộc 2 xã Trà Tân và Trà Đốc với khoảng 730 triệu mét khối nước, cao hơn vùng hạ lưu khoảng 100 m.
Những phản hồi mâu thuẫn
Từ EVN
Trần tình về vết nứt thủy điện Sông Tranh 2, Ban Quản lý Dự án Thủy điện 3 (thuộc EVN) có công văn thông báo khẩn giải thích về hiện tượng “có dòng nước chảy ra phía hạ lưu đập dâng, tràn” ở Công trình Thủy điện sông Tranh 2, đã khẳng định, dòng thấm chảy ra phía hạ lưu đập và toàn bộ lưu lượng thấm qua là khoảng 30 lít một giây nên không ảnh hưởng đến an toàn, ổn định của công trình.
“…Tổng lượng thấm của đập đã được Hội đồng nghiệm thu Nhà nước các công trình xây dựng, Hội đồng nghiệm thu cấp Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Hội đồng nghiệm thu cơ cở, cơ quan thiết kế đánh giá là đạt yêu cầu kỹ thuật, đảm bảo chất lượng công trình.
Ban quản lý cho rằng, hiện tượng nước chảy ra ở 3 vị trí hạ lưu đập là các vị trí khe nhiệt chứ không phải khe nứt. 30 khe nhiệt được thiết kế bố trí và thi công đều trên toàn tuyến đập. Mục đích bố trí các khe nhiệt này là nhằm triệt tiêu ứng suất nhiệt gây nứt bê tông trong quá trình thi công và vận hành công trình. Các khe nhiệt này xuyên suốt từ phía thượng lưu về hạ lưu.Đơn vị thi công là Tổng công ty xây dựng Thủy lợi 4- CTCP và Ban Quản lý Dự án Thủy điện 3 đã và đang tiếp tục xử lý thấm của đập để làm giảm tổng lượng thấm nêu trên để chất lượng công trình tốt hơn. Ban quản lý dự án khẳng định vấn đề kỹ thuật này hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến an toàn ổn định của dự án.
Từ “Viện Vật lý Địa Cầu”
Giáo sư Cao Đình Triều cho rằng thân đập chính của công trình thủy điện Sông Tranh 2 (Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam) xuất hiện đến 4 điểm nứt, rò rỉ nước từ lòng hồ xuyên qua đập là đáng lo ngại. Các cơ quan chuyên môn cùng đơn vị chủ đầu tư cần khẩn cấp vào cuộc kiểm tra các vết nứt, rò rỉ này để tránh gây thảm họa cho vùng hạ lưu.
Giáo sư Triều nhận định, thân đập thủy điện Sông Tranh 2 nằm trên đới đứt gãy đang hoạt động mạnh nên gây ra những vết nứt, rò rỉ. Do vậy, trước mắt, các cơ quan chuyên môn cần sớm thăm dò, đo đạc mức độ nguy hiểm của vết nứt để có giải pháp xử lý kịp thời, phù hợp.
“Nếu để lâu ngày, vết nứt lan rộng, thân đập bị đứt gãy thì hàng trăm triệu mét khối treo ở độ cao 100 mét so với vùng hạ lưu ào xuống thì hiểm họa thật khó lường”
Phản đối từ Bắc Trà My
Hiện 4 điểm nứt ở phần thân trái đập rò nước khá mạnh từ khu vực lòng hồ chảy thấm qua thân đập tuôn xuống hệt như khe suối.
Theo ông Trần Văn Hải, Trưởng Ban quản lý dự án thủy điện Sông Tranh 2, những vết nứt trên đều ở vị trí các khe nhiệt của khối bêtông bờ đập. Ông Hải cho rằng, hiện tượng thấm nước qua khe nhiệt bị nứt nằm trong tầm kiểm soát, rò thấm nước với cường độ 30 lít một giây xuất hiện từ tháng 11/2011 trong phạm vi yêu cầu thiết kế, không thể gây nguy hiểm gì.
Còn ông Nguyễn Kim Sơn, Phó Bí thư thường trực Huyện ủy Bắc Trà My phản đối, vào chiều 19/3/2012: “Lãnh đạo Ban quản lý thủy điện Sông Tranh 2 bảo rằng vết nứt trong mức cho phép thiết kế, không gây nguy hiểm gì là vô lý. Nước từ khu vực lòng hồ rò rỉ qua thân đập bê tông cốt thép tuôn chảy mạnh như dòng suối mà nói bình thường thì thật đáng ngờ. Tôi đã điện thoại yêu cầu Ban quản lý báo cáo bằng văn bản, thế nhưng đến chiều nay vẫn chưa thấy trả lời”.
![]() |
| Thân đập chính công trình thủy điện Sông Tranh 2, nơi xuất hiện 4 vết nứt, rò rỉ nước. Ảnh: Trí Tín. |
“Nếu trong vòng hai ngày tới, Ban quản lý công trình thủy điện Sông Tranh 2 không báo cáo về việc đập bị rò rỉ và giải pháp khắc phục, chính quyền huyện sẽ báo cáo tỉnh can thiệp”, ông Phó Bí thư thường trực huyện ủy Bắc Trà My nhấn mạnh.
Video Clip của Tuổi Trẻ: “Bom” nước khổng lồ chờ nổ
http://tv.tuoitre.vn/js/player/player.swf
Giữa năm ngoái, lòng đất Bắc Trà My phát ra nhiều tiếng nổ bất thường làm rung chuyển nhà cửa đồ đạc khiến người dân lo lắng. Tháng 12/2011, Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam kết luận nguyên nhân tiếng nổ trong lòng đất là động đất kích thích do hoạt động hồ chứa tích nước công trình thủy điện Sông Tranh 2. Các chuyên gia cũng đã đề xuất Bộ Khoa học công nghệ giúp địa phương này lắp đặt trạm quan trắc động đất phòng ngừa nguy hiểm cho người dân, thế nhưng đến nay vẫn chưa có sự hỗ trợ nào.
Từ sau tết Nhâm Thìn đến nay, lòng đất ở vùng hạ lưu công trình thủy điện sông Tranh 2 vẫn còn xuất hiện những đợt dư chấn gây rung chuyển mặt đất nhưng nhẹ hơn so với trước.
Kiêu binh thời Đảng trị

Nước mất nguồn – cây mất gốc”

Cũng chẳng ai đoái hoài việc yêu cầu TQ không làm khó VN ra quy tập các anh về đất liền quê nhà. Gia đình các anh thì nghèo khổ, còn nhân dân, đồng đội muốn vinh danh, tri ân các anh cũng chẳng được.Cù Huy Hà Vũ và nhà thơ Hữu Loan

