Vụ án Bầu Kiên: Tại sao ông Phạm Trung Cang được Viện KSND Tối Cao đình chỉ điều tra?


Vụ án Bầu Kiên: Tại sao ông Phạm Trung Cang được Viện KSND Tối Cao đình chỉ điều tra?

BTV: Có một số chi tiết trong bài chúng tôi không có điều kiện kiểm chứng, do đó xin độc giả tham khảo bài viết này với sự dè dặt cần thiết.

 

Sau vụ Dương Chí Dũng, nhân dân và toàn ngành kiểm sát, công an, tòa án đang mong chờ phát đạn thứ 2 đã lên nòng nhắm vào “đại án” liên quan đến Nguyễn Đức Kiên và đồng bọn, thì bất ngờ, ngày 12/12/2013, Viện KSND Tối cao đã ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can Phạm Trung Cang (nguyên sáng lập viên, Phó Chủ tịch ngân hàng TMCP Á Châu – ACB) – một trong các can phạm trực tiếp của vụ án với lý do “Ngày 31-12-2010, ông Cang có đơn xin từ nhiệm chức danh thành viên HĐQT Ngân hàng ACB khi Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 chưa có hiệu lực thi hành và đã được ngân hàng chấp nhận”(?!). Thực hư vụ việc này như thế nào? Là những cán bộ, đảng viên ngành kiểm sát trực tiếp tham gia vào vụ án này, chúng tôi hiểu rõ những khuất tất trong đó mà không phải ai cũng biết.

Phạm Trung Cang và con đường phạm tội

 

Phạm Trung Cang là một trong những lãnh đạo lâu năm của ACB và là 1 trong 6 thành viên của Hội đồng sáng lập; từng là Chủ tịch Hội đồng quản trị đầu tiên của ACB và là Phó chủ tịch từ năm 1994 đến năm 2011. Ông cũng giữ chức vụ Tổng giám đốc từ năm 1999 đến năm 2001. Ông giữ cương vị Chủ tịch Hội đồng Tín dụng trong nhiều năm, từng là thành viên Thường trực Hội đồng quản trị.

hoi-dong-sang-lap.png 

Các thành viên Hội đồng sáng lập của ACB 

Tháng 4/2011, ông Cang từ nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch ACB để giức chức vụ Phó Chủ tịch Eximbank. Trước khi rời khỏi ACB, ông Cang và gia đình nắm giữ 1,2% cổ phần của ngân hàng này. Tại Eximbank, ông Cang vẫn là đại diện nhóm cổ đông Ngân hàng Á Châu (ACB) tại Eximbank, với tổng số vốn của nhiều pháp nhân thuộc ACB chiếm giữ 10% vốn điều lệ của Eximbank.

 

Theo báo cáo thường niên năm 2011 của ACB thì sau khi rời khỏi HĐQT ACB ông Cang vẫn là thành viên thường trực Ủy ban Nhân sự, thành viên thường trực Ủy ban Tín dụng, và Phó Chủ tịch Hội đồng Đầu tư của ngân hàng này.

 

Chiều 27/9/2012, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã công bố việc khởi tố 4 bị can, nguyên là lãnh đạo cao cấp của Ngân hàng ACB với tội danh “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” (điều 165 BLHS). Các bị can gồm Trần Xuân Giá (nguyên Chủ tịch HĐQT ngân hàng ACB), Phạm Trung Cang, Lê Vũ Kỳ, Trịnh Kim Quang (đều nguyên là Phó Chủ tịch HĐQT ngân hàng ACB). Về diễn biến vụ án, cơ quan điều tra cho biết: trong vụ án Huỳnh Thị Huyền Như và đồng bọn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại TP.HCM và Hà Nội đã bị khởi tố, đến nay đã có căn cứ xác định Huỳnh Thị Huyền Như có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của ngân hàng ACB số tiền 718,9 tỷ đồng. Để xảy ra hậu quả này, theo cơ quan điều tra, có hành vi cố ý làm trái của một số cá nhân nguyên là lãnh đạo ngân hàng ACB đã ra chủ trương để ACB ủy thác cho nhân viên gửi tiền VND và USD vào 29 ngân hàng để hưởng lãi suất cao hơn trần lãi suất do Ngân hàng nhà nước quy định. Trong đó, có việc gửi tiền vào VietinBank chi nhánh Nhà Bè và chi nhánh TP.HCM để hưởng lãi suất chênh lệch ngoài hợp đồng từ 3,7% – 8%/năm, toàn bộ khoản tiền gần 719 tỷ đồng đã bị Huỳnh Thị Huyền Như chiếm đoạt. Cơ quan điều tra cũng xác định, 4 nhân vật Trần Xuân Giá (nguyên Chủ tịch HĐQT ngân hàng ACB), Phạm Trung Cang, Lê Vũ Kỳ, Trịnh Kim Quang (đều nguyên là Phó Chủ tịch HĐQT ngân hàng ACB) là đồng phạm với Nguyễn Đức Kiên và Lý Xuân Hải về tội này, nên đã khởi tố bị can đối với cả 4 người.

 

Vụ án đã làm xôn xao dư luận, thể hiện quyết tâm của Đảng và các cơ quan chức năng nhằm làm trong sạch, lành mạnh hệ thống ngân hàng, bảo đảm an ninh tiền tệ, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền, đặc biệt trong giai đoạn kinh tế còn tiềm ẩn nhiều rủi ro như hiện nay. Đại án Nguyễn Đức Kiên và đồng bọn đã kết thúc giai đoạn điều tra, đang được gấp rút hoàn thành hồ sơ tố tụng chuẩn bị đưa ra xét xử vào đầu năm 2014 sắp tới thì bất ngờ lãnh đạo Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đã ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can Phạm Trung Cang – tay chân đắc lực của Nguyễn Đức Kiên, đồng thời là một trong 4 nhân vật có liên quan trực tiếp đến sai phạm của ACB với lý do “Ngày 31-12-2010, ông Cang có đơn xin từ nhiệm chức danh thành viên HĐQT Ngân hàng ACB khi Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 chưa có hiệu lực thi hành và đã được ngân hàng chấp nhận”(?!).

 

Những nhân vật chính và kế hoạch chạy án “xâm thực”

 

Người chủ sự âm mưu chạy án là hai người đàn bà đầy “quyền lực” phía sau Nguyễn Đức Kiên: Đặng Ngọc Lan (vợ Kiên) và Nguyễn Thúy Hương (em gái Kiên), dù có liên quan trực tiếp đến các sai phạm của Kiên thông qua các hợp đồng “ủy thác đầu tư”, nhưng lách qua các kẽ hở của pháp luật, hai người đàn bà này đã thoát vòng lao lí.

 

nguyen-duc-kien-dang-ngoc-lan.png 

Nguyễn Đức Kiên và vợ – Đặng Ngọc Lan

Ngay sau khi Kiên bị bắt, Đặng Ngọc Lan và Nguyễn Thúy Hương đã móc nối với một nhân vật cao cấp trong Viện Kiểm sát là bà Ngay sau khi Kiên bị bắt, Đặng Ngọc Lan và Nguyễn Thúy Hương đã móc nối với một nhân vật cao cấp trong Viện Kiểm sát là bà Lê Thị Tuyết Hoa (Vụ trưởng Vụ 1A – Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án hình sự về trật tự xã hội). Trong ngành kiểm sát ai cũng biết bà Hoa là tay chân thân tín, túi khôn kiêm “túi tiền” của ngài Viện phó Nguyễn Hải Phong (“Phong gió”). Dù không có thẩm quyền trực tiếp trong vụ Nguyễn Đức Kiên, nhưng bà Hoa đã đóng vai trò làm cầu nối, trung gian giữa nhóm Đặng Ngọc Lan và Viện phó Nguyễn Hải Phong trong vụ chạy án tưởng chừng như “nhiệm vụ bất khả thi” cho Nguyễn Đức Kiên và đồng bọn.

 

le-thi-tuyet-hoa.png 

Bà Lê Thị Tuyết Hoa – Vụ trưởng Vụ 1A, VKSNDTC 

Ông Nguyễn Hải Phong là người đã vạch ra kế hoạch chạy án “xâm thực”, theo đó, muốn Nguyễn Đức Kiên thoát tội thì Đặng Ngọc Lan phải chấp nhận khoản “chi pháp lý” lên tới hàng chục triệu USD để toàn bộ các nhân vật liên quan: Lý Xuân Hải, Trần Xuân Giá, Phạm Trung Cang, Lê Vũ Kỳ, Trịnh Kim Quang phải được trắng án thì Kiên mới có cơ hội rũ sạch tội danh, đổ mọi tội lỗi lên đầu “cơ chế” xây dựng luật của Quốc hội và việc quản lý, điều hệ thống của NHNN và Chính phủ.

 

Như dư luận đã biết, nhân vật đầu tiên được gỡ tội trong vụ này là Phạm Trung Cang. Chính Hoa là người đã “nghiên cứu” và tìm ra một kẽ hở mong manh, đó là luật Các Tổ chức Tín dụng (số 47/2010/QH12 do Quốc hội ban hành ngày 16/6/2010) có hiệu lực thi hành từ 1/1/2011. Một ý tưởng “táo bạo” do Hoa nghĩ ra và được “Phong gió” chấp nhận bắt nguồn từ việc Phạm Trung Cang khi bị truy tố đã được “yêu cầu” thảo đơn từ nhiệm vai trò Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị Eximbank. Từ ý tưởng này, ngay lập tức, một “tờ giấy tay” không hơn không kém có nội dung “đơn xin từ nhiệm chức danh thành viên HĐQT Ngân hàng ACB” được Cang viết tay và “ký ngược thời gian” vào thời điểm 31/12/2010, tất nhiên, dưới sự phù phép của ngài “Phong gió” thì mọi thủ tục pháp lý đều hoàn hảo, nhanh chóng như biệt danh của ngài. Đây chính là “cơ sở” để ngày 12/12/2013, VKSNDTC đã ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can Phạm Trung Cang – một bất ngờ gây xôn xao dư luận và ngay cả các thành viên chuyên án trong liên ngành Công an – VKSTC – TANDTC và thế là ông Cang đã chính thưc thoát mọi tội danh?!

 

nguyen-hai-phong.jpg 

Trưởng ban cải cách Tư pháp TW Trương Tấn Sang trao quyết định Phó viện trưởng cho Nguyễn Hải Phong ngày 04/4/2012

Thực tế, ông Phạm Trung Cang đến ngày 26/4/2011 mới được “miễn nhiệm” chức danh Phó Chủ tịch HĐQT ACB để qua “đặc trách” Eximbank, nơi nhóm Nguyễn Đức Kiên đang nắm 10% vốn điều lệ. Cũng theo báo cáo thường niên năm 2011 của ACB thì dù đã rời khỏi HĐQT nhưng Phạm Trung Cang vẫn thành viên thường trực Ủy ban Nhân sự, thành viên thường trực Ủy ban Tín dụng, và Phó Chủ tịch Hội đồng Đầu tư của ACB.

bctc-acb-2011.png 

Trích báo cáo tài chính hợp nhất năm 2011 của ACB: Báo cáo ghi rõ ông Phạm Trung Cang được miễn nhiệm tại thời điểm 26/4/2011, sau gần 4 tháng khi Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực thi hành (từ 1/1/2011) 

Toán tính tiếp theo và mục tiêu cuối cùng của nhóm lợi ích

 

Sau khi “chạy” trót lọt cho Phạm Trung Cang, nhóm Đặng Ngọc Lan, Nguyễn Thúy Hương, Nguyễn Hải Phong và Lê Thị Tuyết Hoa đã lên kế hoạch tiếp theo: “Giải cứu Trần Xuân Giá”. Cũng theo kế hoạch toàn cục, các “chuyên gia” của VKS sẽ tìm mọi kẽ hở luật pháp để có thể “lách” đồng thời ngụy tạo thêm các bằng chứng để gán mác “ngoại phạm” cho Trần Xuân Giá. Để tạo dư luận, hiện nay các “bồi bút” của báo Người cao tuổi, Pháp luật Tp HCM đã bắt đầu vào cuộc cho toan tính tiếp theo của nhóm này để nhắm đến mục tiêu cuối cùng là gỡ án cho Nguyễn Đức Kiên.

 

Gần hai năm trước, tập thể chúng tôi cũng đã có đơn gửi Ủy ban Kiểm tra TW, Ban Bí thư Trung ương Đảng về các sai phạm đặc biệt nghiêm trọng của ông Nguyễn Hải Phong (ông Phong đã “bỏ quên” hàng loạt vụ trọng án, hồ sơ tại VKS còn ghi rõ), vụ đề đóm, hụi hè của bà Nguyễn Thị Minh Tâm (vợ ông Phong, hiện công tác tại Sở Y tế Hà Nội) và việc ông Phong dùng các khoản tiền chạy án để chạy chức Tỉnh ủy viên Hà Tây. Lá đơn đã chìm vào quên lãng, không một phản hồi và dù vướng hàng loạt các sai phạm, ông Phong tiếp tục nhanh chóng leo lên Viện phó Viện Kiểm sát Tối cao, đó cũng là nguyên nhân mà toàn Viện Kiểm sát đặt cho ông bí danh “Phong gió”.

 

nguyen-hoa-binh.jpg 

Viện trưởng VKS Tối cao Nguyễn Hòa Bình có liên quan đến vụ chạy án Nguyễn Đức Kiên, Phạm Trung Cang và đồng bọn? 

Trước những hành vi chạy án trắng trợn của ông Nguyễn Hải Phong, bà Lê Thị Tuyết Hoa, kính đề nghị Ủy ban Kiểm tra TW, đặc biệt là Ban Nội chính TW vào cuộc điều tra, xử lý trước pháp luật. Ngoài ra, cần làm rõ liệu có sự tiếp tay của Viện trưởng VKS Nguyễn Hòa Bình hoặc các nhân vật cao cấp hơn trong BCT? Liệu có sự “đồng thuận” nào giữa VKS và BCA để “giơ cao đánh khẽ” vụ Nguyễn Đức Kiên và đồng bọn?

 

Hà Nội ngày cuối năm 31/12/2013

Tập thể cán bộ, đảng viên ngành Kiểm sát

Dương Chí Dũng thoát án tử nếu bồi thường 5 tỉ đồng?

Khi mới nghe qua thông tin này, nhiều người (trong đó có cả giới luật sư) cho rằng đó chỉ là trò đùa không có thật. Ấy vậy mà nó được quy định hẳn hoi trong một nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Điều khoản trong nghị quyết này hướng dẫn “cứu nguy” cho tội phạm tham ô đáng lẽ bị tuyên tử hình nhưng có thể được giảm xuống tù chung thân hoặc tù có thời hạn đến nay vẫn còn hiệu lực.

 

Điều khoản hướng dẫn “cứu nguy” đó là Điểm 4 Nghị quyết 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15.3.2001 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn Điều 278 Bộ luật Hình sự về tội tham ô tài sản. Nội dung điều khoản này cụ thể như sau:

 

Dương Chí Dũng thoát án tử nếu bồi thường 5 tỉ đồng?
 

 

Chiếm đoạt 3 tỉ trở lên: Tử hình

 

Theo Khoản 4 Điều 278 Bộ luật Hình sự, phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

 

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

 

Theo tiểu mục 4.1 của Nghị quyết 01, khi áp dụng Điểm a Khoản 4 Điều 278 Bộ luật Hình sự về tội tham ô tài sản cần chú ý:

 

Trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng và không có tình tiết giảm nhẹ hoặc vừa có tình tiết tăng nặng vừa có tình tiết giảm nhẹ, nhưng đánh giá tính chất tăng nặng và tính chất giảm nhẹ tương đương nhau thì xử phạt người phạm tội mức án tương ứng với giá trị tài sản bị chiếm đoạt như sau:

 

– Xử phạt 20 năm tù nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỉ đồng.

 

– Xử phạt tù chung thân nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 1 tỉ đồng đến dưới 3 tỉ đồng.

 

– Xử phạt tử hình nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 3 tỉ đồng trở lên.

 

Nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn: Chỉ phạt tù chung thân

 

Tiểu mục 4.2 của nghị quyết hướng dẫn trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không có tình tiết tăng nặng hoặc có ít tình tiết tăng nặng hơn, đồng thời đánh giá tính chất giảm nhẹ và tính chất tăng nặng xét thấy có thể giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội, thì có thể xử phạt người phạm tội mức án nhẹ hơn mức án được hướng dẫn nêu trên như sau:

 

– Xử phạt tù từ 15 năm đến dưới 20 năm nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỉ đồng (trường hợp này phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ).

 

– Xử phạt 20 năm tù nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 1 tỉ đồng đến dưới 3 tỉ đồng.

 

– Xử phạt tù chung thân nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 3 tỉ đồng trở lên.

 

Nhiều tình tiết tăng nặng hơn: Chiếm đoạt 1 tỉ cũng bị tử hình

 

Theo tiểu mục 4.3 của nghị quyết, trường hợp có nhiều tình tiết tăng nặng mà không có tình tiết giảm nhẹ hoặc có ít tình tiết giảm nhẹ hơn, đồng thời đánh giá tính chất tăng nặng và tính chất giảm nhẹ xét thấy cần tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, thì có thể xử phạt người phạm tội mức án nặng hơn mức án nêu ở tiểu mục 4.1 như sau:

 

– Xử phạt tù chung thân nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỉ đồng.

 

– Xử phạt tử hình nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 1 tỉ đồng trở lên.

 

Tự nguyện bồi thường 5 tỉ sẽ thoát án tử?

 

Đặc biệt, tiểu mục 4.4. Nghị quyết 01 mở ra một hướng “cứu nguy” cho tội phạm tham ô thoát án tử. Theo đó, trường hợp tại các tiểu mục 4.1 và 4.3 thì người phạm tội phải bị xử phạt tử hình, nhưng người phạm tội đã bồi thường được một phần đáng kể giá trị tài sản bị chiếm đoạt (hoặc người thân thích, ruột thịt… của người phạm tội đã bồi thường thay cho người phạm tội) thì có thể không xử phạt tử hình người phạm tội và tùy vào số tiền đã bồi thường được mà có thể xử phạt người phạm tội tù chung thân hoặc tù có thời hạn.

 

Được coi là đã bồi thường được một phần đáng kể giá trị tài sản bị chiếm đoạt nếu:

 

– Đã bồi thường được ít nhất một phần hai giá trị tài sản bị chiếm đoạt.

 

– Đã bồi thường được từ một phần ba đến dưới một phần hai giá trị tài sản bị chiếm đoạt, nếu có căn cứ chứng minh rằng người phạm tội (hoặc người thân thích, ruột thịt… của người phạm tội) đã thực hiện mọi biện pháp để bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt (đã bán hết nhà ở, tài sản có giá trị; cố gắng vay, mượn… đến mức tối đa)”.

 

Văn bản này do Chánh án Trịnh Hồng Dương khi xưa đã ký.

 

Liệu Dương Chí Dũng và Mai Văn Phúc có dùng tiền để thoát án tử?