Gạc Ma ém, Cổ Thành khoe


Đừng chờ ai đó làm thay

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
HỌC THUYẾT CHIẾN TRANH CỦA BARACK OBAMA
Tài liệu tham khảo đặc biệt – Chủ nhật, ngày 18/3/2012 -TTXVN (Oasinhtơn 28/2)
Tạp chí Chính sách Đối ngoại (Foreign Policy) số ra tháng 3-4 đăng bài viết của nhà báo David Rohde, người từng hai lần đoạt giải Pulitzer, về học thuyết chiến tranh của Tổng thống Mỹ Barack Obama. Sau đây là nội dung bài viết:
Khi Barack Obama nhậm chức ba năm trước đây, không ai gắn cụm từ “tiêu diệt có mục tiêu” với vị tổng thống trẻ đầy lạc quan. Trong diễn văn nhậm chức, cựu giáo sư luật 47 tuổi này chỉ nhắc đến từ “khủng bố” duy nhất một lần. Thay vào đó, ông hứa sẽ sử dụng công nghệ để “tận dụng mặt trời, gió và đất để làm nhiên liệu chạy xe và các nhà máy”.
Một cách kỳ lạ, công nghệ đã giúp Obama có thể trở thành người mà không mấy ai dự đoán: một tổng thống đã mở rộng rất nhiều khả năng của nhánh hành pháp trong việc phát động chiến tranh bí mật công nghệ cao. Với một quyết tâm khiến nhiều người ngạc nhiên, Obama đã tận dụng CIA, mở rộng quyền lực của CIA và chấp thuận các vụ tiêu diệt có mục tiêu với số lượng nhiều hơn bất cứ tổng thống đương đại nào. Trong ba năm qua, Chính quyền Obama đã thực hiện ít nhất 239 vụ tấn công bí mật bằng máy bay không người lái, nhiều hơn năm lần so với con số 44 vụ dưới thời Tổng thống George W. Bush. Và sau khi hứa sẽ tổ chức các chiến dịch chống khủng bố minh bạch hơn, cùng với kiềm chế quyền lực hành pháp, Obama đã làm ngược lại, duy trì tính bí mật và mở rộng quyền hạn của tổng thống.
Một điều không kém phần quan trọng là việc Chính phủ Mỹ sử dụng quá nhiều các vụ tấn công bằng máy bay không người lái đã làm tổn hại một trong những chính sách được hoan nghênh nhất: một cách tiếp cận mới, hậu 11/9, với việc sử dụng các lực lượng tiêu diệt của Mỹ, một cách tiếp cận đa phương, minh bạch và có trọng tâm.
Sự sẵn lòng của Obama trong việc sử dụng các lực lượng tiêu diệt của Mỹ không có gì đáng ngạc nhiên. Trong một bài diễn văn năm 2002, Thượng nghị sĩ bang Illinois Obama đã phản đối cuộc tấn công chiếm đóng Irắc sắp diễn ra của Tổng thống Bush, nhưng không phải là phản đối mọi cuộc chiến tranh, ông nói: “Tôi không phản đối tất cả các cuộc chiến, điều tôi phản đối là một cuộc chiến ngớ ngẩn . Và khi làm tổng thống, trong bài diễn văn nhận giải Nobel Hòa bình vào tháng 12/2009, Obama cảnh báo: “Sẽ có những thời điểm mà các quốc gia – hành động riêng lẻ hoặc tập thể – sẽ sử dụng vũ lực không chỉ khi cần thiết mà cả khi đúng về mặt đạo lý”. Từ đó đến nay, Obama không chỉ gửi quân đến Ápganixtan, Irắc, Libi, mà còn nhiều lần đồng ý cho tiến hành các cuộc tập kích của lính biệt kích tại Pakixtan và Xômali và trên biển, trong khi lãnh đạo một hệ thống đã thực hiện hàng trăm cuộc tấn công bằng máy bay không người lái.
Trong một loạt các cuộc phỏng vấn gần đây, các quan chức chính quyền đương nhiệm và đã rời nhiệm sở đã phác thảo cái có thể gọi là “học thuyết Obama” về sử dụng vũ lực. Việc Obama chủ trương theo chủ nghĩa đa phương, các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái, và sự hiện diện quân sự ít ỏi ở Libi, Pakixtan và Yêmen đã cho thấy hiệu quả hơn là cách tiếp cận đao to búa lớn của ông Bush ở Irắc và Ápganixtan. Ben Rhodes, Phó cố vấn an ninh quốc gia phụ trách truyền thông chiến lược, cho biết: “Chúng tôi sẽ sử dụng vũ lực đơn phương khi cần thiết để chống lại các mối đe dọa trực tiếp đối với Mỹ. Và chúng tôi sẽ sử dụng vũ lực một cách rất chính xác”.
Rhodes lập luận, các cuộc khủng hoảng mà Chính quyền Obama coi là các mối đe dọa gián tiếp đến Mỹ – như các cuộc nổi dậy ở Libi và Xyri – là “các mối đe dọa đối với an ninh toàn cầu” và được phản ứng bằng cách tiếp cận đa phương, không nhất thiết bằng vũ lực. Việc rút quân Mỹ tại Irăc và Ápganixtan, cũng như việc xây dựng một lực lượng quân đội nhỏ gọn, linh hoạt hơn trên khắp châu Á, Thái Bình Dương và Trung Đông, cũng là một phần của học thuyết. Sự ủng hộ một cách thận trọng đối với những người biểu tình ở Ai Cập, Iran và Xyri cũng như vậy.
Chiến lược đang nổi lên – cái mà Rhodes gọi là “đường hướng có trọng tâm cụ thể hơn nhiều đối với các đối thủ” – là một sự thay đổi đáng hoan nghênh từ các chính sách ưa dùng quân sự và ngôn từ hiếu chiến của cả Chính quyền Bush lẫn các ứng cử viên tổng thống hiện nay của đảng Cộng, hòa. Nhưng Obama đã cho CIA quá nhiều tự do trong việc thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái ở Pakixtan và Yêmen. Ở cả hai nước, các cuộc tấn công này thường có vẻ bị phản tác dụng.
Obama và các quan chức chính quyền khác cho rằng các máy bay không người lái được sử dụng hạn chế và làm chết rất ít dân thường. Trong một bình luận công khai hiếm hoi về chương trình này vào cuôi tháng Một vừa qua, Tổng thống Obama lên tiếng bảo vệ các cuộc tấn công. Obama nói: “Tôi muốn chắc chắn rằng mọi người hiểu là các máy bay không người lái không gây ra một lượng thương vong lớn cho dân thường. Phần lớn đây là các cuộc tấn công rất chính xác nhằm vào Al-Qaeda và các tổ chức ngoại vi. Và chúng tôi rất thận trọng khi áp dụng .
Nhưng từ Pakixtan tới Yêmen, tới một Irắc thời hậu Mỹ, máy bay không người lái thường gây ra sự phản kháng sâu sắc ớ những nơi nó hoạt động. Khi tấn công, chúng giết chóc không hề kém một loại vũ khí chiến tranh nào. Việc Chính phủ Mỹ xếp các cuộc tấn công trong diện “bí mật” chỉ làm gia tăng sự giận dữ và nghi kỵ của người dân địa phương. Dưới thời Obama, các cuộc tấn công này đã trở nên quá thường xuyên, quá đơn phương, và quá gần với việc sử dụng sức mạnh Mỹ theo kiểu mạnh tay.
Năm 2008, tôi chứng kiến việc này lần đầu tiên. Hai đồng nghiệp người Ápganixtan và tôi bị Taliban bắt cóc và giữ làm con tin tại các vùng thiểu số của Pakixtan trong bảy tháng. Từ dưới mặt đất, máy bay không người lái là một thứ vũ khí đáng sợ mà người ta có thể nghe thấy nó lượn vòng trên đầu hàng giờ liền. Chúng có uy lực và là biểu tượng đáng sợ của sức mạnh Mỹ không thể bị ngăn chặn. Đồng thời, chúng lại rất hiệu quả, có thể tiêu diệt những kẻ sản xuất bom ở nước ngoài và ngăn chặn các chiến binh Taliban tập hợp thành các nhóm lớn. Kinh nghiệm này khiến tôi bị thuyết phục rằng các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái cần được thực hiện – nhưng phải rất có lựa chọn.
Trong các cuộc phỏng vấn, các quan chức cả đương nhiệm lẫn đã rời nhiệm sở của Chính quyền Obama nói rằng tổng thống và các cận sự cao cấp của ông đã sốt sắng ngay từ đầu trong việc thể hiện sự khác biệt giữa cách tiếp cận của họ tại Pakixtan và Ápganixtan với Chính quyền Bush. Không giống như Irắc, trường hợp mà những người của đảng Dân chủ cho rằng Chính quyền Bush đã quá hiếu chiến, họ lại cho rằng Nhà Trắng dưới thời Bush đã không đủ cứng rắn đối với các nhà lãnh đạo Ápganixtan và Pakixtan. Vì thế chính quyền mới có cách tiếp cận đơn phương, cứng rắn hơn tại Nam Á và cách tiếp cận này sau đó được áp dụng với những nơi khác. Khi còn tranh cử, Obama tuyên bố trong chiến dịch hồi năm 2007 về tổng thống của Pakixtan khi đó rằng “Nếu chúng ta có thông tin tình báo ở mức có thể hành động được về các đối tượng khủng bố có giá trị cao mà Tổng thống Musharraf không hành động, chúng ta sẽ hành động”.
Trong năm đầu tiên tại vị, Tổng thống Obama chuẩn y hai đợt tăng quân lớn ở Ápganixtan và gia tăng nhanh chóng số lượng các điệp viên CIA tại Pakixtan. CIA cũng được tự do hơn trong việc thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tại các, vùng thiểu số không được chính phủ kiểm soát tại nước này, nơi các chiến binh nước ngoài và địa phương lên kế hoạch tấn công vào Ápganixtan, Pakixtan và những nơi khác.
Quyết định này phản ảnh cả niềm tin của Obama vào sự cần thiết phải chủ động hơn tại Pakixtan lẫn ảnh hưởng của CIA trong chính quyền mới. Theo các quan chức cũ lẫn đương nhiệm của chính quyền, ở một phạm vi lớn hơn so với thời Bush, Obama và các cận sự cao cấp đã dựa vào CIA để có phân tích về tình hình Pakixtan. Kết quả là, duy trì khả năng của CIA trong việc thực hiện hoạt động chống khủng bố ở Pakixtan đã trở thành ưu tiên tối cao.
Một cựu quan chức nói: “Điều quan trọng nhất khi nói đến Pakixtan là phải có khả năng thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái, ngoài ra không có gì khác. Cái gọi là trọng tâm chiến lược của mối quan hệ song phương chỉ đơn thuần để phục vụ cho cách tiếp cận chống khủng bố”.
Ban đầu, CIA đã đúng. Việc gia tăng các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái đã loại bỏ các thành viên cao cấp của Al-Qaeda trong năm 2009. Sau đó, vào tháng 7/2010, những người Pakixtan làm việc cho CIA bám sát theo một chiếc Suzuki màu trắng trên các con phố đông đúc ở Peshawar. Sau đó người ta lần theo người lái xe tới một dinh thự lớn ở thành phố Abbottabad. Ngày 2/5/2011, lính biệt kích Mỹ đã tiêu diệt Osama Bin Laden tại đây.
Tuy nhiên, theo các cựu quan chức Mỹ, sự hiện diện của tình báo Mỹ đã vượt xa mục tiêu truy lùng Bin Laden. Có thời điểm CIA đã cố triển khai hàng trăm nhân viên ở khắp Pakixtan nhưng sau đó đã rút lại kế hoạch vì các quan chức Pakixtan đang nghi kỵ đã từ chối cấp thị thực cho những người này. Đồng thời, CIA đã tích cực sử dụng quyền tự do mà Obama cho phép để thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái nhiều nhất từ trước tới nay.
Được thành lập dưới thời Chính quyền Bush và Musharraf vào năm 2004, chương trình máy bay không người lái bí mật của CIA ban đầu chỉ thực hiện các cuộc tấn công “cá nhân” nhằm vào danh sách các thành viên cao cấp của Al-Qaeda đã được đồng ý trước. Các quan chức Pakixtan được thông báo trước khi diễn ra rất nhiều, nhưng không phải tất cả, các cuộc tấn công. Trong khoảng từ năm 2004 đến 2007, theo tổ chức New America Foundation, 9 cuộc tấn công như vậy được thực hiện tại Pakixtan.
Năm 2008, Chính quyền Bush nới lỏng hạn chế các cuộc tấn công vào các vùng thiểu số. Thay vì dựa trên thông tin tình báo về một cá nhân cụ thể, những người điều khiển máy bay không người lái của CIA có thể thực hiện các cuộc tấn công dựa trên hành vi của những người dưới mặt đất. Họ có thể thực hiện các cuộc tấn công nếu, chẳng hạn, thấy một nhóm người qua lại vùng biên giới Ápganixtan-Pakixtan. Trong năm 2008, Chính quyền Bush thực hiện 33 cuộc tấn công.
Dưới thời Obama, chiến dịch sử dụng máy bay không người lái gia tăng nhanh chóng. Con số các cuộc tấn công đã tăng gần gấp đôi lên 53 trong, năm 2009 và gấp đôi tiếp lên 118 vào năm 2010. Các quan chức cũ trong chính quyền nói rằng các quy định lỏng lẻo hơn đã dẫn đến việc giết hại nhiều thường dân hơn. Các quan chức đương nhiệm thì cho rằng Obama thực chất đã thắt chặt các quy định về việc sử dụng máy bay không người lái tấn công, kể từ khi nhậm chức đến nay. Họ nói rằng số lượng các vụ tấn công tăng lên dưới thời Obama là vì công nghệ được cải thiện và thông tin tình báo thu thập được đã tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các cuộc tấn công so với thời Bush.
Nhưng khi sự giận dữ của công luận tại Pakixtan gia tăng, các nhà ngoại giao khác cùng thể hiện sự lo ngại. Đại sứ Mỹ tại Pakixtan một thời là Anne Patterson đã phản đối nhiều vụ tấn công, nhưng CIA phớt lờ ý kiến của bà. Khi Cameron Munter thay thế Patterson vào tháng 10/2010, ông thậm chí còn phản đối mạnh mẽ hơn. Tờ Nhật báo Phố Uôn sau đó cho biết có ít nhất hai lần giám đốc CIA Leon Panetta đã gạt bỏ lời phản đối của Munter và cho phép các cuộc tấn công. Một cuộc xảy ra chỉ vài giờ sau khi Thượng nghị sĩ John Kerry, Chủ tịch ủy ban Đối ngoại Thượng viện, kết thúc chuyến thăm tới Ixlamabát.
Một cuộc tấn công vào tháng 3/2011 đã gây nên tranh cãi tại Nhà Trắng. Một ngày sau khi các quan chức Pakixtan đồng ý thả Raymond Davis, một nhân viên hợp đồng với CIA, cơ quan này – một lần nữa bất chấp phản đối của Đại sứ Munter – thực hiện một vụ tấn công mà người Pakixtan cho biết đã giết chết 4 phiến quân Taliban và 38 dân thường, vốn đã bất bình về vụ Raymond Davis, Tư lệnh Lục quân Pakixtan là Tướng Ashfaq Parvez Kayani ra một tuyên bố bất thường, nói rằng một nhóm người già thuộc sắc tộc thiếu số đã bị nhắm thành mục tiêu một cách bất cẩn và nhẫn tâm với thái độ coi thường hoàn toàn mạng sống con người. Các quan chức tình báo Mỹ đã phớt lờ phàn nàn của Pakixtan và khẳng định rằng 20 phiến quân đã bị tiêu diệt. Một quan chức nói với hãng tin AP rằng “Có mọi biểu hiện cho thấy đây là một nhóm khúng bố, không phải là một cơ sở rửa xe từ thiện nằm sâu trong lãnh thổ Pakixtan.
Bất ngờ trước phản ứng chính thức mạnh mẽ của Pakixtan, cố vấn an ninh quốc gia Tom Donilon đặt câu hỏi liệu các cuộc tấn công kiểu này có đáng làm hay không. Những người chỉ trích bên trong và ngoài Chính phủ Mỹ cho rằng một chương trình ban đầu vốn là nỗ lực có mục tiêu cẩn trọng nhằm tiêu diệt các lãnh đạo cao cấp của Al-Qaeda đã biến thành một chiến dịch đánh bom nhằm vào các phần tử Taliban cấp thấp. Một số nhà phân tích bên ngoài thậm chí còn cho rằng chính quyền đã thực hiện một chính sách bất thành văn là “diệt không cần bắt sống”, do không có khả năng đóng cứa nhà tù Guantanamo của thời Bush và xây dựng một hệ thống giam giữ mới.
Vào tháng 4/2011, giám đốc cơ quan tình báo Pakixtan, Trung tướng Ahmed Shuja Pasha, đến thăm Oasinhtơn trong một nỗ lực nhằm cải thiện lại quan hệ. Ngay sau chuyến thăm này, lại có thêm hai cuộc tấn công bằng máy bay không người lái xảy ra tại các khu vực người thiểu số, điều mà ông Pasha coi là một sự xỉ nhục đối với cá nhân mình. Trong một động thái nhượng bộ hiếm có, Leon Panetta đồng ý thông báo cho cơ quan tình báo Pakixtan trước khi Mỹ thực hiện bất cứ cuộc tấn công nào có thể giết chết trên 20 người.
Tháng Năm, sau khi cuộc tập kích Bin Laden gây ra thêm sự giận dữ cho các quan chức Pakixtan, một quan chức chính quyền cho biết cố vấn Donilon mở một cuộc tổng kết trong nội bộ về việc các cuộc tấn công đã được chấp thuận như thế nào. Nhưng sau đó các cuộc tấn công vẫn tiếp diễn. Cuối tháng đó, các quan chức của Bộ Ngoại giao Mỹ nổi giận khi có ba cuộc tấn công bằng tên lửa diễn ra sau chuyến thăm của Ngoại trưởng Hillary Clinton tới Pakixtan.
Khi chương trình tổng kết của cố vấn an ninh Donilon tiến triển, tờ Nhật báo Phố Uôn cho biết đã diễn ra một cuộc tranh cãi gay gắt trong Chính quyền Obama về việc sử dụng máy bay không người lái. Đô đốc Mike Mullen, khi đó là Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, nói rằng các cuộc tấn công nên có chọn lọc hơn. Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates canh báo rằng các quan chức Pakixtan đang giận dữ có thể cắt các tiếp viện cho quân Mỹ tại Ápganixtan. Bà Clinton cảnh báo rằng việc quá nhiều thương vong cho đân thường có thể củng cố phe đối lập tại Pakixtan trước tổng thống Asif Ali Zardari đang ở thế yếu.
Theo một cựu quan chức, CIA phản bác lại rằng các phiến quân Taliban là các mục tiêu hợp lệ vì họ đang thực hiện các cuộc tấn công ở bên kia biên giới nhằm vào các lực lượng Mỹ. Đến tháng Sáu, Obama đứng về phía CIA, Panetta chấp thuận rằng sẽ không thực hiện vụ tấn công nào khi các quan chức Pakixtan đến thăm Oasinhtơn và rằng Ngoại trưởng Clinton và đại sứ Munter có thể phản đối các kế hoạch tấn công. Nhưns Obama vẫn cho phép giám đốc CIA quyền quyết định cuối cùng.
Tháng 11/2011, tình huống xấu nhất mà Mullen, Gates và Clinton cảnh báo đã xảy ra. Sau khi các cuộc không kích của NATO giết nhầm 24 binh lính Pakixtan trên biên giới Ápganixtan-Pakixtan, Kayani yêu cầu chấm dứt các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái và chặn đường tiếp tế cho binh sĩ Mỹ tại Ápeanixtan. Đồng thời, phe đối lập với Tổng thống Zardar mạnh lên nhanh chóng. Sau khoảng gần hai tháng tạm lắng cho phép các phiến quân tập hợp lại, các cuộc tấn công lại tiếp diễn tại các vùng thiểu số hồi tháng Một vừa qua. Nhưng theo một cựu quan chức cao cấp, các cuộc tấn công dựa trên “dấu hiệu” đã không còn được phép vào lúc này.
Đối với người dân Pakixtan, các cuộc tấn công có tác động rất tai hại. Trong một thăm dò của Trung tâm nghiên cứu PEW, 97% người dân Pakixtan được biết về các cuộc tấn công cho rằng các vụ việc này là một điều tồi tệ. 73% người Pakixtan có quan điểm không ủng hộ Mỹ, cao hơn 10% so với năm 2008. Các quan chức chính quyền nói rằng các cuộc tấn công này được sự ủng hộ của những người Pakixtan ở vùng sắc tộc và đã mệt mỏi với sự cai trị tàn bạo của lực lượng thánh chiến, Và họ cho rằng các quan chức Chính phủ Pakixtan – trong khi chỉ trích các cuộc tấn công trước công luận – lại đồng ý khi riêng tư rằng chúng giúp chống lại lực lượng phiến quân. Các quan chức Mỹ cũng đồng tình rằng việc minh bạch hơn các cuộc tấn công có thể giảm bớt sự giận dữ của công luận tại những nơi khác ở Pakixtan. Nhưng họ nói rằng một số bộ phận trong Chính phủ Pakixtan tiếp tục đòi hỏi giữ bí mật các cuộc tấn công.
Điều chung quy là đường hướng của cả hai chính phủ đều đang thất bại. Nền kinh tế Pakixtan đang hết sức khó khăn. Lực lượng quân sự tiếp tục che chở cho các phiến quân Taliban mà họ coi là vũ khí để chống lại ảnh hưởng của Ấn Độ tại Ápganixtan. Tỉ lệ người Pakixtan ủng hộ việc sử dụng quân đội Pakixtan chống lại các phần tử cực đoan ở vùng sắc tộc – điều mấu chốt đế loại bỏ phiến quân – đã giảm nhanh chóng từ mức 53% năm 2009 xuống còn 37% vào năm ngoái. Pakixtan hiện bất ổn hơn so với khi ông Obama nhậm chức.
Một động lực tương tự đang tạo ra kết quả thậm chí còn xấu hơn ở điểm phía Nam của Bán đảo Arập. Sau một thời gian dài Mỹ không chú ý, Yêmen đột ngột trở thành tâm điểm sau một cuộc tấn công liều chết vào tàu USS Cole khiến 17 thủy thủ Mỹ thiệt mạng ở cảng Aden vào năm 2000. Năm 2002, Chính quyền Bush thực hiện một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tại Yemen, giết chết Abu Ali al-Harithi, một nhân vật Al- Qaeda có vai trò chủ chốt trong việc tổ chức cuộc tấn công vào tàu Cole. Trong những năm sau đó, Chính phủ Mỹ chuyển dần sự chú ý tới Irắc và các nhóm phiến quân bắt đầu tập hợp lại.
Vụ tấn công không thành vào tháng 12/2009 của một phiến quân được huấn luyện tại Yemen khi tên này định phát nổ một trái bom trên một chuyến bay đến Detroit đã khiến Obama chú ý đến quốc gia này. Trong hai năm sau đó, Mỹ thực hiện khoảng 20 vụ không kích tại Yemen, hầu hết trong năm 2011. Ngoài việc tiêu diệt các phần tử có liên hệ với Al – Qaeda, các cuộc tấn công còn làm chết hàng chục dân thường. Theo Gregory Johnsen, một chuyên gia về Yêmen tại Đại học Princeton, thay vì làm suy yếu Al-Qaeda, các cuộc tấn công của Obama đã làm tăng thêm quân số của tổ chức tại vùng Bán đảo Arập từ 300 năm 2009 lên hơn 1000 hiện nay. Tháng Một vừa qua, tổ chức này còn kiểm soát được trong thời gian ngắn thị trấn Radda chỉ cách thủ đô Sanaa 100 dặm. Chuyên gia Johnsen nói: “Tôi không tin rằng Mỹ có một chính sách đối với Yêmen. Cái mà Mỹ có là một chiến lược chống khủng bố áp dụng vào Yemen .
Cái chết của Bin Laden và các cận sự là một bước tiến, nhưng Pakixtan và Yêmen đang ngày càng bất ổn. Pakixtan là một nước có vũ khí hạt nhân với 180 triệu dân và các mạng lưới phiến quân ngoan cường. Yêmen, một quốc gia nghèo đói và thất bại, đang nhanh chóng trở thành căn cứ địa mới của Al-Qaeda. Một cựu quan chức của Chính quyền Obama nói: “Họ nghĩ rằng họ đã chiến thắng vì đường hướng này. Nhiều người trong chúng tôi cho rằng sẽ có nhiều vấn đề lớn hơn trong tương lai”.
Sự phản tác dụng từ các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tại các quốc gia mà Mỹ áp dụng không phải là điều lo ngại duy nhất. Tại Mỹ, các tổ chức dân quyền và nhân quyền đang ngày càng quan ngại về phạm vi quyền lực mà Obama dành cho phía hành pháp khi mà ông phát động một hình thức chiến tranh mới.
Trong cuộc xung đột Libi, Chính phủ Mỹ đã dùng đến máy bay không người lái để tạo một tiền lệ pháp lý mới. Theo Nghị quyết Quyền hạn Chiến tranh, tổng thống phải được sự chấp thuận của Quốc hội cho các hành động quân sự trong vòng 60 ngày. Khi sắp hết thời hạn đó hồi tháng Năm, chính quyền thông báo rằng vì các cuộc tấn công của NATO và máy bay không người lái đang thực hiện sứ mệnh, nên không có mối đe dọa nghiêm trọng nào về nhân mạng đối với Mỹ và vì thế không cần sự phê chuẩn của Quốc hội. Theo Peter Singer, một nhà nghiên cứu của Viện Brookings, “nó đã thay đổi cách các chính trị gia nói về điều gì nên là quan trọng nhất mà một quốc gia tham gia .
Mùa Thu năm ngoái, một loạt các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tại Yêmen đã tạo nên một tiền lệ nguy hiểm khác, theo các tổ chức tự do dân quyền và nhân quyền. Không có bất cứ một tiến trình pháp luật công khai nào, Chính phủ Mỹ hành quyết ba công dân của chính mình. Ngày 30/9, một cuộc tấn công bằng máy bay lchông người lái đã giết chết Anwar al-Awlaki, một giáo sĩ có uy tín sinh ra tại Mỹ mang gốc Yêmen bị cho là khích động các cuộc tấn công khủng bố trên khắp thế giới. Samir Khan, một phần tử thánh chiến người Mỹ gốc Pakixtan đi cùng cùng bị giết. Nhiều tuần sau đó, một cuộc tấn công khác đã giết chết con trai 16 tuổi của Awlaki, Abdulrahman al-Awlaki, cũng là một công dân Mỹ. Các quan chức chính quyền khẳng định rằng Bộ Tư pháp đã xem xét và cho phép các vụ tấn công, nhưng lại từ chối cung cấp văn bản.
Jameel Jaffer, Phó Giám đốc phụ trách pháp lý của Liên minh Quyền tự do Dân sự Mỹ, nói: “Chính quyền đã cho mình quyền thực hiện các cuộc hành quyết ngoại tụng đối với công dân Mỹ trên cơ sở chứng cứ bí mật và không ai thấy bao giờ. Rất khó có thể hiểu điều này đã tuân thủ hiến pháp như thế nào.
Sau khi chỉ trích Chính quyền Bush đã giữ bí mật chi tiết về các hoạt động giám sát, tham vấn và giam giữ, Obama giờ đang làm điều tương tự. Chính quvền của ông đã từ chối cung cấp các chi tiết về việc tại sao lại đặt một người vào danh sách cần tiêu diệt, thực hiện các vụ nghe trộm ở Mỹ, hay quyết định phải giam giữ ai ở nước ngoài. Chính quyền Obama cũng đang truy tố sáu cựu quan chức chính phủ với các cáo buộc làm lộ thông tin mật cho giới truyền thông – nhiều hơn tất cả các vụ việc của các chính quyền trước đó cộng lại.
Các quan chức chính quyền bác bỏ việc giữ bí mật và khẳng định rằng họ đã công bố thông tin về các hoạt động chống khủng bố nhiều hơn so với Chính quyền Bush, vốn đã từ chối quyết liệt việc công bố các chi tiết về “cuộc chiến chống khủng bố” và lập ra chương trình máy bay không người lái bí mật tại Pakixtan. Các quan chức của Obama nói họ đã xây dựng cách tiếp cận minh bạch hơn và linh hoạt hơn bên ngoài Pakixtan, có liên quan tới các cuộc tập kích quân sự, tấn công bằng máy bay không người lái, và các nỗ lực khác. Họ cho biết mọi cuộc tấn công tại Yêmen đều được các quan chức Yêmen chấp thuận. Cuối cùng, họ hy vọng biến các cuộc tấn công này thành các hoạt động chung, được thực hiện một cách công khai với chính quyền địa phương.
Theo Jaffer, việc giữ bí mật các hoạt động này khiến các tòa án Mỹ không thể xem xét tính hợp hiến của nó. Chuyên gia này chỉ ra rằng nếu một tổng thống của đảng Cộng hòa đi theo các chính sách như vậy, sự phản đối từ phía tả sẽ cực kỳ ồn ào. Jaffer nói: “Cần phái nhớ rằng quyền hạn này sẽ được chính quyền tiếp theo và tiếp sau nữa sử dụng.
Một cách xứng đáng, Obama và các quan chức cao cấp của ông đã thành công trong việc giới hạn lại cuộc chiến toàn cầu của ông Bush thành một cuộc chiến có trọng điểm hơn nhằm vào Al-Qaeda. Họ đã chấm dứt sử dụng thuật ngữ “cuộc chiến chống khủng bố” và thay vào đó coi đây là chiến dịch nhằm vào một tổ chức riêng biệt, được xác định rõ ràng.
Các quan chức Chính quyền Obama coi việc lật đổ Muammar Gaddafi là một ví dụ điển hình cho sự thành công của cách tiếp cận đa phương và có trọng điểm hơn trong sử dụng vũ lực. Với chi phí nhân mạng của Mỹ bằng không và 1 tỉ USD, cuộc can thiệp ở Libi đã loại bỏ được một kẻ độc tài trong 5 tháng. Cuộc tấn công chiếm đóng Irắc đã làm 4484 người Mỹ thiệt mạng, tiêu tốn ít nhất 700 tỉ USD, và kéo dài gần 9 năm.
Phó cố vấn an ninh quốc gia Ben Rhodes nói: “Dấu ấn nhỏ của Mỹ không chỉ mang lại ích lợi về nhân mạng và nguồn lực. Chúng tôi tin rằng cuộc cách mạng Libi còn được coi là có tính chính danh hơn. Mỹ được hoan nghênh hơn. Và có ít khả năng xảy ra nổi dậy hơn vì không có sự hiện diện của các lực lượng nước ngoài .
Trong đề xuất tham vọng nhất của mình, Chính quyền Obama đang cố gắng tái cấu trúc quân đội Mỹ, thực hiện cắt giảm mạnh chi tiêu, và đưa về “quy mô đúng” các lực lượng Mỹ trên khắp thế giới. Theo kế hoạch của Obama, Lục quân Mỹ sẽ giảm 80.000 quân, một số đơn vị của Mỹ sẽ được chuyển từ Trung Đông sang Thái Bình Dương, và mở thêm các căn cứ nhỏ, bí mật. Các đơn vị thuộc Lực lượng Đặc biệt đã mở rộng quy mô rất lớn tại Irắc và Ápganixtan sẽ huấn luyện các lực lượng địa phương và thực hiện các cuộc tập kích chống khủng bố. Tuyên bố Al-Qaeda gần như đã bị đánh bại, các quan chức chính quyền nói giờ là lúc chuyển sang một trọng tâm mới.
Ben Rhodes nói: “Mỹ sẽ có lợi ích lớn hơn ở đâu vào năm 2020? Là châu Á – Thái Bình Dương hay Yêmen? Rõ ràng, khu vực châu Á – Thái, Bình Dương đang ngày càng trở nên quan trọng hơn . Ben Rhodes có lý, nhưng Pakixtan và vũ khí hạt nhân của họ – cũng như Yêmen và vị trí lân cận của nó đối với các mỏ dầu và đường biển tối quan trọng – nhiều khả năng vẫn sẽ ám ảnh Mỹ trong nhiều năm nữa./.
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
LIỆU NGÔI NHÀ CHÂU ÂU BỊ CHIA RẼ CÓ THỂ ĐỨNG VỮNG?
Tài liệu tham khảo đặc biệt -Thứ hai, ngày 19/3/2012 —-(Hugo Dixon – Tạp chí Foreign Affairs )
Theo sự hiểu biết thông thường, khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu không thể có một liên minh tiền tệ mà không có một liên minh tài chính. Những người ủng hộ nhiệt tình đồng euro coi đồng tiền chung duy nhất như là bàn đạp đầu tiên hướng tới một liên minh kinh tế rộng lớn hơn vốn vẫn là giấc mơ của họ. Những người hoài nghi về đồng euro cũng có suy nghĩ như vậy nhưng họ coi kết cục đó như một địa ngục và muốn hủy bỏ đồng tiền chung duy nhất.
Đối với nhiều nhà quan sát, cuộc khủng hoang đồng euro đã củng cố những quan niệm này. Cả hai phe tranh luận rằng những nỗ lực không cân xứng của các nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro nhằm xây dựng một liên minh tiền tệ mà không có một liên minh tài chính giải thích vì sao liên minh này đã trở thành một thứ hỗn độn kiểu như vậy. Nhiều người hăng hái ủng hộ nói rằng con đường tiến về phía trước là 17 nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro phát hành các trái phiếu ngoại lai (euro bonds) mà tất cả họ phải đứng ra bảo đảm (một trong một vài biến tấu trên chủ đề về học thuyết liên minh tiền tệ). Ngay cả Chính phủ Đức vốn miễn cưỡng phải bỏ tiền ra để bảo trợ cho các nền kinh tế yếu kém hơn nền kinh tế nước này cũng cho rằng kiểu góp vốn nhất định có thể là cần thiết một khi những vấn đề nợ nần được giải quyết.
Một liên minh tài chính sẽ không xuất hiện ngay vào bất kỳ lúc nào, và chắc chắn không đến nhanh đủ mức để giải quyết cuộc khủng hoảng hiện nay. Liên minh này cần có một hiệp ước mới và điều đó đòi hỏi một sự nhất trí đồng thuận. Thật khó tưởng tượng làm thế nào để nhanh chóng đạt được một thỏa thuận kiểu như vậy do sự phản đối quyết liệt của các chính khách và công chúng ở các nền kinh tế tương đối lành mạnh thuộc khu vực sử dụng đồng euro (dẫn đầu là Phần Lan, Đức và Hà Lan) đối với việc tiếp tục cứu trợ tài chính những nước yếu kém hơn họ (như Hy Lạp, Alien, Italia, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha). Ngoài ra, một khi cuộc khủng hoảng này được giải quyết, nhiệt tình dành cho việc thiết lập một liên minh tài chính có thể bị giảm sút. Ngay cho là Đức hiện vẫn chuẩn bị chia sẻ một số trách nhiệm về vấn đề ngân sách nước này sẽ yêu cầu áp đặt kỷ luật chặt chẽ về việc các nước khác có thể chi tiêu và vay mượn như thế nào. Trong khi đó, các nước yếu hơn có thể không muốn qui phục một sự trói tay trói chân của người Giécmanh. một khi nỗi lo ngại trước mắt về việc phá sản đã trôi qua.
Nhưng không chỉ có hai con đường ở phía trước: liên minh tiền tệ hoặc xóa bỏ đồng euro. Có một sự lựa chọn thứ ba thích hợp hơn: một kiểu ký luật thị trường kết hợp với nhiệt tình mạnh mẽ. Theo giải pháp này, cá nhân mỗi nước sẽ phải có trách nhiệm tối đa đối với nền tài chính của những nước đó nhưng họ cũng cần phải chấp nhận mạnh mẽ hơn thị trường tự do. Các chính phủ đã vay mượn quá nhiều tiền sẽ phải được tự do phá sản. Cũng cần có những sự cứu trợ tài chính hạn chế dành cho các chính phủ và ngân hàng ít gặp rắc rối hơn, mặc dù đổi lại phải tiến hành công cuộc cải cách kinh tế và việc thắt lưng buộc bụng. Kết quả dẫn đến sẽ là các nền kinh tế thích hợp hơn và một châu Âu có đủ sức mạnh để đóng một vai trò lớn hơn trên vũ đài thế giới.
Khi bài báo này được đăng, cuộc khủng hoảng ở khu vực sử dụng đồng euro đã ở trong giai đoạn đặc biệt gay gắt. Các thị trường ở trong tình trạng rất lo ngại, việc cứu trợ cả gói mới đây nhất cho Hy Lạp cũng vấp phải khó khăn, và hầu hết khu vực này đã mấp mé ở bên bờ vực của suy thoái. Tây Ban Nha đang ở giữa chiến dịch tổng tuyển cử, và Chính phủ của Silvio Berlusconi ở Italia đã để mất chính quyền. Tuy nhiên, giữa sự hỗn độn, đã có những dấu hiệu cho thấy khu vực sử dụng đồng euro có thể luẩn quấn vụng về tiến tới một cái gì đó giống như sự lựa chọn quy tắc thị trường cộng thêm nhiệt tình mạnh mẽ để giải quyết những cuộc khủng hoảng trước mắt. Khu vực này cũng cần phải chấp nhận nó như một mô hình dài hạn.
Sự chia rẽ
về lý thuyết, một đồng tiền chung có nhiều lợi thế đối với thị trường chung duy nhất của Liên minh châu Âu, trong đó cũng bao gồm các nước, chẳng hạn như Liên hiệp Vương quốc Anh, đã quyết định đứng ngoài khu vực sử dụng đồng euro. Khi người dân không lo ngại về những đồng tiền bị thay đổi thất thường, họ có thể làm ăn kinh doanh xuyên biên giới dễ dàng hơn, tham gia đầu tư dài hạn ở bất kỳ đâu trên thị trường này đồng thời xây dựng các hãng kinh doanh xuyên quốc gia. Khả năng khai thác các nền kinh tể có quy mô và cơ hội để cạnh tranh trên khắp lục địa là những phần thưởng đáng giá.
Nhưng cũng có một bất lợi lớn: các nước riêng biệt đã để tuột mất khả năng làm cho các chính sách tiền tệ của họ thích ứng với những nhu câu đặc biệt của họ bằng việc định ra các tỉ lệ lãi suất riêng của họ. Thay cho việc này, Ngân hàng Trung ương châu Âu đã định ra các lãi suất, và đây là cả một vấn đề vì các nền kinh tế khác nhau đang chuyển động với những tốc độ khác nhau. Ví dụ như các lãi suất thấp trên khắp khu vực sử dụng đồng euro trong những năm sát năm 2007 đã thổi phồng bong bóng nhà ở xảy ra sau đó ở Tây Ban Nha.
Liệu những lợi ích của việc có một đồng tiền chung duy nhất có lớn hơn những chi phí để có được đồng tiền này hay không phụ thuộc chủ yếu vào ba nhân tố: nét tương tự giữa các nền kinh tế được bảo vệ bởi chính sách tiền tệ chung duy nhất, sự linh hoạt của chúng và việc duy trì một ngân sách trung ương lớn có thể được sử dụng để chuyển tiền từ những khu vực phát đạt sang những khu vực đang phải vật lộn để phát triển. Các nền kinh tế với những cơ cấu và chu kỳ tương tự cảm thấy dễ dàng hơn trong việc chung sống với một chính sách tiền tệ một cỡ vừa cho tất cả . Thậm chí các nền kinh tế khác hiệt có thể đối phó với một đồng tiền chung duy nhất chừng nào mà họ vẫn có khả năng thích ứng – cụ thể là chừng nào mà các doanh nghiệp của họ có thể đễ dàng thuê và sa thải nhân viên và người dân sẵn sàng vượt biên giới để tìm kiếm việc làm.
Khu vực sử dụng đồng euro không thể nổi lên một cách tốt đẹp bằng bất kỳ giải pháp nào trong số những giải pháp này, đặc biệt khi so sánh với Mỹ. Các nền kinh tế châu Âu hiện đa dạng, các thị trường lao động của khu vực này bị bao vây bởi những hạn chế phức tạp, và châu Âu chỉ có một ngân sách trung ương nhỏ mà nhờ đó có thể giúp các khu vực đang vấp phải khó khăn. Đây là lý do vì sao những người nhiệt tình ủng hộ đồng euro cũng như những người còn hoài nghi về đồng tiền này – từ Jacques Delors, cựu Chủ tịch Ủy ban châu Âu và là một trong những kiến trúc sư chủ đạo của việc dưa ra đồng tiền chung duy nhất, cho tới Boris Johnson, thị trưởng Luân Đôn lập luận rằng một liên minh tài chính là cần thiết để bôi trơn những bánh xe của liên minh tiền tệ.
Tăng thêm nợnần
Nhưng có một cách sống khác trong những sự kiềm chế của một chinh sách tiền tệ một cỡ vừa cho tất cả : củng cố các nước thành viên yếu kém hơn của châu Âu, đặc biệt bằng việc làm cho các nền kinh tế của họ trở nên linh hoạt hơn. Trước khi đồng tiền chung duy nhất được đưa ra vào năm 1999, các chính phủ không có động cơ thực thi những cải cách cứng rắn cần thiết để làm cho điều đó xảy ra. Bất kỳ khi nào các nước như Hy Lạp hoặc Italia thấy họ trở nên không có khả năng cạnh tranh, các chính phủ của họ lại phá phá các đồng tiền của nước họ. Sau khi liên minh tiền tệ được thiết lập, các nền kinh tế không đạt tiêu chuẩn cần thiết của khu vực sử dụng đồng euro đã tìm thấy một lối thoát khác: họ đã đi vay mượn tiền. Việc này cho phép các chính phủ đó tài trợ những mức chi phí cao mà không cần tăng thuế. Nhưng khi các nền kinh tế này trở nên yếu kém hơn, sự cạnh tranh của họ đã bị giảm sút.
Nhiều nước cũng đã bị chồng chất nợ nần, gieo hạt cho cuộc khủng hoảng nợ hiện nay. Theo Hiệp ước Maastricht, hiệp ước đã mở ra tiến trình thiết lập liên minh tiền tệ, các chính phủ được cho là không vấp phải nợ nần tương đương trên 60% của GDP, nhưng tất cả các nền kinh tế chủ yếu của khu vực sử dụng đồng euro đã vượt đáng kể mức đó. Sau khi nền kinh tế thể giới trở nên trì trệ vào đầu thế kỷ này, các nước được coi là có đạo đức, chẳng hạn như Pháp và Đức, đã bắt đầu các nguyên tắc coi thường nhằm hạn chế mức thâm hụt ngân sách. Rồi sau đó không có cơ hội để làm cho những nước khác tuân theo kỷ luật. Năm ngoái, các tỉ lệ nợ so với GDP của Pháp và Đức đã vượt quá 80%; tỉ lệ trên của Italia lên tới 119% và của Hy Lạp là 143%.
Nợ nần tăng không chỉ vì các chính phủ đã phá vỡ luật lệ; Nợ nần tăng do các chính phũ đã tìm cách thuyết phục các nhà đầu tư, đặc biệt là các ngân hàng và các công ty bảo hiểm, cho họ vay tiền. Bắt đầu từ đầu năm 2010, các nhà dầu tư cuối cùng đã ngừng tài trợ cho Hy Lạp; sau đó, họ đã ngừng tài trợ cho Ailen và Bồ Đào Nha. Nhưng tác động của trái phiếu này đã phải mất một thời gian dài đáng sợ mới xuất hiện. Thất bại của thị trường trong việc đưa các chính phủ di vào kỷ luật sớm hơn chủ yếu là do hậu quả của chính bản thân của các chính phủ đó. Họ đã lợi dụng quan điểm rộng rãi cho rằng các nước châu Âu không thể bị vỡ nợ. Việc này đã được củng cố theo cách các ngân hàng đã và vẫn đang được chấn chỉnh. Cái gọi là những luật lệ Basel, những khuyến nghị về các quy định của ngân hàng do các giám đốc Ngân hàng Trung ương của các nước thuộc nhóm G-20 và những nước khác đưa ra, cho rằng các trái phiếu của chính phủ là những tài sản không chịu rủi ro và vì vậy các ngân hàng không phải giữ bất kỳ nguồn vốn nào khi họ đầu tư vào chúng. Chẳng có gì ngạc nhiên, các ngân hàng đã đầu tư vào trái phiếu, với hậu quả dẫn đến là các vấn đề nợ chính phủ cũng đã ảnh hưởng đến các ngân hàng đó. Ngoài ra, cả trước và sau khi hàng Lehman Brothers bị phá sản hồi tháng 9/2008, các Ngân hàng Trung ương ở cả hai hên bờ Đại Tây Dương đã làm tràn ngập thế giới bằng loại tiền được đem bán với giá rẻ, bóp méo các thị trường tiền tệ và tạo điều kiện dễ dàng cho các chính phủ mắc thêm nợ nần, Chính là sự phá vỡ luật lệ có chủ tâm của các chính phủ cũng như sự lũng đoạn thị trường của họ nhằm ủng hộ các trái phiếu của chính phủ, chứ không phải việc thiếu một liên minh tài chính, đã dẫn đến các cuộc khủng hoảng hiện nay.
Sự lệ thuộc đồng euro
Tuy nhiên, việc này không ngăn cản các nền kinh tế yếu kém của châu Âu kêu gọi việc thiết lập một liên minh tài chính. Hoàn toàn ngược lại: họ đang tìm kiếm một cách khác để tiếp tục sống theo kiểu vung tay quá trán. George Papandreou, Thủ tướng Hy Lạp, và Giulio Tremonti, Bộ trưởng Tài chính Italia, muốn các nước của họ có khả năng phát hành các trái phiếu euro bonds. Người ta có thể thấy sự hấp dẫn: các trái phiếu trên sẽ bảo vệ những nước yếu kém tránh khỏi kỷ luật của thị trường bằng việc báo hiệu cho các nhà đầu tư rằng Đức và những nước thích hợp khác cuối cùng sẽ thanh toán hóa đơn nếu Hy Lạp và Italia bị vỡ nợ. Nhưng theo quan điểm của các nước mạnh, việc cho phép phát hành các trái phiếu bonds euro sẽ cấp giấy phép cho các nền kinh tế yếu kém chi tiêu hoang phí, trừ phi nó được thực thi theo cách được kiểm soát rất chặt chẽ. Ngoài ra, sự cần thiết phải gánh nợ cho toàn thể các nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro cuối cùng có thể cũng làm kiệt sức các nước có nền kinh tế mạnh.
Một vài cách diễn giải ý tưởng này được cho là dễ chấp nhận hơn đã được đưa ra. Một báo cáo do tổ chức tư vấn Bruegel có trụ sở tại Brúcxen công bố đề nghị giới hạn các trái phiếu bonds euro ở mức 60% GDP của mỗi nước. Trở ngại bất ngờ là các nước gặp khó khăn hiện có khoản nợ trên mức đó, điều đặt ra câu hỏi họ sẽ phải tự tài trợ như thế nào. Đây là lý do mà George Soros và các chuyên gia giỏi khác về thị trường đã biện luận ủng hộ một con số cao hơn nhiều.
Đức, nước trang trải chủ yếu của khu vực sử dụng đồng euro, sẵn sàng ủng hộ ý tưởng thiết lập một liên minh tài chính, nhưng chỉ sau một tiến trình hợp nhất lâu dài một khi cuộc khủng hoảng này được giải quyết. Nước này cũng đòi đưa ra những luật lệ mới rõ ràng hạn chế khoản tiền mà cá nhân các nước có thể vay mượn đồng thời bắt các nưóc vi phạm những luật lệ trên phải chịu phạt. Trong khi đó, Mark Rutte, Thủ tướng Hà Lan, đã đề nghị thiết lập chức người phụ trách ngân sách Ủy ban châu Âu để kiểm soát các luật lệ này.
Nếu các nước tiếp tục coi thường những luật lệ trên, người phụ trách này sẽ có quyền nói cho họ cách điều hành các nền kinh tế của họ, chẳng hạn như bảo họ tăng thuế. Nếu họ không làm theo những gì mà họ đã được chỉ dẫn, họ sẽ phải từ bỏ đồng tiền chung duy nhất.
Nhưng tất cả điều này – nếu có – vẫn còn là xa vời trong tương lai. Cho đến nay, việc xử lý cuộc khủng hoảng hiện tại bao gồm các khoản cứu trợ kinh tế đối với từng trường hợp một. Để đổi lại việc được vay tiền với lãi suất thấp từ các quĩ chiến tranh châu Âu khác nhau cũng như từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế, các nước gặp khó khăn đã phải cải cách các nền kinh tế cũng như giảm bớt việc vay mượn của họ. Những khoản cứu trợ này bao gồm số tiền viện trợ từ các nước mạnh về mặt tài chính chuyển cho các nước yếu kém hơn, nhưng không nhiều như nó vẫn thường diễn ra trong một liên minh tài chính chính thức.
Do các điều kiện thị trường xấu đi và có thêm nhiều nước bị cuốn vào cơn lốc sụp đổ kinh tế, việc cứu trợ tài chính này đã diễn ra theo một vài phương thức khác nhau. 17 nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro vấp phải khó khăn trong việc nhất trí sẽ phải làm những gì, dẫn đến những rác rối trong việc đưa ra chính sách, điều làm suy yếu dần niềm tin của nhà đầu tư và gây ra những khó khăn kinh tế không cần thiết.
Tuy nhiên, mặc dù có những khiếm khuyết của nó, chính sách trên đã có một vài thành công. Các chính phủ châu Âu yếu hơn đã buộc phải tiến hành công cuộc cải cách mà họ đă né tránh trong hàng thập kỷ. Họ đang mở rộng tự do các thị trường lao động của họ, trừ tận gốc việc trốn thuế, tăng độ tuổi về hưu còn quá thấp, giảm bớt tệ quan liêu, tư nhân hóa các ngành công ngbiệp và mở ra các ngành công nghiệp cần có sự phối hợp giữa các bên, chẳng hạn như trong lĩnh vực dược và các dịch vụ tắcxi. Điều này đang diễn ra không chỉ ở Hy Lạp, Ailen và Bồ Đào Nha, ba nước đã được nhận các khoản cứu trợ tài chính. Italia và Tây Ban Nha cũng đã chấp nhận các chế độ thích hợp riêng của họ, mặc dù vẫn còn do dự. Nếu các nước này có đủ khả năng phát hành trái phiếu euro bonds, họ sẽ không có động cơ để phát triển.
Quyền tự do phá sản
Mặc dù vậy, việc giải quyết cuộc khủng hoảng hiện nay vẫn là phiến điện xét theo một mặt quan trọng. ít nhất, vào lúc bài báo này được đăng trên báo chí, không một nước vỡ nợ nào được phép công bố phá sản. Các khoản nợ của Hy Lạp đã tăng liên tục và thoát khỏi tầm kiểm soát vào thời diểm đó,
nhưng kế hoạch cứu trợ tài chính được đặt ra cho nước này tại hội nghị cấp cao các nước châu Âu diễn ra hồi tháng 7/2011 đã khuyến khích các ngân hàng cho nước này vay tiền để thoát khỏi nợ nần hoặc gia hạn thời hạn thanh toán nợ của họ. Đó là cả một chặng đường dài kể từ khi cải cách cơ cấu nợ nần theo đúng cách, việc sẽ làm cho Aten có mức nợ thấp hơn, mức mà người ta có thể hỗ trợ nó một cách thực tế.
Các công ty và cá nhân trên khắp thế giới cơ cấu lại các khoản nợ của họ. Các chính phủ ngoài châu Âu bị vỡ nợ. Tại sao các nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro lại cần phải được miễn khỏi phá sản? Dĩ nhiên phá sản cũng chẳng tốt đẹp gì. Những người cho vay bị mất tiền; những người đi vay có thể bị tẩy chay trong nhiều năm hoặc phải trang trải nợ nần với lãi suất cao hơn. Nhưng đây là những gì cần phải như vậy. Giống như các nhà đầu tư cho vay một cách không khôn ngoan, các chính phủ vay mượn quá nhiều sẽ không thể rũ nợ mà không bị trừng phạt. Nếu họ không cảm nhận bất kỳ một sự nhức nhối nào, họ sẽ mắc lại chính những sai lầm đó. Quả thực, nỗi lo bị đẩy vào tình trạng phá sản có thể ngăn các chính phủ trước tiên không được vay mượn quá mức. Giải pháp vỡ nợ tài chính theo cách có thể kiểm soát được phải là một phần của đường hướng xử lý khủng hoảng hiện nay đối với các chính phủ thực sự không trang trải được các khoản nợ của họ: chắc chắn đó là Hy Lạp và cũng có thể là Ailen và Bồ Đào Nha.
Tuy nhiên, hầu hết các nhà hoạch định chính sách châu Âu cho đến nay coi vỡ nợ như một việc đáng nguyền rủa vì họ lo ngại đến ảnh hưởng xấu của nó. Nếu Hy Lạp bị vỡ nợ, các ngân hàng cho nước này vay tiền có thể cũng bị phá sản. Thị trường có thể đi đến kết luận rằng các chính phủ yếu kém khác cũng sẽ vỡ nợ, gây khó khăn cho họ trong việc vay tiền. Một vài nhà hoạch định chính sách hiện lo ngại rằng tình trạng hỗn loạn bị thả lỏng sẽ giống như, hoặc thậm chí tồi tệ hơn, tình trạng hỗn loạn đã diễn ra sau vụ phá sản của hãng Lehman Brothers. Vào thời điểm bài báo này được đăng, quả thực đã có dấu hiệu cho thấy cuộc khủng hoảng này đang lan sang Italia: chính phủ nước này đang cảm thấy ngày càng tốn kém khi phải vay tiền trên thị trường trái phiếu.
Nhưng bài học về sự sụp đổ của hãng Lehman không có nghĩa là các ngân hàng hoặc các chính phủ sẽ không bao giờ được phép phá sản. Bài học là vỡ nợ cần được kiểm soát và những ai bị đặt vào tình thế có thể bị lây nhiễm cần phải chuẩn bị cho điều đó. Tuy nhiên, khu vực sử dụng đồng euro dường như vẫn chưa rút ra được bài học từ vụ việc này. Các ngân hàng có nhiều trái phiếu chính phủ mới chỉ bị thúc đẩy trong việc cân đối các bản quyết toán của họ. Trong khi Mỹ và Anh đã chỉ đạo các cuộc thử nghiệm căng thẳng khắt khe đối với các ngân hàng của họ từ đầu năm 2009, châu Âu mới chỉ thực hiện được 3 vụ xem xét lại khá chậm chạp trong hai năm qua. Ngay cả việc xem xét lại gần đây nhất diễn ra vào tháng 7/2011 cũng không đưa ra được mô hình cho việc vỡ nợ có thể xay ra ở Hy Lạp. Trong khi đó, các chính phủ dễ bị lây nhiễm tỏ ra chậm chạp trong việc giảm các khoản nợ ngân sách và lự do hóa các nền kinh tế của họ. Ví dụ như Berlusconi, đã hành động giống như một Nero ngày nay, rong chơi nhàn rỗi trong khi thành La Mã bốc cháy. Ngay cả Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy cho đến gần đây đã xử sự như thể Pháp đã sống trong một thế giới đầy quyến rũ nơi mà việc vay mượn là đặc ân của nước này.
Nhưng vẫn còn chưa quá muộn để đặt trở lại giải pháp vỡ nợ có kiểm soát lên bàn. Do những sai lầm chính sách mà Pháp và Đức hiện chịu trách nhiệm – từ việc coi thường những luật lệ về mức thâm hụt đầu tiên cho dến việc cản đường quá trình tái cơ cấu đầy nhạy cảm về khoản nợ của Hy Lạp – họ cần ít nhiều gánh chịu hậu quả. Và họ sẽ như vậy, dưới hình thức chỉ thu lãi suất thấp đối với khoản tiền mà họ đã cho các nền kinh tế đang gặp khó khăn vay và dưới hình thức huy động thêm vốn mà họ có thể cần phải đổ vào các ngân hàng của chính họ để trang trải cho chi phí của những khoản cho vay khó đòi mà nước này đã dành cho Hy Lạp và có thể cho cả các nước khác. Việc này sẽ tiêu tốn một khoản tiền lớn, nhưng còn ít hơn việc đổ thêm những khoản tiền có thể đòi được sau những khoản tiền khó đòi để tránh vỡ nợ. Và việc này chắc chắn sẽ ít tốn kém hơn việc thiết lập một liên minh tài chính chính thức.
Thể chế cho vay cuối cùng
Một phần của nghệ thuật xử lý một cuộc khủng hoảng tài chính là phân biệt các thể chế không có khả năng trả được nợ với các thể chế đơn thuần không dễ dàng trả được nợ. Các khoản nợ của các thể chế vỡ nợ cần được cơ cấu lại, trong khi các thể chế khó trả được nợ cần được nhận tài trợ. Giống như một nước với đồng tiền riêng của mình, khu vực sử dụng đồng euro cần có một thể chế cho vay cuối cùng. Tuy nhiên, điều then chốt sẽ là phái bảo đảm rằng nó không trở thành thể chế cho vay đầu tiên, vì điều đó sẽ xóa bỏ sự khích lệ các nhà nước và các ngân hàng trong việc giải quyết có trách nhiệm các công việc của chính họ.
Sau khi bước vào kiểm soát tín dụng năm 2007 mà không có một kế hoạch được suy tính kỹ một cách thích đáng về việc một thể chế cho vay cuối cùng sẽ hoạt động ra sao, khu vực sử dụng đồng euro đã đưa ra một chính sách không thực tế. Ngân hàng Trung ương châu Âu đã đổ tiền mặt cho các ngân hàng kể từ khi phải chịu tác động của cuộc khủng hoảng, nhưng việc này thực sự cần được thực thi kết hợp với việc giám sát hợp nhất ngân hàng trên khắp khu vực sử dụng đồng euro. Thay vào đó, quy định là vụn vặn và trong một chừng mực nhất định đang tiếp tục như vậy, Ngân hàng Trung ương châu Âu cũng đã giúp tài trợ các chính phủ gặp khó khăn – trước tiên là Hy Lạp, Ailen và Bồ Đào Nha; sau đó là Italia và Tây Ban Nha – bằng việc mua các ngân phiếu của họ. Ngân hàng trên hy vọng rằng việc này sẽ làm tăng giá trị các trái phiếu và tạo điều kiện dễ dàng hơn để các chính phủ phát hành các trái phiếu mới. (Do các trái phiếu được mua trên thị trường, việc này không hoàn toàn giống như việc chuyển cho các chính phủ tiền mặt.)
Tuy nhiên, Ngân hàng Trung ương châu Âu đã tỏ ra khó chịu với vai trò này, vì ngân hàng không tin rằng các chính phủ cần in tiền để giảm bớt những khoản thâm hụt của họ. Vì vậy, các nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro đã đi đến quyết định tại hội nghị cấp cao diễn ra trong tháng 7/2011 rằng nhiệm vụ này cần phải chuyển cho quỹ Tạo điều kiện ổn định về tài chính (EFSF) một quỹ đen mới được thành lập để giúp xử lý khủng hoảng. Đồng thời, họ đã nhất trí mở rộng khuôn khổ của tố chức này, trao quyền cho tổ chức đó cấp tiền cho các ngân hàng không có đủ tiền mặt cũng như mở các đường dây tín dụng khẩn cấp cho các chính phủ hiện không nằm trong các chương trình cứu trợ tài chính chính thức.
Nhưng việc này không kết thúc cuộc tranh luận về chính sách nào là tốt nhất. Willem Buiter, nhà kinh tế trưởng của tổ chức Citigroup, trong số những nhân vật khác, đã lập luận rằng bất chấp khoản tiền mở rộng lên tới 440 tỉ euro, EFSF hiện vẫn còn quá nhỏ để giải quyết các trường hợp cứu trợ tài chính đầy đủ cho của Italia và Tây Ban Nha. Mặc dù việc này là sự thực, thể chế cho vay cuối cùng dẫu sao không nên được sử dụng như một chỗ dựa lâu đài. Italia và Tây Ban Nha có thể giải quyết các vấn đề của chính họ nếu họ có ý chí chính trị để thắt lưng buộc bụng. Việc cứu trợ đầy đủ sẽ trở nên cần thiết chỉ nếu như họ lẩn tránh trách nhiệm đó.
EFSF sẽ được thay thế vào giữa năm 2013 bởi một quỹ cứu trợ tài chính mới được gọi là Cơ chế ổn định châu Âu (ESM), một phương tiện lâu dài. Ở một khía cạnh quan trọng, ESM sẽ tốt hơn EFSF; nó sẽ được yêu cầu phân biệt các chính phủ không có khả năng trả nợ với các chính phủ không dễ dàng trả được nợ khi quyết định cho vay mượn. Trong trường hợp các chính phủ không có khả năng trả nợ, khoản nợ đó ,các chủ nợ thuộc khu vực tư nhân nắm giữ sẽ phải được cơ cấu lại để có thể kéo dài các khoản nợ của chính phủ. Điều tồi tệ là cơ chế này sẽ không có hiệu lực gần hai năm nữa.
Cách thứ ba
Do những phức tạp này, nhiều người hoài nghi đồng euro cho rằng sẽ là điều tốt hơn để từ bò hoàn toàn dự án đồng euro. Nhưng đây là một ỷ tưởng tồi tệ. Liên minh tiền tệ có thể đã phát triển quá sớm, nhưng không ai làm theo cách cho thuốc đánh răng trở lại tuýp thuốc đánh răng. Ví dụ như nếu Atens một lúc nào đó quyết định lại đưa đồng đrácma trở lại sử dụng, người dân sẽ nhanh chóng rút đồng euro của họ ra khỏi các ngân hàng Hy Lạp, làm cho hệ thống tài chính của nước này sụp đổ thậm chí ngay cả trước khi đồng tiền mới được tạo ra. Những người gửi tiền ở các nước yếu kém khác sau đó sẽ rút tiền của họ ra khỏi các ngân hàng của những nước đó, gây ra một chuỗi sụp đổ và một sự suy thoái sâu sắc. Còn có một giải pháp khác: kỷ luật thị trường cộng thêm nhiệt tình mạnh mẽ. Viên thuốc này sẽ khó nuốt, nhưng cuối cùng nó sẽ dẫn đến một châu Âu lành mạnh hơn.
*
* *
TTXVN (Luân Đôn 12/3)
Nhật Bản đã vượt qua được một thập kỷ chịu nhiều thiệt thòi, mất mát trong những năm 1990 sau khi tình trạng bùng nổ bong bóng thị trường nhà đất bùng nổ ở nước này. Nhưng Tony Barber, phụ trách mảng châu Âu của tờ Thời báo tài chính cho rằng châu Âu không được chuẩn bị tốt như vậy để chống đỡ với những năm kinh tế tăng trưởng bằng không. Bài phân tích của tác giả được Viện Hoàng gia Nghiên cứu các Vấn đề Quốc tế (Chatham House có trụ sở tại Luân Đôn) đăng trên mục Thế giới ngày nay số tháng 2/2012.
Ngay cả trước khi ngành tài chính và cuộc khủng hoảng nợ công bắt đầu làm mất ổn định hệ thống ngân hàng của châu Âu, các nhà lãnh đạo châu lục này đã bày tỏ lo ngại rằng Thế giới Cũ có thể sẽ gặp phải những vấn đề đang diễn ra trên toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, trì trệ về nhân khẩu học, quân sự yếu đi, suy giảm tài nguyên thiên nhiên và sự nổi lên của các cường quốc không phải ở châu Âu đe dọa một tương lai ảm đạm do sự suy giảm không thể đảo ngược gây ra, Ông Herman Van Rompuy, trong bài phát biểu nhậm chức Chủ tịch Liên minh châu Âu năm 2009 đã nói: Những gì đang bị đe dọa là sự tồn tại của những thành quả đã được dày công xây dựng nên. ít nhất chúng ta phải tăng gấp đôi tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hiện đang ơ mức thấp 1% Một nền kinh tế mạnh là cần thiết để chúng ta không những có thể đóng vai trò quan trọng trên thế giới, mà trên tất cả, còn bảo vệ an toàn những thành tựu của chuẩn mực cuộc sống châu Âu. Có thể nói rằng tình hình hiện nay còn đen tối hơn những gì Van Rompuy đã miêu tả cách đây hai năm. Do cuộc khủng hoảng tài chính, châu Âu đang trên bờ vực của một thập kỷ mất mát tương tự những gi mà Nhật Bản đã trải qua trong những năm 1990 và ở một số lĩnh vực nhât định hiện vẫn còn chưa kết thúc. Các nước châu Âu hầu hết chỉ đạt tăng trưởng kinh tế thấp hoặc tăng trưởng âm. Nền tài chính của nhiều nước đang bị suy yếu nghiêm trọng và sẽ phải mất nhiều năm mới có thẻ phục hồi. Các ngân hàng gặp nguy hiểm trước khả năng khu vực đồng tiền chung châu Âu bị tan vỡ. Hơn thế nữa, ngay cả nếu liên minh tiền tệ sống sót được qua cơn khủng hoảng thì các quốc gia châu Âu vẫn phải đối mặt với vấn đề mà Van Rompuy đã chỉ ra: chi phí quá cao nhưng thiếu bền vững cho các dịch vụ công một cách hào phóng cho các công dân. Thiếu một sự tăng trưởng kinh tế đột biến mà hoàn toàn không thể xảy ra từ nay đến năm 2020, hàng triệu người dân châu Âu phải đối mặt với một thập kỷ đình trệ hoặc suy giảm mức sống, giảm các phúc lợi và kéo dài tuổi lao động – nếu họ còn có thể có công ăn việc làm.
Một thập kỷ mất mát ở châu Âu sẽ không hoàn toàn giống như những gì đã diễn ra ở Nhật Bản. Tính đồng nhất trong xã hội Nhật Bản tương phản với sự đa dạng về tôn giáo, quốc gia và dân tộc của các nước châu Âu, một điều kiện làm tăng nguy cơ căng thẳng xã hội và văn hóa. Quan trọng không kém, tỷ lệ thất nghiệp ở Nhật Bản dù ở mức cao nhất nhưng cũng chưa bao giờ vượt quá 5,5% lực lượng lao động – một mức mà hầu hết các nước châu Âu coi là mức thấp đáng mong ước.
Tuy nhiên, thất nghiệp cao là một đặc tính để xác định một thập kỷ mất mát của châu Âu. Hãy nhìn vào Tây Ban Nha, nơi Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) dự đoán rằng tỷ lệ thất nghiệp, hiện nay đang chiếm hơn 20% lực lượng lao động, sẽ không giảm xuống 16% cho đến năm 2016. Điều đó không phải chỉ do những việc làm được tạo ra trong thời kỳ bùng nổ bong bóng xây dựng và bất động sản của Tây Ban Nha nay đã biến mất. Trong một thập kỷ tới, vấn đề nghiêm trọng hơn sẽ là việc những người nội bộ hưởng đặc quyền đặc lợi giữ chặt những việc làm trong lĩnh vực tư nhân được trả lương cao và lâu dài. Nếu không có cải cách mở ra phân khúc này của thị trường lao động, thì Tây Ban Nha – và các nước khác như Pháp, Hy Lạp và Italia – sẽ có số lượng rất lớn sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng lại không có khả năng kiếm được việc làm.
Các mức độ ảnh hưởng sẽ khác nhau ở từng nước. Ví dụ ơ Ailen, tính đến tháng 4/2011 có khoảng 40.000 người đã di cư chủ yếu đến nhiều nước nói tiếng Anh. Hy Lạp sẽ có thể phải chứng kiến tình trạng mất ổn định chính trị, bất ộn lao động và biểu tình đường phố, đôi khi biến thành bạo lực giữa các phần tử cực đoan và cảnh sát. Nếu Hy Lạp ra khỏi khu vực đồng euro, có thể còn nhiều vấn đề khác nữa xảy ra, kích hoạt bằng việc các ngân hàng bị đóng cửa, đồng tiền mới sẽ nhanh chóng bị mất giá so với đồng euro, lạm phát tăng và lan tràn các hoạt động của thị trường chợ đen.
Còn ở các nước Trung và Đông Âu, các băng nhóm tội phạm có tổ chức có quyền lực lớn có thể có nhiều ảnh hưởng hơn đối với các đảng phái chính trị và nhà nước. Một vài băng đảng trong số này, đặc biệt có mối quan hệ với những ngành trong lĩnh vực năng lượng và cung cấp nguyên liệu thô, sẽ liên kết với các khách hàng quen ở Nga, Ucraina và ở nước ngoài.
Trên khắp châu Âu, các phong trào chính trị dân túy và bài ngoại sẽ tìm cách khai thác các mối lo ngại của một thập kỷ mất mát . Họ sẽ khuyến khích công dân đổ lỗi cho người nhập cư đã gây ra tình trạng thiếu việc làm, gây áp lực về tiền lương, tội phạm gia tăng và tăng cạnh tranh để nhận được chế độ phúc lợi của nhà nước. Người Hồi giáo ở Bắc Phi, Trung Đông và châu Á sẽ là các mục tiêu ở Bỉ, Pháp, Đức và một số nước ở vùng Scandinavia. Ở Italia, sự oán giận người nhập cư Trung Quốc bất hợp pháp sẽ tăng cao Sẽ có nhiều phản kháng căng thẳng hơn của dân chúng đối với lượng người nhập cư trên qui mô lớn vốn cần để bù đắp cho tỷ lệ sinh thấp ở châu Âu và ngăn chặn lực lượng lao động không bị co hẹp lại, Việc nhập cư, kể cả hợp pháp và bất hợp pháp, đều sẽ tiếp tục diễn ra, nhưng hầu hết đều bao gồm những lao động không có chuyên môn và bán chuyên môn hơn là những kỹ sư và các kỹ thuật viên máy tính được đào tạo mà nền kinh tế châu Âu cần đến.
Trong suốt thập kỷ này, áp lực về ngân sách cho hệ thống y tế, hưu trí và giáo dục sẽ ngày càng gia tăng khủng khiếp. Một số nhóm xã hội nhất định sẽ dễ bị rơi vào vòng nghèo khổ, bạo lực hình sự, và các bệnh truyền nhiễm. Các quỹ hưu trí mất đi do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng của các thị trường tài chính, sẽ cắt giảm các lợi ích của những người công nhân trẻ trong tương lai, kích động một cuộc xung đột thế hệ với những người lớn tuổi hơn. Bất bình đăng thu nhập gia tăng, bởi vì người giàu thì càng giàu và người nghèo thì nghèo đi, sự không tương xứng sẽ ảnh hưởng đến phụ nữ và thanh thiếu niên. Các trường đại học và trường phổ thông của nhà nước sẽ có chất lượng giáo dục thấp hơn.
Một thập kỷ mất mát sẽ không phá hủy toàn bộ chuẩn mực dời sống châu Âu hay chất lượng tinh tế của nó, nhưng nó sẽ làm suy yêu hình ảnh của châu Âu là nơi có cuộc sống tuyệt vời của thế giới. Và lần đầu tiên trong nhiều năm qua, đời sống của người dân châu Âu sẽ tồi tệ hơn rất nhiều so với cha mẹ họ./.
Thiên đường trên mặt đất”: Bắc Triều Tiên
Nguồn: thuymyrfi.blogspot.com/Boxitvn
Eunsun Kim: Mười hai năm trong địa ngục Bắc Triều Tiên
(Paris Match) Cha bị chết đói, Eunsun Kim cùng với mẹ và chị đã chịu đựng bao gian nan khốn đốn để trốn khỏi chế độ của Kim Jong Il. Trong cuốn sách “Bắc Triều Tiên, chín năm để trốn khỏi địa ngục” vừa được nhà xuất bản Pháp Michel Lafont phát hành tuần qua, cô gái 26 tuổi này đã kể lại cuộc sống ở Bắc Triều Tiên cũng như sau khi đào thoát. Sau đây là lược dịch bài trả lời phỏng vấn Eunsun Kim của tuần báo Paris Match.
Paris Match: Cô có nghĩ rằng cuộc sống khốn khổ mà cô đã trải qua trong thập niên 90 đến nay vẫn còn kéo dài, và tại Bắc Triều Tiên người dân vẫn tiếp tục chết đói?
Eunsun Kim: Không còn là các trận đói khủng khiếp đã sát hại nhiều trăm ngàn người trong đó có ba tôi, nhưng, vâng, tình trạng bần cùng vẫn kéo dài tại Bắc Triều Tiên. Ngày nay có ít người chết đói hơn, vì những người yếu sức nhất đều đã chết hết cả rồi. Hơn nữa, việc cung ứng thực phẩm từ phía Trung Quốc đã được cải thiện.
Do chế độ không còn khả năng nuôi nổi dân chúng, nên mỗi người phải tự bươn chải, đặc biệt là ở chợ đen. Những khó khăn kinh tế vẫn tiếp diễn, nhiều người sống rất thiếu thốn. Khủng hoảng không chỉ dẫn đến nạn đói kém, mà còn làm giảm đi các giá trị. Đó là việc mạnh ai nấy sống. Một người tị nạn vừa mới đến được Seoul cho tôi biết là một số thanh niên nay đã tìm đến với ma túy, hay là chọn đó làm nghề nghiệp, như là tương lai duy nhất. Khi biết được điều này tôi thực sự nản lòng.
Tại sao không có ai nổi dậy cả?
Cần phải hiểu rằng chúng tôi đã bị tẩy não từ khi còn bé, các lãnh tụ họ Kim được giới thiệu như là các ân nhân của dân chúng. Lúc mới sinh ra thì không có ai ngu ngốc cả, nhưng do bị tuyên truyền dồn dập, người ta mới trở thành ngu, vì không được biết gì về thế giới bên ngoài! Ở Bắc Triều Tiên, chúng tôi không hề biết được tự do nghĩa là gì, còn nhân quyền thì lại càng khó hình dung được. Đó là một cái vòng lẩn quẩn, vẫn tiếp tục diễn ra với thế hệ thứ ba của họ nhà Kim.