 

Chiếu theo Nghị quyết 01 năm 2001 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, nếu Dương Chí Dũng và Mai Văn Phúc hoặc thân nhân của hai bị cáo này mà bồi thường 5 tỉ đồng đến 10 tỉ đồng (số tiền mà tòa tuyên buộc hai bị cáo phải bồi thường do tội tham ô) thì nhiều cơ hội hai bị cáo đầu vụ trong đại án Vinalines sẽ thoát án tử và giảm xuống còn tù chung thân (nếu bồi thường 5 tỉ), hoặc có khi giảm xuống tù có thời hạn (20 năm tù, nếu bồi thường hết 10 tỉ đồng).

 

Tuy nhiên, do hai bị cáo Dũng và Phúc đều không thừa nhận đã phạm tội tham ô, nên bản thân hai bị cáo này khó mà tự nguyện bồi thường số tiền nêu trên. Dù vậy, thân nhân của hai bị cáo (cha mẹ, vợ con, anh em…) vẫn có quyền tự nguyện bồi thường thay và khi đó hai bị cáo này vẫn được hưởng sự ân giảm nêu trên.

 

Vấn đề là Nghị quyết 01 hướng dẫn “khi áp dụng Điểm a Khoản 4 Điều 278 Bộ luật Hình sự về tội tham ô tài sản, nghĩa là việc áp dụng này phải trong quá trình xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm. Hiện giờ Dương Chí Dũng đã kháng cáo, nếu bị cáo này chịu nộp tiền (dù không nhận tội tham ô) theo mức nêu trên hoặc thân nhân bị cáo tự đi nộp, thì sẽ được xem xét giảm án ở cấp phúc thẩm.

 

Riêng Mai Văn Phúc chưa có đơn kháng cáo. Nếu hết thời hạn kháng cáo mà bị cáo này vẫn không kháng cáo thì không rõ việc nộp tiền sau khi án có hiệu lực có được xem xét hay không, vì Nghị quyết 01 không đề cập đến.

Tiểu Ngọc

  (Một thế giới)

Bộ Chính trị bổ nhiệm Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương

(VTC News) – Chiều 30/12, tại Hà Nội, Bộ Chính trị trao quyết định bổ nhiệm hai Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương chuyên trách và ba Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương kiêm nhiệm.

Ông Trần Lưu Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương được sự ủy nhiệm của Bộ Chính trị tới dự và trao quyết định này.

Bộ Chính trị bổ nhiệm Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương
Ông Trần Lưu Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương thay mặt Bộ Chính trị trao quyết định.

Theo quyết định của Bộ Chính trị, các ông Lê Vĩnh Tân (sinh năm 1958 tại Đồng Tháp), Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Đồng Tháp; Tiến sĩ Kinh tế Nguyễn Ngọc Bảo (sinh năm 1963 tại Thái Bình), Ủy viên BCH Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), nguyên Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, được Bộ Chính trị, Ban Bí thư điều động, bổ nhiệm giữ chức Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương.

Ba đồng chí được Bộ Chính trị, Ban Bí thư bổ nhiệm Phó trưởng Ban kiêm nhiệm gồm: Giáo sư, Tiến sĩ Kinh tế Nguyễn Công Nghiệp, Thứ trưởng Bộ Tài chính; Thạc sỹ Kinh tế Đặng Huy Đông, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư; ông Lê Dương Quang, Thứ trưởng Bộ Công thương.

Bộ Chính trị bổ nhiệm Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương
GS.TS Vương Đình Huệ, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Kinh tế Trung ương tặng hoa chúc mừng các vị trí mới của Ban


Phát biểu tại buổi lễ, ông Trần Lưu Hải nhấn mạnh: Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo Ban Tổ chức Trung ương mong muốn các đồng chí mới được bổ nhiệm sẽ cùng với tập thể lãnh đạo và cán bộ Ban Kinh tế Trung ương phát huy hơn nữa năng lực, trí tuệ của mình, không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức để làm tốt công tác tham mưu, đề xuất cho Đảng những vấn đề quan trọng về chủ trương, chính sách lớn thuộc lĩnh vực kinh tế – xã hội.

Bế mạc buổi lễ, GS.TS Vương Đình Huệ, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Kinh tế Trung ương chúc mừng các vị trí mới và tin tưởng các đồng chí sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

 

Nguyễn Thanh Liêm

Về binh thư của Tướng Nguyễn Chí Thanh

 

Việt Nam tổ chức nhiều lễ kỷ niệm nhân 100 năm ngày sinh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nhân vật chính trị – quân sự cao cấp của miền Bắc thời chiến tranh Việt – Mỹ.

 

Ngoài việc đăng các bài báo từ trong tháng 12 đánh giá ông Nguyễn Chí Thanh, tỉnh Thừa Thiên – Huế cũng vừa làm lễ nhận tượng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh ở trường học mang tên ông tại huyện Quảng Điền.

 

Buổi lễ hôm 30/12/2012 tại đây đã có mặt con trai ông, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh và nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, Thượng tướng đã hồi hưu, ông Lê Khả Phiêu.

 

Ba hôm trước, một phái đoàn các tướng lĩnh thuộc Bộ Quốc phòng, do Thượng tướng Ngô Xuân Lịch dẫn đầu, đã dự lễ kỷ niệm ông Nguyễn Chí Thanh tại nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội.

 

Sinh ngày 1/1/1914, ông được cho là một trong các ‘kiến trúc sư’ của cuộc chiến tranh từ phía miền Bắc nhằm tiêu diệt Việt Nam Cộng hòa và đẩy quân đội Hoa Kỳ khỏi Nam Việt Nam.

‘Binh thư đánh Mỹ’

 

Theo cựu Đại tá Bùi Tín, nguyên Phó Tổng biên tập báo Nhân dân nhưng nay đã cư trú chính trị tại Paris, ông Nguyễn Chí Thanh có tiếng là đã lập ra ‘Binh thư đánh Mỹ’ cho quân đội miền Bắc.

 

Ông Nguyễn Chí Thanh mất năm 1967 trước khi xảy ra các trận đánh quyết định với quân đội Mỹ và quân lực Việt Nam Cộng hòa nhưng được coi là đã hoạch định ra chiến lược quân sự cho Hà nội.

 

Ông Bùi Tín nói vốn là một cán bộ chính trị, ông Nguyễn Chí Thanh đã “lao vào nghiên cứu quân sự” và trở thành chiến lược gia của Hà Nội:

Công của Nguyễn Chí Thanh lớn lắm…Ông kết luận rằng có khả năng đối chọi, đối đầu và còn có thể thắng Mỹ

 

 

“Ông đã lao vào tổng kết chiến lược, đúc kế́t từ các trận chiến,”

 

Đối với quân đội Bắc Việt Nam, “công của Nguyễn Chí Thanh lớn lắm. Binh thư chống Mỹ là do Nguyễn Chí Thanh tổng kết,” ông Bùi Tín nhận định khi nói về một loạt tướng lĩnh hai miền Nam Bắc.

 

Điều quan trọng hơn cả, theo ông Bùi Tín trả lời BBC trong một dịp đến London tháng 10/2013 là các kết luận của Tướng Nguyễn Chí Thanh đem lại sự tự tin cho quân đội miền Bắc rằng họ “có khả năng đối chọi, đối đầu và còn có thể thắng Mỹ”.

 

Sau khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời, bắt đầu có thêm các ý kiến ở Việt Nam, trong giới sử gia và giới quân sự, nêu ra vai trò quan trọng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trong cuộc chiến.

 

Các tài liệu Phương Tây cũng cho rằng giữa hai người có sự cạnh tranh quyền lực với ý kiến nói ông Nguyễn Chí Thanh “thiên về phía Đảng” và có thể “thân Trung Quốc hơn”.

 

Tuy nhiên, những điện tín Hoa Kỳ được giải mật sau cuộc chiến nhấn mạnh đến vai trò trọng yếu trong công tác chỉ huy và tổ chức các lực lượng cộng sản tại miền Nam Việt Nam của Tướng Nguyễn Chí Thanh.

 

Phía Mỹ tin rằng sự vắng mặt nhiều tháng của ông Nguyễn Chí Thanh tại miền Bắc chỉ có thể được giải thích bởi “các hoạt động của Tướng Thanh ở miền Nam”.

 

Trong một điện tín gửi ngày 10/7/1967 về cái chết của ông, phía Mỹ coi đó là “sự tổn thất lớn cho Bắc Việt” và đánh giá “vai trò của Tướng Thanh với Việt Cộng có thể so sánh như vai trò của Đại tướng Westmoreland với quân lực Việt Nam Cộng Hoà”.

 

Họ cũng cho rằng ông “trên thực tế đã chỉ huy toàn bộ các hoạt động của lực lượng cộng sản ở Nam Việt Nam”.

Hôm 26/12, tại Hà Nội đã diễn ra hội thảo nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. (BBC)

Vạch mặt những “casino thu nhỏ” giữa Thủ đô

Trò chơi xèng đang bị “thả nổi” và ngày càng phát triển mạnh mẽ khắp các hang cùng ngõ hẻm của Thủ đô, nhưng không thấy cơ quan chức năng xử lý.

Trò chơi đội lốt cờ bạc


Các ngõ, hẻm như ngõ 1194 đường Láng, quận Đống Đa, ngõ 58 đường Nguyễn Khánh Toàn, Cầu Giấy… có rất nhiều máy đánh xèng ở các quán trà đá.


Trò chơi này “móc túi” người chơi bằng cách đưa 10.000 đồng được 10 đồng xu. Mỗi đồng xu tương đương 10 điểm, nhưng bỏ tất cả 10 đồng xu vào máy và ấn nút, máy chạy chỉ được khoảng 1 phút là hết tiền (điểm). Nếu người may mắn lắm thì được 2 phút.

 

2 chiếc máy xèng ở ngõ 322 đường Mỹ Đình, xã Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội đang chờ khách đến chơi.

 

Để hiểu rõ hơn về quy luật của trò chơi cờ bạc ẩn nấp dưới dạng chơi xèng, phóng viên tiếp cận với 1 nhóm thanh niên đang đánh xèng ở ngõ 322 đường Mỹ Đình, xã Mỹ Đình, huyện Từ Liêm rồi sau đó là ngõ 9 đường Cốm Vòng, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

 

Tại 2 điểm vừa nêu, phóng viên nhận thấy có rất nhiều thanh niên chen chúc nhau bên chiếc máy xèng, dõi mắt theo vòng quay sáng đèn xanh đỏ, có lúc mắt sáng lên vì “trúng cửa”, có lúc lại thất vọng, cay cú, tiếp tục móc tiền mua những đồng xu nhét vào những chiếc máy để hòng thu lại “khoản ngân sách” đã mất mà không cần suy nghĩ.

 

Đa số máy đánh xèng đều được đặt ở trong các con ngõ, hẽm nơi có nhiều thanh niên, đặc biệt là sinh viên thuê trọ. Chiếc máy xèng to bằng chiếc ti vi 19 inch bao gồm 8 cửa: 4 cửa lớn, 4 cửa nhỏ; mỗi cửa lại chia ra cửa to và cửa con.

 

Dễ chơi nên hàng ngày có rất nhiều người “đốt tiền” qua những “vòng quay số phận” mà không cần suy nghĩ ngày mai sẽ ra sao.

 

Đây là 2 máy đánh xèng ở ngõ 9 đường Cốm Vòng. Đang chơi nhưng thấy chụp ảnh nên nhiều người né đi nơi khác.

 

Đang chơi xèng ở ngõ 9 đường Cốm Vòng, Lê Văn Hoàng (23 tuổi, SV trường ĐH Thương Mại) cho biết: “Trò chơi này dễ lắm anh ơi, mấy hôm trước em toàn ăn. Nhưng hôm nay, đen hay sao ấy, em toàn thua. Bao nhiêu tiền bố mẹ gửi phục vụ ăn học trong tháng em “nướng” hết vào máy xèng rồi”.

 

Ngay bên cạnh Hoàng là sinh viên Nguyễn Văn Linh (22 tuổi, ở Hòa Bình, cùng trường với Hoàng) nói: “Ban đầu, máy nó cho thắng để câu khách đó thôi, chứ thắng làm sao được máy hả anh. Bạn em (Hoàng – PV) nó cố “cày” trả nợ, nhưng có thấy trả được nợ đâu, toàn thua, nợ chồng nợ anh ạ. Nhiều lần em khuyên bạn ấy thôi đừng chơi nữa nhưng nó không nghe, vẫn cố”.

 

Theo quan sát, trong nhóm bạn của Hoàng đang chơi xèng rất căng thẳng, thi thoảng lại có tiếng vọng “Đen quá lại mất rồi, bực hết cả mình”, “mày về xóm trọ vay tao mấy “lít” đem ra đây để gỡ lại”… Nhiều thanh niên ham chơi xèng sẵn sàng móc hết sạch số tiền trong túi ra cho đến khi xèng bị nuốt hết mới ngơ ngẩn nuối tiếc ra về.

 

Một người bán nước ở ngõ 9 đường Cốm Vòng (cạnh máy đánh xèng) cho biết: “Tôi thấy cửa hàng đó có rất nhiều thanh niên đến chơi xèng lắm. Nhiều bạn trẻ ra bảo với tôi rằng trò chơi này thu hút nhiều người chơi. Có người đến chơi mất tiền triệu mỗi lần, nhưng vẫn đến chơi tiếp… Nếu có thu lại được thì cũng chỉ là số tiền ít ỏi do gặp may, hay phải có vốn lớn”.

 

Quái vật hiện hình

 

Đang chơi ở ngõ 1194 đường Láng, quận Đống Đa, Hà Nội, Lê Tuấn Vinh (sinh viên trường ĐH Giao thông Vận tải, 23 tuổi, quê Vĩnh Phúc) tâm sự: “Trò này không có lãi đâu anh ơi, nhưng đã chơi thì nghiện. Em thường xuyên ra đây chơi để giết thời gian. Hết tiền bố mẹ chu cấp lại vay tiền bạn ra chơi, nhiều lúc thua chỉ muốn gỡ gạc lại lấy ít rồi thôi, nhưng vẫn hoàn cháy túi”.

 

“Quái vật”

Trong khi đó, em Vũ Anh Hòa (24 tuổi, ở Thanh Hóa cùng trường với Vinh) chia sẻ: “Em ra khu vực gần quán xèng ngồi uống nhiều lần, chứng kiến không ít cảnh khóc cười xót xa do vòng quay xèng gây ra. Mới đây, một “ma xèng” là sinh viên xô xát, đánh lộn với chủ chỉ vì chủ hàng cho rằng cậu ta biết cách để ăn nhiều nên quyết không cho cậu chơi nữa.

 

Trong khi đó cậu sinh viên thì bảo “tôi phải gỡ lại vì tôi đã mất nhiều tiền vào cái máy này của ông lắm rồi”. Chủ hàng liền nhấc điện thoại gọi mấy “đệ tử” đến để lôi cậu sinh viên ra ngoài. Có thế mới biết để kiếm được đồng tiền từ máy xèng không phải là dễ dàng, nên em không chơi anh ạ”.

 

Đây là 2 máy ẩn nấp dưới dạng trò chơi xèng ở ngõ 1194 đường Láng luôn sáng đèn, nhưng người chơi thấy chụp ảnh nên bỏ đi nơi khác.

Qua tìm hiểu thì chủ của những máy xèng này được gọi là chủ máy. Họ phân phối máy đến mọi nơi miễn là có người chơi. Chủ hàng và chủ máy ăn chia theo phương thức: Chủ hàng có địa điểm và chi tiền điện, coi máy, bán xèng hàng ngày hưởng 35 – 40% lợi nhuận, còn chủ máy hưởng 60 – 65% lợi nhuận. Nếu trong một ngày mấy xèng bị thua chủ không thu được thì họ sẽ dùng “thủ thuật” mới để chỉnh lại phần mềm nhằm đánh lừa người chơi.

 

Hải Ngọc

  (Kiến thức)

 

Đại họa mất nước: Trung cộng đang chiếm đoạt Việt Nam – Cán bộ đi nước ngoài chỉ thích săn hàng giảm giá


Đại họa mất nước: Trung cộng đang chiếm đoạt Việt Nam

Nguyễn Lương Tuyền (Danlambao) – Trong suốt 2 cuộc chiến tranh chống Pháp từ 1945 tới 1954 với kết quả là đất nước bị chia đôi, CSVN chiếm miền Bắc của vĩ tuyến 17 và xâm chiếm miền Nam từ 1954 tới 1975 để áp đặt chủ nghĩa sắt máu lên toàn quê hương, đảng CSVN và ông Hồ Chí Minh đã dựa hoàn toàn vào sự giúp đỡ của khối Cộng, nhứt là của Trung Cộng. Hậu quả là bây giờ dân Việt đang phải trả nợ những sự giúp đỡ đó bằng chính quê hương của mình.
Trong quá khứ, người Việt luôn luôn phải đối đầu với người Tầu trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Các nhóm Bách Việt, khởi thủy ở miền Nam Trung Hoa, bị người Tầu đồng hóa. Chỉ còn có nhóm Lạc Việt tồn tại, đến định cư ở miền Châu thổ sông Hồng Hà để lập nên nước Việt. Kể từ lúc lập quốc tại châu thổ sông Hồng Hà, dân Việt phải luôn đối phó với ý đồ xâm lăng, đồng hóa của người Tầu từ phương Bắc.
Người Tầu đã đô hộ Việt Nam trong nhiều năm:
– Từ năm 111 trước Tây Lịch cho đến năm 931 sau Tây Lịch (hơn 1 ngàn năm).
– Từ năm 1407 tới năm 1428. Vua Lê Lợi- người anh hùng áo vải đất Lam Sơn- đã đứng lên đánh đuổi quân Tầu, dành độc lập cho nước nhà.
Người Việt đã không bị đồng hóa mặc dù bị Tầu cai trị trong ngần ấy năm.
Ý tưởng xâm chiếm VN, cũng như xâm chiếm các nước nhỏ ở chung quanh như Tây Tạng, Mông Cổ, Tân Cương… lúc nào cũng tiềm tàng trong trí óc người Tầu. Nhận viện trợ của Trung Cộng trong 2 cuộc chiến, Hồ Chí Minh và đám đồng chí không hiểu ý định thâm hiểm sâu xa của Trung Cộng hay Hồ và đám CSVN cố tình không hiểu, miễn sao áp đặt cho được chế độ CS lên quê hương; cứu cánh biện minh cho phương tiện là lý luận của Hồ và những người CSVN.
Trong sách Cách mạng Trung Quốc và Đảng Cộng Sản Trung Quốc do chính Mao Trạch Đông biên soạn năm 1938 có đoạn viết:
(Sau khi dùng chiến tranh đánh bại Trung Quốc, các nước đế quốc đã cướp đi nhiều nước phụ thuộc và một phần lãnh thổ của Trung Quốc:
 
– Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Lưu Cầu, quần đảo Bành Hồ và Lữ Thuận.
– Anh chiếm Miến Điện, Bu Tan, Mã Lai và Hương Cảng.
– Pháp chiếm An Nam.)
Bản đồ sau đây được in trong cuốn sách Sơ lược lịch sử Trung Quốc hiện đại được xuất bản tại Bắc Kinh năm 1954. Trên bản đồ, đường chấm bao gồm lãnh thổ Trung Hoa trong đó có các nước Việt Nam, Mã Lai, Thái Lan và Triều Tiên.
Trong cuộc chiến xâm lược Miền Nam Việt Nam của CSVN từ miền Bắc từ năm 1954 tới năm 1975, người ta đã nhận ra giao hảo giữa VNCS và Trung Cộng đã có nhiều dấu hiệu của một sự đổ vỡ không hàn gắn được. Sau năm 1975, người ta mới biết Trung Cộng không bao giờ muốn CSVN đánh chiếm Miền Nam. Sau khi CSVN thành công trong công cuộc thống nhất VN bằng võ lực, mối bất đồng càng ngày càng lộ rõ. Sau khi Lê Duẩn đi Nga Sô ký hiệp ước hỗ tương quân sự và nhứt là sau khi VNCS đưa quân đội tràn qua chiếm Campuchia, lật đổ Chính Phủ CS của Polpot vào năm 1978, Trung Cộng đình chỉ các viện trợ cho VN, đồng thời rút hết các chuyên viên về nước. Lãnh tụ Trung Cộng Đặng Tiểu Bình luôn luôn lớn tiếng đe dọa: Trung Hoa Cộng Sản sẽ phải dậy cho Việt Nam một bài học.
Mặt trận trải dài khắp biên giới Việt-Trung
Ngày 17 tháng 2 năm 1979, hơn 300 000 quân Trung cộng đồng loạt tấn công VN ở dọc vùng biên giới giữa hai nước, trên một mặt trận trải dài khắp vùng biên giới. Phía Việt Nam bị bất ngờ nên chỉ có bộ đội địa phương được đưa ra để đối đầu với quân Trung Cộng. Các đơn vị quân chánh qui của VN Cộng Sản còn đang bị kẹt ở mặt trận Cao Miên. Người ta đặt dấu hỏi quân báo của CSVN ở đâu mà không phát hiện quân Tầu tập trung, không phải vài ngàn, mà là hơn 300 000 quân với đại pháo, xe bọc sắt ở vùng biên giới giữa hai nước.
Trung Cộng gọi đây là cuộc trừng phạt, để dạy cho kẻ bất nghĩa Việt Nam một bài học. Quân TC tràn sang VN với tiêu lệnh: giết sạch, phá sạch. Dù chỉ có các du kích và quân địa phương, phía VN đã dũng cảm đối đầu với quân Trung Cộng. Hai bên cùng bị thiệt hại nặng. Quả là một bài học bằng xương máu của hàng trăm ngàn người ở cả hai nước. Máy bay của Nga Sô đã không vận các đơn vị chánh qui của CSVN từ Campuchia về. Một phòng tuyến được thiết lập để bảo vệ Thủ đô Hà Nội gọi là Phòng Tuyến Sông Cầu nhưng ngày 18 tháng 3 năm 1979, Quân Tầu tự ý rút về sau khi đã diệt hết dân lành, phá tan tành mấy tỉnh miền biên giới như Lạng Sơn, Cao Bằng. Lào Kai và một số tỉnh ở sát biên giới. Cả 2 bên đều tuyên bố là mình thắng trận.
Từ năm 1979 cho mãi tới năm 1990, cuộc xung đột biên giới mới chấm dứt.
Kể từ 1979 đến năm 1990, có ít nhứt 6 cuộc giao tranh lớn ở vùng biên giới. Trận chiến núi Lão Sơn là một trận mà chiến địa đổi chủ nhiều lần với hàng ngàn binh sĩ hai bên bị giết. Sau chiến tranh biên giới năm 1979, Trung Cộng đã nhận ra sự yếu kém của Hồng Quân Trung Hoa nên họ đã ra sức canh tân, hiện đại hóa quân đội.
Sau trận chiến biên giới năm 1979, các trận đấu võ miệng trên các phương tiện truyền thông của cả hai bên được tận dụng. Năm 1979, nhà xuất bản Sự Thực của Cộng sản Việt Nam ấn hành sách Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung quốc nhằm vạch trần âm mưu của chủ nghĩa bá quyền Trung quốc. Theo tập tài liệu này: (những dòng in nghiêng sau đây là nguyên văn được trích từ tập tài liệu này).
– Năm 1954, họ (TC) những người lãnh đạo Trung Quốc đã lợi dụng tình để thương lượng riêng với Pháp và cùng nhau thỏa hiệp về một giải pháp có lợi cho họ và Pháp. Không có lợi cho nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia.
 
– Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa, lần đầu tiên, được ngồi ngang hàng với 4 cường quốc, Ủy Viên thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc (nhờ chiến tranh ở Việt Nam).
 
– Nhà cầm quyền Bắc Kinh muốn duy trì lâu dài tình trạng Việt Nam bị chia cắt. Nhưng nhân dân Việt Nam đã anh dũng đứng lên cứu nước và càng ngày càng dành được nhiều thắng lợi.
 
– Năm 1974, với sự đồng ý ngầm của Hoa Kỳ, họ đã chiếm quần đảo Hoàng Sa. (LNV: Thực ra CS Việt Nam đã tránh không nhắc tới Công Hàm gửi Châu Ân Lai của Phạm Văn Đồng năm 1958, xác nhận chủ quyền của Trung Cộng trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.)
 
– Chính sách ngày nay của các nhà lãnh đạo Trung quốc đối với Việt Nam, mặc dù được ngụy trang khéo léo như thế nào vẫn chỉ là các chính sách của Hoàng Đế Thiên Triều trong mấy ngàn năm qua, nhằm thôn tính Việt Nam. 
– Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ 1954 tới nay:
* Từ xâm canh, xâm cư đến xâm chiếm: điển hình là khu vực Trịnh Tường tại tỉnh Quảng Ninh.
 
* Lợi dụng các công trình xây cất hữu nghị để đẩy lùi cột biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam…
 
* Năm 1955 khi làm lại đường sắt tại khu Hữu Nghị quan, họ đã dời đường sắt vào sâu ở phía Việt Nam 300 mètres.
 
* Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới, lấn sang Việt Nam.
 
* Mượn đất của Việt Nam để sinh hoạt sau biến thành lãnh thổ Trung Quốc.
 
* Xê dịch các mốc để sửa đổi đường biên giới.
 
* Làm đường biên giới lấn sang phía Việt Nam.
 
* Lợi dụng việc giúp Việt Nam vẽ bản đồ để chuyển dịch đường biên giới.
 
* Dùng lực lượng vũ trang để uy hiếp và đóng chốt để chiếm đất.
 
* Chiếm Hoàng Sa và Trường Sa.
 
– Trong cuộc chiến thống nhất đất nước 1954-1975, Trung Quốc luôn luôn tìm cách cản trở Việt Nam:
 
* Thời kỳ 1954-1964, Trung Quốc ngăn cản nhân dân Việt Nam đấu tranh để thống nhất đất nước.
 
* Thời kỳ 1965-1969: làm yếu và kéo dài cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.
 
* Thời kỳ 1969-1973: đàm phán với Mỹ trên lưng nhân dân VN.
 
* Thời kỳ 1973-1975:cản trở nhân dân Việt Nam hoàn toàn giải phóng miền Nam.
 
– Sau năm 1975 Trung Quốc tiếp tục chính sách gây khó khăn cho Việt Nam như:
 
* Chính sách Nạn kiều.
 
* Các áp lực về kinh tế, chính trị.
 
Trong 30 năm vừa qua, những người lãnh đạo Trung Quốc coi Việt Nam là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu đối với chiến lược của họ, luôn luôn tìm cách nắm Việt Nam. Muốn như vậy, Việt Nam phải là nước không mạnh, bị chia cắt, không độc lập và lệ thuộc Trung Quốc… Chính sách của những người lãnh đạo Trung Quốc muốn thôn tính Việt Nam nằm trong chính sách chung của họ đối với các nước Đông Nam Á Châu…
 
Tóm lại trong 30 năm vừa qua, những người cầm quyền ở Trung Quốc đã 3 lần phản bội Việt Nam:
 
1- Tại hội nghị Gơ ne vơ năm 1954 họ đã bán rẻ lợi ích dân tộc của nhân dân Việt Nam, không những để bảo đảm cho nước họ một vành đai an ninh ở phía Nam, mà còn đ‹ chuẩn bị địa bàn cho việc thực hiện mưu đồ bành trướng ở Đông Dương và Đông Nam Á. Họ muốn duy trì tình trạng Việt Nam bị chia cắt lâu dài, hòng làm cho Việt Nam suy yếu và phải phụ thuộc vào Trung Quốc. 
 
2- Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam, khi chế độ Ngô Đình Diệm bị suy đổ thì họ bật đèn xanh cho Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam, đồng thời đưa quân Mỹ trực tiếp xâm lược miền Nam Việt Nam.
 
3- Sau khi nhân dân Việt Nam giải phóng hoàn toàn miền Nam khỏi ách thống trị thực dân mới của Đế quốc Mỹ và thống nhứt nước nhà, họ đã dùng mọi thủ đoạn chính trị, kinh tế, ngoại giao để làm suy yếu nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam, hòng khuất phục nhân dân Việt Nam, tiến đến dùng lực lượng quân sự của bè lũ tay sai Pôn Pốt- Iêng Xa-ry xâm lược Việt Nam ở phía Tây Nam và lực lượng quân sự của Trung Quốc trực tiếp xâm lược Việt Nam ở phía Bắc, giết hại nhân dân Việt Nam, phá hoại nghiêm trọng các cơ sở kinh tế, văn hóa của Việt Nam ở các vùng có chiến sự.
 
Ba lần họ phản bội Việt Nam, lần sau độc ác, bẩn thỉu hơn lần trước.
 
…Để che giấu bộ mặt phản bội của họ, những người cầm quyền Bắc Kinh thường hay nhắc đến việc Trung Cộng viện trợ cho nước Việt Nam, thậm chí khoe rằng quân đội của họ đã chiến đấu ở Điện Biên Phủ.
Thực là cạn tầu ráo máng giữa 2 đồng chí đã từng một thuở keo sơn.
Phía Trung Cộng cũng không chịu kém. Qua chương trình Việt Ngữ của Đài Phát thanh Bắc Kinh, Trung Cộng đã tố cáo giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam là phản trắc, côn đồ, vong ơn, “ăn cháo đái bát”. Họ trưng những tài liệu, chứng cớ về những “hy sinh” của Trung Quốc đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam từ thời chống Pháp năm 1946, cho tới năm 1975.
Sau trận chiến tranh biên giới năm 1979, Trung Cộng đã nhận ra những yếu kém của Giải phóng Quân nên đã bỏ rất nhiều tiền để canh tân và phát triển quân đội, kiện toàn Hải Lục Không Quân. Thí dụ về Hải Quân, Trung Cộng trở nên hùng mạnh ở Thái Bình Dương, chỉ thua Hải Quân Hoa Kỳ. Trung Cộng đã trở thành 1 cường quốc về kinh tế, về quân sự khác hẳn Trung Cộng 30 năm về trước.
Trung Cộng đang hung hăng tại Biển Đông. Họ đã chiếm quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trương Sa của Việt Nam.
Năm 1991, Chủ nghĩa Cộng Sản cáo chung, các nước Đông Âu được tự do. Ngay tại Nga Sô, cái nôi của cách mạng Cộng Sản, chủ nghĩa Mác Lê cũng bị vất vào sọt rác. Nhân loại chỉ còn 4 nước vẫn còn bị dưới ách chế độ Cộng Sản là Trung Hoa, Cuba, Bắc Triều Tiên và Việt Nam. Trung Cộng mặc nhiên trở nên nước Cộng Sản “xếp sòng” trong 4 nước Cộng Sản còn lại. Việt Nam Cộng Sản mất chỗ dựa, mất đi “bầu sữa Liên Sô” nên trở nên “mồ côi” bơ vơ.
Các đỉnh cao trí tuệ loài người của Đảng Cộng Sản Việt Nam tại Hà Nội, để sống còn, quyết định dựa vào Trung Cộng. Họ cố gắng tìm cách cải thiện bang giao giữa 2 nước. Nhưng gương vỡ làm sao lành bây giờ! Trung Cộng trở nên rất dè dặt đối với Việt Nam, đứa em bất nghĩa vong ân. Các lãnh đạo của CSVN như Võ Nguyên Giáp, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu… lần lượt sang Bắc Kinh để cầu khẩn Trung Cộng nối lại tình xưa. Trung Cộng đã lợi dụng thế thượng phong để ép các đầu sỏ VNCS ký những hiệp định hoàn toàn bất lợi cho quê hương VN. Các nhà lãnh đạo CSVN cứ nhắm mắt tuân lời quan thầy Trung Cộng nên dấu kín nhân dân Việt Nam những thỏa thuận bán nước này.
Mối giao tình không còn thắm thiết như thuở nào. Trung Cộng không ngừng tạo sức ép, gây áp lực trên Việt Nam về mọi phương diện.
– Về kinh tế, hàng hóa của Trung Cộng đang tràn ngập Việt Nam, phá hoại nền kinh tế của Việt Nam. Trung Hoa là nước đứng đầu trong các trao đổi mậu dịch thương mại với VN. Từ 210 triệu dollars năm 2001, năm 2012 đã đạt mức 16 tỷ dollars năm 2012. Thủ Tướng Trung Cộng Lý Khắc Cường nói tới con số dự trù là 60 tỷ dollars cho năm 2015 để rồi đạt mức 100 tỷ dollars năm 2017. Cán cân thương mại luôn luôn nghiêng về phía Trung Cộng. Ngoài ra hàng lậu đến từ Tầu qua ngả biên giới đang tràn ngập VN. Trong đó ta phải kể đến các hàng hóa độc hại, hư thối cho người tiêu thụ. Trung Cộng đang hoặc thu mua hoặc thuê hàng ngàn ngàn mẫu đất của VN với giá thực rẻ. Người Tầu được tự do sang Việt Nam làm ăn, không cần Visa; đó là một mối nguy cho tiền đồ dân tộc.
– Về quân sự, Hải quân Trung Cộng đã hoàn toàn chiếm cứ biển Đông. Hải Quân của Cộng Sản Hà Nội đã đụng độ vớ Hải Quân Trung Quốc nhiều lần, đều bị thảm bại. Điển hình là trận Hải chiến năm 1998. Trung Cộng đã cấm ngư dân Việt Nam đi đánh cá ở Biển Đông. Họ cho rằng biển Đông thuộc về họ. Ngư dân Việt Nam đã bị họ bắt, giết. Ngư thuyền bị tịch thu.
Chánh phủ Việt Nam Cộng Sản của các đỉnh cao trí tuệ loài người tại Hà Nội im lặng làm ngơ.
Thỉnh thoảng TC cho phát tán lên Internet những lời tố cáo VNCS là những kẻ vô ơn hoặc những ý đồ chinh phục VN bằng quân sự trong 30 ngày để chiếm trọn VN. Tất cả những hăm dọa đó có ẩn ý là tạo một trạng thái tinh thần bất ổn trong hàng ngũ dân Việt. Sau những trận chiến biên giới, kéo dài từ năm 1979 tới năm 1990, TC hiểu rõ việc chinh phục VN bằng võ lực – như cha ông của họ đã từng làm – không còn thích hợp cho chính sách xâm lấn của của họ nữa, họ nhắm chinh phục VN bằng các phương tiện khác. Quân sự chỉ là con ngáo ộp thôi.
– Về chính trị, Trung Cộng đã ép các nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam ký những hiệp định nhượng đất, nhượng biển cho họ. Thí dụ những Hiệp định do Lê Khả Phiêu ký năm 1999, năm 2000, cùng những thỏa thuận cắm mốt biên giới. Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc đã thuộc về Trung Cộng. Kiều Công Tiễn thời Ngô, Trần Ích Tắc thời Trần, Lê Chiêu Thống đời Nhà Lê là những kẻ bán nước nhưng học chỉ là những tên phản quốc lẻ loi. Giờ đây, dân Việt bị cả một tập đoàn Cộng Sản phản quốc gồm 16 tên trong Bộ Chánh Trị, gần 500 tên Ủy Viên trong Trung Ương Đảng, 3 triệu đảng viên đang bán rẻ quê hương cho kẻ thù truyền kiếp như Kiều Công Tiễn, Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc… đã làm.
– Người Tầu đã vào Tây Nguyên, gọi là để khai thác Bau xít. Họ vào với con số hàng chục ngàn người. Tây Nguyên, xương sống chiến lược của đất nước, đã bị người Tầu chiếm đóng. Ngoài ra người Tầu đã sang định cư vĩnh viễn ở VN. Các phố Tầu đã mọc lên tại các tỉnh như ở Bình Dương, ở Lạng Sơn… Cư dân Tầu ở các khu người Tầu đều coi thường Luật Pháp của Việt Nam, họ hành xử theo luật pháp do chính họ đặt ra.
– Trong việc giao thiệp với Việt Nam, Trung Cộng luôn luôn giữ thế trịch thượng. Các lãnh tụ của Cộng Sản Việt Nam như Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng đều phải sang Tầu để triều kiến. Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam, theo lời đòi hỏi của Trung Cộng, đã cấm các cuộc biểu tình tự phát của dân Việt phản đối việc xâm lăng của Trung Cộng. Các người biểu tình bị đàn áp và bắt giam. Thậm chí những bài viết online chống Trung Cộng cũng bị Trung Cộng ra lệnh cho Cộng sản Việt Nam cấm đoán.
Người Việt bi quan, lo sợ trước viễn ảnh đất nước đang bị Trung Cộng cưỡng chiếm từ từ để thực hiện cho được nguyện ước của Mao Trạch Đông. Mới đây, người ta đọc trên Internet một tài liệu nói là tài liệu của Tình báo Trung Quốc nói về sự cam kết của hai ông Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh là hai Cựu Tổng Bí Thư của Đảng CSVN về sự sát nhập Việt Nam vào Trung Hoa vĩ đại. Sự sát nhập này sẽ được tiến hành làm 2 giai đoạn:
– Giai đoạn 1 từ năm 2000 tới năm 2020. Trong giai đoạn này VN sẽ giải quyết các bất đồng trong nội bộ.
– Giai đoạn 2, từ năm 2020 tới năm 2050. VN sẽ hoàn toàn trở về với đất Mẹ (?), Trung Quốc. Nước VN sẽ biến mất trên bản đồ thế giới.
Hư thực ra sao? Ta không rõ nhưng hơn lúc nào hết, viễn tượng mất nước đang đè nặng trên tâm tư của con cháu Lạc Hồng tại khắp nơi trên thế giới.
Chúng ta cần một Hội nghị Diên Hồng. Không biết những người Cộng Sản Việt Nam có ý thức được là họ đang làm mất quê hương không?
Montréal 12-2013
 

Cán bộ đi nước ngoài chỉ thích săn hàng giảm giá

Đi công tác nước ngoài quá nhiều, kinh nghiệm đem về không áp dụng đươc bao nhiêu… là một sự lãng phí ghê gớm. Đa số độc giả VietNamNet đều có chung nhận định như vậy khi phản hồi cho các bài nêu chuyện“lạm phát” các chuyến công cán nước ngoài ở cơ quan nhà nước.

Đi nước ngoài là đặc ân của “sếp”

Thông tin bắt đầu từ con số thống kê mà Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nói tại phiên họp Chính phủ cuối năm nay, rằng, dù đã giảm so với nhiều năm trước nhưngnăm 2013 vừa qua đã có tới gần chục đoàn công tác mỗi ngày đi nước ngoài bằng ngân sách nhà nước.