Sinh viên BTT tị nạn tại Hàn Quốc biểu tình ngày 21/2/12 đòi TQ không trả người tị nạn về nước. Các thanh niên biểu tình đều đeo khẩu trang để tránh bị nhận diện, liên lụy đến người thân còn sống tại BTT.
Người dân có thể truy cập internet không?
Internet được dành riêng cho các cán bộ cấp cao của chế độ, những người này thì họ biết được những gì đang diễn ra ở thế giới bên ngoài. Điện thoại di động đã xuất hiện từ vài năm qua, nhưng bị hạn chế ở các cuộc gọi nội hạt. Tuy vậy nhờ phát triển nhanh chóng, một số người hy vọng một ngày nào đó điện thoại di động sẽ trở thành một công cụ nổi dậy để làm lung lay chế độ. Nhưng đồng thời đây cũng lại là một phương tiện để kiểm soát, giúp công an nghe được các cuộc đàm thoại và định vị được người sử dụng. Với lại điện thoại di động vẫn luôn rất đắt tiền, đa số dân chúng không thể mua nổi.
Vận chuyển công cộng đang trong tình trạng thê thảm, và các phương tiện thông tin thì cứ như thuộc về thế kỷ trước. Cùng một tuyến đường nếu ở Hàn Quốc tôi đi tàu cao tốc mất hai giờ, thì bên kia biên giới phải mất đến hai ngày. Để liên lạc với nhau, người ta gởi thư, nhưng chắc ăn nhất là gởi ai đó đến đưa tin. Vì ngay cả một lá thư cũng phải đi một tháng mới đến nơi, nếu mà nó đến được!
Chủ tịch trẻ tuổi Kim Jong Un vừa lên thay cha hồi tháng 12, có sẽ hiện đại hóa đất nước?
Tôi từng nuôi hy vọng mong manh là người kế vị này có thể mang lại những ý tưởng mới, nhờ trẻ tuổi và đã từng học tại Thụy Sĩ, nhưng tôi đã nhanh chóng thất vọng. Và tôi lại còn có cảm giác là chế độ ngày một tệ hại thêm. Vì thế mà những ai thành công trong việc trốn thoát khỏi Bắc Triều Tiên như tôi đều có trách nhiệm và cần phải đấu tranh cho nhân quyền, cho dân chủ hóa tại đất nước này.

Nông thôn Bắc Triều Tiên
Có sự khác biệt lớn giữa nông thôn và thủ đô Bình Nhưỡng?
Vâng, có một sự khác biệt hết sức lớn lao. Thủ đô là một đô thị với 2,5 triệu dân được ưu đãi, đó là gia đình có liên quan đến Đảng Lao động hay quân đội. Bình Nhưỡng là một thành phố sạch sẽ, với các tòa nhà chọc trời, được sử dụng như tủ kính mặt tiền mà các nhà độc tài muốn trưng ra trước khách nước ngoài.
Cũng có một sự ngăn cách rất lớn giữa hai thế giới: người dân một tỉnh nghèo có thể chết vì đói trong khi dân Bình Nhưỡng không hề hay biết. Chế độ nuông chiều dân chúng thủ đô, vốn là lực lượng hỗ trợ chủ yếu của họ. Tiêu chuẩn thức ăn do chính quyền phân phối cao hơn nhiều và cũng thường xuyên hơn, so với phần còn lại của đất nước vốn thường bị mất tiêu chuẩn. Tại các vùng nông thôn, mỗi người đều học được cách tồn tại mà không trông cậy vào nhà nước.
Có những thành phố lớn phát triển tại Bắc Triều Tiên không?
Ngoài Bình Nhưỡng còn có các thành phố lớn như Rajin, Sinuiju hay Hyesan, gần đây đã phát triển nhờ ở gần biên giới Trung Quốc. Thương mại với Trung Quốc tăng lên từ đầu những năm 2000 đã giúp các thành phố này giàu lên. Nhưng lợi tức từ thương mại lại lọt vào tay của Đảng, vì không có việc kinh doanh nào thực hiện được nếu không có sự hỗ trợ của hệ thống.