Theo ông Minh, vấn đề ở chỗ có một số đoàn đi không hiệu quả và bị trùng lặp nộidung tham quan. “Số đoàn này chủ yếu đi với tư cách nghiên cứu. Nhiều nướcbạn phản hồi, có vấn đề vừa trả lời đoàn này, một thời gian ngắn sau lại cóđoàn khác sang hỏi câu tương tự. Điều này gây nên sự lãng phí tiền của đất nước”.

công tác nước ngoài, hàng giảm giá

Bổ sung thêm thông tin quanh con số đáng giật mình nói trên, độc giả Trần Hồng Hải(honghai@….) viết:

“Tôi đã từng trong vai trò hoa tiêu cho một số đoàn nhà nước sang Châu Âu công tác. Sang tới nơi, lịch trình làm việc bị cắt giảm tối đa. Dành thời gian cho việc đi shopping (mua sắm), chủ yếu đẻ tìm mua hàng hiệu sale off (giảm giá) và mua quà cáp, thuốc bổ, sữa, mỹ phẩm. Gần như không ai quan tâm đến công việc”.

Bởi vậy mới có chuyện, thành phần trong các đoàn công tác không phải khi nào cũnglà các chuyên gia, cán bộ có năng lực cần được cử đi ra nước ngoài để mở mang tầmmắt, học tập kinh nghiệm đặng đem về áp dụng ở nhà. Không ít sếp nhà nước coichuyện cử nhân viên ra nước ngoài học tập như một “đặc ân”.

Như độc giả Phan Văn Hòa (hoaphan@…) mô tả, thì ở cơ quan của bạn, hai phần bathành phần trong các đoàn đi công cán trời Tây là con cháu các cụ hoặc những đối tượng sắp về hưu, coi như một “dạng” chính sách ưu đãi. “Nên trước khi đi khôngthấy ai trau dồi hay chuẩn bị gì về ngoại ngữ, chuyên môn, mà chỉ thấy lo đi đổitiền, lo lên danh sách hàng hóa cần phải mang về”, bạn Hòa phản ánh.

BạnNguyễn Huy Quang (quanghuy@….) phản hồi: “Đi nước ngoài nhiều nhưng không thấyhọc được cái hay của người ta để về áp dụng cho đất nước phát triển, thực racác quan chức đi chơi và du lịch nhưng dưới vỏ bọc đi công tác và học tập kinhnghiệm. Vì tôi cũng làm trong nhà nước nên tôi biết”.

Đáng chú ý, chi phí của mỗi chuyến công tác không hề nhỏ.

Mộtbạn đọc ở địa chỉ dien@…đã mô tả chi tiết: theo “Quy định chế độ công tác phí cho cán bộ, công chức Nhà nước đi công tác ngắn hạn ở nước ngoài do ngân sách Nhà nước bảo đảm kinh phí” thì có tới khoảng 20 mục người đi công tác nước ngoài được thanh toán trong đó có 4 mục chính là vé máy bay. Cụ thể, tiền ở khách sạn (từ 60$ đến 85$ một ngày) , tiền tiêu vặt (từ 55$ đến 80$ một ngày), tiền đi lại, tiền liên lạc …

Độcgiả này nhẩm tính, nếu đi công tác châu Âu khoảng 1 tuần thì chi phí cho một người trong một tuần  đã tròm trèm 2000$/người (khoảng trên 40 triêu đồng).

Lãng phí vô tội vạ

Ai cũng biết các chuyến công du trời Tây là lãng phí, tiêu ngân sách vô tội vạ, song cũng không ít độc giả phàn nàn, chính chuyện nhập nhèm giữa việc đi nước ngoài vui chơi, mua sắm với đi nghiên cứu, tim hiểu, học tập đã làm ảnh hưởng đến các đoàn công tác làm việc nghiêm túc. Bởi lẽ, có không ít cán bộ, không ít cơ quan sau khi hoc hỏi kinh nghiệm ở nước bạn, đã đưa về nhiều cải tiến hữu ích.

Vìvậy, về lâu dài, các độc giả đều cho rằng cần siết kỷ cương, kỷ luật tài chính cho các chuyến đi.

“Lãnh đạo cần duyệt chương trình nghiêm khắc, nghiệm thu kết quả sau khi đi về, tuyển chọn thành phần cán bộ, chuyên gia cử đi nước ngoài. Làm được như vây sẽ góp phần hạn chế các chuyến đi vô bổ, lãng phí”, độc giả Phan Văn Mạnh (manh2003@….)góp ý.

Đa số bạn đọc đều chung ý kiến, chỉ cần làm rõ danh sách thành phần tham gia cácchuyến công cán sẽ đánh giá được ngay mục đích, ý nghĩa và hiệu quả các chuyến đi.

“Chỉ cần mỗi người phải tự bỏ tiền túi ra tự đi thay vì dùng tiền chùa, ắt sẽ biết ngay có ai muốn đi hay không”, bạn Hương Giang (giang20@…) phản ánh.

Theocác độc giả, chủ trương đi công tác nước ngoài cần phải được xem xét nghiêm khắc.  Nhà nước cần rà soát lại về mặt chính sách. Còn về lâu dài, từng cơ quan, đơn vị sẽ phải cân nhắc túi tiền để chi tiêu cho hợp lý.

  • Hàm Yên

Tin thứ Ba, 31-12-2013 – MYANMAR VỚI NHỮNG BƯỚC ĐI THĂM DÒ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ


CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT

2<- CIA theo dõi sát trận Hoàng Sa 1974 (BBC). “Trong khi CIA tường thuật là cả Việt Nam Cộng Hòa lẫn Trung Quốc đều khẳng định chủ quyền tại Hoàng Sa, thì một bức điện tín khác đề ngày 21/1 cho rằng Bắc Việt Nam ‘lúng túng’ trước trận chiến này“.

Phải chăng Đảng cộng sản Việt Nam đã thất bại trong việc bảo vệ chủ quyền? Và ngoại giao Câu Tiễn? (Người Buôn Gió). Mời xem lại: Sự thật lịch sử và quyền lợi dân tộc (VHNA).

Tàu ngầm Trường Sa sẽ có radar quét ngang, sonar thủy âm (ĐV).

Nhật Bản sẽ mở ‘tour chủ quyền’ tới Senkaku cho phóng viên quốc tế (SM).

Trung Quốc sẽ cấm cửa Thủ tướng Nhật? (BBC). – Lãnh đạo Trung Quốc sẽ không gặp Thủ tướng Nhật (RFI). – Trung Quốc tuyên bố không đối thoại với Thủ tướng Nhật Bản (TN).  – Nhật Bản không nên đánh giá thấp khả năng quân sự của Trung Quốc (LĐ).  – Thông điệp của Thủ tướng Abe (ĐBND).

Trung Quốc có thể đánh bại Mỹ ở Tây Thái Bình Dương? (TN).  – “Năm 2020, Mỹ sẽ đại bại trước Trung Quốc ngay trên sân nhà” (Soha).

THƯ TRẦN HUỲNH DUY THỨC GỬI CON (Thùy Linh). “TL: Nếu không biết Trần Huỳnh Duy Thức thì khó hình dung đây là lá thư của người đang bị cầm tù 16 năm… Nhà giam nào có thể giam cầm những tâm hồn như thế này? Đây là tâm thế cần có được ở những người tham gia đấu tranh cho nền dân chủ Việt Nam“.

– Nguyễn Văn Thạnh: Anh Lê Thăng Long nếu có khùng? (ĐCV). – Không hồi kết (Nhất Nam).

Việt Nam hôm nay, ngày 30.12.2013 (DCCT).  – Lê Diễn Đức: 10 sự kiện nổi bật năm 2013 (Blog RFA).  – Những tấm chân tình ngày cuối năm (DLB). – Báo cáo nhân quyền Việt Nam 2013 (DLB). – Đoan Trang: Nhìn lại 2013 từ lăng kính nhân quyền (DLB). – Quyền Con Người đến với Festival Hoa Đà Lạt

Việt Nam 2013: Phong trào đấu tranh nhân quyền bắt đầu lan rộng (RFI/DĐXHDS).

Nhân quyền Việt Nam – những giá trị không thể bóp méo (CAND/DĐXHDS).

Trò chuyện giữa nhà thơ Hoàng Hưng và nhà văn Hoàng Minh Tường quanh sự cố tiểu thuyết Nguyên khí bị cấm xuất bản (Boxitvn).

“Thơ” với friend nhân Năm Mới 2014 (Nhát sỹ Tô Hải).

Mỹ Cộng (18): Johnson và SDS làm quyết định (DCCT).

Cái chết của Việt Dzũng (Người Việt).  – Trực tiếp (Live): Lễ an táng Nhạc sĩ Việt Dzũng   –   Ca nhạc sĩ Việt Dzũng, ‘biểu tượng tự do, nhân quyền, và công lý’  – Việt Dzũng để lại cho đời lời Kinh Tị Nạn (Bùi Văn Phú). – Từ những góc khuất, Việt Dzũng  (Người Việt).

Chuyện Hiến pháp và Quốc hội (RFA).

Bộ Chính trị bổ nhiệm Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương (TTXVN).

– Chi tiêu tiết kiệm, hạn chế lãng phí: Cán bộ đi nước ngoài chỉ thích săn hàng giảm giá (TVN).

CHỪ RI NÌ (Dịch: Bây giờ thế này nhé) (Nguyễn Quang Vinh). “Chừ ri nì, trong khi báo Sài Gòn Tiếp thị ( SGTT) đang cho chết lâm sàng, thì hơn lúc nào hết, ngoài các cơ quan Nhà nước phải có trách nhiệm xem xét lại vụ việc, Hội nhà báo phải có tiếng nói mạnh mẽ, cứu sống SGTT, cứu sống tờ báo, vẫn tiếp tục cho SGTT độc lập sống, độc lập làm việc như lâu nay vẫn thế, đó không chỉ đơn giản là công việc của những người lao động, đó còn là danh dự của báo chí nước nhà“.

O TIẾN NHÕNG NHẼO CUỐI NĂM (Nguyễn Quang Vinh). – Mời xem lại: Có đúng “không ai chất vấn” tư lệnh ngành y tế? (VnEconomy). – Y tế thất bại với phương thuốc chống phong bì (SM).

– Video phỏng vấn CSGT: Xe CSGT đỗ hết phần đường xe thô sơ, chú đại uý rất lỳ ! (Việt Anh Phúc).

– Video: Cải cách hành chính: Triển khai đề án cơ sở dữ liệu quốc nhật về dân cư (VTV).

Thứ trưởng nông nghiệp: Mất sạch 20.000 ha rừng là do thủy điện (MTG).

– Phan Vĩnh Trị: Văn tế Vinashin (Boxitvn). – Dương Chí Dũng tự chống án tử hình (BBC).  – Chế độ góp phần tạo nên ‘tội phạm’?. – SBIC chính thức thay thế Vinashin (TBKTSG).

Dương Chí Dũng thoát án tử nếu bồi thường 5 tỉ đồng? (MTG/DĐXHDS).

Một cán bộ huyện bị khai trừ Đảng vì nghiện ma túy (TT).

Về binh thư của Tướng Nguyễn Chí Thanh (BBC).

Ai đã « trảm » Lênin ở Ukraina ? (1) ( Le Monde / Thụy My).

Tránh sùng bái Mao, Bắc Kinh vẫn duy trì di sản chính trị (Thụy My RFI). – Các tượng Mao Trạch Đông ở TQ (BBC). – Quốc vụ viện TQ kêu gọi lãnh đạo đảng thay đổi thói quen hút thuốc (VOA). – Điều gì diễn ra ở TQ năm 2014 (VNN). – Hiện tượng kỳ lạ ở Trung Quốc (ĐKN).

8 người thiệt mạng trong vụ tấn công đồn cảnh sát ở Tân Cương (VOA). – Đồn công an Tân Cương bị tấn công : 8 người chết (RFI). – Cảnh sát Tân Cương bắn chết tám kẻ tấn công (PNTP).

2 Thêm quan chức TQ bị điều tra (BBC). – Thêm một quan chức Trung Quốc thân Chu Vĩnh Khang bị điều tra (RFI).  – “Tay chân” của ông Chu Vĩnh Khang bị triệt (NLĐ).

Bình Nhưỡng hành quyết nhiều quan chức cùng với Jang Song Thaek (RFI). – Jang Song-Thaek bị xử tử do đi ngược tư tưởng “tiên quân” (TTXVN).

Quân đội Thái Lan bác bỏ tin đồn đảo chính (NLĐ). – Thái Lan: Công tác đăng ký ứng cử viên tiến hành, bạo động tiếp diễn (VOA). =>

Thủ Tướng Campuchia kết thúc chuyến thăm Việt Nam (VOA).  – Campuchia: Hàng chục ngàn người biểu tình đòi ông Hun Sen từ chức.  – Sự thật về thư kêu gọi chống Hun Sen của Quốc vương Campuchia (Soha).

Người Ukraine mang quan tài biểu tình (BBC).

 

– Nhìn lại kết cục của cuộc Hải chiến Hoàng Sa (Kỳ 2) (PT). Mời xem lại: – Nhìn lại kết cục của cuộc Hải chiến Hoàng Sa (PT).

– Sách giáo khoa khuyên dùng “phần mềm đường lưỡi bò” (ĐV).

– Ngoại giao nhân dân góp phần bảo vệ chủ quyền (TP).

– “ASEAN im lặng trước ADIZ Hoa Đông là phục tùng Trung Quốc” (GDVN).

– Trung Quốc tuyên bố không đối thoại với Thủ tướng Nhật (DV). – Nhật – Trung tránh chiến tranh bằng cách nào? (Infonet). – Nhật Bản không nên đánh giá thấp khả năng quân sự của Trung Quốc (LĐ).

– Myanmar: Không thể chống lại TQ ở Biển Đông, nhưng không như Campuchia (GDVN).

– “Thi hành đúng luật là cách tuyên truyền hiệu quả nhất” (VOV).

– Phải giỏi về dân vận và tiên phong trong cải cách hành chính (ANTĐ).

– Chưa có đơn kháng cáo của Dương Chí Dũng (DV).

– Sáng kiến của ông Đinh La Thăng chưa được nhân rộng (LĐ).

– Hãy học từ người thầy lớn (ANTĐ). – Nguyễn Chí Thanh – người học trò xuất sắc của Bác Hồ (PT).

– Tiêu diệt 8 phần tử khủng bố ở Tân Cương (DV).

– Rắn trong, găng ngoài (TN). – Triều Tiên tiếp tục triệu hồi “tay chân” của ông Jang Song-thaek về nước (PNTP).

– Quân đội Thái Lan bác tin đồn âm mưu đảo chính (GDVN).

 

Tưởng niệm các anh hùng yên nghỉ giữa lòng biển Trường Sa (TN).

Tết về trên đảo Đá Lát (LĐ). – Trường Sa mùa biển động: Món quà nhỏ từ đất liền (TN). – Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học phục vụ Trường Sa (TT).

Đại họa mất nước: Trung cộng đang chiếm đoạt Việt Nam (DLB). – Tứ đại ngu của “tiền nhân” và “dân Việt Nam” thời nhà Hồ (LSVN).

Tàu ngầm Hà Nội về tới Cam Ranh vào chiều nay? (KT). – Tàu ngầm Kilo Hà Nội phải đương đầu với điều gì? (VTC). – Chùm ảnh: Quân cảng Cam Ranh đã sẵn sàng đón tàu ngầm Kilo Hà Nội (PT).

Trung Quốc: Sẽ không có đối thoại nào với thủ tướng Nhật (TT). – Tần Cương: Thủ tướng Nhật “đạo đức giả” sẽ không có cơ hội thăm TQ (GDVN). – “Không cần VK hạt nhân, TQ có thể đánh bại Nhật trong vài giây” (Soha). – Mỹ tiếp tục bày tỏ “thất vọng” về chuyến thăm Yasukuni của ông Abe (GDVN).

Đức khuyên Nhật đối mặt “trung thực” với quá khứ (Infonet).

Myanmar sẽ giải quyết vấn đề Biển Đông như thế nào? (PT).

Tản mạn về phản quốc và phản động ngày hết năm (DLB).

– Sách: Chính đề Việt Nam (phần 1) (Tùng Phong – Lê Văn Đồng) (Thông Luận). “Chỉ có sự tôn trọng tinh thần dân chủ mới là một lợi khí sắc bén nhất để cho một nước nhỏ và yếu như nước chúng ta chống lại ngoại xâm…”

Nghĩ về đôi nạng của Việt Dũng (DLB). – Bài hát cho Việt Dzũng: Bước Nạng trong Trái Tim Việt Nam – nhạc và lời Trần Bảo Như – Ca sĩ Thế Sơn (Baonhu Tran). – Nhưng chim đã gãy cánh (Người Buôn Gió).

Chọn mặt gửi vàng – Chuyện đời xưa, chuyện đời nay (DLB).

– Hiến pháp có hiệu lực thi hành từ 1-1-2014: Chạy đua với thời gian để “lấp khoảng trống” (TT). – Nhiều chính sách quan trọng có hiệu lực từ 1/1/2014 (VnEco).

Sẽ giảm mạnh chi hội họp, tiếp khách (TT).

Sở hữu đất đai và chuyện “nhích bút” của quan tham (Gocomay).

Tôi cũng đang chờ câu trả lời từ Thủ tướng về tham nhũng (TT). – Bảo vệ tài sản của Nhà nước, sao khó thế? (NNVN).

Giật mình: Dương Chí Dũng sẽ thoát án tử hình? (PT). – Không thể chấp nhận cho Dương Chí Dũng nộp 5 tỉ để thoát án tử (MTG).

Phụng công, thủ pháp (Người đô thị/MTG).

Trám “lỗ thủng” văn hóa, đạo đức (TT). – Những tín đồ của niềm tuyệt vọng (TN).

Không được giao đất vì giám đốc… “không có tướng” (!) (LĐ).

Vụ kiều nữ Hải Dương, báo chí tiếp tay cho bác sĩ phạm luật? (Hà Hiển).

Đôi điều về một cuộc phỏng vấn (Phi Vũ).

Roger Mitton – Lenin lại đổ (Dân Luận).

Tập Cận Bình trực tiếp chỉ đạo cải cách kinh tế (VNE). – Quyết liệt với quan tham (ANTĐ).

Triều Tiên triệu hồi Phó đại sứ UNESCO, tạm tha Đại sứ tại Trung Quốc (GDVN). – Lý do thực sự khiến chú của nhà lãnh đạo Kim Jong-Un bị xử tử (Tầm nhìn).

Thái Lan: Cảnh sát biểu tình phản đối… biểu tình (Infonet). – Bị cảnh báo, quân đội quyền lực Thái Lan thoái lui? (VnM). – Bầu cử Thái Lan có nguy cơ đổ vỡ (Infonet).

KINH TẾ

Kinh tế VN 2014: ‘cầm cự là chính’ (BBC).  – Thủ tướng: Chắt chiu từng đồng để giảm bội chi (ĐT).  – Khả năng lạm phát cao vẫn tiềm ẩn trong năm 2014 (TTXVN).

Dọa thay lãnh đạo, DNNN có chuyển mình? (ĐT).

Một vốn bốn lời (TT).

– Video: Chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp nhất trong 10 năm (VTV).

– Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Điều hành chính sách tài khóa – tiền tệ phải ở tầm nghệ thuật (ĐT).  – 2014, lo lãi suất bị chèn lấn (VnEco).  – Video: Không in mới tiền lẻ dịp tết (VTV).  – Dịch vụ đổi tiền lẻ vẫn tồn tại.

Câu chuyện tỷ giá và vấn đề sức cạnh tranh (TBKTSG).

2 Một năm thất bại của vàng (TT).  – NHNN “tung” 20.000 lượng vàng trong phiên đấu thầu cuối năm (DĐDN).

<- Hà Nội dự kiến thu hồi 34.000m2 đất (DĐDN).

Xuất siêu và những nút thắt chưa được tháo gỡ (ĐBND).

Từ 1/1/2014 bán hàng qua mạng không đăng ký sẽ bị xử phạt (DĐDN).

VASEP: Còn nhiều cơ hội để tăng xuất khẩu thủy sản (TTXVN).

Lương thưởng quốc doanh vẫn cao nhất (BBC).   – Thưởng tết Giáp Ngọ 2014: Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng (ĐT).  – Giám sát chặt việc trả lương, thưởng Tết cho công nhân (NLĐ).

Tiền ảo Bitcoin ngày càng phổ biến (VnEco).

Điểm 10 sự kiện kinh tế thế giới nổi bật trong năm 2013 (TTXVN).

Trung Quốc: Hơn 3 triệu hécta đất quá ô nhiễm để trồng trọt (VOA). – Các địa phương Trung Quốc nợ chồng chất (VnEco).

Pháp áp thuế 75% người thu nhập rất cao (BBC).

Triển vọng kinh tế 2014 : Hàn Quốc và Philippines dẫn đầu Châu Á (RFI).

 

– Kinh tế 2014, nhận diện những rủi ro (ĐTCK). – Trưởng Ban Kinh tế Trung ương: Chúng ta đã có những quyết sách đúng và cần thiết (LĐ).

– Đưa bội chi ngân sách 2014 thấp hơn 5,3% (TN). – Thu ngân sách bất ngờ cán đích (ANTĐ).

– Lạm phát 2014 sẽ chịu nhiều áp lực (PLTP). – Năm 2014 vẫn tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao (SGGP). – Đánh đổi lạm phát thấp lấy nền kinh tế suy yếu (Infonet). – Dân kiệt sức: Giá vẫn tăng mà lạm phát xuống thấp (VEF).

– Khơi lại động lực (TN).

– Vốn FDI và chuyện được – mất (VnEco).

– Giá vàng giảm, USD tăng (TN). – Giá vàng còn 34 triệu đồng/lượng, thị trường vẫn ế (PLTP).

– Bất động sản 2014: Vẫn là thị trường của niềm tin (TN).

– Chính thức “xóa sổ” Vinashin từ ngày 1-1-2014 (DV).

– Phú quý giật lùi (TP).

– 4 sự kiện viễn thông di động nổi bật (TN).

– Máy bay nhiều, chỗ đậu ít (PLTP).

– Chống bán phá giá tạm thời với thép không gỉ (ĐT).

– Ì ạch cơ giới hóa nông nghiệp (DV). – Dân được hỗ trợ lúa giống kém chất lượng (DV).

– Heo hơi tăng vài giá có gì mà ầm ĩ (DV). – Nuôi bò vỗ béo cho thu nhập cao (DV).

– Giá quất đang “héo” dần (VnEco). – Địa lan nở sớm ở Đà Lạt: Hoa cười, người khóc (DV).

– Chọn quà tết (TN).

– Nợ công tăng vọt, kinh tế Trung Quốc gặp nguy (Infonet).

 

Dự báo kinh tế 2014: Khởi sắc nhưng chưa có đột biến (PT).

Toàn cảnh Ngân hàng 2013 (TP). – 2014 và “tâm điểm nợ công” (VnEco).

Thu ngân sách 2013: Bất ngờ phút chót (LĐ). – Thu ngân sách về đích ngoạn mục (NLĐ). – Thu ngân sách 2013 tiến sát mục tiêu nhờ… cổ tức (VnEco). – Chi ngân sách 2014 khoảng 1 triệu tỉ đồng (MTG).

Bộ trưởng, phát ngôn và hành động: Thống đốc đã biến “Phố Wall” thành “Chùa Bà Đanh” như thế nào? (LĐ).

Tháo chạy khỏi vàng trong năm 2014? (VnEco). – Giá vàng SJC lao sâu trong ngày cuối năm (VnEco). – Không nên đầu tư vàng trong năm 2014 (MTG).

Giá bất động sản Hà Nội giảm 30 – 50% (VOV).

SBIC ra mắt, chấm dứt Vinashin (TT). – Vinashin đổi tên SBIC: Bình mới rượu vẫn cũ (SM).

Logic tăng giá điện xăng và chuyện CPI giảm tốc (ĐV). – Tăng giá xăng dầu, điện, gas – những cơn sóng năm 2013 (VOV).

Tăng giá cước 3G không có dấu hiệu vi phạm (NLĐ). – Việc tăng cước 3G: Có dấu hiệu lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường (LĐ).

Bầu Đức: Gây tiếng tăm không nhất thiết bằng tiền (Infonet).

Một năm tôm được thời, cá tra gặp khó (TP).

Quảng Nam: Mai toe toét nở, cúc “ngậm miệng cười” (Infonet).

Nợ công Trung Quốc đạt 3.000 tỉ USD – điềm báo khủng hoảng? (MTG). – Bom nợ Trung Quốc dồn dập điểm chuông ‘tích tắc’ (SM).

VĂN HÓA-THỂ THAO

– Video: Ca nhạc: Biển đảo quê tôi (VTV).

Công nhận 37 bảo vật quốc gia (CP).  – Tranh của bộ tứ danh họa được đề nghị là bảo vật quốc gia (SGGP).

04-Bao-ton-36713-440A1 Bàn giao thư tịch cổ Chăm đã được tu bổ cho Ninh Thuận (TTXVN).

Bảo tồn làng cổ như di sản sống (ĐBND). =>

– TÀI TỬ NHƯ ĐỜN CA NAM BỘ: Bồi đắp đam mê (NLĐ).

Người chép ‘sử hiện đại’ (VNE).

– Nhà thơ Bằng Việt, Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam: Văn học là một dòng chảy liền mạch (SGGP).

Văn Cao – một lối thơ riêng (Vũ Nho).

Rất gần thiên đàng hạ giới (Da Màu).

Người ngồi chờ sương mù (Nguyễn Hoa Lư). – Chốn tương tư sầu biệt

BÀI HAY TRÊN TRANG CỦA BẠN (Thanh Dạ).

BAC BA PHI ĐI THĂM MỸ (KỲ 84) (Nhật Tuấn).

Borges: Kotsuké no Suké (Nhị Linh).

Tiếng Việt đa dạng (Nguyễn Vĩnh).

– Hình ảnh: Lễ tưởng niệm nhạc sỹ Việt Dzũng (BBC).

Thần tượng và Tèo em: Nghịch lý khó hiểu! (NLĐ).

– VI PHẠM TRONG HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN: Phạt bao nhiêu thì vừa? (PNTP).

13 sự kiện văn hóa – giải trí ồn ào nhất 2013 (VNN).

10 MV hay nhất năm 2013 (PNTP).

Tay đua F1 Michael Schumacher trong tình trạng ‘nguy kịch’ (VOA).  – Schumacher ‘vật lộn trong cơn sinh tử’ (BBC).

 

– 13 sự kiện văn hóa – giải trí ồn ào nhất 2013 (VNN).

– Đề nghị công nhận bảo vật quốc gia đối với 37 hiện vật (PLTP).

– Tranh của bộ tứ danh họa được đề nghị là bảo vật quốc gia (SGGP).

– Màn hát quan họ mừng chiến thắng Điện Biên Phủ (TN).

– Quảng bá du lịch qua ‘Sài Gòn xưa và nay’ (TN).

– Thần đồng văn học Nga mời ca sĩ – nhạc sĩ khiếm thị Hà Chương sang Nga biểu diễn (TN).

– Những ‘kiệt tác’ điện ảnh với gốc rễ văn học (TTVH).

– Người hâm mộ thua phe vé (TN).

 

Chiêm ngưỡng nhan sắc Hoàng hậu cuối cùng của triều Nguyễn (DT).

Bộ sử “Lịch sử Thăng Long – Hà Nội” sẽ được tái bản (VOV).

Công nhận 37 bảo vật quốc gia (VNE).

Lo bảo tồn làng cổ ở Hà Nội (NNVN).

Trao bằng công nhận 8 nghệ nhân dân gian (DV).

Gần 400 tài tử đờn, tài tử ca diễn hơn 1.000 bài đờn ca tài tử (TT).

Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường và cảm xúc thời thanh xuân của tôi (VHNA).

Khi vẽ những đứa trẻ, lòng tôi ấm áp  (Tia sáng).

Cần Thủ Dâm Đàm… (TTVH).

NGƯỜI ĐẸP VŨ THIÊN KIỀU THẮNG GIẢI TRUYỆN NGẮN VỀ ĐỒNG TÍNH (Nguyễn Trọng Tạo).

“Thơ là tay nắm bàn tay…” (Trần Nhương).

10 sự kiện quốc tế gây chú ý nhất trong năm 2013 (Time/ TCPT).

Thái Lan: Lễ Giáng Sinh của người Việt (DCCT).

“2013 VCL Tranh Vẽ Võ Công Liêm” (Du Tử Lê).

Không chiều thị hiếu vẫn thắng thị trường (SGTT).

Trấn Thành: Cát sê Phương Mỹ Chi cao thì có gì là sai? (TN).

Diễn viên ngoại đóng phim nội (VOH).

Cái giá ‘thật – ảo’ của sự nổi tiếng (TN).

Thói hư tật xấu người Việt: Chế giễu bài bác trí tuệ (TTVH). – Bạo lực và văn hóa ứng xử (Trần Nhương).

Những ‘kiệt tác’ điện ảnh với gốc rễ văn học (TTVH).

GIÁO DỤC-KHOA HỌC

Ngành giáo dục có quên những cách tiết kiệm khác? (VNN).

– Giao quyền tự chủ tuyển sinh cho các cơ sở giáo dục đại học: Hướng đến việc đánh giá năng lực người học (ĐBND).

2Đề án dạy và học ngoại ngữ – Bài 2: Không bột khó gột nên hồ (SGGP).

Vụ 7 học sinh chết đuối: Phụ huynh tố nhà trường tắc trách (NLĐ). – Dạy bơi trên giấy (SGGP).

Bộ GD-ĐT yêu cầu báo cáo đạo đức, lối sống của học sinh (VOV).

Hà Nội: học sinh nghỉ Tết Nguyên đán 14 ngày (TT).

<- Xe đưa rước học sinh: “Không tin được” HTX, nhà trường! (NLĐ).

Thông báo lớp học “Cách viết và công bố bài báo khoa học” tại Hà Nội (Nguyễn Văn Tuấn).

Mặt trăng là do con người làm ra? (ĐKN).

Chiến đấu với Bệnh tật (ĐKN). – Cách Chăm Sóc Mắt Bị Sưng

 

– Những quyết sách lớn của giáo dục (TN).

– Quán triệt Nghị quyết T.Ư 8, khóa XI: Thay đổi nhận thức, gạt trở lực vô hình (GD&TĐ).

– Tự chủ tuyển sinh đại học: Các trường phải đổi mới khâu ra đề thi (SGGP).

– Yêu cầu báo cáo thực trạng giáo dục đạo đức, lối sống HSSV (GD&TĐ).

– “Miền núi có tiềm năng sản xuất muối” (TT).

– Sinh viên thất nghiệp vì thiếu nhiều kỹ năng (VOV).

– Giúp học sinh thêm cơ hội học tập phù hợp (TN).

– Thành trạng nguyên nhờ “học lỏm” (KT).

– Gạo đến tay học sinh vùng khó (DV).

 

Trải thảm tiền tỷ nhưng người tài vẫn ra đi (TP).

Các trường phải được quyết định quyền tự chủ của mình (GDVN).

Đúng gật, sai cũng gật (DT).

Trao đổi chuyện giáo dục nóng bỏng với PGS Văn Như Cương (TT). – PGS Văn Như Cương xin lỗi thay học trò (Infonet).

Sách bài tập cho học sinh lớp 1 in sai đề (Zing). – Thu hồi sách đánh đố học sinh lớp 1 (VNN).

Bộ GD&ĐT nói gì về dạy bơi trong trường học? (Infonet).

Số học sinh dân tộc rất ít người nhập học tăng (DV).

Học sinh nghỉ tết dài, phụ huynh lo lắng (SM).

Giáo viên miền núi ngậm ngùi tâm sự chuyện thưởng Tết (DT).

Đánh học sinh khi say, thầy giáo bị đuổi việc (VTC).

Quy tắc vàng và… (Người đô thị/VHNA).

J.J. Rousseau: Tự do, giao mà không mất?  (Người đô thị/Tia sáng).

Hàng chục bộ xương nam nữ ôm nhau trong mộ cổ (NLĐ).

XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG

– Quảng Bình: Một ngư dân bị gió mạnh hất tung xuống biển (DT).

7 học sinh Việt Nam chết đuối ở bãi biển Cần Giờ (VOA).  – Vụ 7 học sinh tắm biển chết đuối: Nặng trĩu những đám tang học trò (TN).  – Video: Vụ 7 học sinh bị sóng cuốn trôi: Nguyên nhân? (VTV).   – Bài học từ vụ đuối nước ở Cần Giờ. – Bảo vệ bãi biển bị phản ứng trong cứu hộ 7 học sinh (VNE).

Về sự già hóa dân số (Lương Kháu Lão).

Trẻ em, người già và người tàn tật ở Việt Nam (Người Việt).

2 trẻ song sinh chào đời từ tinh trùng người cha quá cố (VOA).  – Vì sao nữ Tiến sỹ sinh con với chồng đã khuất? (VNN).

2Vạch mặt những “casino thu nhỏ” giữa Thủ đô (KT).

Giá vé tết xe thương hiệu tăng hơn 100% (TN).  – Xe Tết không căng, nhưng giá vẫn tăng (ĐT).

3 lao động Việt tử vong ở Nga do ngạt khí gas (TT).

Sếu đầu đỏ vắng bóng (NLĐ). =>

Kêu trời vì ô nhiễm (NLĐ).   – Cả nước đã xử lý được gần 400 cơ sở gây ô nhiễm (TTXVN).  – U ám làng chì (CT).

Lũ lụt ở Indonesia khiến hơn 17.600 người sơ tán (VOV).

 

– Chìm tàu cá, 8 ngư dân mất tích (TT).

– Từ vụ 7 học sinh chết đuối: Cảnh báo về các chuyến dã ngoại (DV). – Lời kể của học sinh thoát chết ở biển Cần Giờ (PLTP). – Vụ 7 học sinh chết đuối ở Cần Giờ: Bài học đắt! (VOV). – Giọt nước mắt khóc những đứa con hiếu thuận (Infonet).

– Giá rét dài ngày: Nông dân khốn đốn, sản xuất thiệt hại  (HNM).

– Cậu bé “ốc bươu vàng” (TT).

– Phát hoảng đặc sản gà Đông Tảo từ gà già (VNN).

– Tử vong sau khi cắt trĩ ở phòng khám tư (PLTP).

 

Ba ngư dân ở Lạch Ghép Thanh Hóa mất tích trên biển (TP). – Nỗi đau xóm biển nghèo ngày cuối năm (DV).

Vụ 7 học sinh chết đuối ở biển Cần Giờ: Anh hai đi, bỏ lại đứa em nhỏ (TN). – Vụ 7 học sinh chết đuối: “Mất 3 người bạn, em sợ lắm!” (VOV). – Bảy học sinh chết đuối: Lỗi thuộc về người lớn (TP). – Vụ 7 HS chết đuối: Giá như ca nô có xăng! (KP). – Vụ 7 học sinh chết đuối ở Cần Giờ: Bài học đắt! (VOV/GDVN). – Vụ 7 em chết đuối tại Cần Giờ: Sẽ làm rõ trách nhiệm của nhà trường (DV). – 7 học sinh bị đuối nước, Bộ GD-ĐT nói gì?. – Vụ 7 học sinh bị sóng cuốn, trách nhiệm thuộc về ai? (VNN).

1 phụ nữ rơi xuống sông mất tích (NLĐ).

“Thầy” Đài Loan xuất chiêu: Có kẻ thứ 3 phi tang xác chị Huyền? (Soha).

Quản lý chặt giá sữa và thuốc chữa bệnh (DV). – Tạo cơ hội cho thuốc nội vào bệnh viện.

Đột nhập “thủ phủ” men, rượu rởm (NNVN).

Kiếm bạc triệu nhờ… hoa cải (PT).

– Hà Tĩnh: Lật xe chở 8 tấn cá, dân đứng xem không lấy một con (DT).

Ngày họp mặt người nghèo (DCCT). – Những tấm gương thầm lặng mà cao cả (TT).

Cuối năm, buôn lậu tài nguyên bùng phát (SM).

Vụ “kiều nữ” Hải Dương: Các phóng viên “nạn nhân” có thật là nạn nhân? (MTG).

Cho vay nặng lãi bùng phát ở Trung Quốc (VNE).

Trung Quốc: Phó giám đốc bệnh viện thừa nhận bán 7 trẻ sơ sinh (DT).

Pháp bắt nghi phạm uống máu người (TN).

QUỐC TẾ 

Vũ khí hóa học có thể không chuyển ra khỏi Syria đúng hạn (VOA). – Chính phủ Syria bị tố dùng ‘bom thùng’ (BBC). – Bahrain bắt tàu chở thuốc nổ từ Iran, Syria (Tin tức).  – Trung Quốc ngày càng can dự thêm vào các vụ khủng hoảng thế giới (VOA).

Người dự tang lễ cựu bộ trưởng Li-băng hô khẩu hiệu chống Hezbollah (VOA).  – Liban bắn máy bay Syria xâm phạm không phận (Tin tức).

Iran và Nhóm P5+1 nối lại đàm phán cấp chuyên gia (TTXVN).

Ai Cập bắt giữ 4 ký giả đài Al-Jazeera (VOA).

Nhà riêng của đại sứ Đức tại Hy Lạp bị xả súng (RFI). – Súng nổ bên ngoài nhà riêng Đại sứ Đức tại Hy Lạp (TTXVN).

Cận Đông : Pháp và Ả Rập Xê Út đồng quan điểm (RFI).

Tranh cãi quanh bài báo của NY Times về vụ tấn công ở Benghazi (VOA).

2<- Thêm một vụ nổ làm rung chuyển Volgograd, 14 người thiệt mạng (VOA). – Khủng bố đẫm máu thứ nhì tại Nga (RFI).  – Nổ tiếp ở Volgograd, ’14 người chết’ (BBC).  Audio phỏng vấn ông Nguyễn Minh Cần: Người Nga ‘đã quen với khủng bố’.  – Video: Nga tăng cường an ninh sau các vụ khủng bố (VTV).  – Hai vụ đánh bom ở Volgograd có thể liên quan với nhau (Tin tức).  – VN lên án hành động khủng bố ở Volgograd (VNN). – Volgagrad: photos từ hiện trường phát nổ xe troleibuyt (Inosmi/ Kichbu). – Vì sao Volgograd là điểm đen khủng bố? (VNN).

2013 : Năm nước Pháp can thiệp ngoại giao và quân sự (RFI).

LHQ quan ngại về tin ‘Đạo binh Trắng’ đến gần thị trấn của Nam Sudan (VOA).