Lính biên phòng BTT canh gác bên bờ sông Áp Lục.
Ngày nay rời khỏi Bắc Triều Tiên dễ hơn hay là khó hơn trước?
Tôi thuộc về làn sóng tị nạn đầu tiên, sau các trận đói kinh hoàng cuối thập niên 90. Số người đào thoát không ngừng tăng lên, nhưng chế độ đã tăng cường kiểm soát biên giới vào đầu những năm 2000. Tôi nhận ra điều đó sau khi vượt biên lần thứ hai và bị công an Trung Quốc gởi trả về Bắc Triều Tiên. Kể từ năm ngoái và từ khi Kim Jong Un lên nắm quyền, vượt thoát khỏi Bắc Triều Tiên lại càng khó khăn hơn.
Nhà độc tài mới muốn ngăn chận làn sóng vượt biên – một sự chối bỏ chế độ – bằng mọi giá. Ông ta đã ra lệnh cho biên phòng nổ súng vào tất cả những ai muốn vượt qua biên giới một cách bất hợp pháp. Vài ngày sau khi Kim Jong Un nhậm chức, nhiều người tị nạn đã bị bắn hạ trong lúc đang vượt qua con sông lạnh giá, là ranh giới giữa Bắc Triều Tiên và Trung Quốc. Hiện nay vùng biên giới đang bị giám sát hết sức nghiêm ngặt.
Nguồn: thuymyrfi.blogspot.com
Sống sót trong địa ngục Bắc Triều Tiên
Trích dịch tác phẩm “Bắc Triều Tiên, chín năm để trốn khỏi địa ngục” của Eunsun Kim, kể lại những chuyện diễn ra từ tháng 12/1997, ngay sau các trận đói khủng khiếp năm 1995 và 1996 đã giết hại hai triệu người Bắc Triều Tiên, trong đó có cha của tác giả.
Từ gần một tuần qua, tôi đơn độc trong căn hộ lạnh lẽo tại Eundeok, ngôi làng nhỏ nơi tôi sinh ra ở Bắc Triều Tiên. Cha mẹ tôi đã bán hết tất cả đồ đạc trong nhà, chỉ trừ một chiếc bàn thấp và một tủ ngăn vách, để mua thức ăn. Gạch lót sàn cũng đã bị bán đi, tôi ngủ ngay trên nền xi-măng, trong một túi ngủ tạm bợ làm bằng quần áo cũ.
Trên các vách tường trơ trụi, chỉ còn lại mấy khung ảnh đặt cạnh nhau – chân dung “Chủ tịch vĩnh cửu” Kim Il Sung và tướng quân Kim Jong Il. Cả hai nhìn thẳng vào tôi. Nhưng đem bán các ảnh chân dung này sẽ bị xem là báng bổ, có nguy cơ bị tử hình.
Trời tối sẫm, dù vậy tôi vẫn đọc được những gì mình viết ra. Điện đóm không có, vả lại các bóng đèn đã biến mất từ lâu. Đêm nhẹ xuống sau buổi chiều tháng Chạp. Không còn lò sưởi nữa, nhưng tôi không thấy lạnh mấy, vì đã sức tàn lực kiệt. Tôi không có gì ăn từ nhiều ngày qua, tôi sẽ chết đói. Vì vậy mà tôi cố viết lại bản di chúc của mình. Tôi mười một tuổi […].
Từ khi ba mất đi, cuộc sống của chúng tôi trở thành địa ngục, với viễn tượng duy nhất là cuộc đấu tranh để tồn tại. Ngay cả bệnh viện cũng không còn phương tiện để nuôi dưỡng các bệnh nhân, và không có ai còn nhận được thực phẩm. Chị tôi và tôi không đến trường nữa, chúng tôi không có bộ cánh nào ra hồn. Nhất là chúng tôi không còn thời gian, toàn bộ ngày trời phải dành cho việc tìm ra thứ gì đó ăn được. Mấy mẹ con tôi sống như tu sĩ ẩn cư trong căn hộ, tránh những ánh mắt nhìn.
Mỗi ngày chúng tôi bí mật lẩn vào các cánh đồng để hái trộm lúa và bắp, né tránh các toán quân tuần tra. Chúng tôi lén bứt những ôm lúa, sau đó đi lên núi để tước hạt mà không ai nhìn thấy. Mẹ con tôi cũng đào rễ củ, tìm kiếm các thứ nấm. Đôi khi chúng tôi còn chặt củi, vốn ngày càng hiếm hoi, để đem bán, dành tiền mua những khẩu phần nhỏ nhoi hàng ngày […]

Tác giả Eunsun Kim
BỎ TRỐN SANG TRUNG QUỐC
Cùng với mẹ và chị gái, Eunsun cố sang bên kia biên giới bằng cách vượt qua con sông Đồ Môn.
Chính trong vài tuần lễ cuối mùa đông 1997-1998 mà số phận tôi đã thay đổi. Không còn cách nào kiếm sống, mẹ tôi đã dần đi đến một quyết định khó tưởng tượng nổi: vượt biên. Trốn khỏi Bắc Triều Tiên để đi đến một nơi chốn nào đó, để cứu sống các con gái […]
Thế là chúng tôi đã quay lại trong đêm tối. Với những bước chân nhẹ nhàng, chúng tôi tiến gần bờ sông Đồ Môn. Cách dòng sông vài mét, tôi nằm phục trên cát. Từ chỗ này có thể ngầm quan sát những toán tuần tra của lính biên phòng qua lại bên bờ sông. Chúng tôi nằm bất động nhiều tiếng đồng hồ, trong im lặng. Mẹ tính toán thời gian tuần tiễu và các vòng đi tuần của biên phòng.
Vào khoảng nửa đêm, sau khi một toán tuần tra đi qua, bà ra hiệu cho hai chị em tôi và tiến bước trên mặt cát, mỗi tay bà nắm một đứa kéo đi. Bỗng dưng bàn chân tôi chạm vào mặt nước. Thật là lạnh giá!
Chúng tôi không biết bơi, nhưng mẹ nắm tay chúng tôi rất chặt. Nước nhanh chóng lên đến đầu gối tôi, đến bụng, rồi dâng lên đến cổ. Tôi cảm thấy mình sẽ bị chìm. Tôi sợ hãi. Keumsun và tôi cố kéo mẹ lại, tuy mẹ vẫn rất cương quyết. Cuối cùng bà cũng nhận ra là nước quá sâu, và lùi về phía các đụn cát. Tôi thở ra nhẹ nhõm!
Nhưng mẹ rất bướng bỉnh. Bà yêu cầu chúng tôi phải ở yên ngoan ngoãn chờ đợi, để một mình bà cố gắng tìm kiếm một lối thoát. Bóng dáng của mẹ từ từ chìm sâu vào dòng nước đen như mực, và ngày càng nhỏ dần.
Tôi run rẩy, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập, trông thấy dáng mẹ tôi hòa lẫn vào bóng tối. Bà sẽ chết chìm. Chúng tôi sẽ không bao giờ còn được nhìn thấy mẹ nữa. Và nếu bà thành công trong việc sang được đến bờ bên kia, thì chị Keumsun và tôi sẽ ra sao? Mẹ tôi đã biến mất, tim tôi đập loạn cả lên.
Bỗng dưng sau những phút giây dài dằng dặc, hình thù mẹ lại hiện ra bên bờ sông, nước chảy ròng ròng trên người bà. Mẹ run lập cập, cố gắng lắm mới bước đi được. Tôi tự hỏi liệu mẹ sẽ ngất xỉu hay không, dòng nước lạnh như nước đá đã làm cho bà kiệt sức. Chỉ cách bờ bên kia có ba mét, lòng sông bỗng sụt xuống và bà bị hụt chân. Chỉ còn có ba mét nữa là bà đặt chân lên được đất Trung Quốc!
Tôi vô cùng hoảng hốt. Trong đêm đen, hai đứa bé gái đơn độc, cố gắng trợ giúp một người mẹ bệnh hoạn, run rẩy. Làm thế nào bây giờ? “Đành thôi, mẹ con mình đành phải nộp mạng cho biên phòng vậy” – bà quyết định một cách nhẫn nhục […]
Nguồn: thuymyrfi.blogspot.com
Được đăng bởi bauxitevn
Nguoibuongio :Với cụ Lê Hiền Đức
Nguoibuongio -Cụ Lê Hiền Đức mình gặp đầu tiên trong lần vừa rồi đi thăm chị Bùi Hằng. Ấn tượng đầu tiên mình thấy là cụ còn khỏe và minh mẫn, cụ nói sang sảng cả tiếng đồng hồ mà không cần nghỉ, uống nước, nhất là cụ đứng nói chứ không phải ngồi. Kiến thức của cụ thật đồ sộ. Cụ chỉ mình hỏi.
– Mày tên gì.?
– Dạ thưa cụ con tên Hiếu
– Mày làm gì ?
– Dạ con làm hàn sắt, biển quảng cáo nhưng đôi khi có vài người gọi con là phản động.
Cụ Lê Hiền Đức thở dài.
– Người ta cũng bảo bà là pê đê ( PĐ), không phải là pê đê đồng tính đâu, mà cũng như kiểu họ gọi mày đấy. Thế mày có hay đọc báo, vào mạng không .?
– Dạ con thỉnh thoảng đọc báo bóng đá, công an thôi ạ?
Cụ nhìn mình kỹ, rồi lắc đầu.
– Mày hỏng, thanh niên chả biết gì. ?

Cụ đi ra bụi tre đằng ngà, chỗ nhà dân có mấy ông quan xã ngồi. Nói về chuyện ghế ngồi gì đó, rồi chuyện tham nhũng, pháp luật. Lát sau bé Cải mang ghế cho cụ. Thủng thỉnh xách cái ghế đến chỗ mình ngồi. ( trước cổng trại Thanh Hà). Cụ đặt ghế trước mặt mình rồi nói rất nghiêm trọng.
– Mày biết không, xã đốt nhà, huyện cướp đất, tỉnh bao che.
Mình xì một tiếng dài, và nói như kiểu chuyện xưa ai cũng biết rồi
– Ối dời, chuyện cụ hồi nhỏ chứ gì, thời thực dân đế quốc là bọn nó ác thế đấy. Bọn đấy thì kinh rồi, đốt nhà đã là gì, chúng nó còn âm mưu vu khống nhốt người ta vào tù để chiếm nhà, chiếm đất cơ. Đốt nhà đã ăn thua gì, đốt nhà vẫn còn đất. Cái bọn thời đó nó còn cướp sạch đẩy người ra vào Bước Đường Cùng tăm tối như đêm 30 mà Tắt Đèn ấy.
Mình ngừng lại, thấy cụ Hiền Đức mở to mắt ngạc nhiên nhìn mình như thằng ở trong hang sâu 40 năm mới chui ra. Mình nói tiếp.
– Gì chứ, bọn thực dân đế quốc giờ mà kể tội chúng thì nhiều lắm, cái này bọn cháu học ở trường cô giáo dạy nhiều lắm, nhiều đến nỗi loạn đầu. Chỉ biết nói đến bọn thực dân, đế quốc, tay sai bù nhìn là chúng độc ác, tham lam, áp bức nhân dân…
Cụ Lê Hiền Đức mắt long lên, cụ cáu thực sự. Cụ chỉ mặt mình đay.
– Mày, mày,..đúng loại không biết gì. Thời nay đây con ạ, thời này này. Mày không biết à, dân oan người ta đưa đơn đến nhà tao mấy chục nghìn tờ đơn. mày phải đến mà xem mới biết thế nào con ạ. Trời ơi, nhìn mày thanh niên thời đại thế này mà không, chả biết tí gì, chán quá
Cụ nói giọng đay nghiến, trì triết mình. Khiến mình phải thanh minh rối rít như xin chuộc tội.
– Thì bà bảo con biết được gì, hàng ngày con xem tivi thời sự đều, đọc báo đều có thấy nói chuyện đó bao giờ đâu. Giờ có bà con mới nghe chuyện đó.
Cụ hất hàm hỏi mình.
– Thế mày có vào mạng không ?
– Dạ con có vào ạ.
– Thế bà bảo nhé, mày phải vào facebook của bà mà đọc thì biết con ạ?
Quả này thì mình trợn mắt ngạc nhiên hỏi lại.
– Bà cụ cũng có facebook à ?
Cụ Đức bĩu môi nhìn mình lần nữa.
– Chán loại mày, tao dùng từ lâu rồi. Tao thấy mấy người đây cứ gọi mày là buôn gió, mày thì buôn cái gì, tao đặt cho mày là thằng phải gió. Mày đúng là phải gió nên mới không biết cái gì. Về mà đọc facebook của cụ. Rồi gọi điện cho bà nói xem sao, đây ghi số bà đi.
Mình vâng dạ cuống quýt, ghi số điện, ghi địa chỉ facebook của bà. Cụ Lê Hiền Đức thấy mình vậy, quay ra nói với mọi người.
– Đấy, khổ, thanh niên bây giờ nó có biết gì đâu, phải bảo chúng nó mới biết được.
Nguoibuongio :Mặt tốt của trại cải tạo Thanh Hà
Nguoibuongio -Có người hỏi mình, tại sao viết chỉ nhìn một mặt.
Mình nói rằng thường thì mình chỉ viết điều nhìn thấy, thiên hạ đọc tự đánh giá, ít khi mình đưa kết luận ra. Người kia bảo nhưng mình có ý thiên vị.
Vậy hôm nay mình viết khen trại Thanh Hà vậy.
Trại Thanh Hà là một cơ sở giáo dục những học viên từng vi phạm các tệ nạn xã hội. Do quy định chặt chẽ của cơ sở giáo dục này chúng tôi chỉ đứng được bên ngoài không được vào tham quan bên trong.
Từ bên ngoài quan sát chúng tôi thấy cơ ngơi của khối văn phòng, nhà ở cán bộ xây dựng rất khang trang, đẹp đẽ chứng tỏ đời sống của cán bộ trại rất được nhà nước ta quan tâm.
Tuy rằng số lượng học viên không nhiều, nhưng để đảm bảo chất lượng giảng dạy cũng như bảo vệ tính mạng của học viên. Số lượng cán bộ,nhân viên của trại lúc nào cũng rất đông chắc để luân phiên thay thế nhau giáo dục và bảo vệ học viên cho chất lượng. Khi chúng tôi đến ngoài những người đang làm việc ra , còn rất nhiều cán bộ đang ngồi thảnh thơi nghỉ ngơi chờ đến ca trực của mình.
Mới đây để cho bà con thân nhân tiện thăm gặp học viên, chính quyền địa phương đã đổ con đường bê tông từ bên ngoài vào tận cổng trại. Con đường này làm chưa xong, nhưng phần trước cổng trại và phần bên ngoài vào đã hoàn thiện. Khu vực trước cổng trại còn được các cán bộ công an xã năng tuần tra để bảo vệ, mặc dù ngoài giờ hành chính, ngày nghỉ những các đồng chí công an xã vẫn túc trực hơn một tiểu đội để bảo vệ đường. Khi được hỏi tại sao các đồng chí không trải đều quân bảo vệ cả con đường dài mấy cây số. Một đồng chí cho biết con đường này do chúng tôi ( chắc đồng chí ấy muốn nói là huyện nhà, xã nhà ) làm, cho nên đoạn nào thích thì bảo vệ. Đúng là người cán bộ của nhân dân, làm việc vì lý những vẫn có tình cảm, vẫn có những cảm giác riêng gắn bó với đồng quê, bụi cây của quê hương.
Do sợ bụi bay vào làm ô nhiễm không khí trong trai,ảnh hưởng đến sức khỏe của các học viên. Ban giám thị trại Thanh Hà đã đầu tư hàng trăm mét lưới chắn bụi, những lớp lưới được giăng cẩn thận bao quanh trại gồm mấy lớp lưới. Trại còn đầu tư lắp đặt máy camera để quan sát kẻ gian đột nhập vào trại trộm cắp. Làm thêm những tấm biển cấm tụ tập đông người để giữ sự yên tĩnh, tập trung cho học viên. Ước gì các trường học khác của chúng ta cũng được đảm bảo như vậy, không để hàng rong, quán xá bán tràn làn trước cổng trường. Hơn nữa để đảm bảo được giáo trình dạy bằng những phương pháp khoa học do đội ngũ cán bộ nhiều kinh nghiệm dày công soạn giáo án không lọt ra ngoài, ban giám thị trại Thanh Hà đã dựng những tấm biển cấm quy phim, chụp ảnh. Chương trình giảng dạy cho các học viên là chương trình mà phải tốn nhiều chất xám, công sức đáng được gọi là một phát minh khoa học. Cần phải giữ bản quyền như những phát minh khác.
Không những quan tâm đến đời sống tinh thần học viên như chỉ cho ruột thịt vào thăm, hạn chế bạn bè xấu vào rủ rê, trại còn tạo điều kiện cho lao động, rèn luyện để tăng cường sức khỏe trong những lúc có thể. Chẳng hạn như học viên ủy quyền cho luật sư thảo đơn. Luật sư đánh may đơn gửi cho học viên ký, thế nhưng nhân thấy đây là cơ hội tốt để học viên rèn luyện thân thể nhanh tay, nhanh mắt nên ban giám thị trại Thanh Hà đã bắt học viên phải chép bằng tay gần 10 trang giấy.
Không những công an xã, công an trại giam mà ngay đến cả công an giao thông địa phương cũng rất quan tâm đến sự an toàn của người đi thăm học viên đi lại trên đường. Mặc dù có rất nhiều xe qua lại, nhưng các chiến sĩ cảnh sát giao thông địa phương phải lập một chốt ngay đâu đường ở trại cải tạo ra để kiểm tra giấy tờ, nhắc nhở những người đi thăm cẩn thận khi tham gia giao thông.
Tổng kết con đường vào trại cải tạo Thanh Hà đã được nâng cấp, cảnh sát giao thông luôn có mặt hướng dẫn, kiểm tra mọi người tham gia giao thông an toàn, chấp hành đầy đủ luật lệ lưu thông trên đường. Cơ sở vật chất của trại khang trang, đảm bảo vệ sinh, độ yên tĩnh. An ninh , trật tự luôn được chú ý bảo vệ chặt chẽ. Thái độ cán bộ trực trại được bồi dưỡng đào tạo nói năng giở sách và ảnh ra minh
họa. Các cán bộ lãnh đạo thường xuyên đi nghỉ ngơi, đi công tác, đi họp để bảo vệ sức khỏe nhằm phục vụ tốt hơn cho học viên, cho nên nếu bạn có ý kiến gì cần gặp mà họ không có mặt thì đó cũng là lý do chính đáng.
TIN NGÀY 21/3/2012
Chính trị – Xã hội
Đảng Cộng sản trước nhu cầu cải tổ (BBC) —-Ai đứng sau vụ cấm báo Thanh Niên tổ chức tri ân chiến sĩ? (RFA)
Đói giáp hạt tại Thanh Hóa (RFA) —Thanh niên chết bí ẩn trong lúc tạm giam (RFA) —Bắt giữ 6 nghi can buôn người (RFA) —Việt Nam nhắm phát triển năng lượng xanh (RFA) —-Vụ 44 tỉ đồng: nguyên Cục phó Điện ảnh Việt Nam bị bắt giữ (RFA)
Xuất khẩu lao động Việt Nam: hơn cả buôn ma tuý! (Lê diễn Đức – RFA) -Vì sao nhà cầm quyền VN lại làm ngơ trước thân phận khốn cùng của người lao động VN ở nước ngoài và ngăn cản giúp đỡ họ? Những người nghèo khổ đi nước ngoài lao động thực chất bị vứt vào canh bạc chót và chờ vào sự may mắn. Nơi nào ông chủ tốt hoặc nước sở tại có môi trường xã hội văn minh bảo vệ quyền lợi người lao động, thì tuy vất vả nhưng còn thực hiện được một phần mơ ước. Gặp ông chủ bất nhân, chính quyền sở tại làm ngơ, coi như mất trắng và thân tàn ma dại. — Mà Ông Đức ơi,cái dụ Mã lai mà có có đi nữa là do “bọn tư bản nó bóc lột” đấy chớ,chúng tớ đâu có,ở chỗ “thiên đường” chúng tớ sướng lắm-Chúng tớ “gài bẩy” để “chứng minh” bọn “tư bổn giãy chết nó bóc lột để rồi chết” đấy Ông ạ.-Xem đây nầy : ‘Lao động Việt Nam kẹt ở Malaysia không bị đối xử tệ’ (VnEx) —-‘Lao động VN ở Malaysia không bị bỏ đói, hay bóc lột (Đất Việt) —-Việt Nam sẽ siết chặt quản lý thuê bao di động (VOA)
ĂN THẾ NÀY, HỌC THẾ NÀO?.. (Maithanhhai)-
Nhìn cơm các con đang ăn mà mình chụp ảnh mãi không được, tay cứ run run vì xúc động nên máy toàn bị rung. Cơm nước thế này thì nuốt thế nào được, hả giời?.. =======>>>
Thấy hông? quan đã bảo đâu có đói,mấy người đưa tin “bậy bạ ” không hà,không “định hướng” gì cả ,”phải định hướng XHCN” chớ,còn cái Anh Hải kêu Giời nỗi gì? có ăn cơm đấy chứ.có đói đâu nào? —-’Đừng để nạn ăn xin trở thành nỗi nhục quốc thể’ (VTC)
Bà Nguyễn Thị Mai Thanh nhận lương 100 triệu đồng/tháng (Dantri) -Mức lương này của bà chủ REE dự kiến vẫn giữ nguyên trong năm 2012 này, và còn dược hưởng chế độ khen thưởng trên lợi nhuận vượt kế hoạch kèm theo.
Hải Phòng: Đập phá nhà dân, nhiều cán bộ phường “lĩnh án” (Dantri) —-Chưa thỏa thuận đã ủi sập nhà dân! (DV)
Đề nghị truy tố Phó Chi cục Thi hành án dân sự Lâm Đồng (Dantri) —-Hai VĐV bỏ trốn tại Australia: Trăm sự tại nghèo? (Dân Việt) – Vụ việc hai VĐV đua thuyền rowing Nguyễn Phương Đông, Lương Đức Toàn bỏ trốn tại Australia sau chuyến tập huấn đang khiến những người làm thể thao đau đầu về chuyện đãi ngộ cho VĐV.
Thu thuế linh hoạt như ‘đèn xanh đi – đèn đỏ dừng’ (VTC News) —-Thế nào là “khoan sức dân”? (DV) —–Đội mũ bảo hiểm ngược để… dễ kiểm tra tem (DV) đồ điên khùng!!! —–TP.HCM: Tay chân miệng “tấn công” trường học (VNN)
2 tàu cá, 21 ngư dân bị Trung Quốc bắt giữ (TN)
Kinh tế
Với giá năng lượng tăng cao, lạm phát năm 2012 sẽ đi về đâu? (Trần vinh Dự – VOA) – Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang chuẩn bị xin tăng giá điện khiến nhiều người lo ngại về khả năng tiếp tục xảy ra bùng nổ lạm phát
Văn hóa – Giáo dục
Hậu Giang: Học sinh nam đóng cảnh “nóng” trong lớp (Dân trí)
Nữ sinh xử nhau ngay khuôn viên trường, hiệu trưởng chẳng hay (Danviet)
Thế giới
Nữ hoàng Anh đọc diễn văn nhân 60 năm trị vị (BBC) ================>>>
Cuộc chiến đổi màu (BBC) -Miến Điện trong xung đột sắc tộc và quan hệ đang đổi với TQ. —Tổ chức nhân quyền Mỹ tố cáo quân đội Miến Điện bức hại sắc tộc Kachin (RFI) —Pháp truy lùng thủ phạm ở Toulouse (BBC) —Quốc tế lên án vụ thảm sát tại trường học Do Thái ở Pháp (RFI) —An ninh Pháp ráo riết truy lùng thủ phạm vụ sát hại người Do Thái và lính Dù (RFI) —Pháp nâng mức báo động khủng bố trong lúc truy lùng kẻ sát nhân (VOA)
Trung Quốc lại tăng giá xăng dầu (BBC) —Thủ tướng Tây Tạng : Mọi kênh đối thoại với Bắc Kinh đều bế tắc (RFI) —Trung Quốc : Bất động sản mất giá, Nhà nước đau đầu (RFI) —Bruxelles và Bắc Kinh cùng giám sát tính an toàn của sản phẩm nhập từ Trung Quốc (RFI) —Trung Quốc tăng cường tuần tra ở vùng đảo tranh chấp trên biển Hoa Đông (RFI) —-Trung Quốc có thể thắng được cuộc chiến tranh văn hóa? (Nguyễn hưng Quốc-VOA) – Chính quyền Trung Quốc xem văn hóa như một mặt trận lớn, cả về đối nội lẫn đối ngoại —-Trung Quốc cảnh báo một cuộc chạy đua vũ trang ở châu Á (VOA)
Tổng Giám đốc BBC sẽ từ chức (BBC) —-Thẩm phán LHQ từ chức vụ xử Khmer Đỏ (RFA) —-Tòa án Tội phạm Chiến tranh Kampuchia gặp khủng hoảng (VOA) —Manila xác nhận sẽ tăng hợp tác quân sự với Mỹ (RFI) —-Thủy quân lục chiến Mỹ sẽ đến Úc vào tháng Tư 2012 (RFI)
Bình Nhưỡng mời Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế trở lại Bắc Triều Tiên (RFI) —IAEA nhận được lời mời để các thanh sát viên trở lại Bắc Triều Tiên (VOA) —-Căng thẳng gia tăng giữa chính quyền và đối lập Cuba (RFI)
Nga sẵn sàng hậu thuẫn kế hoạch của ông Annan về Syria (VOA) —Trao đổi thương mại Nga-Mỹ bị ảnh hưởng bởi Jackson-Vanik (VOA) —-HRW: Nga nên ngưng can thiệp các cuộc biểu tình ôn hòa (VOA) —-Nga tìm cách đứng xa đồng minh Syria (VOA)
Một loạt các vụ nổ bom khắp Iraq giết chết 38 người (VOA) —Đài Loan: tàu chìm, 6 chết, 2 mất tích (RFA) —-Động đất gần Acapulco, Mexico (VOA)
XÃ HỘI
Xe bồn mất lái nghiền nát xe máy (Dantri) —-Sau “yêu” chồng thích mò mẫm, còn vợ ưa gì? (DV) —-”Tú bà” 22 tuổi cầm đầu đường dây bán người (DV) —-Bán thuốc tây nhưng không biết… chữ! (TN) —-Cưa trộm trụ sắt thi công cầu Cần Thơ (TN) —Bắt một giám đốc vụ ẩu đả với 2 công an (VNN)
Trung úy công an “chôm” 30 triệu đồng của con bạc (NLĐ) —Thuê người chém nhân viên kiểm tra xe buýt (NLĐ) —-VnExpress/BM -Cá nhân nữ đại gia thủy sản nợ 100 tỷ đồng —–Hà Nội: Lại đột nhập, phá két và lấy đi 1,7 tỷ đồng (VN+)