Các tay súng tấn công quân đội Yemen, 5 lính tử vong (TTXVN).

Tàu Nga vẫn mắc cạn ở Nam Cực (BBC).  – Tàu Trung Quốc bị kẹt ở Nam Cực khi tới giải cứu tàu Nga (VOA).

 

– Dấu ấn 2013: Từ Hassan Rouhani đến Nelson Mandela (PLTP).

– Những phụ nữ đã định hình thế giới năm 2013 (Infonet).

– Nhật ‘đánh bóng’ trước Mỹ, kích động TQ (VNN).

– Mỹ tăng cường hợp tác an ninh với Nga sau 2 vụ đánh bom ở Volgograd (PNTP).

– Gia đình ngập tràn hạnh phúc từng khiến cả thế giới ghen tị của Tổng thống Obama liệu có đổ vỡ? (LĐ).

– Đánh bom khủng bố liên tiếp ở Nga (TN). – 2 ngày, 2 vụ đánh bom: Nước Nga chấn động (DV). – Hải quân Nga đã tiếp nhận tàu ngầm hạt nhân tấn công lớp Yasen đầu tiên sau 20 năm chờ đợi (LĐ).

 

Máy bay Syria tấn công Lebanon (NLĐ). – Syria sơ tán 5.000 người ra khỏi thành phố Adra (Tin tức). – Trung Quốc gửi chiến hạm tới Syria (PT).

Ai Cập sẽ tiến hành bầu cử Tổng thống trước bầu cử Quốc hội (VOV). – Chìa khóa giúp Ai Cập thoát khủng hoảng (Tin tức).

Năm 2013 quá biến động! (NLĐ). – Đông Nam Á năm 2013: Thảm họa và biểu tình (NĐT). – Thế giới 2014: Mong buồn phiền bỏ lại phía sau (TT). – Những phụ nữ làm chấn động thế giới năm 2013 (VNN).

Những phút cuối cùng của ông Saddam Hussein (TN).

The Times chọn Putin là ‘Nhân vật của năm 2013′ (Tin tức). – Tổng thống Putin: Vừa làm ‘Nhân vật của năm’ vừa lo ‘dò bom’ (SM).

Nga: Nguy cơ đằng sau 2 vụ đánh bom kinh hoàng (KP). – Chưa xác định được kẻ chủ mưu 2 vụ đánh bom tại Volgograd (PT). – Nghi phạm vụ đánh bom thứ 2 ở Volgograd lộ diện (VOV). – Tổng thong Putin lệnh thắt chặt an ninh toàn nước Nga (SGTT). – Nga cần nâng cấp hệ thống phòng chống khủng bố (VOV).

Bất ổn ngân sách ở Mỹ: Chia rẽ và hàn gắn (VOV).

Mỹ do thám đường cáp quang dưới biển Á – Âu (LĐ).

Xung đột tại Congo vẫn trong tình trạng báo động (VOV).

 

* VTV: + Chào buổi sáng – 30/12/2013;  + Điểm báo – 30/12/2013;  + Cuộc sống thường ngày – 30/12/2013;  + 360 độ Thể thao – 30/12/2013;  + Tài chính tiêu dùng – 30/12/2013;  + Tài chính kinh doanh sáng – 30/12/2013;  + Tài chính kinh doanh trưa – 30/12/2013;  + Tin quốc tế 17h – 30/12/2013;  + Thời sự 12h – 30/12/2013;  + Thời sự 19h – 30/12/2013.

2181. MYANMAR VỚI NHỮNG BƯỚC ĐI THĂM DÒ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Hai, ngày 30/12/2013

(Tạp chí Der Spiegel – 31/2013)

Myanmar đang chậm rãi thoát ra khỏi chế độ độc tài quân sự, nhưng tầng lớp tinh hoa cũ vẫn bí mật kiểm soát đất nước. Trong khi quốc gia này tiến tới tự do hơn về mặt xã hội, tầng lớp tinh hoa cũ ngày càng phải đi mặt với những nạn nhân của chế độ cũ.

 

Khi Aung San Suu Kyi gặp Tổng thống mới của Myanmar lần đầu tiên sau khi được trả tự do, nụ cười của bà, nụ cười của một biểu tượng, đã biến mất. Bà trông có vẻ nghiêm nghị và không khoan nhượng khi đứng bên cạnh Tổng thống Thein Sein. Bà giữ khoảng cách với ông ta và mỗi cm cách xa dường như rất quý giá. Tuy vậy, bà vẫn đứng trước camera cùng với một người đàn ông đã xây dựng sự nghiệp của mình dưới chế độ cũ. Đó là vào tháng 8/2011.

Vào tháng 6/2013, Aung San Suu Kyi nói rằng bà muốn trở thành Tổng thống Myanmar. Bà tuyên bố như vậy trước các đại biểu của một diễn đàn kinh tế được tổ chức tại thủ đô Naypyidaw, thậm chí một bộ trưởng trong chính phủ cũng đang lắng nghe bà nói. Bà trông có vẻ như thể đã học được cách làm chủ cuộc chơi.

Mỗi cử chỉ và mỗi lời nói của Aung San Suu Kyi trong 2 năm qua đều là một bài kiểm tra. Mức độ thân cận của bà với các nhà lãnh đạo quân đội hiện nay như thế nào? Bà có làm theo yêu cầu của họ không? Và chính xác là ai đang sử dụng ai? Có phải các nhà lãnh đạo quân đội của Myanmar đang cố gắng đánh bóng hình ảnh của họ bằng một người đoạt giải Nobel Hòa bình, hay chính người đoạt giải Nobel Hòa bình này đang dẫn dắt nhà cầm quyền tới sự thay đổi?

Khi còn bị giam giữ, sự kiên định của Aung San Suu Kyi đã đưa bà trở thành một hình mẫu. Nhưng giờ đây khi đã được tự do, bà phải kết hợp đạo đức và sự thực dụng, và cả đất nước Myanmar một lần nữa đang chú ý tới bà. Nhiều người tại Myanmar có một câu chuyện của sự thù hằn để kể lại, và nếu ngay cả Aung San Suu Kyi, một con người thánh thiện, cũng đang thương lượng với các tướng lĩnh cũ, vậy những người khác cũng nên làm như vậy chăng?

Dù thế nào thì những đối thủ cũ này không thể thoát khỏi nhau. Họ chỉ có thể quyết định liệu họ muốn có sức mạnh để hòa giải hay ý chí để đạt được một thỏa thuận hay không. Nhưng làm sao việc này có thể thành công trong một đất nước mà người dân vẫn nhớ tới một nửa thế kỷ của chế độ độc tài quân sự. Một số người không muốn nghĩ tới tội lỗi của họ. Một số người khác lại không thể quên đi nỗi sợ hãi của mình, ví dụ như Toe Zaw Latt, một nhà báo và từng là một nhân vật bất đồng chính kiến.

Cánh cửa văn phòng của Toe Zaw Latt không có biển hiệu nào. Bên trong, rèm cửa màu xanh được kéo kín và một tấm vải bạt che kín một nửa ban công. Toe Zaw Latt nói và bật cười: “Thói quen cũ”. Ông từng ở trong rừng già nhiệt đới với quân nổi dậy trong những năm 1980, làm việc cho đài phát thanh của phe đối lập Tiếng nói dân chủ Burma (DVB) ở Thái Lan và đã quen thuộc với sự phản kháng và bí mật. Ông đã dành cả cuộc đời mình để nghiên cứu về kẻ thù.

Toe Zaw Latt nói: “Nếu bạn trở nên quá nổi tiếng trong công chúng, họ sẽ cảm thấy bị đe dọa”. Ông không nói rõ mình đang nhắc đến ai. Ông cũng không nói ông và những người khác ở DVB đang thực sự trốn tránh ai. Họ không còn là một bộ phận của đài phát thanh lưu vong có trụ sở ở Na Uy bí mật gửi phóng viên của mình tới Myanmar để điều tra. Giờ đây họ có một tòa soạn tại Rangun. Họ cũng không còn chiến đấu chống lại chế độ độc tài của các tướng lĩnh, mà giờ vật lộn với tình trạng mất điện, ở ban công bên ngoài văn phòng của họ có một máy phát điện. Toe Zaw Latt cho biết: “Chúng tôi đang cố gắng thích nghi, với cảm xúc của chúng tôi và cả với bên ngoài”.

Năm nay 43 tuổi, vị trưởng văn phòng của DVB tại Myanmar đang rất cố gắng để hòa nhập. Ông không mặc quần dài thường xuyên như trước nữa, thay vào đó, ông thích mặc longyi, một mảnh vải dài được buộc phía trên eo, giống như phần lớn nam giới tại đây. Nhưng ông thấy khó có thể từ bỏ sự nghi ngờ của mình. Toe Zaw Latt mới chỉ quay trở lại quê hương vào tháng 3/2012 với một hộ chiếu mang quốc tịch Australia, sau 24 năm sống lưu vong. Nước Myanmar mà ông quay trở lại dường như hoàn toàn mới trên nhiều phương diện.

Aung San Suu Kyi giờ là thành viên Quốc hội, Liên minh châu Âu đã dỡ bỏ các lệnh cấm vận của mình, tập đoàn Coca-Cola vừa mới khai trương một nhà máy nước giải khát tại đây và Tổng thống Thein Sein vừa thả tự do cho thêm nhiều tù nhân chính trị. Và những người từng chiến đấu cho nền dân chủ khi công việc này vẫn còn cực kỳ nguy hiểm giờ đây đã kỷ niệm 25 năm phong trào ủng hộ dân chủ của họ. Vào ngày 8/8/1988, các sinh viên đã xuống đường phản đối, sau đó các cuộc biểu tình diễn ra trong nhiều tuần lễ cho đến khi chính quyền quân sự đàn áp các cuộc phản kháng và khiến hàng nghìn người thiệt mạng. Có một buổi lễ kỷ niệm được “Nhóm Sinh viên Thế hệ 88” tổ chức, như là một phần của các hoạt động kỷ niệm. Nhóm này đã hoạt động ngầm trong nhiều năm qua, và giờ đây các cuộc gặp mặt của họ được báo chí đăng tải.

Nhưng Toe Zaw Latt vẫn không chắc liệu ông có thể tin vào sự thay đổi đang diễn ra ở Myanmar không? Với tư cách là một nhà khoa học, ông đã nghiên cứu các mô hình chuyển đổi trong các xã hội, trong đó bao gồm sự kết thúc của chủ nghĩa apartheid tại Nam Phi và sự sụp đổ của Đông Đức. Ông luôn quan tâm đến việc nghiên cứu cách thức một đất nước có thể tạo ra sự khởi đầu mới. Trong một số trường hợp, nhà cầm quyền cũ phải ra đi sau một cuộc chiến; trong một số khác thì diễn ra một quá trình mà trong đó tầng lớp tinh hoa mới thay thế tầng lớp cũ và đôi khi tầng lớp thống trị nắm giữ quyền lực nhưng vẫn tạo ra không gian cho các bên tham gia mới. Và đây chính là trường hợp đang diễn ra ở Myanmar, nơi nhân vật đại diện cho sự thay đổi, Tổng thống Thein Sein, là một cựu tướng lĩnh quân đội. Đại diện của quân đội và đảng cầm quyền Liên minh Đoàn kết và Phát triển (USDP) chiếm đa số trong Quốc hội.

Nhưng Toe Zaw Latt biết khả năng của quân đội Myanmar. Ông từng tham gia cuộc phản kháng năm 1988, bị buộc phải rời bỏ đất nước và chịu đựng việc chính phủ thông báo với cha mẹ mình rằng ông đã chết. 17 phóng viên trước đây hoạt động bí mật cho đài DVB phải ngồi tù vì họ đã tường thuật về cuộc phản kháng của các thầy tu vào năm 2007 hay sự thất bại của các tướng lĩnh trong việc giải quyết hậu quả của cơn bão Nargis. Vào thời điểm đó, các phóng viên của DVB thường đi theo nhóm 3 người, một người bí mật quay phim bằng chiếc máy quay giấu trong một hộp bánh, một người khác quan sát những cảnh sát mật đang theo dõi họ, và người thứ ba chuyển những thước phim ra ngoài nước. Các phóng viên có một nguyên tắc quan trọng: Thậm chí không được nói với mẹ mình rằng mình có một chiếc máy quay phim.

Khi DVB bắt đầu hoạt động công khai ở Myanmar vào mùa Hè năm 2012, đài phát thanh này ban đầu phải thương lượng với Bộ Thông tin về tên gọi của họ. Đối với quân đội, các phóng viên của đài vẫn luôn là “những kẻ phá hoại” sản xuất ra “cả một bầu trời những lời nói dối”. Vậy đài sử dụng cái tên nào trong bản đăng kí chính thức của mình? Từ “Dân chủ” không làm phiền lòng các nhân viên chính phủ, nhưng họ không thích cách dùng từ “Burma” để chỉ tên đất nước mà đã được đổi tên thành “Nước Cộng hòa Liên bang Myanmar”. Nhưng các phóng viên từ Oslo giải thích rằng “Tiếng nói Dân chủ của Burma” là một thương hiệu. Cuối cùng, cả hai bên đã thống nhất với cái tên DVB Mutilmedia Group. Vụ việc này minh họa ranh giới mong manh giữa sự nhượng bộ và phản bội, và điều gì cấu thành một chiến lược hợp pháp. Đài DVB thậm chí đang cung cấp sự trợ giúp cho các nhân viên của đài truyền hình nhà nước. Đâu là cách tốt nhất để đặt một câu hỏi? Bạn xác định tin tức như thế nào? Đáp lại, DVB đôi khi nhận được từ đài truyền hình nhà nước các thước phim miễn phí. Thêm vào đó, Bộ Thông tin giúp đỡ các phóng viên vận chuyển các trang thiết bị phòng Studio từ Oslo thông qua hải quan Myanmar. Kể từ khi Tổng thống Thein Sein trả lời một cuộc phỏng vấn của DVB, ngay cả các quan chức chính phủ của Myanmar cũng nhận ra rằng kẻ thù cũ của nhà nước xứng đáng có được sự tôn trọng.

Toe Zaw Latt nói: “Chúng tôi không còn biết ai là bạn và ai là thù nữa. Cả chính phủ cũng vậy”. 8 cựu tù chính trị hiện đang làm việc cho ông ở Myanmar, một số người cảm thấy kinh ngạc về những mối quan hệ mới, gần gũi hơn với chính phủ. Nhưng thời kỳ của những người anh hùng đã qua và thời kỷ của những thỏa thuận đã bắt đầu.

Toe Zaw Latt cho biết ông và các đồng nghiệp sẽ thuyết phục Bộ Thông tin thay đổi đường lối hoạt động của mình và cuối cùng tất cả mọi người sẽ được hưởng lợi từ việc này. Ông nói: “Chúng tôi không căm ghét các cá nhân, mà căm ghét chế độ”. Vì vậy mà Toe Zaw Latt cũng có “mối quan hệ tốt” với Thứ trưởng Bộ Thông tin Ye Htut, người mà ông gọi là “Bộ trưởng Facebook”, vì ông này hoạt động rất tích cực trên mạng Internet.

Con đường tiếp cận “Bộ trưởng Facebook” đưa các phóng viên tới thủ đô Naypyidaw, được xây dụng trong thời điểm mà các tướng lĩnh vẫn tin rằng họ có thể tô điểm cho quyền lực của mình với những con đường 20 làn xe. Giờ đây Naypyidaw đã được xây dựng xong, một thủ đô hoành tráng nhưng vắng bóng con người và không còn phù hợp với chính phủ hiện nay. Các nhà lãnh đạo quân đội đã quay lưng với thành phố Rangun vào năm 2005, một phần là do họ lo ngại về một cuộc xâm lược của người Mỹ.

Nhưng hiện nay Myanmar đã có một Tổng thống, người đã đến thăm Washington vào tháng 5/2013 và gửi lời chúc mừng tới Tổng thống Barack Obama nhân ngày Độc Lập của Mỹ. Giờ đây ban lãnh đạo của Myanmar đang cố gắng thể hiện bản thân như là những nhân vật có đầu óc hiện đại và dân chủ, nhưng điều này là khó khăn trước một nền tảng gồm toàn những kiến trúc của chế độ độc tài.

Bộ Thông tin nằm ẩn mình sau những hàng cây, một tòa nhà mái bằng buồn tẻ với những hành lang xám xịt và tiền sảnh được thắp đèn lờ mờ. Những người phụ nữ lịch sự dẫn các phóng viên đi lên cầu thang và vào một căn phòng mà ở đó Ye Htut đang ngồi trước một cửa sổ lớn tràn ngập ánh nắng. Ông đang mỉm cười. Cựu quân nhân này thích mỉm cười. Ông có hàm răng trắng hấp dẫn và có tài tuyên truyền, ông nói tiếng Anh trôi chảy, ngôn ngữ mà ông nói rằng mình đã tự học và thích xem kênh BBC.

Ye Htut chỉ cần một phút để nói ra những điểm chính: “Không còn vai trò nào cho truyền thông nhà nước trong một đất nước dân chủ”. Ông giải thích rằng truyền thông không còn phải đại diện cho chính phủ, mà là cho tất cả người dân. Vậy tại sao bộ của ông vẫn tồn tại? Ông trả lời: “Chúng tôi giám sát quá trình chuyển giao”.

Ye Htut đi nước ngoài nhiều trong thời gian qua. Ồng đã tới Scandinavia và Đức vào năm 2012. Ông muốn học cách xây dựng một đài phát thanh công cộng. Ông tự hào rằng báo chí tư nhân đã được phép hoạt động tại Myanmar kể từ ngày 1/4/2013. Ông tin rằng chính phủ hiện nay đã minh bạch hơn nhiều. Ông nói: “Hãy tin tôi đi, chúng tôi là những người tốt”.

Ye Htut chỉ Lên màn hình máy tính, ông có 44.814 người theo dõi trên trang Facebook. Ông cho biết: “Tôi cho phép công chúng viết các bình luận. Và đôi khi tôi thậm chí trả lời những bình luận này. Ông nói rằng một số người đã nhiếc móc ông trên mạng, gọi ông là kẻ nói dối. “Tôi để họ nói”, Ye Htut nói như vậy và tỏ ra hài lòng với sự rộng lượng của mình.

Các phóng viên đặt thêm câu hỏi: “Liệu Bộ Thông tin có còn tồn tại trong 5 năm tới?” “Tôi không thể nói về điều này”, vị bộ trưởng của quá trình chuyển giao trả lời như vậy và cáo từ chúng tôi.

Nhưng ngay cả khi các thể chế và thậm chí cả con người thay đổi, câu hỏi được đặt ra cho Myanmar là làm thế nào quốc gia này có thể chấp nhận những sai lầm trong lịch sử và đem lại công lý. Các nhà lãnh đạo quân đội của Myanmar sẽ không tuân theo quyền xét xử của một tòa án hình sự quốc tế. Họ vẫn nắm rất nhiều quyền lực để không bị đưa ra xét xử.

Toe Zaw Latt, người quay trở lại đất nước sau một thời gian lưu vong, muốn thành lập một ủy ban với đại diện của chính phủ, quân đội và các nạn nhân. Mục tiêu của ủy ban này sẽ là làm trung gian hòa giải, hay ít nhất là làm rộ những sai lầm trong quá khứ. Cho tới tận ngày nay vẫn còn rất nhiều điều bất công tại Myanmar, bao gồm những hành động tàn bạo chống lại người Hồi giáo và các sắc tộc thiểu số. Toe Zaw Latt cho biết các quan chức chính phủ cũng quan tâm tới ý tưởng của ông. Sự thực mà không có trừng phạt là điều mà họ có thể ủng hộ.

Nhưng Than Htay, một trong số các nạn nhân của những bất công đã diễn ra trong quá khứ, không định chờ đợi một ủy ban nào cả. Vào một ngày Chủ nhật của tháng 6, ông đã tới gặp người từng hành hạ mình. Ông tới xem một triển lãm tranh, nhưng không phải để chiêm ngưỡng nghệ thuật, mà để gặp người tổ chức cuộc triển lãm. Người đàn ông đó tên là Khin Nyunt. Từng là một trong số những nhân vật quyền lực nhất của Myanmar, ông trước đây giữ chức Giám đốc Cơ quan tình báo quân đội và Thủ tướng. Hiện nay, ông chuyển sang trồng hoa lan. Khi Than Htay tìm thấy Khin Nyunt tại quầy quà lưu niệm của triển lãm, ông trông thấy một khuôn mặt mà trên đó sự tự hào đã biến mất. Và theo như lời Than Htay kể lại, ông đã bắt tay Khin Nyunt và nói: “Tên tôi là Than Htay. Tôi là một cựu tù chính trị. Trước đây chúng ta là kẻ thù”.

Lý do thực sự khiến Than Htay rời khỏi ngôi làng của mình và tới Rangun là để học tiếng Anh. Trong nhiều tuần lễ, ông đã ở trong văn phòng của Các cựu tù nhân chính trị (FPP), một tổ chức chăm lo cho nhu cầu của các cựu tù nhân. Tại đó vào buổi tối ông trải chiếu ngủ, còn ban ngày ông giúp đỡ công việc cho tổ chức này, vốn đang trong quá trình thu thập thông tin về tất cả tù nhân chính trị từ năm 1962, khi mà quân đội nắm quyền kiểm soát đất nước. Cho tới nay họ đã đăng ký được cho 400 người.

Giờ đây Than Htay đang đứng trước người đàn ông từng là Thủ tướng Myanmar trong hơn 1 năm, từ 2003 đến 2004, và lắng nghe Khin Nyunt nói: “Tất cả đã là quá khứ”. Khi Than Htay đặt câu hỏi: “Ông cảm thấy như thế nào, khi nhìn lại những điều mình đã làm?”, Khin Nyunt đỏ mặt và không thể không mỉm cười. Ông lựa chọn từ ngữ một cách cẩn thận khi trả lời: “Tôi đã làm điều tốt nhất mà tôi có thể làm cho đất nước mình. Nhưng đôi khi một số người ở cấp thấp hơn đã làm những điều tồi tệ”.

Than Htay và những tù nhân chính trị khác đã trực tiếp trải qua cái mà những người ở cấp thấp hơn đã làm. Họ bị xích lại và phải ngồi xổm trên sàn cho tới khi cơ bắp bị chuột rút. Một cựu tù nhân hiện đang sống trong văn phòng của tổ chức FPP, vì gia đình không còn muốn liên hệ gì với anh ta nữa. Anh ngủ dưới bàn hội thảo trong căn phòng lớn, vì anh không thể thở được trong không gian nhỏ. Anh hay nghiến răng vào ban đêm và khóc rất nhiều. Khi cần suy nghĩ, anh đi tới đi lui, đầu cúi xuống và hai tay chắp sau lưng, giống như khi còn ở trong xà lim.

FPP hiện đang đàm phán với Chính phủ Myanmar về việc thả thêm tù nhân. Tổng thống Thein Sein mới đây đã tuyên bố rằng sẽ không còn tù nhân lương tâm nữa tại Myanmar cho tới cuối năm 2013. Vào năm 2011, chính ông từng phủ nhận sự tồn tại của các tù nhân chính trị.

Than Htay hỏi nhà cựu độc tài Khin Nyunt: “Ông có tham gia chính trị trong tương lai không?” Và câu trả lời là: “Không. Tôi cảm thấy buồn chán với chính trị rồi”.

Khin Nyunt thích chụp ảnh kỷ niệm hơn. Khi Than Htay và người từng hành hạ ông đứng cạnh nhau, Than Htay đề nghị họ nắm tay nhau. Ngay trước khi bức ảnh được chụp, Khin Nyunt đột nhiên kéo Than Htay về phía ông tới khi họ đứng sát nhau đến nỗi phần thân trên chạm hẳn vào nhau. Người đàn ông đã quen với việc thống trị người khác giờ cũng chỉ đạo việc thể hiện sự hòa giải.

Một số người đặt câu hỏi làm thế nào mà một người như Khin Nyunt lại có thể sống thanh thản trong khung cảnh hồ cá vàng và xích đu ở hiên nhà, buổi sáng uống cappucino trong quán cafe bên cạnh triển lãm của ông, còn buổi chiều thì mặc quần chạy bộ và trồng cây xoài. Xoài là loại hoa quả ưa thích của chính khách về hưu hòa nhã đi dép xỏ ngón này, người thích nói về hai con chó chăn cừu giống Đức và 25 loại hoa lan khác nhau trong vườn của ông, nhưng không thích nói về những tội ác của chính phủ quân sự và trách nhiệm của chính ông.

Trong tháng 7/2013, đài DVB đã cho đăng trên trang web của mình một lá thư bình luận đầy giận dữ của một viện sĩ. Theo đó, trong “thế giới mới tuyệt đẹp của nền dân chủ của Myanmar”, sự phơi bày và lên án đối với những vi phạm bị coi là “nhạy cảm về mặt chính trị” và công lý không còn là điều quan trọng. Ông này viết: “Nếu Khin Nyunt và những người hợp tác với ông ta thoát được các phiên tòa trong kiếp này, những bóng ma đói khát sẽ chờ đợi họ ở kiếp sau”.

Than Htay nói rằng ông không muốn nghĩ về việc này. Hiện giờ ông có những thứ khác cần lo, ví dụ như lấy được bằng lái xe. Nhưng những người khác trong tổ chức FPP không thể quên đi sự bất công trong quá khứ. Họ muốn thu thập thông tin về vấn đề này nhằm cung cấp tư liệu cho các cuốn sách lịch sử cũng như giành được sự bồi thường cho những người đã được thả. Các tờ khai với tên tuổi của các cựu tù nhân được họ cất giữ ở một địa điểm bí mật vì lý do an ninh. Mặc dù FPP đã học cách chấp nhận quá khứ, tổ chức này không biết liệu hệ thống từng hành hạ các tù nhân chính trị có thực sự là quá khứ không.

Tuy nhiên, có một người đàn ông đã đảm bảo rằng quá trình chuyển đổi từ quá khứ sang kỷ nguyên mới này là một quá trình suôn sẻ với ông. Vào ngày 20/8/2012, Tint Swe đã thành công trong việc loại trừ chính bản thân mình và đồng thời trở nên bất tử. Vào ngày đó, giám đốc cơ quan kiểm duyệt của Myanmar thông báo rằng kể từ thời điểm đó, các nhà báo sẽ không còn phải nộp trước bản sao các bài viết của họ cho cơ quan của ông. Ông đã nói với hãng thông tấn AFP rằng họ có thể đăng câu nói sau: “Chế độ kiểm duyệt bắt đầu vào ngày 6/8/1964 và chấm dứt sau 48 năm 2 tuần”.

Sự thay đổi là chấp nhận được đối với Tint Swe. Ông là người có vóc dáng nặng nề, cổ ông phình ra ngoài cổ áo tròn khi ông ngồi xuống chiếc ghế sofa đỏ. Tint Swe hiện nay là giám đốc một đài truyền hình.

Các phóng viên đặt câu hỏi: “Công việc nào ông ưa thích hơn?”

Tint Swe trả lời: “Khi là quan chức chính phủ, tôi phải thực hiện các nghĩa vụ của mình”. Ông từng phục vụ trong quân đội hơn 20 năm, và sau khi làm việc trong lĩnh vực giám sát ý kiến trong 7 năm, công việc mới của ông hiện nay lại là thúc đẩy tự do ngôn luận. Bộ đã giao cho ông nhiệm vụ biến đổi đài truyền hình nhà nước thành một công ty truyền hình hiện đại.

Tint Swe được phép tiếp tục tham gia trò chơi quyền lực, mặc dù từ một vị trí có ảnh hưởng khác. Bộ máy quyền lực cũ của ông không chỉ bị phá hủy, mà còn bị phơi bày. Các nhà báo giờ đây bật cười về những trang viết với các đoạn văn bị gạch bỏ bằng bút đỏ, mà họ được trả lại từ văn phòng kiểm duyệt. Họ giữ lại những tờ báo cũ như là vật kỷ niệm. Giờ đây tất cả mọi người có thể thấy được những từ ngữ và những thực tế nào đã bị Tint Swe tẩy xóa, và những sự thực nào khiến ông bị xúc phạm.

Ví dụ, ông sẽ gạch bỏ từ “chính trị” trong cụm từ “tù nhân chính trị”, loại bỏ hình ảnh của Aung San Suu Kyi cũng như cụm từ “các quan chức chính phủ tham nhũng”.

Êkíp của Tint Swe từng dành tới 3 ngày để nghiên cứu một tờ tuần báo, 1 ngày cho phiên bản thứ hai và nửa ngày cho phiên bản thứ ba. Tint Swe cho biết công việc cũ của ông rất mệt mỏi. Ông nói rằng mình cảm thấy hạnh phúc vào ngày ông công bố chấm dứt sự kiểm duyệt.

Nhưng sự tự do mới cũng làm ông căng thẳng. Làm sao ông có thể ca ngợi sự tự do báo chí mà chính ông từng ngăn cản? Đây là một câu hỏi mà Tint Swe không có câu trả lời rõ ràng. Ông nói: “Chúng tôi phải làm việc này vì sự ổn định của đất nước. Vào lúc đó, việc này là theo đúng pháp luật. Kể từ khi tôi bắt đầu làm việc tại đó, chúng tôi được lệnh nới lỏng dần sự kiểm soát”.

Đôi khi, người lính trong Tint Swe cất tiếng nói, đôi khi là nhà văn. Ông đã viết 7 cuốn sách về các vấn đề quân sự, đạo Phật và đạo đức. Ông hiểu cảm giác khi thấy những người khác kiểm duyệt các tác phẩm của một ai đó như thế nào. Tint Swe từng phải chờ một năm và một tháng để có được giấy phép xuất bản một trong số các cuốn sách của mình. Việc này xảy ra trước khi ông nhận nhiệm vụ tại văn phòng kiểm duyệt. Giọng ông vẫn còn một chút giận dữ khi nói: “Khi tôi đảm nhận vị trí đó, tôi chưa bao giờ mất hơn 2 tháng để duyệt một cuốn sách”.

Tint Swe không cảm thấy hạnh phúc khi ở đây, trong trụ sở đài truyền hình của ông. Đương nhiên là văn phòng mới của ông lớn hơn, nhưng ông đơn giản là thích ở Rangun hơn. Đấy là nơi ông sinh ra, nơi gia đình ông sinh sống. Ngoài ra, truyền hình không phải là chuyên môn của ông. Nhưng ông đã nhận được lệnh sản xuất các chương trình truyền hình mới và ông đang thực hiện yêu cầu này.

Toe Zaw Latt, người của đài DVB, và cựu giám đốc cơ quan kiểm duyệt hiện giờ là đối thủ của nhau trong ngành truyền thông, chừng nào mọi việc tiếp tục tiến triển như nó đã diễn ra cho tới nay và quân đội không đột nhiên mất hứng thú với thay đổi.

Tint Swe đã có một dự án viết sách mới trong đầu. Ông chỉ đang chờ đợi thời điểm thích hợp. Cựu giám đốc cơ quan kiểm duyệt này muốn viết về hàng thập kỷ kiểm duyệt, và ông sẽ không cắt bỏ bất cứ chi tiết nào.

* * *

TTXVN (Hong Kong 27/12)

Theo Thời báo châu Á trực tuyến, trên giấy tờ, hầu như không mấy quốc gia có được một năm tốt đẹp giống như Myanmar. Nước này đã được dỡ bỏ cấm vận kinh tế, được xóa bỏ một phần đáng kể các khoản nợ của họ, tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt tốc độ cao, giành được quyền đảm nhận chức Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), chủ trì Diễn đàn Kinh tế thế giới về khu vực Đông Á, và nhận được lời khen ngợi từ hầu hết các chính phủ, các nhà tài trợ và các tổ chức kinh tế trên thế giới.

Có thể nói những sự tiến bộ này là điều đáng ngạc nhiên khi năm 2013 đã chứng kiến vai trò của Chính phủ Myanmar trong việc làm gia tăng hận thù tôn giáo trong cả nước, số người bị mất nhà cửa do xung đột trong nước gia tăng, nạn chiếm đoạt đất đai tăng mạnh, và đất nước này tiếp tục suy yếu với hầu hết các chỉ số kinh tế và xã hội toàn cầu đều chạm đáy.

Những vòng quay trong quá trình quá độ tại Myanmar đang chuyển động, sự tiến bộ đang dần đạt được, nhưng những trở ngại vẫn còn tồn tại trước khi quá trình cải cách hiện thực hóa được tiềm năng của nó. Hầu như không có ai tranh luận về những tiến bộ này – theo một nghĩa nào đó, việc không có khả năng tranh luận là điều gì đó làm cho nó trở thành một công cụ mang tính giọng điệu hiệu quả.

Tuy nhiên, có rất ít tranh luận về việc liệu cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội hiện tại – và những đề xuất để tăng cường hệ thống đó – thực sự có thể thực hiện được trong thời gian dài hay không. Hơn nữa, việc hàng loạt nhà hoạch định chính sách đang nói đãi bôi về sự cần thiết phải đầu tư có trách nhiệm và đạt được sự tiến bộ về vấn đề nhân quyền đã làm cho một vấn đề lớn nhất bị gạt sang một bên, đó là: liệu có hay không sự kết hợp chiến lược cải cách hiệu quả nhất để thực hiện mục tiêu đã được tuyên bố của Tổng thống Myanmar Thein Sein về tăng trưởng toàn diện và xoá đói giảm nghèo?

Việc mở cửa các thị trường ngoại hối, củng cố tỷ giá hối đoái của đất nước và những nỗ lực làm cho hoạt động của Quốc hội Myanmar minh bạch hơn là tất cả những bước đi được hoan nghêrih để thoát khỏi chủ nghĩa biệt lập, một chính sách mà do đó Myanmar đã trở thành đất nước tai tiếng dưới sự cai trị trực tiếp của quân đội. Tuy nhiên, nguy cơ của việc tập trung vào những thành công nổi bật như vậy có thể dễ dàng bóp méo thực tế cuộc sống của đa số người dân Myanmar.

Sự phấn khích được tạo ra bởi những cuộc cải cách này đã cho phép cộng đồng quốc tế tập trung nhiều hơn vào những người đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị bỏ mặc, những người đang tiếp tục sống trong đau khổ dưới một chính phủ gần giống dân sự được quân đội ủng hộ ở đất nước này. Cần lưu ý rằng “những trở ngại vẫn còn tồn tại” phần lớn được đề cập ở một mức độ tương đối thận trọng khi thảo luận về quá trình chuyển đổi đầy tham vọng của Myanmar.

Rõ ràng, tự bản thân vấn đề này là vô vị, nhạt nhẽo chứ không phải là sâu sắc. Điều thu hút mọi người về việc “những trở ngại” này chính xác là gì – và những trở ngại đó đang ngăn cản những thành tựu gì – đang dần sáng tỏ hơn. Rõ ràng, một số trở ngại lớn nhất có liên quan đến việc thực hiện chiến lược cải cách kinh tế và xã hội mà đất nước này đang tiến hành – không thể không nhắc tới những cuộc xung đột sắc tộc triền miên đang diễn ra, tình trạng người dân bị mất chỗ ở, tình trạng giam giữ một cách chuyên quyền độc đoán, vấn đề lao động cưỡng bức, và bạo lực giới, vẫn đang diễn ra tràn lan tại nhiều khu vực khác nhau ở Myanmar.

Một sự đánh giá thẳng thắn hơn có thể nhấn mạnh rằng “những trở ngại” đang tồn tại sẽ phải mất nhiều năm để giải quyết thông qua các cuộc thảo luận, cải cách thể chế, giáo dục và tái cân bằng xã hội. Đó là, nếu mục đích thực sự của cuộc cải cách là cải tạo cuộc sống của đa số người dân nghèo Myanmar. Trong khi đó, toàn bộ quá trình tự do hóa nền kinh tế của Myanmar và những lợi ích từ quá trình này vẫn đang diễn ra một cách “nhỏ giọt”.

Sự lựa chọn và sự vô trách nhiệm

Như các tổ chức quốc tế, từ Ngân hàng Thế giới cho đến Liên minh châu Âu (EU) đã nhấn mạnh, mối quan ngại rõ ràng nhất là tình trạng thiếu năng lực thể chế và cơ sở hạ tầng để có thể thực hiện hiệu quả quá trình cải cách trên phạm vi rộng lớn với tốc độ nhanh chóng nhưng nguy hiểm như vậy. Cộng đồng quốc tế đã chỉ ra rằng hoạt động của Quốc hội Myanmar là bằng chứng cho thấy sự tiến bộ trong lĩnh vực này là đáng kể. Tuy nhiên, việc thông qua một dự luật và một thể chế hoạt động hiệu quả là hai vấn đề rất khác nhau.

Chẳng hạn, việc “nhổ tận gốc” một nền văn hóa tham nhũng đã lây lan ở khắp các cấp trong cơ cấu xã hội của đất nước Myanmar sẽ mất nhiều thời gian hơn việc thông qua dự luật chống tham nhũng – mặc dù, nhiệm vụ này đã được cho là sẽ mất khoảng một năm. Việc đầu tư không đúng mức cho giáo dục kéo dài trong nhiều thập kỷ đã gây ra tình trạng thể chế hóa vấn đề tham nhũng như một phương sách cuối cùng để đạt được tiến bộ kinh tế do thiếu nguồn nhân lực. Việc kiên trì chống lại văn hóa tham nhũng chỉ là một trong hàng chục mục tiêu mà chính phủ trung ương đã bị căng sức của Myanmar nêu rõ trong kế hoạch mang tên Khuôn khổ các cải cách kinh tế và xã hội (FESR).

Trong khi sự kết hợp chính sách được nêu trong FESR có hiệu lực trên giấy tờ, thì sự mong chờ một cơ quan dân sự, một bộ máy chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp nhanh chóng điều chỉnh các quy định phi chính thức và điều lệ đã được thể chế hoá trong nhiều thập kỷ của chế độ quân sự là tín hiệu lạc quan nhất. Tuy nhiên, việc nỗ lực đạt được điều này trong khoảng thời gian mà ngay cả những quốc gia có tiềm lực nhất cũng sẽ cố gắng thực hiện, lại là sự vô trách nhiệm. Nói đó là sự vô trách nhiệm là bởi vì Myanmar chỉ có thể được coi là đạt được các mục tiêu thông qua việc đưa ra những bằng chứng có chọn lọc về sự thay đổi thực sự.