– Về buổi thuyết trình của GS-TS Nguyễn Quang Ngọc, bữa nay xin tiếp, về chuyện có nên đưa tranh chấp HS-TS với Trung Quốc ra tòa án quốc tế hay không. Những bàn luận hầu như chỉ tập trung vào vấn đề pháp lý, nên còn có thể tung hỏa mù, dọa ngáo ộp. Trong khi đó, cái “tử huyệt” thực ra lại nằm chỗ khác, đó là chính trị. Nhiều người không nhận ra, và nhiều người quá biết nhưng muốn lờ đi, đánh lạc hướng. Mấu chốt của vấn đề chính là cả hai nước đều chung một thứ thể chế chính trị luôn muốn “Đóng cửa bảo nhau!”, tranh chấp không giống chút nào với các nước khác. Cho nên:
1- Đem nhau ra tòa quốc tế là phơi mặt cho toàn thế giới thấy rõ thêm thứ tình nghĩa “môi hở răng …cắn”, “đồng chí … chóe”. Tụi “thế lực thù địch” nó lợi dụng. Bộ mặt đẹp của “thiên đường XHCN” còn đâu?
2- Thế nhưng, trong khi một bên vẫn say sưa đặt cái gọi là “lợi ích giai cấp”, sự tồn vong của chế độ lên trên lợi ích dân tộc, thì một bên thực chất đã vứt bỏ để làm ngược lại. Bên nào có lợi thế quá dễ thấy.
3- Trong nước thì sẽ bị phơi lưng ra với dân chúng, không những mất “thiêng”, mà còn dễ bị ê chề nếu thua kiện.
4- Dân chúng thì tận dụng cơ hội này tha hồ moi bới những bí mật lâu nay được chôn giấu, tha hồ tự vũ trang cho nhau kiến thức, tinh thần để không còn mơ hồ, yếm thế như trước. Rất nguy!
5- Một khi đã tới nước muối mặt lôi nhau ra cho tụi “tư bổn giãy chết” nó mổ xẻ, thì cũng sẽ không chừa một thủ đoạn nào. Sẽ có những bí mật của nhau từng thề bồi “sống để bụng, chết mang theo” thì giờ đây phải tung hê hết hoặc chí ít thì hé lộ dần để giành lợi thế. Vụ chơi xỏ đơn phương tiết lộ Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 chỉ là khúc dạo đầu. Và còn nữa … Như vụ đột nhiên tung hê lên báo đảng Nhân dân nhật báo bài “Một người vợ Trung Quốc khác của Hồ Chí Minh” chẳng hạn. “Võ Tàu” đấy! … Lắm kẻ cứ gọi là sợ chết khiếp!
Trần Khải :Nhượng Quyền Biển Đông?
Chính phủ Phi Luật Tân đã dịu giọng với Trung Quốc về Biển Đông, và gửi lời nhắn là có thể sẽ có một thỏa hiệp để chấp nhận Trung Quốc vào vùng đảo Trường Sa nơi Phi đang tranh chủ quyền để “cùng khai thác dầu khí” với điều kiện 60% lợi tức sẽ thuộc về chính phủ Phi. Đó là một chuyển biến đáng ngại cho Việt Nam.
Hãy hình dung rằng, nếu VN chấp nhận cho TQ vào vùng biển do VN đang kiểm soát và đang tranh chấp chủ quyền với TQ để khai thác dầu, với khẩu hiệu TQ luôn luôn đưa ra là tạm gác tranh chấp để cùng khai thác kinh tế, chắc chắn sẽ là một cớ để TQ sau này ra Liên Hiệp Quốc tranh biện rằng chính VN đã chấp nhận vùng tranh chấp đó đã có sự hiện diện của TQ để khai thác kinh tế. Đó là một cớ để sẽ dằng dai hoài, cho dù có ra trước tòa quốc tế nào đi nữa.
Thêm câu hỏi nữa: nếu tạm gác tranh chấp để cùng khai thác kinh tế, tại sao không để ngư dân VN vào đánh cá ở vùng biển Hoàng Sa, nơi nhiều thế hệ ông cha của ngư dân Việt đã đánh cá từ lâu và là nơi Hải Quân TQ tấn công Hải Quân VNCH để đánh chiếm từ năm 1974?
Nhà bình luận Xu Tianran trên ấn bản 19-3-2012 của báo Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times) ở Bắc Kinh vui mừng gọi diễn biến hôm Chủ Nhật là “Chính phủ Manila dịu giọng về Đảo Trường Sa (TQ gọi là Nansha)”.
Tại sao Phi mời TQ vào khai thác chung ở vùng Trường Sa thuộc Phi?
Ngoại Trưởng Phi Albert del Rosario qua cuộc phỏng vấn của News5 nói rằng TQ đã có nhiều gợi ý về thăm dò chung và khai thác chung vùng đảo Trường Sa, thuộc Biển Tây Phi mà Việt Nam gọi là Biển Đông, ngay cả khi TQ nói rõ rằng vùng tranh chấp đó là thuộc chủ quyền TQ.
Hiện thời vùng Trường Sa ở Biển Đông là thuộc một phần hay toàn phần tranh chấp bởi 6 quôc gia, đó là Phi, TQ, Việt Nam, Đaì Loan, Brunei và Mã Lai và là nơi được tin là có nhiều mỏ dầu, khí và khoáng sản.
Mới đây, Bộ Năng Lượng Phi nói là sẽ cho thăm dò vùng Recto Bank (còn gọi là Bãi Cỏ Rong — Reed Bank). Năm ngoái, một tàu thăm dò do hãng Phi thuê đã bị tàu TQ chận lại ở Bãi Cỏ Rong, nơi mà TQ nói là chủ quyền TQ. Rồi mới đây, Đaì Loan loan báo phản đối thăm dò dầu ở Bãi này.
Del Rosario khẳng định rằng Bãi Recto Bank là thuộc chủ quyền Phi. Phó Chủ Tịch TQ Shin Jingping là một trong vài người nếu ý tưởng khai thác chung, và Del Rosario thú nhận rằng vẫn chưa đóng cửa về khả năng này.
Del Rosario nói, “Nếu họ muốn khai thác chung, thăm dò chung ở đó — chúng ta sẽ đồng ý như thế, với điều kiện làm theo luật Phi.” Ông nói rằng, theo luật Phi, sẽ có 60% thương vụ của hợp tác đó là thuộc về chính phủ Phi.
Tuy nhiên, rõ ràng là Phi đã nhượng bộ như thế, sẵn sàng chia tứ-lục, vậy mà TQ vẫn chưa hài lòng.
Tờ Hoàn Cầu Thời Báo ghi lời một số học giả TQ rằng, TQ sẽ không đồng ý cho Phi chia phần lớn hơn trong hợp tác khai thác chung này.
Zhuang Guotu, người tự nhận là chuyên gia về Biển Đông và hiện là Khoa Trưởng Đại Học Nghiên Cứu Đông Nam Á tại đại học Xiamen University, nói với Hoàn Cầu Thời Báo, “TQ sẽ không chấp nhận rằng 60% mức thu là về phía Phi, vì điều kiện này lá chấp nhận chủ quyền lãnh thổ của Phi [trên Bãi Cỏ Rong].”
Zhuang cũng ghi nhận, dù vậy, như thế là Phi cũng dịu giọng rồi. Đồng thời, Zhuang hù dọa, rằng tuy TQ cam kết không giải quyết chủ quyền Trường Sa bằng vũ lực, nhưng “TQ sẽ bảo vệ quyền lợi TQ bằng cách củng cố hoạt động tuần hải và thực thi luật hàng hải.”
Lời đó hẳn nhiên là nặng kí, vì năm ngoáí đã có chuyện xảy ra: hồi tháng 3-2011, một nhóm tàu hải giám Trung Quốc đã tới xua đuổi tàu thăm dò dầu do Phi đưa tới Bãi Cỏ Rong tại Trường Sa.
Có nghĩa là, muốn khai thác dầu Biển Đông là sẽ bị TQ quấy rối hoài.
Một điểm cần chú ý cũng hôm Chủ Nhật 18-3-2012, báo Business Mirror của Phi Luật Tân ghi lời chuyên gia về chính trị Đông Nam Á Carlyle Thayer, giáo sư đạị học ở University of New South Wales và Học Viện Quốc Phòng Úc Châu, thúc giục chính phủ Phi Luật Tân và chính phủ CSVN phải có những bước củng cố “chủ quyền quốc gia” về các khu đặc quyền kinh tế ở Biển Đông.
Trong bài viết nhan đề “Security Cooperation in the South China Sea: An Assessment of Recent Trends” (Hợp Tác An Ninh ở Biển Đông: Lượng Định Các Khuynh Hướng Gần Đây), GS Thayer nói rằng sự mềm yếu của Manila sẽ chỉ mời gọi Bắc Kinh “hành động hung hăng thêm.”
Ông cũng thúc giục ASEAN và cộng đồng quốc tế, những nước có tàu hàng đi xuyên qua Biển Đông, hãy chạm trán về mặt ngoại giao với TQ về hành vi “hung hăng giành biển.”
Bản đồ chín khúc, hay bản đồ lưỡi bò hình chữ U mà TQ vẽ lấy chủ quyền ở Biển Đông đã lẹm vào nhiều đảo của Việt Nam và Phi. Do vậy, Thayer gọi đó là phi lý, khi việc thăm dò dầu của taù Phi ở Bãi Cỏ Rong và khu vực khác ở nhóm đảo KIG, và ngay cả khi VN thăm dò dầu trong vùng biển VN cũng bị TQ xem là hành vi “cướp bóc tàì nguyên” và là một thách thức với hiện hữu của TQ.
Soong Enlai, chủ tịch hội đồng quản trị của hãng dầu quốc doanh TQ China National Offshore Oil Corp. (CNOOC), trước đó đã nói rằng đất nước TQ mất khoảng 20 triệu tấn dầu hàng năm, tức là khoảng 40% tổng sản lượng dầu khai thác hải ngoại của TQ, chỉ vì các hành vi như thế ở Biển Đông (do Phi và VN khai thác dầu).
Thayer nhắc rằng, hồi tháng 3 năm ngoái, Ngoạị Trưởng TQ Yang Jiechi tuyên bố rằng chính sách ngoiạ giao TQ sẽ phục vụ cho phát triển kinh tế TQ. Tuyên bố này ngay lập tức theo sau là một lời cảnh cáo đối với bất kỳ việc thăm dò nào trong các vùng biển mà TQ đã khoanh bản đồ ở Biển Đông, đồng thời tăng cường tuần hải và tuyển mộ thêm 1,000 thủy thủ cho lực lượng hải giám TQ để nâng quân số này lên 10,000 người.
Nhìn các diễn biến mấy năm qua, chúng ta đã thấy Việt Nam thực tế đã dịu giọng từ trước khi Phi Luật Tân dịu giọng. Những cuộc biểu tình đòi chủ quyền Biển Đông ở Sài Gòn và Hà Nội đã bị vùi dập tệ hại, trong đó chị Bùi Minh Hằng đã bị đẩy vào trại cải huấn lấy cớ là gây rối loạn đường phố.
Không chỉ chuyện của năm ngoáí. Thực ra, cuộc biểu tình đầu tiên đòi chủ quyền Biển Đông là cuối năm 2007, do anh Điếu Cày và Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do tổ chức ngay giữa Sài Gòn sau khi TQ tuyên bố lập huyện Tam Sa để quản lý cả Hoàng Sa và Trường Sa của VN. Bây giờ anh Điếu Cày vẫn còn bị giam, bất kể là án tù đã mãn từ lâu.
Chính phủ Hà Nội đã dịu giọng từ lâu. Bây giờ chính phủ Phi cũng dịu giọng. Có vẻ như, Biển Đông sắp bị bán cho TQ, không kiểu này thì cũng kiểu khác.
Riêng với VN, chắc chắn TQ không chỉ đòi Biển Đông, mà đã và đang dùng nhiều cách để hiện diện ở các vùng khác và lĩnh vực tại VN, từ rừng đầu nguồn cho tới mỏ bauxite, từ phim Lý Thái Tổ cho tới đòi hỏi dạy tiếng Hoa cho trẻ em VN 4 tiết/tuần.
Không lẽ, tới thời nhà Hồ là VN bị xóa sổ hay sao? Có cơ may nào khác hơn không? Đành chờ vậy.
2 tàu cá, 21 ngư dân bị Trung Quốc bắt giữ
21/03/2012 3:48 – Thanhnien
Chiều 20.3, UBND huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) cho biết 2 tàu cá của ngư dân huyện đảo này vừa bị phía Trung Quốc bắt giữ khi đang khai thác hải sản tại ngư trường Hoàng Sa của Việt Nam vào chiều 3.3.
Đó là tàu QNg-66074 TS, công suất 45 CV do ông Trần Hiền (32 tuổi, ở thôn Tây, xã An Vĩnh, Lý Sơn) là chủ tàu kiêm thuyền trưởng, trên tàu có 11 lao động và tàu QNg-66101 TS, công suất 39 CV do ông Bùi Thu (48 tuổi, ở thôn Tây, xã An Vĩnh) làm thuyền trưởng, trên tàu có 10 lao động. Bà Lê Thị Phúc, vợ thuyền trưởng Trần Hiền, cho biết ngày 12.3 chồng bà gọi điện về nói 2 tàu cá và các ngư dân đang bị giam giữ tại đảo Phú Lâm (thuộc quần đảo Hoàng Sa); phía Trung Quốc yêu cầu mỗi tàu phải nộp 70.000 nhân dân tệ thì mới thả tàu.
UBND H.Lý Sơn đã có văn bản kiến nghị với UBND tỉnh Quảng Ngãi và các ngành chức năng T.Ư có biện pháp can thiệp để phía Trung Quốc sớm thả tàu và ngư dân. BLV: Ô HAY, BIỂN CHỦ QUYỀN CỦA MÌNH MÀ SAO NÓ LẠI ĐÒI TIỀN NHỈ????
Văn Mịnh
ĂN THẾ NÀY, HỌC THẾ NÀO?..
Maithanhhai
Nhìn cơm các con đang ăn mà mình chụp ảnh mãi không được, tay cứ run run vì xúc động nên máy toàn bị rung. Cơm nước thế này thì nuốt thế nào được, hả giời?..
Mỗi đứa ôm một cái âu đựng cơm chan nước canh. Tản mát: Chỗ này thì túm tụm chục đứa con trai, vừa nhai trệu trạo vừa nói chuyện lầm rầm; chỗ kia thì cắm cúi vài ba đứa con gái, ngồi im lặng ăn một cách uể oải; lại có đứa đứng ăn một mình, trong xó bếp tối tăm…
Nhìn vào âu cơm thấy gì đây?.
Cơm thì vón cục vón hòn, lõng bõng cái gọi là nước canh- Một thứ canh gọi là “canh khoai”, nhưng nhìn toét mắt chả thấy khoai đâu!. Thức ăn mặn thì chả có.
Ăn uống thế này, để tồn tại còn khó, nói gì đến học hành?..
Mình mau chóng chụp vài shot hình xong liền đi ra ngoài. Cố gắng tránh không làm chúng nó mất tự nhiên, để miếng cơm nhạt trôi xuống cái dạ dày rỗng được trơn tru.
Vừa uể oải ăn, vừa lầm rầm trò chuyện. Thấy khách đến, chúng ngượng ngùng giấu mặt.
Nhóm con trai tụ tập ăn trong im lặng, cái chậu bên dưới chân chúng nó dùng để đựng canh “khoai”.
Nhóm ăn trong bếp, thỉnh thoảng nói với nhau vài câu thổ ngữ rời rạc, những chậu canh sẵn khói, thừa nước nhưng trong veo. Nhìn đố biết là canh gì, nếu không có ai “bật mí”…
Mỗi đứa một góc ăn cho xong bữa
Nhiều đứa gần như bỏ lại nguyên âu cơm
Những ánh mắt hân hoan khi sắp được nhận quà.
Bữa ăn chúng nó là vậy, thế mà vẫn có người nói chúng nó chưa đến nỗi khổ!. Đéo hiểu cái chuẩn khổ, nó phải như thế nào nữa, hả người?..
-“Bom” nước khổng lồ chờ nổ: Lời cảnh Báo của Nhà Văn Võ Thị Hảo đã bắt đầu ứng nghiệm.
-Lê Tùng Châu tổng hợp từ VNE và Tuổi Trẻ 17/3/2012
LTC: Còn nhớ năm 2010, nhà văn Võ Thị Hảo đã viết bài “Miền Trung ơi! Người đã bị thí mạng?!” trong đó nêu lên lời cảnh báo nguy cơ treo bom nước trên đầu dân đồng bằng. Vì đâu? xin trích:
MARCH 19, 2012
Cục trưởng Cục đê điều và phòng chống lụt bão Nguyễn Xuân Diệu công bố: tổng lượng mưa năm 2009 nhỏ hơn tổng lượng mưa năm 1999 tại miềm Trung nhưng đỉnh lũ năm 09 lại vượt đỉnh lũ năm 99 tới cả 1,5 m.
Ngày 24/11/2009, một đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Yên cho biết, thực tế lũ năm 2007 cho thấy, chỉ một trận mưa 330 mm tại tỉnh này, mà thiệt hại lớn hơn mức lũ “lịch sử” năm 1991 với lượng mưa 1.300 mm, bởi vì nhà máy thủy điện Sông Ba hạ ở đây đã xả lũ hết công suất với vận tốc 11.400 m3/s!
Sau trận lũ lụt thảm khốc tại miền Trung hồi tháng 11/2009, nhiều đại biểu Quốc hội đã chất vấn chính phủ về nguyên nhân lũ lụt miền Trung. Một số nhà chuyên môn có uy tín đã phát hiện là “do yếu tố con người” – do những nhà máy thuỷ điện vì lợi ích cục bộ của mình, không thực hiện quy trình đã cam kết về vận hành hồ chứa phòng lũ, cứ tích đầy nước để chạy máy phát điện tối đa, đến lúc mưa lớn tràn về, liền mở cửa xã lũ ào ạt để bảo vệ đập và nhà máy, bất kể hậu quả cho dân vùng hạ lưu.
Về cơ bản, ngành thủy điện và thủy lợi cam kết khi xây dựng rằng các hồ chứa có thể chống hạn và cắt lũ, nhưng trên thực tế khảo sát đã được công bố từ cơ quan chức năng thì việc vận hành hệ thống hồ xả lũ ở đây là tùy tiện, không hề có một “nhạc trưởng”…
Mời bạn đọc lại bài viết của Nhà Văn Võ Thị Hảo và những nguy cơ từ lời báo trước ấy đã bắt đầu xuất hiện dưới đây…
Nhiều ngày qua, hàng nghìn người dân vùng hạ lưu công trình thủy điện Sông Tranh 2 ở huyện Bắc Trà My (Quảng Nam) lo lắng vì phát hiện nhiều vết nứt, rò rỉ nước ở thân đập chính của công trình này. Ngoài vết nứt toác lún sâu bên trái gần đập chính, chính quyền địa phương cùng người dân ở huyện Bắc Trà My phát hiện nhiều vết nứt, rò rỉ nước từ lòng hồ xuyên qua thân đập chính công trình thủy điện sông Tranh 2.
Thủy điện Sông Tranh 2 có tổng mức đầu tư 5.194 tỷ đồng, xây dựng từ tháng 3/2006 gồm hai tổ máy (tổng cộng 190MW), dự kiến khánh thành trong năm 2012 này.
Cuối năm 2010 cả hai tổ máy này đều chính thức phát điện. Dung tích hồ chứa nước của thủy điện Sông Tranh 2 thuộc hàng lớn nhất miền Trung, vị trí bờ đập chính nằm sát tỉnh lộ 616 là hồ chứa nước thuộc 2 xã Trà Tân và Trà Đốc với khoảng 730 triệu mét khối nước, cao hơn vùng hạ lưu khoảng 100 m.
Những phản hồi mâu thuẫn
Từ EVN
Trần tình về vết nứt thủy điện Sông Tranh 2, Ban Quản lý Dự án Thủy điện 3 (thuộc EVN) có công văn thông báo khẩn giải thích về hiện tượng “có dòng nước chảy ra phía hạ lưu đập dâng, tràn” ở Công trình Thủy điện sông Tranh 2, đã khẳng định, dòng thấm chảy ra phía hạ lưu đập và toàn bộ lưu lượng thấm qua là khoảng 30 lít một giây nên không ảnh hưởng đến an toàn, ổn định của công trình.
“…Tổng lượng thấm của đập đã được Hội đồng nghiệm thu Nhà nước các công trình xây dựng, Hội đồng nghiệm thu cấp Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Hội đồng nghiệm thu cơ cở, cơ quan thiết kế đánh giá là đạt yêu cầu kỹ thuật, đảm bảo chất lượng công trình.
Ban quản lý cho rằng, hiện tượng nước chảy ra ở 3 vị trí hạ lưu đập là các vị trí khe nhiệt chứ không phải khe nứt. 30 khe nhiệt được thiết kế bố trí và thi công đều trên toàn tuyến đập. Mục đích bố trí các khe nhiệt này là nhằm triệt tiêu ứng suất nhiệt gây nứt bê tông trong quá trình thi công và vận hành công trình. Các khe nhiệt này xuyên suốt từ phía thượng lưu về hạ lưu.Đơn vị thi công là Tổng công ty xây dựng Thủy lợi 4- CTCP và Ban Quản lý Dự án Thủy điện 3 đã và đang tiếp tục xử lý thấm của đập để làm giảm tổng lượng thấm nêu trên để chất lượng công trình tốt hơn. Ban quản lý dự án khẳng định vấn đề kỹ thuật này hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến an toàn ổn định của dự án.
Từ “Viện Vật lý Địa Cầu”
Giáo sư Cao Đình Triều cho rằng thân đập chính của công trình thủy điện Sông Tranh 2 (Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam) xuất hiện đến 4 điểm nứt, rò rỉ nước từ lòng hồ xuyên qua đập là đáng lo ngại. Các cơ quan chuyên môn cùng đơn vị chủ đầu tư cần khẩn cấp vào cuộc kiểm tra các vết nứt, rò rỉ này để tránh gây thảm họa cho vùng hạ lưu.
Giáo sư Triều nhận định, thân đập thủy điện Sông Tranh 2 nằm trên đới đứt gãy đang hoạt động mạnh nên gây ra những vết nứt, rò rỉ. Do vậy, trước mắt, các cơ quan chuyên môn cần sớm thăm dò, đo đạc mức độ nguy hiểm của vết nứt để có giải pháp xử lý kịp thời, phù hợp.
“Nếu để lâu ngày, vết nứt lan rộng, thân đập bị đứt gãy thì hàng trăm triệu mét khối treo ở độ cao 100 mét so với vùng hạ lưu ào xuống thì hiểm họa thật khó lường”
Phản đối từ Bắc Trà My
Hiện 4 điểm nứt ở phần thân trái đập rò nước khá mạnh từ khu vực lòng hồ chảy thấm qua thân đập tuôn xuống hệt như khe suối.
Theo ông Trần Văn Hải, Trưởng Ban quản lý dự án thủy điện Sông Tranh 2, những vết nứt trên đều ở vị trí các khe nhiệt của khối bêtông bờ đập. Ông Hải cho rằng, hiện tượng thấm nước qua khe nhiệt bị nứt nằm trong tầm kiểm soát, rò thấm nước với cường độ 30 lít một giây xuất hiện từ tháng 11/2011 trong phạm vi yêu cầu thiết kế, không thể gây nguy hiểm gì.
Còn ông Nguyễn Kim Sơn, Phó Bí thư thường trực Huyện ủy Bắc Trà My phản đối, vào chiều 19/3/2012: “Lãnh đạo Ban quản lý thủy điện Sông Tranh 2 bảo rằng vết nứt trong mức cho phép thiết kế, không gây nguy hiểm gì là vô lý. Nước từ khu vực lòng hồ rò rỉ qua thân đập bê tông cốt thép tuôn chảy mạnh như dòng suối mà nói bình thường thì thật đáng ngờ. Tôi đã điện thoại yêu cầu Ban quản lý báo cáo bằng văn bản, thế nhưng đến chiều nay vẫn chưa thấy trả lời”.
![]() |
| Thân đập chính công trình thủy điện Sông Tranh 2, nơi xuất hiện 4 vết nứt, rò rỉ nước. Ảnh: Trí Tín. |
“Nếu trong vòng hai ngày tới, Ban quản lý công trình thủy điện Sông Tranh 2 không báo cáo về việc đập bị rò rỉ và giải pháp khắc phục, chính quyền huyện sẽ báo cáo tỉnh can thiệp”, ông Phó Bí thư thường trực huyện ủy Bắc Trà My nhấn mạnh.
Video Clip của Tuổi Trẻ: “Bom” nước khổng lồ chờ nổ
http://tv.tuoitre.vn/js/player/player.swf
Giữa năm ngoái, lòng đất Bắc Trà My phát ra nhiều tiếng nổ bất thường làm rung chuyển nhà cửa đồ đạc khiến người dân lo lắng. Tháng 12/2011, Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam kết luận nguyên nhân tiếng nổ trong lòng đất là động đất kích thích do hoạt động hồ chứa tích nước công trình thủy điện Sông Tranh 2. Các chuyên gia cũng đã đề xuất Bộ Khoa học công nghệ giúp địa phương này lắp đặt trạm quan trắc động đất phòng ngừa nguy hiểm cho người dân, thế nhưng đến nay vẫn chưa có sự hỗ trợ nào.
Từ sau tết Nhâm Thìn đến nay, lòng đất ở vùng hạ lưu công trình thủy điện sông Tranh 2 vẫn còn xuất hiện những đợt dư chấn gây rung chuyển mặt đất nhưng nhẹ hơn so với trước.
Kiêu binh thời Đảng trị

Nước mất nguồn – cây mất gốc”

Cũng chẳng ai đoái hoài việc yêu cầu TQ không làm khó VN ra quy tập các anh về đất liền quê nhà. Gia đình các anh thì nghèo khổ, còn nhân dân, đồng đội muốn vinh danh, tri ân các anh cũng chẳng được.Cù Huy Hà Vũ và nhà thơ Hữu Loan

Gạc Ma ém, Cổ Thành khoe


Đừng chờ ai đó làm thay

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
HỌC THUYẾT CHIẾN TRANH CỦA BARACK OBAMA
Tài liệu tham khảo đặc biệt – Chủ nhật, ngày 18/3/2012 -TTXVN (Oasinhtơn 28/2)
Tạp chí Chính sách Đối ngoại (Foreign Policy) số ra tháng 3-4 đăng bài viết của nhà báo David Rohde, người từng hai lần đoạt giải Pulitzer, về học thuyết chiến tranh của Tổng thống Mỹ Barack Obama. Sau đây là nội dung bài viết:
Khi Barack Obama nhậm chức ba năm trước đây, không ai gắn cụm từ “tiêu diệt có mục tiêu” với vị tổng thống trẻ đầy lạc quan. Trong diễn văn nhậm chức, cựu giáo sư luật 47 tuổi này chỉ nhắc đến từ “khủng bố” duy nhất một lần. Thay vào đó, ông hứa sẽ sử dụng công nghệ để “tận dụng mặt trời, gió và đất để làm nhiên liệu chạy xe và các nhà máy”.
Một cách kỳ lạ, công nghệ đã giúp Obama có thể trở thành người mà không mấy ai dự đoán: một tổng thống đã mở rộng rất nhiều khả năng của nhánh hành pháp trong việc phát động chiến tranh bí mật công nghệ cao. Với một quyết tâm khiến nhiều người ngạc nhiên, Obama đã tận dụng CIA, mở rộng quyền lực của CIA và chấp thuận các vụ tiêu diệt có mục tiêu với số lượng nhiều hơn bất cứ tổng thống đương đại nào. Trong ba năm qua, Chính quyền Obama đã thực hiện ít nhất 239 vụ tấn công bí mật bằng máy bay không người lái, nhiều hơn năm lần so với con số 44 vụ dưới thời Tổng thống George W. Bush. Và sau khi hứa sẽ tổ chức các chiến dịch chống khủng bố minh bạch hơn, cùng với kiềm chế quyền lực hành pháp, Obama đã làm ngược lại, duy trì tính bí mật và mở rộng quyền hạn của tổng thống.
Một điều không kém phần quan trọng là việc Chính phủ Mỹ sử dụng quá nhiều các vụ tấn công bằng máy bay không người lái đã làm tổn hại một trong những chính sách được hoan nghênh nhất: một cách tiếp cận mới, hậu 11/9, với việc sử dụng các lực lượng tiêu diệt của Mỹ, một cách tiếp cận đa phương, minh bạch và có trọng tâm.
Sự sẵn lòng của Obama trong việc sử dụng các lực lượng tiêu diệt của Mỹ không có gì đáng ngạc nhiên. Trong một bài diễn văn năm 2002, Thượng nghị sĩ bang Illinois Obama đã phản đối cuộc tấn công chiếm đóng Irắc sắp diễn ra của Tổng thống Bush, nhưng không phải là phản đối mọi cuộc chiến tranh, ông nói: “Tôi không phản đối tất cả các cuộc chiến, điều tôi phản đối là một cuộc chiến ngớ ngẩn . Và khi làm tổng thống, trong bài diễn văn nhận giải Nobel Hòa bình vào tháng 12/2009, Obama cảnh báo: “Sẽ có những thời điểm mà các quốc gia – hành động riêng lẻ hoặc tập thể – sẽ sử dụng vũ lực không chỉ khi cần thiết mà cả khi đúng về mặt đạo lý”. Từ đó đến nay, Obama không chỉ gửi quân đến Ápganixtan, Irắc, Libi, mà còn nhiều lần đồng ý cho tiến hành các cuộc tập kích của lính biệt kích tại Pakixtan và Xômali và trên biển, trong khi lãnh đạo một hệ thống đã thực hiện hàng trăm cuộc tấn công bằng máy bay không người lái.
Trong một loạt các cuộc phỏng vấn gần đây, các quan chức chính quyền đương nhiệm và đã rời nhiệm sở đã phác thảo cái có thể gọi là “học thuyết Obama” về sử dụng vũ lực. Việc Obama chủ trương theo chủ nghĩa đa phương, các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái, và sự hiện diện quân sự ít ỏi ở Libi, Pakixtan và Yêmen đã cho thấy hiệu quả hơn là cách tiếp cận đao to búa lớn của ông Bush ở Irắc và Ápganixtan. Ben Rhodes, Phó cố vấn an ninh quốc gia phụ trách truyền thông chiến lược, cho biết: “Chúng tôi sẽ sử dụng vũ lực đơn phương khi cần thiết để chống lại các mối đe dọa trực tiếp đối với Mỹ. Và chúng tôi sẽ sử dụng vũ lực một cách rất chính xác”.
Rhodes lập luận, các cuộc khủng hoảng mà Chính quyền Obama coi là các mối đe dọa gián tiếp đến Mỹ – như các cuộc nổi dậy ở Libi và Xyri – là “các mối đe dọa đối với an ninh toàn cầu” và được phản ứng bằng cách tiếp cận đa phương, không nhất thiết bằng vũ lực. Việc rút quân Mỹ tại Irăc và Ápganixtan, cũng như việc xây dựng một lực lượng quân đội nhỏ gọn, linh hoạt hơn trên khắp châu Á, Thái Bình Dương và Trung Đông, cũng là một phần của học thuyết. Sự ủng hộ một cách thận trọng đối với những người biểu tình ở Ai Cập, Iran và Xyri cũng như vậy.
Chiến lược đang nổi lên – cái mà Rhodes gọi là “đường hướng có trọng tâm cụ thể hơn nhiều đối với các đối thủ” – là một sự thay đổi đáng hoan nghênh từ các chính sách ưa dùng quân sự và ngôn từ hiếu chiến của cả Chính quyền Bush lẫn các ứng cử viên tổng thống hiện nay của đảng Cộng, hòa. Nhưng Obama đã cho CIA quá nhiều tự do trong việc thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái ở Pakixtan và Yêmen. Ở cả hai nước, các cuộc tấn công này thường có vẻ bị phản tác dụng.
Obama và các quan chức chính quyền khác cho rằng các máy bay không người lái được sử dụng hạn chế và làm chết rất ít dân thường. Trong một bình luận công khai hiếm hoi về chương trình này vào cuôi tháng Một vừa qua, Tổng thống Obama lên tiếng bảo vệ các cuộc tấn công. Obama nói: “Tôi muốn chắc chắn rằng mọi người hiểu là các máy bay không người lái không gây ra một lượng thương vong lớn cho dân thường. Phần lớn đây là các cuộc tấn công rất chính xác nhằm vào Al-Qaeda và các tổ chức ngoại vi. Và chúng tôi rất thận trọng khi áp dụng .
Nhưng từ Pakixtan tới Yêmen, tới một Irắc thời hậu Mỹ, máy bay không người lái thường gây ra sự phản kháng sâu sắc ớ những nơi nó hoạt động. Khi tấn công, chúng giết chóc không hề kém một loại vũ khí chiến tranh nào. Việc Chính phủ Mỹ xếp các cuộc tấn công trong diện “bí mật” chỉ làm gia tăng sự giận dữ và nghi kỵ của người dân địa phương. Dưới thời Obama, các cuộc tấn công này đã trở nên quá thường xuyên, quá đơn phương, và quá gần với việc sử dụng sức mạnh Mỹ theo kiểu mạnh tay.
Năm 2008, tôi chứng kiến việc này lần đầu tiên. Hai đồng nghiệp người Ápganixtan và tôi bị Taliban bắt cóc và giữ làm con tin tại các vùng thiểu số của Pakixtan trong bảy tháng. Từ dưới mặt đất, máy bay không người lái là một thứ vũ khí đáng sợ mà người ta có thể nghe thấy nó lượn vòng trên đầu hàng giờ liền. Chúng có uy lực và là biểu tượng đáng sợ của sức mạnh Mỹ không thể bị ngăn chặn. Đồng thời, chúng lại rất hiệu quả, có thể tiêu diệt những kẻ sản xuất bom ở nước ngoài và ngăn chặn các chiến binh Taliban tập hợp thành các nhóm lớn. Kinh nghiệm này khiến tôi bị thuyết phục rằng các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái cần được thực hiện – nhưng phải rất có lựa chọn.
Trong các cuộc phỏng vấn, các quan chức cả đương nhiệm lẫn đã rời nhiệm sở của Chính quyền Obama nói rằng tổng thống và các cận sự cao cấp của ông đã sốt sắng ngay từ đầu trong việc thể hiện sự khác biệt giữa cách tiếp cận của họ tại Pakixtan và Ápganixtan với Chính quyền Bush. Không giống như Irắc, trường hợp mà những người của đảng Dân chủ cho rằng Chính quyền Bush đã quá hiếu chiến, họ lại cho rằng Nhà Trắng dưới thời Bush đã không đủ cứng rắn đối với các nhà lãnh đạo Ápganixtan và Pakixtan. Vì thế chính quyền mới có cách tiếp cận đơn phương, cứng rắn hơn tại Nam Á và cách tiếp cận này sau đó được áp dụng với những nơi khác. Khi còn tranh cử, Obama tuyên bố trong chiến dịch hồi năm 2007 về tổng thống của Pakixtan khi đó rằng “Nếu chúng ta có thông tin tình báo ở mức có thể hành động được về các đối tượng khủng bố có giá trị cao mà Tổng thống Musharraf không hành động, chúng ta sẽ hành động”.
Trong năm đầu tiên tại vị, Tổng thống Obama chuẩn y hai đợt tăng quân lớn ở Ápganixtan và gia tăng nhanh chóng số lượng các điệp viên CIA tại Pakixtan. CIA cũng được tự do hơn trong việc thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tại các, vùng thiểu số không được chính phủ kiểm soát tại nước này, nơi các chiến binh nước ngoài và địa phương lên kế hoạch tấn công vào Ápganixtan, Pakixtan và những nơi khác.
Quyết định này phản ảnh cả niềm tin của Obama vào sự cần thiết phải chủ động hơn tại Pakixtan lẫn ảnh hưởng của CIA trong chính quyền mới. Theo các quan chức cũ lẫn đương nhiệm của chính quyền, ở một phạm vi lớn hơn so với thời Bush, Obama và các cận sự cao cấp đã dựa vào CIA để có phân tích về tình hình Pakixtan. Kết quả là, duy trì khả năng của CIA trong việc thực hiện hoạt động chống khủng bố ở Pakixtan đã trở thành ưu tiên tối cao.
Một cựu quan chức nói: “Điều quan trọng nhất khi nói đến Pakixtan là phải có khả năng thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái, ngoài ra không có gì khác. Cái gọi là trọng tâm chiến lược của mối quan hệ song phương chỉ đơn thuần để phục vụ cho cách tiếp cận chống khủng bố”.
Ban đầu, CIA đã đúng. Việc gia tăng các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái đã loại bỏ các thành viên cao cấp của Al-Qaeda trong năm 2009. Sau đó, vào tháng 7/2010, những người Pakixtan làm việc cho CIA bám sát theo một chiếc Suzuki màu trắng trên các con phố đông đúc ở Peshawar. Sau đó người ta lần theo người lái xe tới một dinh thự lớn ở thành phố Abbottabad. Ngày 2/5/2011, lính biệt kích Mỹ đã tiêu diệt Osama Bin Laden tại đây.
Tuy nhiên, theo các cựu quan chức Mỹ, sự hiện diện của tình báo Mỹ đã vượt xa mục tiêu truy lùng Bin Laden. Có thời điểm CIA đã cố triển khai hàng trăm nhân viên ở khắp Pakixtan nhưng sau đó đã rút lại kế hoạch vì các quan chức Pakixtan đang nghi kỵ đã từ chối cấp thị thực cho những người này. Đồng thời, CIA đã tích cực sử dụng quyền tự do mà Obama cho phép để thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái nhiều nhất từ trước tới nay.
Được thành lập dưới thời Chính quyền Bush và Musharraf vào năm 2004, chương trình máy bay không người lái bí mật của CIA ban đầu chỉ thực hiện các cuộc tấn công “cá nhân” nhằm vào danh sách các thành viên cao cấp của Al-Qaeda đã được đồng ý trước. Các quan chức Pakixtan được thông báo trước khi diễn ra rất nhiều, nhưng không phải tất cả, các cuộc tấn công. Trong khoảng từ năm 2004 đến 2007, theo tổ chức New America Foundation, 9 cuộc tấn công như vậy được thực hiện tại Pakixtan.
Năm 2008, Chính quyền Bush nới lỏng hạn chế các cuộc tấn công vào các vùng thiểu số. Thay vì dựa trên thông tin tình báo về một cá nhân cụ thể, những người điều khiển máy bay không người lái của CIA có thể thực hiện các cuộc tấn công dựa trên hành vi của những người dưới mặt đất. Họ có thể thực hiện các cuộc tấn công nếu, chẳng hạn, thấy một nhóm người qua lại vùng biên giới Ápganixtan-Pakixtan. Trong năm 2008, Chính quyền Bush thực hiện 33 cuộc tấn công.
Dưới thời Obama, chiến dịch sử dụng máy bay không người lái gia tăng nhanh chóng. Con số các cuộc tấn công đã tăng gần gấp đôi lên 53 trong, năm 2009 và gấp đôi tiếp lên 118 vào năm 2010. Các quan chức cũ trong chính quyền nói rằng các quy định lỏng lẻo hơn đã dẫn đến việc giết hại nhiều thường dân hơn. Các quan chức đương nhiệm thì cho rằng Obama thực chất đã thắt chặt các quy định về việc sử dụng máy bay không người lái tấn công, kể từ khi nhậm chức đến nay. Họ nói rằng số lượng các vụ tấn công tăng lên dưới thời Obama là vì công nghệ được cải thiện và thông tin tình báo thu thập được đã tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các cuộc tấn công so với thời Bush.
Nhưng khi sự giận dữ của công luận tại Pakixtan gia tăng, các nhà ngoại giao khác cùng thể hiện sự lo ngại. Đại sứ Mỹ tại Pakixtan một thời là Anne Patterson đã phản đối nhiều vụ tấn công, nhưng CIA phớt lờ ý kiến của bà. Khi Cameron Munter thay thế Patterson vào tháng 10/2010, ông thậm chí còn phản đối mạnh mẽ hơn. Tờ Nhật báo Phố Uôn sau đó cho biết có ít nhất hai lần giám đốc CIA Leon Panetta đã gạt bỏ lời phản đối của Munter và cho phép các cuộc tấn công. Một cuộc xảy ra chỉ vài giờ sau khi Thượng nghị sĩ John Kerry, Chủ tịch ủy ban Đối ngoại Thượng viện, kết thúc chuyến thăm tới Ixlamabát.
Một cuộc tấn công vào tháng 3/2011 đã gây nên tranh cãi tại Nhà Trắng. Một ngày sau khi các quan chức Pakixtan đồng ý thả Raymond Davis, một nhân viên hợp đồng với CIA, cơ quan này – một lần nữa bất chấp phản đối của Đại sứ Munter – thực hiện một vụ tấn công mà người Pakixtan cho biết đã giết chết 4 phiến quân Taliban và 38 dân thường, vốn đã bất bình về vụ Raymond Davis, Tư lệnh Lục quân Pakixtan là Tướng Ashfaq Parvez Kayani ra một tuyên bố bất thường, nói rằng một nhóm người già thuộc sắc tộc thiếu số đã bị nhắm thành mục tiêu một cách bất cẩn và nhẫn tâm với thái độ coi thường hoàn toàn mạng sống con người. Các quan chức tình báo Mỹ đã phớt lờ phàn nàn của Pakixtan và khẳng định rằng 20 phiến quân đã bị tiêu diệt. Một quan chức nói với hãng tin AP rằng “Có mọi biểu hiện cho thấy đây là một nhóm khúng bố, không phải là một cơ sở rửa xe từ thiện nằm sâu trong lãnh thổ Pakixtan.
Bất ngờ trước phản ứng chính thức mạnh mẽ của Pakixtan, cố vấn an ninh quốc gia Tom Donilon đặt câu hỏi liệu các cuộc tấn công kiểu này có đáng làm hay không. Những người chỉ trích bên trong và ngoài Chính phủ Mỹ cho rằng một chương trình ban đầu vốn là nỗ lực có mục tiêu cẩn trọng nhằm tiêu diệt các lãnh đạo cao cấp của Al-Qaeda đã biến thành một chiến dịch đánh bom nhằm vào các phần tử Taliban cấp thấp. Một số nhà phân tích bên ngoài thậm chí còn cho rằng chính quyền đã thực hiện một chính sách bất thành văn là “diệt không cần bắt sống”, do không có khả năng đóng cứa nhà tù Guantanamo của thời Bush và xây dựng một hệ thống giam giữ mới.
Vào tháng 4/2011, giám đốc cơ quan tình báo Pakixtan, Trung tướng Ahmed Shuja Pasha, đến thăm Oasinhtơn trong một nỗ lực nhằm cải thiện lại quan hệ. Ngay sau chuyến thăm này, lại có thêm hai cuộc tấn công bằng máy bay không người lái xảy ra tại các khu vực người thiểu số, điều mà ông Pasha coi là một sự xỉ nhục đối với cá nhân mình. Trong một động thái nhượng bộ hiếm có, Leon Panetta đồng ý thông báo cho cơ quan tình báo Pakixtan trước khi Mỹ thực hiện bất cứ cuộc tấn công nào có thể giết chết trên 20 người.
Tháng Năm, sau khi cuộc tập kích Bin Laden gây ra thêm sự giận dữ cho các quan chức Pakixtan, một quan chức chính quyền cho biết cố vấn Donilon mở một cuộc tổng kết trong nội bộ về việc các cuộc tấn công đã được chấp thuận như thế nào. Nhưng sau đó các cuộc tấn công vẫn tiếp diễn. Cuối tháng đó, các quan chức của Bộ Ngoại giao Mỹ nổi giận khi có ba cuộc tấn công bằng tên lửa diễn ra sau chuyến thăm của Ngoại trưởng Hillary Clinton tới Pakixtan.
Khi chương trình tổng kết của cố vấn an ninh Donilon tiến triển, tờ Nhật báo Phố Uôn cho biết đã diễn ra một cuộc tranh cãi gay gắt trong Chính quyền Obama về việc sử dụng máy bay không người lái. Đô đốc Mike Mullen, khi đó là Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, nói rằng các cuộc tấn công nên có chọn lọc hơn. Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates canh báo rằng các quan chức Pakixtan đang giận dữ có thể cắt các tiếp viện cho quân Mỹ tại Ápganixtan. Bà Clinton cảnh báo rằng việc quá nhiều thương vong cho đân thường có thể củng cố phe đối lập tại Pakixtan trước tổng thống Asif Ali Zardari đang ở thế yếu.
Theo một cựu quan chức, CIA phản bác lại rằng các phiến quân Taliban là các mục tiêu hợp lệ vì họ đang thực hiện các cuộc tấn công ở bên kia biên giới nhằm vào các lực lượng Mỹ. Đến tháng Sáu, Obama đứng về phía CIA, Panetta chấp thuận rằng sẽ không thực hiện vụ tấn công nào khi các quan chức Pakixtan đến thăm Oasinhtơn và rằng Ngoại trưởng Clinton và đại sứ Munter có thể phản đối các kế hoạch tấn công. Nhưns Obama vẫn cho phép giám đốc CIA quyền quyết định cuối cùng.
Tháng 11/2011, tình huống xấu nhất mà Mullen, Gates và Clinton cảnh báo đã xảy ra. Sau khi các cuộc không kích của NATO giết nhầm 24 binh lính Pakixtan trên biên giới Ápganixtan-Pakixtan, Kayani yêu cầu chấm dứt các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái và chặn đường tiếp tế cho binh sĩ Mỹ tại Ápeanixtan. Đồng thời, phe đối lập với Tổng thống Zardar mạnh lên nhanh chóng. Sau khoảng gần hai tháng tạm lắng cho phép các phiến quân tập hợp lại, các cuộc tấn công lại tiếp diễn tại các vùng thiểu số hồi tháng Một vừa qua. Nhưng theo một cựu quan chức cao cấp, các cuộc tấn công dựa trên “dấu hiệu” đã không còn được phép vào lúc này.
Đối với người dân Pakixtan, các cuộc tấn công có tác động rất tai hại. Trong một thăm dò của Trung tâm nghiên cứu PEW, 97% người dân Pakixtan được biết về các cuộc tấn công cho rằng các vụ việc này là một điều tồi tệ. 73% người Pakixtan có quan điểm không ủng hộ Mỹ, cao hơn 10% so với năm 2008. Các quan chức chính quyền nói rằng các cuộc tấn công này được sự ủng hộ của những người Pakixtan ở vùng sắc tộc và đã mệt mỏi với sự cai trị tàn bạo của lực lượng thánh chiến, Và họ cho rằng các quan chức Chính phủ Pakixtan – trong khi chỉ trích các cuộc tấn công trước công luận – lại đồng ý khi riêng tư rằng chúng giúp chống lại lực lượng phiến quân. Các quan chức Mỹ cũng đồng tình rằng việc minh bạch hơn các cuộc tấn công có thể giảm bớt sự giận dữ của công luận tại những nơi khác ở Pakixtan. Nhưng họ nói rằng một số bộ phận trong Chính phủ Pakixtan tiếp tục đòi hỏi giữ bí mật các cuộc tấn công.
Điều chung quy là đường hướng của cả hai chính phủ đều đang thất bại. Nền kinh tế Pakixtan đang hết sức khó khăn. Lực lượng quân sự tiếp tục che chở cho các phiến quân Taliban mà họ coi là vũ khí để chống lại ảnh hưởng của Ấn Độ tại Ápganixtan. Tỉ lệ người Pakixtan ủng hộ việc sử dụng quân đội Pakixtan chống lại các phần tử cực đoan ở vùng sắc tộc – điều mấu chốt đế loại bỏ phiến quân – đã giảm nhanh chóng từ mức 53% năm 2009 xuống còn 37% vào năm ngoái. Pakixtan hiện bất ổn hơn so với khi ông Obama nhậm chức.
Một động lực tương tự đang tạo ra kết quả thậm chí còn xấu hơn ở điểm phía Nam của Bán đảo Arập. Sau một thời gian dài Mỹ không chú ý, Yêmen đột ngột trở thành tâm điểm sau một cuộc tấn công liều chết vào tàu USS Cole khiến 17 thủy thủ Mỹ thiệt mạng ở cảng Aden vào năm 2000. Năm 2002, Chính quyền Bush thực hiện một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tại Yemen, giết chết Abu Ali al-Harithi, một nhân vật Al- Qaeda có vai trò chủ chốt trong việc tổ chức cuộc tấn công vào tàu Cole. Trong những năm sau đó, Chính phủ Mỹ chuyển dần sự chú ý tới Irắc và các nhóm phiến quân bắt đầu tập hợp lại.
Vụ tấn công không thành vào tháng 12/2009 của một phiến quân được huấn luyện tại Yemen khi tên này định phát nổ một trái bom trên một chuyến bay đến Detroit đã khiến Obama chú ý đến quốc gia này. Trong hai năm sau đó, Mỹ thực hiện khoảng 20 vụ không kích tại Yemen, hầu hết trong năm 2011. Ngoài việc tiêu diệt các phần tử có liên hệ với Al – Qaeda, các cuộc tấn công còn làm chết hàng chục dân thường. Theo Gregory Johnsen, một chuyên gia về Yêmen tại Đại học Princeton, thay vì làm suy yếu Al-Qaeda, các cuộc tấn công của Obama đã làm tăng thêm quân số của tổ chức tại vùng Bán đảo Arập từ 300 năm 2009 lên hơn 1000 hiện nay. Tháng Một vừa qua, tổ chức này còn kiểm soát được trong thời gian ngắn thị trấn Radda chỉ cách thủ đô Sanaa 100 dặm. Chuyên gia Johnsen nói: “Tôi không tin rằng Mỹ có một chính sách đối với Yêmen. Cái mà Mỹ có là một chiến lược chống khủng bố áp dụng vào Yemen .
Cái chết của Bin Laden và các cận sự là một bước tiến, nhưng Pakixtan và Yêmen đang ngày càng bất ổn. Pakixtan là một nước có vũ khí hạt nhân với 180 triệu dân và các mạng lưới phiến quân ngoan cường. Yêmen, một quốc gia nghèo đói và thất bại, đang nhanh chóng trở thành căn cứ địa mới của Al-Qaeda. Một cựu quan chức của Chính quyền Obama nói: “Họ nghĩ rằng họ đã chiến thắng vì đường hướng này. Nhiều người trong chúng tôi cho rằng sẽ có nhiều vấn đề lớn hơn trong tương lai”.
Sự phản tác dụng từ các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tại các quốc gia mà Mỹ áp dụng không phải là điều lo ngại duy nhất. Tại Mỹ, các tổ chức dân quyền và nhân quyền đang ngày càng quan ngại về phạm vi quyền lực mà Obama dành cho phía hành pháp khi mà ông phát động một hình thức chiến tranh mới.
Trong cuộc xung đột Libi, Chính phủ Mỹ đã dùng đến máy bay không người lái để tạo một tiền lệ pháp lý mới. Theo Nghị quyết Quyền hạn Chiến tranh, tổng thống phải được sự chấp thuận của Quốc hội cho các hành động quân sự trong vòng 60 ngày. Khi sắp hết thời hạn đó hồi tháng Năm, chính quyền thông báo rằng vì các cuộc tấn công của NATO và máy bay không người lái đang thực hiện sứ mệnh, nên không có mối đe dọa nghiêm trọng nào về nhân mạng đối với Mỹ và vì thế không cần sự phê chuẩn của Quốc hội. Theo Peter Singer, một nhà nghiên cứu của Viện Brookings, “nó đã thay đổi cách các chính trị gia nói về điều gì nên là quan trọng nhất mà một quốc gia tham gia .
Mùa Thu năm ngoái, một loạt các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tại Yêmen đã tạo nên một tiền lệ nguy hiểm khác, theo các tổ chức tự do dân quyền và nhân quyền. Không có bất cứ một tiến trình pháp luật công khai nào, Chính phủ Mỹ hành quyết ba công dân của chính mình. Ngày 30/9, một cuộc tấn công bằng máy bay lchông người lái đã giết chết Anwar al-Awlaki, một giáo sĩ có uy tín sinh ra tại Mỹ mang gốc Yêmen bị cho là khích động các cuộc tấn công khủng bố trên khắp thế giới. Samir Khan, một phần tử thánh chiến người Mỹ gốc Pakixtan đi cùng cùng bị giết. Nhiều tuần sau đó, một cuộc tấn công khác đã giết chết con trai 16 tuổi của Awlaki, Abdulrahman al-Awlaki, cũng là một công dân Mỹ. Các quan chức chính quyền khẳng định rằng Bộ Tư pháp đã xem xét và cho phép các vụ tấn công, nhưng lại từ chối cung cấp văn bản.
Jameel Jaffer, Phó Giám đốc phụ trách pháp lý của Liên minh Quyền tự do Dân sự Mỹ, nói: “Chính quyền đã cho mình quyền thực hiện các cuộc hành quyết ngoại tụng đối với công dân Mỹ trên cơ sở chứng cứ bí mật và không ai thấy bao giờ. Rất khó có thể hiểu điều này đã tuân thủ hiến pháp như thế nào.
Sau khi chỉ trích Chính quyền Bush đã giữ bí mật chi tiết về các hoạt động giám sát, tham vấn và giam giữ, Obama giờ đang làm điều tương tự. Chính quvền của ông đã từ chối cung cấp các chi tiết về việc tại sao lại đặt một người vào danh sách cần tiêu diệt, thực hiện các vụ nghe trộm ở Mỹ, hay quyết định phải giam giữ ai ở nước ngoài. Chính quyền Obama cũng đang truy tố sáu cựu quan chức chính phủ với các cáo buộc làm lộ thông tin mật cho giới truyền thông – nhiều hơn tất cả các vụ việc của các chính quyền trước đó cộng lại.
Các quan chức chính quyền bác bỏ việc giữ bí mật và khẳng định rằng họ đã công bố thông tin về các hoạt động chống khủng bố nhiều hơn so với Chính quyền Bush, vốn đã từ chối quyết liệt việc công bố các chi tiết về “cuộc chiến chống khủng bố” và lập ra chương trình máy bay không người lái bí mật tại Pakixtan. Các quan chức của Obama nói họ đã xây dựng cách tiếp cận minh bạch hơn và linh hoạt hơn bên ngoài Pakixtan, có liên quan tới các cuộc tập kích quân sự, tấn công bằng máy bay không người lái, và các nỗ lực khác. Họ cho biết mọi cuộc tấn công tại Yêmen đều được các quan chức Yêmen chấp thuận. Cuối cùng, họ hy vọng biến các cuộc tấn công này thành các hoạt động chung, được thực hiện một cách công khai với chính quyền địa phương.
Theo Jaffer, việc giữ bí mật các hoạt động này khiến các tòa án Mỹ không thể xem xét tính hợp hiến của nó. Chuyên gia này chỉ ra rằng nếu một tổng thống của đảng Cộng hòa đi theo các chính sách như vậy, sự phản đối từ phía tả sẽ cực kỳ ồn ào. Jaffer nói: “Cần phái nhớ rằng quyền hạn này sẽ được chính quyền tiếp theo và tiếp sau nữa sử dụng.
Một cách xứng đáng, Obama và các quan chức cao cấp của ông đã thành công trong việc giới hạn lại cuộc chiến toàn cầu của ông Bush thành một cuộc chiến có trọng điểm hơn nhằm vào Al-Qaeda. Họ đã chấm dứt sử dụng thuật ngữ “cuộc chiến chống khủng bố” và thay vào đó coi đây là chiến dịch nhằm vào một tổ chức riêng biệt, được xác định rõ ràng.
Các quan chức Chính quyền Obama coi việc lật đổ Muammar Gaddafi là một ví dụ điển hình cho sự thành công của cách tiếp cận đa phương và có trọng điểm hơn trong sử dụng vũ lực. Với chi phí nhân mạng của Mỹ bằng không và 1 tỉ USD, cuộc can thiệp ở Libi đã loại bỏ được một kẻ độc tài trong 5 tháng. Cuộc tấn công chiếm đóng Irắc đã làm 4484 người Mỹ thiệt mạng, tiêu tốn ít nhất 700 tỉ USD, và kéo dài gần 9 năm.
Phó cố vấn an ninh quốc gia Ben Rhodes nói: “Dấu ấn nhỏ của Mỹ không chỉ mang lại ích lợi về nhân mạng và nguồn lực. Chúng tôi tin rằng cuộc cách mạng Libi còn được coi là có tính chính danh hơn. Mỹ được hoan nghênh hơn. Và có ít khả năng xảy ra nổi dậy hơn vì không có sự hiện diện của các lực lượng nước ngoài .
Trong đề xuất tham vọng nhất của mình, Chính quyền Obama đang cố gắng tái cấu trúc quân đội Mỹ, thực hiện cắt giảm mạnh chi tiêu, và đưa về “quy mô đúng” các lực lượng Mỹ trên khắp thế giới. Theo kế hoạch của Obama, Lục quân Mỹ sẽ giảm 80.000 quân, một số đơn vị của Mỹ sẽ được chuyển từ Trung Đông sang Thái Bình Dương, và mở thêm các căn cứ nhỏ, bí mật. Các đơn vị thuộc Lực lượng Đặc biệt đã mở rộng quy mô rất lớn tại Irắc và Ápganixtan sẽ huấn luyện các lực lượng địa phương và thực hiện các cuộc tập kích chống khủng bố. Tuyên bố Al-Qaeda gần như đã bị đánh bại, các quan chức chính quyền nói giờ là lúc chuyển sang một trọng tâm mới.
Ben Rhodes nói: “Mỹ sẽ có lợi ích lớn hơn ở đâu vào năm 2020? Là châu Á – Thái Bình Dương hay Yêmen? Rõ ràng, khu vực châu Á – Thái, Bình Dương đang ngày càng trở nên quan trọng hơn . Ben Rhodes có lý, nhưng Pakixtan và vũ khí hạt nhân của họ – cũng như Yêmen và vị trí lân cận của nó đối với các mỏ dầu và đường biển tối quan trọng – nhiều khả năng vẫn sẽ ám ảnh Mỹ trong nhiều năm nữa./.
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
LIỆU NGÔI NHÀ CHÂU ÂU BỊ CHIA RẼ CÓ THỂ ĐỨNG VỮNG?
Tài liệu tham khảo đặc biệt -Thứ hai, ngày 19/3/2012 —-(Hugo Dixon – Tạp chí Foreign Affairs )
Theo sự hiểu biết thông thường, khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu không thể có một liên minh tiền tệ mà không có một liên minh tài chính. Những người ủng hộ nhiệt tình đồng euro coi đồng tiền chung duy nhất như là bàn đạp đầu tiên hướng tới một liên minh kinh tế rộng lớn hơn vốn vẫn là giấc mơ của họ. Những người hoài nghi về đồng euro cũng có suy nghĩ như vậy nhưng họ coi kết cục đó như một địa ngục và muốn hủy bỏ đồng tiền chung duy nhất.
Đối với nhiều nhà quan sát, cuộc khủng hoang đồng euro đã củng cố những quan niệm này. Cả hai phe tranh luận rằng những nỗ lực không cân xứng của các nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro nhằm xây dựng một liên minh tiền tệ mà không có một liên minh tài chính giải thích vì sao liên minh này đã trở thành một thứ hỗn độn kiểu như vậy. Nhiều người hăng hái ủng hộ nói rằng con đường tiến về phía trước là 17 nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro phát hành các trái phiếu ngoại lai (euro bonds) mà tất cả họ phải đứng ra bảo đảm (một trong một vài biến tấu trên chủ đề về học thuyết liên minh tiền tệ). Ngay cả Chính phủ Đức vốn miễn cưỡng phải bỏ tiền ra để bảo trợ cho các nền kinh tế yếu kém hơn nền kinh tế nước này cũng cho rằng kiểu góp vốn nhất định có thể là cần thiết một khi những vấn đề nợ nần được giải quyết.
Một liên minh tài chính sẽ không xuất hiện ngay vào bất kỳ lúc nào, và chắc chắn không đến nhanh đủ mức để giải quyết cuộc khủng hoảng hiện nay. Liên minh này cần có một hiệp ước mới và điều đó đòi hỏi một sự nhất trí đồng thuận. Thật khó tưởng tượng làm thế nào để nhanh chóng đạt được một thỏa thuận kiểu như vậy do sự phản đối quyết liệt của các chính khách và công chúng ở các nền kinh tế tương đối lành mạnh thuộc khu vực sử dụng đồng euro (dẫn đầu là Phần Lan, Đức và Hà Lan) đối với việc tiếp tục cứu trợ tài chính những nước yếu kém hơn họ (như Hy Lạp, Alien, Italia, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha). Ngoài ra, một khi cuộc khủng hoảng này được giải quyết, nhiệt tình dành cho việc thiết lập một liên minh tài chính có thể bị giảm sút. Ngay cho là Đức hiện vẫn chuẩn bị chia sẻ một số trách nhiệm về vấn đề ngân sách nước này sẽ yêu cầu áp đặt kỷ luật chặt chẽ về việc các nước khác có thể chi tiêu và vay mượn như thế nào. Trong khi đó, các nước yếu hơn có thể không muốn qui phục một sự trói tay trói chân của người Giécmanh. một khi nỗi lo ngại trước mắt về việc phá sản đã trôi qua.
Nhưng không chỉ có hai con đường ở phía trước: liên minh tiền tệ hoặc xóa bỏ đồng euro. Có một sự lựa chọn thứ ba thích hợp hơn: một kiểu ký luật thị trường kết hợp với nhiệt tình mạnh mẽ. Theo giải pháp này, cá nhân mỗi nước sẽ phải có trách nhiệm tối đa đối với nền tài chính của những nước đó nhưng họ cũng cần phải chấp nhận mạnh mẽ hơn thị trường tự do. Các chính phủ đã vay mượn quá nhiều tiền sẽ phải được tự do phá sản. Cũng cần có những sự cứu trợ tài chính hạn chế dành cho các chính phủ và ngân hàng ít gặp rắc rối hơn, mặc dù đổi lại phải tiến hành công cuộc cải cách kinh tế và việc thắt lưng buộc bụng. Kết quả dẫn đến sẽ là các nền kinh tế thích hợp hơn và một châu Âu có đủ sức mạnh để đóng một vai trò lớn hơn trên vũ đài thế giới.
Khi bài báo này được đăng, cuộc khủng hoảng ở khu vực sử dụng đồng euro đã ở trong giai đoạn đặc biệt gay gắt. Các thị trường ở trong tình trạng rất lo ngại, việc cứu trợ cả gói mới đây nhất cho Hy Lạp cũng vấp phải khó khăn, và hầu hết khu vực này đã mấp mé ở bên bờ vực của suy thoái. Tây Ban Nha đang ở giữa chiến dịch tổng tuyển cử, và Chính phủ của Silvio Berlusconi ở Italia đã để mất chính quyền. Tuy nhiên, giữa sự hỗn độn, đã có những dấu hiệu cho thấy khu vực sử dụng đồng euro có thể luẩn quấn vụng về tiến tới một cái gì đó giống như sự lựa chọn quy tắc thị trường cộng thêm nhiệt tình mạnh mẽ để giải quyết những cuộc khủng hoảng trước mắt. Khu vực này cũng cần phải chấp nhận nó như một mô hình dài hạn.
Sự chia rẽ
về lý thuyết, một đồng tiền chung có nhiều lợi thế đối với thị trường chung duy nhất của Liên minh châu Âu, trong đó cũng bao gồm các nước, chẳng hạn như Liên hiệp Vương quốc Anh, đã quyết định đứng ngoài khu vực sử dụng đồng euro. Khi người dân không lo ngại về những đồng tiền bị thay đổi thất thường, họ có thể làm ăn kinh doanh xuyên biên giới dễ dàng hơn, tham gia đầu tư dài hạn ở bất kỳ đâu trên thị trường này đồng thời xây dựng các hãng kinh doanh xuyên quốc gia. Khả năng khai thác các nền kinh tể có quy mô và cơ hội để cạnh tranh trên khắp lục địa là những phần thưởng đáng giá.
Nhưng cũng có một bất lợi lớn: các nước riêng biệt đã để tuột mất khả năng làm cho các chính sách tiền tệ của họ thích ứng với những nhu câu đặc biệt của họ bằng việc định ra các tỉ lệ lãi suất riêng của họ. Thay cho việc này, Ngân hàng Trung ương châu Âu đã định ra các lãi suất, và đây là cả một vấn đề vì các nền kinh tế khác nhau đang chuyển động với những tốc độ khác nhau. Ví dụ như các lãi suất thấp trên khắp khu vực sử dụng đồng euro trong những năm sát năm 2007 đã thổi phồng bong bóng nhà ở xảy ra sau đó ở Tây Ban Nha.
Liệu những lợi ích của việc có một đồng tiền chung duy nhất có lớn hơn những chi phí để có được đồng tiền này hay không phụ thuộc chủ yếu vào ba nhân tố: nét tương tự giữa các nền kinh tế được bảo vệ bởi chính sách tiền tệ chung duy nhất, sự linh hoạt của chúng và việc duy trì một ngân sách trung ương lớn có thể được sử dụng để chuyển tiền từ những khu vực phát đạt sang những khu vực đang phải vật lộn để phát triển. Các nền kinh tế với những cơ cấu và chu kỳ tương tự cảm thấy dễ dàng hơn trong việc chung sống với một chính sách tiền tệ một cỡ vừa cho tất cả . Thậm chí các nền kinh tế khác hiệt có thể đối phó với một đồng tiền chung duy nhất chừng nào mà họ vẫn có khả năng thích ứng – cụ thể là chừng nào mà các doanh nghiệp của họ có thể đễ dàng thuê và sa thải nhân viên và người dân sẵn sàng vượt biên giới để tìm kiếm việc làm.
Khu vực sử dụng đồng euro không thể nổi lên một cách tốt đẹp bằng bất kỳ giải pháp nào trong số những giải pháp này, đặc biệt khi so sánh với Mỹ. Các nền kinh tế châu Âu hiện đa dạng, các thị trường lao động của khu vực này bị bao vây bởi những hạn chế phức tạp, và châu Âu chỉ có một ngân sách trung ương nhỏ mà nhờ đó có thể giúp các khu vực đang vấp phải khó khăn. Đây là lý do vì sao những người nhiệt tình ủng hộ đồng euro cũng như những người còn hoài nghi về đồng tiền này – từ Jacques Delors, cựu Chủ tịch Ủy ban châu Âu và là một trong những kiến trúc sư chủ đạo của việc dưa ra đồng tiền chung duy nhất, cho tới Boris Johnson, thị trưởng Luân Đôn lập luận rằng một liên minh tài chính là cần thiết để bôi trơn những bánh xe của liên minh tiền tệ.
Tăng thêm nợnần
Nhưng có một cách sống khác trong những sự kiềm chế của một chinh sách tiền tệ một cỡ vừa cho tất cả : củng cố các nước thành viên yếu kém hơn của châu Âu, đặc biệt bằng việc làm cho các nền kinh tế của họ trở nên linh hoạt hơn. Trước khi đồng tiền chung duy nhất được đưa ra vào năm 1999, các chính phủ không có động cơ thực thi những cải cách cứng rắn cần thiết để làm cho điều đó xảy ra. Bất kỳ khi nào các nước như Hy Lạp hoặc Italia thấy họ trở nên không có khả năng cạnh tranh, các chính phủ của họ lại phá phá các đồng tiền của nước họ. Sau khi liên minh tiền tệ được thiết lập, các nền kinh tế không đạt tiêu chuẩn cần thiết của khu vực sử dụng đồng euro đã tìm thấy một lối thoát khác: họ đã đi vay mượn tiền. Việc này cho phép các chính phủ đó tài trợ những mức chi phí cao mà không cần tăng thuế. Nhưng khi các nền kinh tế này trở nên yếu kém hơn, sự cạnh tranh của họ đã bị giảm sút.
Nhiều nước cũng đã bị chồng chất nợ nần, gieo hạt cho cuộc khủng hoảng nợ hiện nay. Theo Hiệp ước Maastricht, hiệp ước đã mở ra tiến trình thiết lập liên minh tiền tệ, các chính phủ được cho là không vấp phải nợ nần tương đương trên 60% của GDP, nhưng tất cả các nền kinh tế chủ yếu của khu vực sử dụng đồng euro đã vượt đáng kể mức đó. Sau khi nền kinh tế thể giới trở nên trì trệ vào đầu thế kỷ này, các nước được coi là có đạo đức, chẳng hạn như Pháp và Đức, đã bắt đầu các nguyên tắc coi thường nhằm hạn chế mức thâm hụt ngân sách. Rồi sau đó không có cơ hội để làm cho những nước khác tuân theo kỷ luật. Năm ngoái, các tỉ lệ nợ so với GDP của Pháp và Đức đã vượt quá 80%; tỉ lệ trên của Italia lên tới 119% và của Hy Lạp là 143%.
Nợ nần tăng không chỉ vì các chính phủ đã phá vỡ luật lệ; Nợ nần tăng do các chính phũ đã tìm cách thuyết phục các nhà đầu tư, đặc biệt là các ngân hàng và các công ty bảo hiểm, cho họ vay tiền. Bắt đầu từ đầu năm 2010, các nhà dầu tư cuối cùng đã ngừng tài trợ cho Hy Lạp; sau đó, họ đã ngừng tài trợ cho Ailen và Bồ Đào Nha. Nhưng tác động của trái phiếu này đã phải mất một thời gian dài đáng sợ mới xuất hiện. Thất bại của thị trường trong việc đưa các chính phủ di vào kỷ luật sớm hơn chủ yếu là do hậu quả của chính bản thân của các chính phủ đó. Họ đã lợi dụng quan điểm rộng rãi cho rằng các nước châu Âu không thể bị vỡ nợ. Việc này đã được củng cố theo cách các ngân hàng đã và vẫn đang được chấn chỉnh. Cái gọi là những luật lệ Basel, những khuyến nghị về các quy định của ngân hàng do các giám đốc Ngân hàng Trung ương của các nước thuộc nhóm G-20 và những nước khác đưa ra, cho rằng các trái phiếu của chính phủ là những tài sản không chịu rủi ro và vì vậy các ngân hàng không phải giữ bất kỳ nguồn vốn nào khi họ đầu tư vào chúng. Chẳng có gì ngạc nhiên, các ngân hàng đã đầu tư vào trái phiếu, với hậu quả dẫn đến là các vấn đề nợ chính phủ cũng đã ảnh hưởng đến các ngân hàng đó. Ngoài ra, cả trước và sau khi hàng Lehman Brothers bị phá sản hồi tháng 9/2008, các Ngân hàng Trung ương ở cả hai hên bờ Đại Tây Dương đã làm tràn ngập thế giới bằng loại tiền được đem bán với giá rẻ, bóp méo các thị trường tiền tệ và tạo điều kiện dễ dàng cho các chính phủ mắc thêm nợ nần, Chính là sự phá vỡ luật lệ có chủ tâm của các chính phủ cũng như sự lũng đoạn thị trường của họ nhằm ủng hộ các trái phiếu của chính phủ, chứ không phải việc thiếu một liên minh tài chính, đã dẫn đến các cuộc khủng hoảng hiện nay.
Sự lệ thuộc đồng euro
Tuy nhiên, việc này không ngăn cản các nền kinh tế yếu kém của châu Âu kêu gọi việc thiết lập một liên minh tài chính. Hoàn toàn ngược lại: họ đang tìm kiếm một cách khác để tiếp tục sống theo kiểu vung tay quá trán. George Papandreou, Thủ tướng Hy Lạp, và Giulio Tremonti, Bộ trưởng Tài chính Italia, muốn các nước của họ có khả năng phát hành các trái phiếu euro bonds. Người ta có thể thấy sự hấp dẫn: các trái phiếu trên sẽ bảo vệ những nước yếu kém tránh khỏi kỷ luật của thị trường bằng việc báo hiệu cho các nhà đầu tư rằng Đức và những nước thích hợp khác cuối cùng sẽ thanh toán hóa đơn nếu Hy Lạp và Italia bị vỡ nợ. Nhưng theo quan điểm của các nước mạnh, việc cho phép phát hành các trái phiếu bonds euro sẽ cấp giấy phép cho các nền kinh tế yếu kém chi tiêu hoang phí, trừ phi nó được thực thi theo cách được kiểm soát rất chặt chẽ. Ngoài ra, sự cần thiết phải gánh nợ cho toàn thể các nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro cuối cùng có thể cũng làm kiệt sức các nước có nền kinh tế mạnh.
Một vài cách diễn giải ý tưởng này được cho là dễ chấp nhận hơn đã được đưa ra. Một báo cáo do tổ chức tư vấn Bruegel có trụ sở tại Brúcxen công bố đề nghị giới hạn các trái phiếu bonds euro ở mức 60% GDP của mỗi nước. Trở ngại bất ngờ là các nước gặp khó khăn hiện có khoản nợ trên mức đó, điều đặt ra câu hỏi họ sẽ phải tự tài trợ như thế nào. Đây là lý do mà George Soros và các chuyên gia giỏi khác về thị trường đã biện luận ủng hộ một con số cao hơn nhiều.
Đức, nước trang trải chủ yếu của khu vực sử dụng đồng euro, sẵn sàng ủng hộ ý tưởng thiết lập một liên minh tài chính, nhưng chỉ sau một tiến trình hợp nhất lâu dài một khi cuộc khủng hoảng này được giải quyết. Nước này cũng đòi đưa ra những luật lệ mới rõ ràng hạn chế khoản tiền mà cá nhân các nước có thể vay mượn đồng thời bắt các nưóc vi phạm những luật lệ trên phải chịu phạt. Trong khi đó, Mark Rutte, Thủ tướng Hà Lan, đã đề nghị thiết lập chức người phụ trách ngân sách Ủy ban châu Âu để kiểm soát các luật lệ này.
Nếu các nước tiếp tục coi thường những luật lệ trên, người phụ trách này sẽ có quyền nói cho họ cách điều hành các nền kinh tế của họ, chẳng hạn như bảo họ tăng thuế. Nếu họ không làm theo những gì mà họ đã được chỉ dẫn, họ sẽ phải từ bỏ đồng tiền chung duy nhất.
Nhưng tất cả điều này – nếu có – vẫn còn là xa vời trong tương lai. Cho đến nay, việc xử lý cuộc khủng hoảng hiện tại bao gồm các khoản cứu trợ kinh tế đối với từng trường hợp một. Để đổi lại việc được vay tiền với lãi suất thấp từ các quĩ chiến tranh châu Âu khác nhau cũng như từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế, các nước gặp khó khăn đã phải cải cách các nền kinh tế cũng như giảm bớt việc vay mượn của họ. Những khoản cứu trợ này bao gồm số tiền viện trợ từ các nước mạnh về mặt tài chính chuyển cho các nước yếu kém hơn, nhưng không nhiều như nó vẫn thường diễn ra trong một liên minh tài chính chính thức.
Do các điều kiện thị trường xấu đi và có thêm nhiều nước bị cuốn vào cơn lốc sụp đổ kinh tế, việc cứu trợ tài chính này đã diễn ra theo một vài phương thức khác nhau. 17 nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro vấp phải khó khăn trong việc nhất trí sẽ phải làm những gì, dẫn đến những rác rối trong việc đưa ra chính sách, điều làm suy yếu dần niềm tin của nhà đầu tư và gây ra những khó khăn kinh tế không cần thiết.
Tuy nhiên, mặc dù có những khiếm khuyết của nó, chính sách trên đã có một vài thành công. Các chính phủ châu Âu yếu hơn đã buộc phải tiến hành công cuộc cải cách mà họ đă né tránh trong hàng thập kỷ. Họ đang mở rộng tự do các thị trường lao động của họ, trừ tận gốc việc trốn thuế, tăng độ tuổi về hưu còn quá thấp, giảm bớt tệ quan liêu, tư nhân hóa các ngành công ngbiệp và mở ra các ngành công nghiệp cần có sự phối hợp giữa các bên, chẳng hạn như trong lĩnh vực dược và các dịch vụ tắcxi. Điều này đang diễn ra không chỉ ở Hy Lạp, Ailen và Bồ Đào Nha, ba nước đã được nhận các khoản cứu trợ tài chính. Italia và Tây Ban Nha cũng đã chấp nhận các chế độ thích hợp riêng của họ, mặc dù vẫn còn do dự. Nếu các nước này có đủ khả năng phát hành trái phiếu euro bonds, họ sẽ không có động cơ để phát triển.
Quyền tự do phá sản
Mặc dù vậy, việc giải quyết cuộc khủng hoảng hiện nay vẫn là phiến điện xét theo một mặt quan trọng. ít nhất, vào lúc bài báo này được đăng trên báo chí, không một nước vỡ nợ nào được phép công bố phá sản. Các khoản nợ của Hy Lạp đã tăng liên tục và thoát khỏi tầm kiểm soát vào thời diểm đó,
nhưng kế hoạch cứu trợ tài chính được đặt ra cho nước này tại hội nghị cấp cao các nước châu Âu diễn ra hồi tháng 7/2011 đã khuyến khích các ngân hàng cho nước này vay tiền để thoát khỏi nợ nần hoặc gia hạn thời hạn thanh toán nợ của họ. Đó là cả một chặng đường dài kể từ khi cải cách cơ cấu nợ nần theo đúng cách, việc sẽ làm cho Aten có mức nợ thấp hơn, mức mà người ta có thể hỗ trợ nó một cách thực tế.
Các công ty và cá nhân trên khắp thế giới cơ cấu lại các khoản nợ của họ. Các chính phủ ngoài châu Âu bị vỡ nợ. Tại sao các nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro lại cần phải được miễn khỏi phá sản? Dĩ nhiên phá sản cũng chẳng tốt đẹp gì. Những người cho vay bị mất tiền; những người đi vay có thể bị tẩy chay trong nhiều năm hoặc phải trang trải nợ nần với lãi suất cao hơn. Nhưng đây là những gì cần phải như vậy. Giống như các nhà đầu tư cho vay một cách không khôn ngoan, các chính phủ vay mượn quá nhiều sẽ không thể rũ nợ mà không bị trừng phạt. Nếu họ không cảm nhận bất kỳ một sự nhức nhối nào, họ sẽ mắc lại chính những sai lầm đó. Quả thực, nỗi lo bị đẩy vào tình trạng phá sản có thể ngăn các chính phủ trước tiên không được vay mượn quá mức. Giải pháp vỡ nợ tài chính theo cách có thể kiểm soát được phải là một phần của đường hướng xử lý khủng hoảng hiện nay đối với các chính phủ thực sự không trang trải được các khoản nợ của họ: chắc chắn đó là Hy Lạp và cũng có thể là Ailen và Bồ Đào Nha.
Tuy nhiên, hầu hết các nhà hoạch định chính sách châu Âu cho đến nay coi vỡ nợ như một việc đáng nguyền rủa vì họ lo ngại đến ảnh hưởng xấu của nó. Nếu Hy Lạp bị vỡ nợ, các ngân hàng cho nước này vay tiền có thể cũng bị phá sản. Thị trường có thể đi đến kết luận rằng các chính phủ yếu kém khác cũng sẽ vỡ nợ, gây khó khăn cho họ trong việc vay tiền. Một vài nhà hoạch định chính sách hiện lo ngại rằng tình trạng hỗn loạn bị thả lỏng sẽ giống như, hoặc thậm chí tồi tệ hơn, tình trạng hỗn loạn đã diễn ra sau vụ phá sản của hãng Lehman Brothers. Vào thời điểm bài báo này được đăng, quả thực đã có dấu hiệu cho thấy cuộc khủng hoảng này đang lan sang Italia: chính phủ nước này đang cảm thấy ngày càng tốn kém khi phải vay tiền trên thị trường trái phiếu.
Nhưng bài học về sự sụp đổ của hãng Lehman không có nghĩa là các ngân hàng hoặc các chính phủ sẽ không bao giờ được phép phá sản. Bài học là vỡ nợ cần được kiểm soát và những ai bị đặt vào tình thế có thể bị lây nhiễm cần phải chuẩn bị cho điều đó. Tuy nhiên, khu vực sử dụng đồng euro dường như vẫn chưa rút ra được bài học từ vụ việc này. Các ngân hàng có nhiều trái phiếu chính phủ mới chỉ bị thúc đẩy trong việc cân đối các bản quyết toán của họ. Trong khi Mỹ và Anh đã chỉ đạo các cuộc thử nghiệm căng thẳng khắt khe đối với các ngân hàng của họ từ đầu năm 2009, châu Âu mới chỉ thực hiện được 3 vụ xem xét lại khá chậm chạp trong hai năm qua. Ngay cả việc xem xét lại gần đây nhất diễn ra vào tháng 7/2011 cũng không đưa ra được mô hình cho việc vỡ nợ có thể xay ra ở Hy Lạp. Trong khi đó, các chính phủ dễ bị lây nhiễm tỏ ra chậm chạp trong việc giảm các khoản nợ ngân sách và lự do hóa các nền kinh tế của họ. Ví dụ như Berlusconi, đã hành động giống như một Nero ngày nay, rong chơi nhàn rỗi trong khi thành La Mã bốc cháy. Ngay cả Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy cho đến gần đây đã xử sự như thể Pháp đã sống trong một thế giới đầy quyến rũ nơi mà việc vay mượn là đặc ân của nước này.
Nhưng vẫn còn chưa quá muộn để đặt trở lại giải pháp vỡ nợ có kiểm soát lên bàn. Do những sai lầm chính sách mà Pháp và Đức hiện chịu trách nhiệm – từ việc coi thường những luật lệ về mức thâm hụt đầu tiên cho dến việc cản đường quá trình tái cơ cấu đầy nhạy cảm về khoản nợ của Hy Lạp – họ cần ít nhiều gánh chịu hậu quả. Và họ sẽ như vậy, dưới hình thức chỉ thu lãi suất thấp đối với khoản tiền mà họ đã cho các nền kinh tế đang gặp khó khăn vay và dưới hình thức huy động thêm vốn mà họ có thể cần phải đổ vào các ngân hàng của chính họ để trang trải cho chi phí của những khoản cho vay khó đòi mà nước này đã dành cho Hy Lạp và có thể cho cả các nước khác. Việc này sẽ tiêu tốn một khoản tiền lớn, nhưng còn ít hơn việc đổ thêm những khoản tiền có thể đòi được sau những khoản tiền khó đòi để tránh vỡ nợ. Và việc này chắc chắn sẽ ít tốn kém hơn việc thiết lập một liên minh tài chính chính thức.
Thể chế cho vay cuối cùng
Một phần của nghệ thuật xử lý một cuộc khủng hoảng tài chính là phân biệt các thể chế không có khả năng trả được nợ với các thể chế đơn thuần không dễ dàng trả được nợ. Các khoản nợ của các thể chế vỡ nợ cần được cơ cấu lại, trong khi các thể chế khó trả được nợ cần được nhận tài trợ. Giống như một nước với đồng tiền riêng của mình, khu vực sử dụng đồng euro cần có một thể chế cho vay cuối cùng. Tuy nhiên, điều then chốt sẽ là phái bảo đảm rằng nó không trở thành thể chế cho vay đầu tiên, vì điều đó sẽ xóa bỏ sự khích lệ các nhà nước và các ngân hàng trong việc giải quyết có trách nhiệm các công việc của chính họ.
Sau khi bước vào kiểm soát tín dụng năm 2007 mà không có một kế hoạch được suy tính kỹ một cách thích đáng về việc một thể chế cho vay cuối cùng sẽ hoạt động ra sao, khu vực sử dụng đồng euro đã đưa ra một chính sách không thực tế. Ngân hàng Trung ương châu Âu đã đổ tiền mặt cho các ngân hàng kể từ khi phải chịu tác động của cuộc khủng hoảng, nhưng việc này thực sự cần được thực thi kết hợp với việc giám sát hợp nhất ngân hàng trên khắp khu vực sử dụng đồng euro. Thay vào đó, quy định là vụn vặn và trong một chừng mực nhất định đang tiếp tục như vậy, Ngân hàng Trung ương châu Âu cũng đã giúp tài trợ các chính phủ gặp khó khăn – trước tiên là Hy Lạp, Ailen và Bồ Đào Nha; sau đó là Italia và Tây Ban Nha – bằng việc mua các ngân phiếu của họ. Ngân hàng trên hy vọng rằng việc này sẽ làm tăng giá trị các trái phiếu và tạo điều kiện dễ dàng hơn để các chính phủ phát hành các trái phiếu mới. (Do các trái phiếu được mua trên thị trường, việc này không hoàn toàn giống như việc chuyển cho các chính phủ tiền mặt.)
Tuy nhiên, Ngân hàng Trung ương châu Âu đã tỏ ra khó chịu với vai trò này, vì ngân hàng không tin rằng các chính phủ cần in tiền để giảm bớt những khoản thâm hụt của họ. Vì vậy, các nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro đã đi đến quyết định tại hội nghị cấp cao diễn ra trong tháng 7/2011 rằng nhiệm vụ này cần phải chuyển cho quỹ Tạo điều kiện ổn định về tài chính (EFSF) một quỹ đen mới được thành lập để giúp xử lý khủng hoảng. Đồng thời, họ đã nhất trí mở rộng khuôn khổ của tố chức này, trao quyền cho tổ chức đó cấp tiền cho các ngân hàng không có đủ tiền mặt cũng như mở các đường dây tín dụng khẩn cấp cho các chính phủ hiện không nằm trong các chương trình cứu trợ tài chính chính thức.
Nhưng việc này không kết thúc cuộc tranh luận về chính sách nào là tốt nhất. Willem Buiter, nhà kinh tế trưởng của tổ chức Citigroup, trong số những nhân vật khác, đã lập luận rằng bất chấp khoản tiền mở rộng lên tới 440 tỉ euro, EFSF hiện vẫn còn quá nhỏ để giải quyết các trường hợp cứu trợ tài chính đầy đủ cho của Italia và Tây Ban Nha. Mặc dù việc này là sự thực, thể chế cho vay cuối cùng dẫu sao không nên được sử dụng như một chỗ dựa lâu đài. Italia và Tây Ban Nha có thể giải quyết các vấn đề của chính họ nếu họ có ý chí chính trị để thắt lưng buộc bụng. Việc cứu trợ đầy đủ sẽ trở nên cần thiết chỉ nếu như họ lẩn tránh trách nhiệm đó.
EFSF sẽ được thay thế vào giữa năm 2013 bởi một quỹ cứu trợ tài chính mới được gọi là Cơ chế ổn định châu Âu (ESM), một phương tiện lâu dài. Ở một khía cạnh quan trọng, ESM sẽ tốt hơn EFSF; nó sẽ được yêu cầu phân biệt các chính phủ không có khả năng trả nợ với các chính phủ không dễ dàng trả được nợ khi quyết định cho vay mượn. Trong trường hợp các chính phủ không có khả năng trả nợ, khoản nợ đó ,các chủ nợ thuộc khu vực tư nhân nắm giữ sẽ phải được cơ cấu lại để có thể kéo dài các khoản nợ của chính phủ. Điều tồi tệ là cơ chế này sẽ không có hiệu lực gần hai năm nữa.
Cách thứ ba
Do những phức tạp này, nhiều người hoài nghi đồng euro cho rằng sẽ là điều tốt hơn để từ bò hoàn toàn dự án đồng euro. Nhưng đây là một ỷ tưởng tồi tệ. Liên minh tiền tệ có thể đã phát triển quá sớm, nhưng không ai làm theo cách cho thuốc đánh răng trở lại tuýp thuốc đánh răng. Ví dụ như nếu Atens một lúc nào đó quyết định lại đưa đồng đrácma trở lại sử dụng, người dân sẽ nhanh chóng rút đồng euro của họ ra khỏi các ngân hàng Hy Lạp, làm cho hệ thống tài chính của nước này sụp đổ thậm chí ngay cả trước khi đồng tiền mới được tạo ra. Những người gửi tiền ở các nước yếu kém khác sau đó sẽ rút tiền của họ ra khỏi các ngân hàng của những nước đó, gây ra một chuỗi sụp đổ và một sự suy thoái sâu sắc. Còn có một giải pháp khác: kỷ luật thị trường cộng thêm nhiệt tình mạnh mẽ. Viên thuốc này sẽ khó nuốt, nhưng cuối cùng nó sẽ dẫn đến một châu Âu lành mạnh hơn.
*
* *
TTXVN (Luân Đôn 12/3)
Nhật Bản đã vượt qua được một thập kỷ chịu nhiều thiệt thòi, mất mát trong những năm 1990 sau khi tình trạng bùng nổ bong bóng thị trường nhà đất bùng nổ ở nước này. Nhưng Tony Barber, phụ trách mảng châu Âu của tờ Thời báo tài chính cho rằng châu Âu không được chuẩn bị tốt như vậy để chống đỡ với những năm kinh tế tăng trưởng bằng không. Bài phân tích của tác giả được Viện Hoàng gia Nghiên cứu các Vấn đề Quốc tế (Chatham House có trụ sở tại Luân Đôn) đăng trên mục Thế giới ngày nay số tháng 2/2012.
Ngay cả trước khi ngành tài chính và cuộc khủng hoảng nợ công bắt đầu làm mất ổn định hệ thống ngân hàng của châu Âu, các nhà lãnh đạo châu lục này đã bày tỏ lo ngại rằng Thế giới Cũ có thể sẽ gặp phải những vấn đề đang diễn ra trên toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, trì trệ về nhân khẩu học, quân sự yếu đi, suy giảm tài nguyên thiên nhiên và sự nổi lên của các cường quốc không phải ở châu Âu đe dọa một tương lai ảm đạm do sự suy giảm không thể đảo ngược gây ra, Ông Herman Van Rompuy, trong bài phát biểu nhậm chức Chủ tịch Liên minh châu Âu năm 2009 đã nói: Những gì đang bị đe dọa là sự tồn tại của những thành quả đã được dày công xây dựng nên. ít nhất chúng ta phải tăng gấp đôi tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hiện đang ơ mức thấp 1% Một nền kinh tế mạnh là cần thiết để chúng ta không những có thể đóng vai trò quan trọng trên thế giới, mà trên tất cả, còn bảo vệ an toàn những thành tựu của chuẩn mực cuộc sống châu Âu. Có thể nói rằng tình hình hiện nay còn đen tối hơn những gì Van Rompuy đã miêu tả cách đây hai năm. Do cuộc khủng hoảng tài chính, châu Âu đang trên bờ vực của một thập kỷ mất mát tương tự những gi mà Nhật Bản đã trải qua trong những năm 1990 và ở một số lĩnh vực nhât định hiện vẫn còn chưa kết thúc. Các nước châu Âu hầu hết chỉ đạt tăng trưởng kinh tế thấp hoặc tăng trưởng âm. Nền tài chính của nhiều nước đang bị suy yếu nghiêm trọng và sẽ phải mất nhiều năm mới có thẻ phục hồi. Các ngân hàng gặp nguy hiểm trước khả năng khu vực đồng tiền chung châu Âu bị tan vỡ. Hơn thế nữa, ngay cả nếu liên minh tiền tệ sống sót được qua cơn khủng hoảng thì các quốc gia châu Âu vẫn phải đối mặt với vấn đề mà Van Rompuy đã chỉ ra: chi phí quá cao nhưng thiếu bền vững cho các dịch vụ công một cách hào phóng cho các công dân. Thiếu một sự tăng trưởng kinh tế đột biến mà hoàn toàn không thể xảy ra từ nay đến năm 2020, hàng triệu người dân châu Âu phải đối mặt với một thập kỷ đình trệ hoặc suy giảm mức sống, giảm các phúc lợi và kéo dài tuổi lao động – nếu họ còn có thể có công ăn việc làm.
Một thập kỷ mất mát ở châu Âu sẽ không hoàn toàn giống như những gì đã diễn ra ở Nhật Bản. Tính đồng nhất trong xã hội Nhật Bản tương phản với sự đa dạng về tôn giáo, quốc gia và dân tộc của các nước châu Âu, một điều kiện làm tăng nguy cơ căng thẳng xã hội và văn hóa. Quan trọng không kém, tỷ lệ thất nghiệp ở Nhật Bản dù ở mức cao nhất nhưng cũng chưa bao giờ vượt quá 5,5% lực lượng lao động – một mức mà hầu hết các nước châu Âu coi là mức thấp đáng mong ước.
Tuy nhiên, thất nghiệp cao là một đặc tính để xác định một thập kỷ mất mát của châu Âu. Hãy nhìn vào Tây Ban Nha, nơi Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) dự đoán rằng tỷ lệ thất nghiệp, hiện nay đang chiếm hơn 20% lực lượng lao động, sẽ không giảm xuống 16% cho đến năm 2016. Điều đó không phải chỉ do những việc làm được tạo ra trong thời kỳ bùng nổ bong bóng xây dựng và bất động sản của Tây Ban Nha nay đã biến mất. Trong một thập kỷ tới, vấn đề nghiêm trọng hơn sẽ là việc những người nội bộ hưởng đặc quyền đặc lợi giữ chặt những việc làm trong lĩnh vực tư nhân được trả lương cao và lâu dài. Nếu không có cải cách mở ra phân khúc này của thị trường lao động, thì Tây Ban Nha – và các nước khác như Pháp, Hy Lạp và Italia – sẽ có số lượng rất lớn sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng lại không có khả năng kiếm được việc làm.
Các mức độ ảnh hưởng sẽ khác nhau ở từng nước. Ví dụ ơ Ailen, tính đến tháng 4/2011 có khoảng 40.000 người đã di cư chủ yếu đến nhiều nước nói tiếng Anh. Hy Lạp sẽ có thể phải chứng kiến tình trạng mất ổn định chính trị, bất ộn lao động và biểu tình đường phố, đôi khi biến thành bạo lực giữa các phần tử cực đoan và cảnh sát. Nếu Hy Lạp ra khỏi khu vực đồng euro, có thể còn nhiều vấn đề khác nữa xảy ra, kích hoạt bằng việc các ngân hàng bị đóng cửa, đồng tiền mới sẽ nhanh chóng bị mất giá so với đồng euro, lạm phát tăng và lan tràn các hoạt động của thị trường chợ đen.
Còn ở các nước Trung và Đông Âu, các băng nhóm tội phạm có tổ chức có quyền lực lớn có thể có nhiều ảnh hưởng hơn đối với các đảng phái chính trị và nhà nước. Một vài băng đảng trong số này, đặc biệt có mối quan hệ với những ngành trong lĩnh vực năng lượng và cung cấp nguyên liệu thô, sẽ liên kết với các khách hàng quen ở Nga, Ucraina và ở nước ngoài.
Trên khắp châu Âu, các phong trào chính trị dân túy và bài ngoại sẽ tìm cách khai thác các mối lo ngại của một thập kỷ mất mát . Họ sẽ khuyến khích công dân đổ lỗi cho người nhập cư đã gây ra tình trạng thiếu việc làm, gây áp lực về tiền lương, tội phạm gia tăng và tăng cạnh tranh để nhận được chế độ phúc lợi của nhà nước. Người Hồi giáo ở Bắc Phi, Trung Đông và châu Á sẽ là các mục tiêu ở Bỉ, Pháp, Đức và một số nước ở vùng Scandinavia. Ở Italia, sự oán giận người nhập cư Trung Quốc bất hợp pháp sẽ tăng cao Sẽ có nhiều phản kháng căng thẳng hơn của dân chúng đối với lượng người nhập cư trên qui mô lớn vốn cần để bù đắp cho tỷ lệ sinh thấp ở châu Âu và ngăn chặn lực lượng lao động không bị co hẹp lại, Việc nhập cư, kể cả hợp pháp và bất hợp pháp, đều sẽ tiếp tục diễn ra, nhưng hầu hết đều bao gồm những lao động không có chuyên môn và bán chuyên môn hơn là những kỹ sư và các kỹ thuật viên máy tính được đào tạo mà nền kinh tế châu Âu cần đến.
Trong suốt thập kỷ này, áp lực về ngân sách cho hệ thống y tế, hưu trí và giáo dục sẽ ngày càng gia tăng khủng khiếp. Một số nhóm xã hội nhất định sẽ dễ bị rơi vào vòng nghèo khổ, bạo lực hình sự, và các bệnh truyền nhiễm. Các quỹ hưu trí mất đi do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng của các thị trường tài chính, sẽ cắt giảm các lợi ích của những người công nhân trẻ trong tương lai, kích động một cuộc xung đột thế hệ với những người lớn tuổi hơn. Bất bình đăng thu nhập gia tăng, bởi vì người giàu thì càng giàu và người nghèo thì nghèo đi, sự không tương xứng sẽ ảnh hưởng đến phụ nữ và thanh thiếu niên. Các trường đại học và trường phổ thông của nhà nước sẽ có chất lượng giáo dục thấp hơn.
Một thập kỷ mất mát sẽ không phá hủy toàn bộ chuẩn mực dời sống châu Âu hay chất lượng tinh tế của nó, nhưng nó sẽ làm suy yêu hình ảnh của châu Âu là nơi có cuộc sống tuyệt vời của thế giới. Và lần đầu tiên trong nhiều năm qua, đời sống của người dân châu Âu sẽ tồi tệ hơn rất nhiều so với cha mẹ họ./.
Thiên đường trên mặt đất”: Bắc Triều Tiên
Nguồn: thuymyrfi.blogspot.com/Boxitvn
Eunsun Kim: Mười hai năm trong địa ngục Bắc Triều Tiên
(Paris Match) Cha bị chết đói, Eunsun Kim cùng với mẹ và chị đã chịu đựng bao gian nan khốn đốn để trốn khỏi chế độ của Kim Jong Il. Trong cuốn sách “Bắc Triều Tiên, chín năm để trốn khỏi địa ngục” vừa được nhà xuất bản Pháp Michel Lafont phát hành tuần qua, cô gái 26 tuổi này đã kể lại cuộc sống ở Bắc Triều Tiên cũng như sau khi đào thoát. Sau đây là lược dịch bài trả lời phỏng vấn Eunsun Kim của tuần báo Paris Match.
Paris Match: Cô có nghĩ rằng cuộc sống khốn khổ mà cô đã trải qua trong thập niên 90 đến nay vẫn còn kéo dài, và tại Bắc Triều Tiên người dân vẫn tiếp tục chết đói?
Eunsun Kim: Không còn là các trận đói khủng khiếp đã sát hại nhiều trăm ngàn người trong đó có ba tôi, nhưng, vâng, tình trạng bần cùng vẫn kéo dài tại Bắc Triều Tiên. Ngày nay có ít người chết đói hơn, vì những người yếu sức nhất đều đã chết hết cả rồi. Hơn nữa, việc cung ứng thực phẩm từ phía Trung Quốc đã được cải thiện.
Do chế độ không còn khả năng nuôi nổi dân chúng, nên mỗi người phải tự bươn chải, đặc biệt là ở chợ đen. Những khó khăn kinh tế vẫn tiếp diễn, nhiều người sống rất thiếu thốn. Khủng hoảng không chỉ dẫn đến nạn đói kém, mà còn làm giảm đi các giá trị. Đó là việc mạnh ai nấy sống. Một người tị nạn vừa mới đến được Seoul cho tôi biết là một số thanh niên nay đã tìm đến với ma túy, hay là chọn đó làm nghề nghiệp, như là tương lai duy nhất. Khi biết được điều này tôi thực sự nản lòng.
Tại sao không có ai nổi dậy cả?
Cần phải hiểu rằng chúng tôi đã bị tẩy não từ khi còn bé, các lãnh tụ họ Kim được giới thiệu như là các ân nhân của dân chúng. Lúc mới sinh ra thì không có ai ngu ngốc cả, nhưng do bị tuyên truyền dồn dập, người ta mới trở thành ngu, vì không được biết gì về thế giới bên ngoài! Ở Bắc Triều Tiên, chúng tôi không hề biết được tự do nghĩa là gì, còn nhân quyền thì lại càng khó hình dung được. Đó là một cái vòng lẩn quẩn, vẫn tiếp tục diễn ra với thế hệ thứ ba của họ nhà Kim.

Sinh viên BTT tị nạn tại Hàn Quốc biểu tình ngày 21/2/12 đòi TQ không trả người tị nạn về nước. Các thanh niên biểu tình đều đeo khẩu trang để tránh bị nhận diện, liên lụy đến người thân còn sống tại BTT.
Người dân có thể truy cập internet không?
Internet được dành riêng cho các cán bộ cấp cao của chế độ, những người này thì họ biết được những gì đang diễn ra ở thế giới bên ngoài. Điện thoại di động đã xuất hiện từ vài năm qua, nhưng bị hạn chế ở các cuộc gọi nội hạt. Tuy vậy nhờ phát triển nhanh chóng, một số người hy vọng một ngày nào đó điện thoại di động sẽ trở thành một công cụ nổi dậy để làm lung lay chế độ. Nhưng đồng thời đây cũng lại là một phương tiện để kiểm soát, giúp công an nghe được các cuộc đàm thoại và định vị được người sử dụng. Với lại điện thoại di động vẫn luôn rất đắt tiền, đa số dân chúng không thể mua nổi.
Vận chuyển công cộng đang trong tình trạng thê thảm, và các phương tiện thông tin thì cứ như thuộc về thế kỷ trước. Cùng một tuyến đường nếu ở Hàn Quốc tôi đi tàu cao tốc mất hai giờ, thì bên kia biên giới phải mất đến hai ngày. Để liên lạc với nhau, người ta gởi thư, nhưng chắc ăn nhất là gởi ai đó đến đưa tin. Vì ngay cả một lá thư cũng phải đi một tháng mới đến nơi, nếu mà nó đến được!
Chủ tịch trẻ tuổi Kim Jong Un vừa lên thay cha hồi tháng 12, có sẽ hiện đại hóa đất nước?
Tôi từng nuôi hy vọng mong manh là người kế vị này có thể mang lại những ý tưởng mới, nhờ trẻ tuổi và đã từng học tại Thụy Sĩ, nhưng tôi đã nhanh chóng thất vọng. Và tôi lại còn có cảm giác là chế độ ngày một tệ hại thêm. Vì thế mà những ai thành công trong việc trốn thoát khỏi Bắc Triều Tiên như tôi đều có trách nhiệm và cần phải đấu tranh cho nhân quyền, cho dân chủ hóa tại đất nước này.

Nông thôn Bắc Triều Tiên
Có sự khác biệt lớn giữa nông thôn và thủ đô Bình Nhưỡng?
Vâng, có một sự khác biệt hết sức lớn lao. Thủ đô là một đô thị với 2,5 triệu dân được ưu đãi, đó là gia đình có liên quan đến Đảng Lao động hay quân đội. Bình Nhưỡng là một thành phố sạch sẽ, với các tòa nhà chọc trời, được sử dụng như tủ kính mặt tiền mà các nhà độc tài muốn trưng ra trước khách nước ngoài.
Cũng có một sự ngăn cách rất lớn giữa hai thế giới: người dân một tỉnh nghèo có thể chết vì đói trong khi dân Bình Nhưỡng không hề hay biết. Chế độ nuông chiều dân chúng thủ đô, vốn là lực lượng hỗ trợ chủ yếu của họ. Tiêu chuẩn thức ăn do chính quyền phân phối cao hơn nhiều và cũng thường xuyên hơn, so với phần còn lại của đất nước vốn thường bị mất tiêu chuẩn. Tại các vùng nông thôn, mỗi người đều học được cách tồn tại mà không trông cậy vào nhà nước.
Có những thành phố lớn phát triển tại Bắc Triều Tiên không?
Ngoài Bình Nhưỡng còn có các thành phố lớn như Rajin, Sinuiju hay Hyesan, gần đây đã phát triển nhờ ở gần biên giới Trung Quốc. Thương mại với Trung Quốc tăng lên từ đầu những năm 2000 đã giúp các thành phố này giàu lên. Nhưng lợi tức từ thương mại lại lọt vào tay của Đảng, vì không có việc kinh doanh nào thực hiện được nếu không có sự hỗ trợ của hệ thống.

Lính biên phòng BTT canh gác bên bờ sông Áp Lục.
Ngày nay rời khỏi Bắc Triều Tiên dễ hơn hay là khó hơn trước?
Tôi thuộc về làn sóng tị nạn đầu tiên, sau các trận đói kinh hoàng cuối thập niên 90. Số người đào thoát không ngừng tăng lên, nhưng chế độ đã tăng cường kiểm soát biên giới vào đầu những năm 2000. Tôi nhận ra điều đó sau khi vượt biên lần thứ hai và bị công an Trung Quốc gởi trả về Bắc Triều Tiên. Kể từ năm ngoái và từ khi Kim Jong Un lên nắm quyền, vượt thoát khỏi Bắc Triều Tiên lại càng khó khăn hơn.
Nhà độc tài mới muốn ngăn chận làn sóng vượt biên – một sự chối bỏ chế độ – bằng mọi giá. Ông ta đã ra lệnh cho biên phòng nổ súng vào tất cả những ai muốn vượt qua biên giới một cách bất hợp pháp. Vài ngày sau khi Kim Jong Un nhậm chức, nhiều người tị nạn đã bị bắn hạ trong lúc đang vượt qua con sông lạnh giá, là ranh giới giữa Bắc Triều Tiên và Trung Quốc. Hiện nay vùng biên giới đang bị giám sát hết sức nghiêm ngặt.
Nguồn: thuymyrfi.blogspot.com
Sống sót trong địa ngục Bắc Triều Tiên
Trích dịch tác phẩm “Bắc Triều Tiên, chín năm để trốn khỏi địa ngục” của Eunsun Kim, kể lại những chuyện diễn ra từ tháng 12/1997, ngay sau các trận đói khủng khiếp năm 1995 và 1996 đã giết hại hai triệu người Bắc Triều Tiên, trong đó có cha của tác giả.
Từ gần một tuần qua, tôi đơn độc trong căn hộ lạnh lẽo tại Eundeok, ngôi làng nhỏ nơi tôi sinh ra ở Bắc Triều Tiên. Cha mẹ tôi đã bán hết tất cả đồ đạc trong nhà, chỉ trừ một chiếc bàn thấp và một tủ ngăn vách, để mua thức ăn. Gạch lót sàn cũng đã bị bán đi, tôi ngủ ngay trên nền xi-măng, trong một túi ngủ tạm bợ làm bằng quần áo cũ.
Trên các vách tường trơ trụi, chỉ còn lại mấy khung ảnh đặt cạnh nhau – chân dung “Chủ tịch vĩnh cửu” Kim Il Sung và tướng quân Kim Jong Il. Cả hai nhìn thẳng vào tôi. Nhưng đem bán các ảnh chân dung này sẽ bị xem là báng bổ, có nguy cơ bị tử hình.
Trời tối sẫm, dù vậy tôi vẫn đọc được những gì mình viết ra. Điện đóm không có, vả lại các bóng đèn đã biến mất từ lâu. Đêm nhẹ xuống sau buổi chiều tháng Chạp. Không còn lò sưởi nữa, nhưng tôi không thấy lạnh mấy, vì đã sức tàn lực kiệt. Tôi không có gì ăn từ nhiều ngày qua, tôi sẽ chết đói. Vì vậy mà tôi cố viết lại bản di chúc của mình. Tôi mười một tuổi […].
Từ khi ba mất đi, cuộc sống của chúng tôi trở thành địa ngục, với viễn tượng duy nhất là cuộc đấu tranh để tồn tại. Ngay cả bệnh viện cũng không còn phương tiện để nuôi dưỡng các bệnh nhân, và không có ai còn nhận được thực phẩm. Chị tôi và tôi không đến trường nữa, chúng tôi không có bộ cánh nào ra hồn. Nhất là chúng tôi không còn thời gian, toàn bộ ngày trời phải dành cho việc tìm ra thứ gì đó ăn được. Mấy mẹ con tôi sống như tu sĩ ẩn cư trong căn hộ, tránh những ánh mắt nhìn.
Mỗi ngày chúng tôi bí mật lẩn vào các cánh đồng để hái trộm lúa và bắp, né tránh các toán quân tuần tra. Chúng tôi lén bứt những ôm lúa, sau đó đi lên núi để tước hạt mà không ai nhìn thấy. Mẹ con tôi cũng đào rễ củ, tìm kiếm các thứ nấm. Đôi khi chúng tôi còn chặt củi, vốn ngày càng hiếm hoi, để đem bán, dành tiền mua những khẩu phần nhỏ nhoi hàng ngày […]

Tác giả Eunsun Kim
BỎ TRỐN SANG TRUNG QUỐC
Cùng với mẹ và chị gái, Eunsun cố sang bên kia biên giới bằng cách vượt qua con sông Đồ Môn.
Chính trong vài tuần lễ cuối mùa đông 1997-1998 mà số phận tôi đã thay đổi. Không còn cách nào kiếm sống, mẹ tôi đã dần đi đến một quyết định khó tưởng tượng nổi: vượt biên. Trốn khỏi Bắc Triều Tiên để đi đến một nơi chốn nào đó, để cứu sống các con gái […]
Thế là chúng tôi đã quay lại trong đêm tối. Với những bước chân nhẹ nhàng, chúng tôi tiến gần bờ sông Đồ Môn. Cách dòng sông vài mét, tôi nằm phục trên cát. Từ chỗ này có thể ngầm quan sát những toán tuần tra của lính biên phòng qua lại bên bờ sông. Chúng tôi nằm bất động nhiều tiếng đồng hồ, trong im lặng. Mẹ tính toán thời gian tuần tiễu và các vòng đi tuần của biên phòng.
Vào khoảng nửa đêm, sau khi một toán tuần tra đi qua, bà ra hiệu cho hai chị em tôi và tiến bước trên mặt cát, mỗi tay bà nắm một đứa kéo đi. Bỗng dưng bàn chân tôi chạm vào mặt nước. Thật là lạnh giá!
Chúng tôi không biết bơi, nhưng mẹ nắm tay chúng tôi rất chặt. Nước nhanh chóng lên đến đầu gối tôi, đến bụng, rồi dâng lên đến cổ. Tôi cảm thấy mình sẽ bị chìm. Tôi sợ hãi. Keumsun và tôi cố kéo mẹ lại, tuy mẹ vẫn rất cương quyết. Cuối cùng bà cũng nhận ra là nước quá sâu, và lùi về phía các đụn cát. Tôi thở ra nhẹ nhõm!
Nhưng mẹ rất bướng bỉnh. Bà yêu cầu chúng tôi phải ở yên ngoan ngoãn chờ đợi, để một mình bà cố gắng tìm kiếm một lối thoát. Bóng dáng của mẹ từ từ chìm sâu vào dòng nước đen như mực, và ngày càng nhỏ dần.
Tôi run rẩy, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập, trông thấy dáng mẹ tôi hòa lẫn vào bóng tối. Bà sẽ chết chìm. Chúng tôi sẽ không bao giờ còn được nhìn thấy mẹ nữa. Và nếu bà thành công trong việc sang được đến bờ bên kia, thì chị Keumsun và tôi sẽ ra sao? Mẹ tôi đã biến mất, tim tôi đập loạn cả lên.
Bỗng dưng sau những phút giây dài dằng dặc, hình thù mẹ lại hiện ra bên bờ sông, nước chảy ròng ròng trên người bà. Mẹ run lập cập, cố gắng lắm mới bước đi được. Tôi tự hỏi liệu mẹ sẽ ngất xỉu hay không, dòng nước lạnh như nước đá đã làm cho bà kiệt sức. Chỉ cách bờ bên kia có ba mét, lòng sông bỗng sụt xuống và bà bị hụt chân. Chỉ còn có ba mét nữa là bà đặt chân lên được đất Trung Quốc!
Tôi vô cùng hoảng hốt. Trong đêm đen, hai đứa bé gái đơn độc, cố gắng trợ giúp một người mẹ bệnh hoạn, run rẩy. Làm thế nào bây giờ? “Đành thôi, mẹ con mình đành phải nộp mạng cho biên phòng vậy” – bà quyết định một cách nhẫn nhục […]
Nguồn: thuymyrfi.blogspot.com
Được đăng bởi bauxitevn
Nguoibuongio :Với cụ Lê Hiền Đức
Nguoibuongio -Cụ Lê Hiền Đức mình gặp đầu tiên trong lần vừa rồi đi thăm chị Bùi Hằng. Ấn tượng đầu tiên mình thấy là cụ còn khỏe và minh mẫn, cụ nói sang sảng cả tiếng đồng hồ mà không cần nghỉ, uống nước, nhất là cụ đứng nói chứ không phải ngồi. Kiến thức của cụ thật đồ sộ. Cụ chỉ mình hỏi.
– Mày tên gì.?
– Dạ thưa cụ con tên Hiếu
– Mày làm gì ?
– Dạ con làm hàn sắt, biển quảng cáo nhưng đôi khi có vài người gọi con là phản động.
Cụ Lê Hiền Đức thở dài.
– Người ta cũng bảo bà là pê đê ( PĐ), không phải là pê đê đồng tính đâu, mà cũng như kiểu họ gọi mày đấy. Thế mày có hay đọc báo, vào mạng không .?
– Dạ con thỉnh thoảng đọc báo bóng đá, công an thôi ạ?
Cụ nhìn mình kỹ, rồi lắc đầu.
– Mày hỏng, thanh niên chả biết gì. ?

Cụ đi ra bụi tre đằng ngà, chỗ nhà dân có mấy ông quan xã ngồi. Nói về chuyện ghế ngồi gì đó, rồi chuyện tham nhũng, pháp luật. Lát sau bé Cải mang ghế cho cụ. Thủng thỉnh xách cái ghế đến chỗ mình ngồi. ( trước cổng trại Thanh Hà). Cụ đặt ghế trước mặt mình rồi nói rất nghiêm trọng.
– Mày biết không, xã đốt nhà, huyện cướp đất, tỉnh bao che.
Mình xì một tiếng dài, và nói như kiểu chuyện xưa ai cũng biết rồi
– Ối dời, chuyện cụ hồi nhỏ chứ gì, thời thực dân đế quốc là bọn nó ác thế đấy. Bọn đấy thì kinh rồi, đốt nhà đã là gì, chúng nó còn âm mưu vu khống nhốt người ta vào tù để chiếm nhà, chiếm đất cơ. Đốt nhà đã ăn thua gì, đốt nhà vẫn còn đất. Cái bọn thời đó nó còn cướp sạch đẩy người ra vào Bước Đường Cùng tăm tối như đêm 30 mà Tắt Đèn ấy.
Mình ngừng lại, thấy cụ Hiền Đức mở to mắt ngạc nhiên nhìn mình như thằng ở trong hang sâu 40 năm mới chui ra. Mình nói tiếp.
– Gì chứ, bọn thực dân đế quốc giờ mà kể tội chúng thì nhiều lắm, cái này bọn cháu học ở trường cô giáo dạy nhiều lắm, nhiều đến nỗi loạn đầu. Chỉ biết nói đến bọn thực dân, đế quốc, tay sai bù nhìn là chúng độc ác, tham lam, áp bức nhân dân…
Cụ Lê Hiền Đức mắt long lên, cụ cáu thực sự. Cụ chỉ mặt mình đay.
– Mày, mày,..đúng loại không biết gì. Thời nay đây con ạ, thời này này. Mày không biết à, dân oan người ta đưa đơn đến nhà tao mấy chục nghìn tờ đơn. mày phải đến mà xem mới biết thế nào con ạ. Trời ơi, nhìn mày thanh niên thời đại thế này mà không, chả biết tí gì, chán quá
Cụ nói giọng đay nghiến, trì triết mình. Khiến mình phải thanh minh rối rít như xin chuộc tội.
– Thì bà bảo con biết được gì, hàng ngày con xem tivi thời sự đều, đọc báo đều có thấy nói chuyện đó bao giờ đâu. Giờ có bà con mới nghe chuyện đó.
Cụ hất hàm hỏi mình.
– Thế mày có vào mạng không ?
– Dạ con có vào ạ.
– Thế bà bảo nhé, mày phải vào facebook của bà mà đọc thì biết con ạ?
Quả này thì mình trợn mắt ngạc nhiên hỏi lại.
– Bà cụ cũng có facebook à ?
Cụ Đức bĩu môi nhìn mình lần nữa.
– Chán loại mày, tao dùng từ lâu rồi. Tao thấy mấy người đây cứ gọi mày là buôn gió, mày thì buôn cái gì, tao đặt cho mày là thằng phải gió. Mày đúng là phải gió nên mới không biết cái gì. Về mà đọc facebook của cụ. Rồi gọi điện cho bà nói xem sao, đây ghi số bà đi.
Mình vâng dạ cuống quýt, ghi số điện, ghi địa chỉ facebook của bà. Cụ Lê Hiền Đức thấy mình vậy, quay ra nói với mọi người.
– Đấy, khổ, thanh niên bây giờ nó có biết gì đâu, phải bảo chúng nó mới biết được.
Nguoibuongio :Mặt tốt của trại cải tạo Thanh Hà
Nguoibuongio -Có người hỏi mình, tại sao viết chỉ nhìn một mặt.
Mình nói rằng thường thì mình chỉ viết điều nhìn thấy, thiên hạ đọc tự đánh giá, ít khi mình đưa kết luận ra. Người kia bảo nhưng mình có ý thiên vị.
Vậy hôm nay mình viết khen trại Thanh Hà vậy.
Trại Thanh Hà là một cơ sở giáo dục những học viên từng vi phạm các tệ nạn xã hội. Do quy định chặt chẽ của cơ sở giáo dục này chúng tôi chỉ đứng được bên ngoài không được vào tham quan bên trong.
Từ bên ngoài quan sát chúng tôi thấy cơ ngơi của khối văn phòng, nhà ở cán bộ xây dựng rất khang trang, đẹp đẽ chứng tỏ đời sống của cán bộ trại rất được nhà nước ta quan tâm.
Tuy rằng số lượng học viên không nhiều, nhưng để đảm bảo chất lượng giảng dạy cũng như bảo vệ tính mạng của học viên. Số lượng cán bộ,nhân viên của trại lúc nào cũng rất đông chắc để luân phiên thay thế nhau giáo dục và bảo vệ học viên cho chất lượng. Khi chúng tôi đến ngoài những người đang làm việc ra , còn rất nhiều cán bộ đang ngồi thảnh thơi nghỉ ngơi chờ đến ca trực của mình.
Mới đây để cho bà con thân nhân tiện thăm gặp học viên, chính quyền địa phương đã đổ con đường bê tông từ bên ngoài vào tận cổng trại. Con đường này làm chưa xong, nhưng phần trước cổng trại và phần bên ngoài vào đã hoàn thiện. Khu vực trước cổng trại còn được các cán bộ công an xã năng tuần tra để bảo vệ, mặc dù ngoài giờ hành chính, ngày nghỉ những các đồng chí công an xã vẫn túc trực hơn một tiểu đội để bảo vệ đường. Khi được hỏi tại sao các đồng chí không trải đều quân bảo vệ cả con đường dài mấy cây số. Một đồng chí cho biết con đường này do chúng tôi ( chắc đồng chí ấy muốn nói là huyện nhà, xã nhà ) làm, cho nên đoạn nào thích thì bảo vệ. Đúng là người cán bộ của nhân dân, làm việc vì lý những vẫn có tình cảm, vẫn có những cảm giác riêng gắn bó với đồng quê, bụi cây của quê hương.
Do sợ bụi bay vào làm ô nhiễm không khí trong trai,ảnh hưởng đến sức khỏe của các học viên. Ban giám thị trại Thanh Hà đã đầu tư hàng trăm mét lưới chắn bụi, những lớp lưới được giăng cẩn thận bao quanh trại gồm mấy lớp lưới. Trại còn đầu tư lắp đặt máy camera để quan sát kẻ gian đột nhập vào trại trộm cắp. Làm thêm những tấm biển cấm tụ tập đông người để giữ sự yên tĩnh, tập trung cho học viên. Ước gì các trường học khác của chúng ta cũng được đảm bảo như vậy, không để hàng rong, quán xá bán tràn làn trước cổng trường. Hơn nữa để đảm bảo được giáo trình dạy bằng những phương pháp khoa học do đội ngũ cán bộ nhiều kinh nghiệm dày công soạn giáo án không lọt ra ngoài, ban giám thị trại Thanh Hà đã dựng những tấm biển cấm quy phim, chụp ảnh. Chương trình giảng dạy cho các học viên là chương trình mà phải tốn nhiều chất xám, công sức đáng được gọi là một phát minh khoa học. Cần phải giữ bản quyền như những phát minh khác.
Không những quan tâm đến đời sống tinh thần học viên như chỉ cho ruột thịt vào thăm, hạn chế bạn bè xấu vào rủ rê, trại còn tạo điều kiện cho lao động, rèn luyện để tăng cường sức khỏe trong những lúc có thể. Chẳng hạn như học viên ủy quyền cho luật sư thảo đơn. Luật sư đánh may đơn gửi cho học viên ký, thế nhưng nhân thấy đây là cơ hội tốt để học viên rèn luyện thân thể nhanh tay, nhanh mắt nên ban giám thị trại Thanh Hà đã bắt học viên phải chép bằng tay gần 10 trang giấy.
Không những công an xã, công an trại giam mà ngay đến cả công an giao thông địa phương cũng rất quan tâm đến sự an toàn của người đi thăm học viên đi lại trên đường. Mặc dù có rất nhiều xe qua lại, nhưng các chiến sĩ cảnh sát giao thông địa phương phải lập một chốt ngay đâu đường ở trại cải tạo ra để kiểm tra giấy tờ, nhắc nhở những người đi thăm cẩn thận khi tham gia giao thông.
Tổng kết con đường vào trại cải tạo Thanh Hà đã được nâng cấp, cảnh sát giao thông luôn có mặt hướng dẫn, kiểm tra mọi người tham gia giao thông an toàn, chấp hành đầy đủ luật lệ lưu thông trên đường. Cơ sở vật chất của trại khang trang, đảm bảo vệ sinh, độ yên tĩnh. An ninh , trật tự luôn được chú ý bảo vệ chặt chẽ. Thái độ cán bộ trực trại được bồi dưỡng đào tạo nói năng giở sách và ảnh ra minh
họa. Các cán bộ lãnh đạo thường xuyên đi nghỉ ngơi, đi công tác, đi họp để bảo vệ sức khỏe nhằm phục vụ tốt hơn cho học viên, cho nên nếu bạn có ý kiến gì cần gặp mà họ không có mặt thì đó cũng là lý do chính đáng.



