Sự chọn lọc này dẫn đến việc thúc đẩy những tranh luận nhằm mục đích thực hiện một mô hình tăng trưởng kinh tế cụ thể, bằng cách tạo ra những thay đổi không thể đảo ngược đối với cơ cấu kinh tế và xã hội của đất nước. Do vậy, đến nay cộng đồng quốc tế đã lựa chọn xem xét quá trình cải cách ở Myanmar thông qua lăng kính về thủ đô Naypyidaw. Việc sử dụng rất nhiều dự luật lập pháp đã được thông qua và các uỷ ban đã được hình thành tại thủ đô mới là bằng chứng của sự thay đổi cả về luật pháp và trên thực tế. Nếu nạn tham nhũng đang được giải quyết trên danh nghĩa, nếu Quốc hội Myanmar đang hoạt động theo một cách minh bạch hơn, và nếu một số tù nhân chính trị cụ thể được thả tự do, thì sự tiến bộ của đất nước này có được công nhận hay không?

Sự đơn giản của lập luận này là những gì khiến nó trở nên hấp dẫn. Nó cho phép bào chữa cho những nhà quan sát thiếu vô tư về trách nhiệm điều tra bản chất giả dối của những điều đang được tranh luận – một nhiệm vụ đặc biệt khó khăn ở Myanmar. Trong việc thúc đẩy luận đề này, không gian được tạo ra để thực hiện một mô hình tăng trưởng dựa trên quan điểm cho rằng việc tạo ra sự giàu có là tiền đề cần thiết cho sự phát triển xã hội, qua đó những tiếng nói của cuộc đấu tranh vì sự bất đồng chính kiến được lắng nghe.

Sự công nhận của cộng đồng quốc tế đối với quá trình cải cách của Myanmar phần lớn đã được cụ thể hóa trong các hình thức đầu tư đã được tăng cường – đầu tư trực tiếp nước ngoài ước tính tương đương tốc độ tăng trưởng hàng năm trong ba năm qua là 316% – và việc ký kết các thỏa thuận thương mại song phương, cùng sự gia tăng mạnh mẽ phạm vi các lĩnh vực đem lại những khoản lợi nhuận lớn cho giới doanh nghiệp do những nhân tố liên quan đến quân đội dẫn dắt ở Myanmar. Các nước phương Tây cũng đã dỡ bỏ hoặc đình chỉ các lệnh trừng phạt kinh tế mà họ từng áp đặt chống lại chính quyền quân sự Myanmar trước đây.

Tất cả những yếu tố này dù ở mức độ nhiều hay ít đều cần thiết cho một nền kinh tế đang bắt tay vào quá trình chuyển đổi tương đối lớn như của Myanmar. Không phải một nền kinh tế đã gia tăng thị trường hóa, cũng không phải chính bản thân sự tham gia rộng rãi hơn của các cộng đồng kinh doanh trong khu vực và toàn cầu gây ra một mối đe dọa đối với tương lai thịnh vượng hơn cho người dân Myanmar.

Tuy nhiên, nguyên nhân gậy quan ngại chính là mô hình phát triển – trong đó những yếu tố nêu trên là các vấn đề chủ chốt – vẫn là điều nổi bật nhất, bất chấp những vấn đề phổ biến mà nhiều nước kém phát triển tương tự đã đối mặt.

Trong khi không thể phủ nhận những thành công nhất định của các nước láng giềng như Việt Nam và Campuchia nhờ việc thực hiện tự do hóa thương mại theo hướng dựa vào xuất khẩu, sự tán dương đối với cả hai nước này có xu hướng nghiêng về việc đánh giá những chỉ số quan trọng hàng đầu như tăng trưởng GDP và tỷ giá hối đoái mà họ đã tạo ra. Một nhà quan sát với ý kiến chỉ trích có thể chỉ ra các khía cạnh bất lợi của những chính sách này – chẳng hạn như việc thiếu những sự liên kết nhiều chiều và thiếu những việc làm trong nước được tạo ra bởi các khu chế xuất của Campuchia, hoặc sự gia tăng mức chênh lệch thu nhập ở Việt Nam – như bằng chứng về việc làm thế nào để “sống chung” với một mô hình tăng trưởng kinh tế đã gây ra các vấn đề xã hội không lường trước được, điều mà chính phủ các nước này đã phải nỗ lực để giải quyết.

Trong trường hợp của Myanmar, sự tư vấn chính sách được đưa ra bởi các tổ chức tài chính quốc tế, các chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp – ở các mức độ khác nhau – là những cam kết thể hiện sự nhiệt tình đối với mô hình tương tự này, một mô hình mà Myanmar dường như đã áp dụng mà không gặp phải vấn đề gì. Tuy nhiên, việc áp dụng mù quáng đó gây ra hai vấn đề chính.

Thứ nhất là sự thu hẹp liên tục không gian mà trong đó các chính phủ có thể hoạt động nếu họ muốn được tham gia các thị trường toàn cầu. Thứ hai là sự thiếu vắng những ý tưởng mới để giải quyết các nhu cầu của một bộ phận trong số những người nghèo khổ nhất thế giới về mặt kinh tế và xã hội.

Tiến lên trên những con đường mi

Rất nhiều điều đã được Myanmar thực hiện để trở thành “biên giới cuối cùng” của châu Á – một cơ hội tạo điều kiện cho sự phát triển chủ nghĩa tư bản bám rễ, đồng thời mở ra hàng loạt cơ hội thị trường cho cả doanh nghiệp trong và ngoài nước. Những trữ lượng tài nguyên thiên nhiên quốc gia, vị trí địa lý chiến lược, và nguồn lao động giá rẻ đều là tiềm năng cho việc kết hợp chính sách đúng đắn nhằm tạo ra sự tăng trưởng GDP lành mạnh tại Myanmar – điểm khởi đầu cho chiến lược được FESR tán thành.

Một khi những nền móng cơ bản cho nền kinh tế mới dựa vào thị trường của Myanmar đã được đưa vào đúng vị trí, Chính phủ Myanmar có thể thực thi các quy định pháp luật hiệu quả hơn, và – như đã được nêu trong báo cáo “Kinh doanh” mới đây của Ngân hàng Thế giới – hình thành một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn. Việc giải quyết các vấn đề phát triển xã hội sẽ trở nên dễ dàng hơn với các khoản thu được tạo ra từ quá trình này, do đó, thuyết tự do hóa thị trường sẽ phát huy hiệu quả.

Tuy nhiên, cách làm việc của cả Quốc hội Myanmar lẫn lĩnh vực tư nhân của nước này chứng tỏ cần có sự phối hợp của chính sách kinh tế vĩ mô và chính sách xã hội, trong đó chính sách xã hội không thể là một sự phụ trợ của chính sách kinh tế vĩ mô. Để thực hiện được điều này, theo cách nói của các chuyên gia kinh tế, cần phải tìm kiếm một chiến lược kinh tế khác biệt với mô hình “con đường phụ thuộc” mà nhiều quốc gia kém phát triển vẫn duy trì trong thời gian dài.

Việc đầu tư vào các hoạt động tạo công ăn việc làm – điều giúp xây dựng cả các năng lực sản xuất của lực lượng lao động và các thị trường nội địa mới ra đời trong quá trình này – hiện không được thực hiện – rõ ràng là do sự yếu kém phổ biến trong lĩnh vực công và những năng lực của các cơ quan dân sự nêu trên. Điều này đặt ra vấn đề liệu chiến lược cải cách hiện nay có phải là có lợi nhất cho điều quan trọng nhất là sự phát triển lâu dài của Myanmar, hay không?

Việc giảm tốc các cuộc cải cách và dành thời gian cần thiết để giải quyết các vấn đề mang tính hệ thống nhất định – chẳng hạn như sự độc lập của ngành tư pháp, cải cách hiến pháp và tình trạng thiếu năng lực ở mọi cấp của chính quyền trung ương và địa phương – rất cần cho việc tạo ra một nhà nước phục vụ người dân thay vì phục vụ chính bản thân nhà nước đó. Việc đòi hỏi lĩnh vực công của Myanmar tạo ra công ăn việc làm, cung cấp dịch vụ y tế và giáo dục, cũng như cải thiện hiệu suất doanh thu bằng cách xây dựng một hệ thống thuế công bằng là điều vô cùng tham vọng nhưng hoàn toàn cần thiết, nếu chỉ để mang lại một sự thay thế cho việc tự do hóa toàn bộ nhằm tạo ra tăng trưởng công nghiệp.

Hoạt động công nghiệp hóa đã dẫn đến sự bất bình đẳng sâu sắc về tài chính, và chắc chắn sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề di dân từ nông thôn ra thành thị do việc bổ sung thêm các sinh kế nông nghiệp trở nên khó khăn hơn. Vê vấn đề này, lập luận rằng trọng tâm chính của chính phủ nên loại bỏ sự “quan liêu” trong lĩnh vực kinh doanh, cần được xem xét kỹ lưỡng.

Không thể phủ nhận rằng vai trò của nhà nước trong kinh doanh phải được tiến hành thay đổi một cách có hệ thống. Đã từ rất lâu, nhà nước Myanmar đã tiếp cận khu vực tư nhân như một biện pháp mở rộng mạng lưới bảo trợ của riêng mình. Tuy nhiên, điều đang gây tranh cãi – đối với các tổ chức tài chính quốc tế, cộng đồng doanh nghiệp quốc tế, và Myanmar – là việc giảm bớt các cơ chế điều hành là nhằm mục đích cố tình bỏ qua những yếu tố đó trong nền kinh tế chính trị của Myanmar, điều có thể gây nguy hại cho sự tăng trưởng của một thị trường lao động đang hoạt động hiệu quả. Sự thiếu vắng một đạo luật quy định mức lương tối thiểu, và việc Myanmar không sẵn sàng phê chuẩn các công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế để xây dựng các quyền lao động cơ bản, là điều hợp lý. Tạo ra công ăn việc làm theo cách mang lại những cơ hội cho phần lớn lực lượng lao động của Myanmar sẽ là điều rất cần thiết để tạo ra một thời kỳ tăng trưởng kinh tế bền vững, vì điều đó sẽ giúp cho lực lượng lao động hiện đang bị hạn chế quyền hạn được bày tỏ những ý kiến bất đồng của họ.

Việc tạo ra hàng trăm hàng nghìn công ăn việc làm nhưng với sự lặp lại các điều kiện vô nhân đạo hiện đang phổ biển trong các khu công nghiệp của Yangon, có thể gia tăng tăng trưởng GDP và tăng tỷ giá hối đoái nhưng sẽ không thể cải thiện thực tế cuộc sống của các công nhân trong nhà máy.

Các diễn đàn như Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) từ lâu đã lập luận rằng nếu các quốc gia kém phát triển nhất trên thế giới nghiêm túc với việc đạt được sự phát triển như đã cam kết bởi các tổ chức như Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á, thì việc nhận thức được rằng vai trò của chính quyền trung ương là một chất xúc tác cho sự phát triển lĩnh của vực tư nhân, chứ không chỉ là một công cụ để tạo ra một môi trường “kinh doanh thân thiện,” là điều vô cùng quan trọng.

Như đã được lập luận trong báo cáo Các quốc gia kém phát triển nhất năm 2013 của UNCTAD, có một khuyến cáo nổi bật được đưa ra cho các chính phủ là đầu tư vào các hoạt động trong những lĩnh vực không thể mua bán (chẳng hạn như cơ sở hạ tầng, giáo dục, nhà ở, y tế và hành chính công) như là một biện pháp không chỉ để tạo việc làm, mà còn xây dựng khả năng sản xuất của nền kinh tế. Do đó sẽ có thể đạt được một kết quả tốt hơn thông qua sự thể hiện được cải thiện trọng các số liệu thống kê như chỉ số phát triển con người, sự kích thích của thị trường trong nước và điều kiện kinh tế-xã hội tốt hơn đối với phần lớn đất nước.

Không có chiến lược kiểu mẫu tối ưu nào cho Myanmar để theo đuổi mong muốn phát triển của họ. Theo chuyên gia kinh tế Dani Rodrik thuộc Đại học Princeton, việc hiểu được những tiềm năng và cơ hội tồn tại trong một nền kinh tế chính trị nhất định chính là một quá trình khám phá. Việc khai thác những gì hiệu quả nhất sẽ mang lại sự thay đổi kinh tế xã hội có ý nghĩa và lâu dài tại Myanmar, bắt đầu với việc đòi hỏi phải có một cách tiếp cận tinh tế hơn với quá trình “trỗi dậy” – một trong những đòi hỏi đó phải có sự thay đổi mang tính hệ thống, và không được mù quáng tuân theo một mô hình đã không thực hiện được những cam kết của riêng nó về sự phát triển do tự do hóa dẫn dắt.

* * *

Cũng theo Thời báo châu Á trực tuyến, Myanmar dường như đang thực hiện những nỗ lực nhằm cải thiện hình ảnh của mình trên trường quốc tế trước khi kết thúc năm 2013. Mới đây, Bộ Thông tin Myanmar thông báo rằng đài BBC của Anh cùng với ba cơ quan thông tấn quốc tế khác đã được cấp phép chính thức mở văn phòng đại diện mới tại Myanmar.

Trong một thông báo với giới báo chí, ông Peter Horrocks, Trưởng Ban Tin tức Toàn cầu của của BBC cho biết: “Thật khó để cường điệu tầm quan trọng của những tin tức này, và cũng không có gì ngạc nhiên về tốc độ thay đổi ở một đất nước mà từ lâu đã là một điển hình cho việc đàn áp và kiểm duyệt các phương tiện truyền thông”.

Sự đàn áp và kiểm duyệt, cùng với các cuộc xung đột sắc tộc thường xuyên, đã gây ra những trở ngại lớn trên con đường dài hướng tới một nền dân chủ ở đất nước Myanmar.

Trong một cuộc họp giữa Liên minh châu Âu (EU) và các quan chức Myanmar, EU đã cam kết hỗ trợ lên đến 90 triệu euro mỗi năm cho các hoạt động phát triển nông thôn, giáo dục, quản lý và xây dựng hòa bình trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2020.

Phát biểu trên Đài tiếng nói Dân chủ Myanmar, ủy viên châu Âu về Phát triển, ông Andris Piebalgs cho biết: “Những diễn biến đang diễn ra tại Myanmar là chưa từng có tiền lệ và cần phải được thừa nhận. Tuy nhiên chúng ta không được quên những thách thức phía trước, mà trong đó EU với tư cách là một trong các nhà tài trợ chính, sẽ ủng hộ bằng việc hỗ trợ nhiều hơn nữa để có thể tiếp tục tiến hành những cuộc cải cách cần thiết ở đất nước này. Điều này sẽ được thực hiện trong khuôn khổ phối hợp hoạt động với các nước thành viên của EU cùng các nhà tài trợ khác, và phù hợp với các kế hoạch riêng của Chính phủ Myanmar”.

Sự hỗ trợ từ EU đối với người Myanmar hiện đang diễn ra. EU đã và đang thực hiện một dự án cải tổ lực lượng cảnh sát trị giá 10 triệu euro. Đại sứ EU tại Myanmar, ông Roland Kobia nói rằng dự án thí điểm này kéo dài 18 tháng, đã được tiến hành cách đây khoảng hai tháng, sẽ huấn luyện cho khoảng 4.000 cảnh sát Myanmar công tác giám sát cộng đồng và “các kỹ năng quản lý đám đông tốt nhất”, cùng với việc tăng cường trách nhiệm của lực lượng cảnh sát Myanmar trong quan hệ với xã hội dân sự và Quốc hội nước này.

Những mối quan tâm chiến lược

Không có gì đáng ngạc nhiên khi EU sẽ cung cấp hình thức hỗ trợ này cho Myanmar. Chủ nghĩa dân tộc theo đạo Phật chống người Hồi giáo ở Myanmar đã trở thành một chất xúc tác nổi bật cho bạo lực kể từ khi chính quyền quân sự chấm dứt cầm quyền vào năm 2011 và đi cùng với điều đó là những cải cách hiến pháp. Tuy nhiên, trong suốt quá trình này, Chính phủ Myanmar đã cố gắng thể hiện tình hình trong nước của họ có vẻ như rất ổn định, trong một nỗ lực nhằm tạo ra cảm giác an toàn và sự tiến bộ cho cộng đồng quốc tế, và đặc biệt là đối với các tập đoàn đa quốc gia.

Trong hai năm qua, Myanmar đã mở cửa một số ngành công nghiệp của nước này. Điều này đã dẫn tới các cuộc đấu thầu quy mô lớn chủ yếu có liên quan đến các công ty nước ngoài. Do Myanmar hy vọng sẽ tăng cường sự hiện diện của các nhà đầu tư nước ngoài nên chính phủ quốc gia Đông Nam Á này chắc chắn sẽ cố gắng giảm thiểu những sự chú ý của nước ngoài đối với các vụ việc bạo lực sắc tộc-tôn giáo ở trong nước.

Những ảnh hưởng xã hội

Tuy nhiên, bất chấp những sự cải thiện trong nền kinh tế và cơ sở hạ tầng của đất nước Myanmar, một số tổ chức đang nêu lên những quan ngại rằng chính phủ nước này không làm tròn những nghĩa vụ của mình đối với vấn đề nhân quyền. Hôm 26/11 vừa qua, ủy ban nhân quyền của Liên hợp quốc đã thông qua một nghị quyết thường niên về tình hình Myanmar, trong đó hoan nghênh việc thả tự do cho rất nhiều tù nhân chính trị và lời cam kết của Tổng thống Myanmar Thein Sein rằng toàn bộ các “tù nhân lương tâm” của nước này sẽ được thả tự do vào cuối năm 2013. Tuy nhiên, nghị quyết này cũng bày tỏ “quan ngại về việc vẫn còn tồn tại các vụ vi phạm nhân quyền, trong đó có những vụ bắt giữ tùy tiện và giam giữ các nhà hoạt động chính trị cũng như những nhà bảo vệ nhân quyền, cưỡng chế di dời, tịch thu đất đai, hãm hiếp và các hình thức bạo lực tình dục, tra tấn, đối xử tàn ác, vô nhân đạo”.

Ngoài ra, các báo cáo của tổ chức Theo dõi Dân tộc học đã lưu ý rằng những căng thẳng sắc tộc và tôn giáo sâu xa ở Myanmar rất khó che giấu, bất chấp những nỗ lực ở mức cao nhất của chính quyền nước này. Hiện có một xu hướng ở nhiều quốc gia xung đột đó là che giấu các vấn đề về sắc tộc của họ trong một nỗ lực nhằm duy trì một “bộ mặt ổn định” đối với cộng đồng doanh nghiệp quốc tế. Tuy nhiên, nếu những sự mâu thuẫn cơ bản không được giải quyết thì thay đổi về vẻ bề ngoài không thể làm gì để chấm dứt các vụ bạo lực rải rác đang nhen lên thành làn sóng bạo lực.

Điều này đặc biệt đúng khi những căng thẳng tiềm ẩn ở Myanmar đang trở nên trầm trọng hơn và không thể dập tắt, do những cuộc cải cách mà đất nước này đang thực hiện. Để tạo thêm không gian cho các nhà máy, cảng biển và các doanh nghiệp sắp có mặt ở Myanmar, chính phủ nước này đã phải tịch thu đất đai có giá trị và di dời một số lượng đáng kể người dân – thường là chuyển những người trong một nhóm tôn giáo/sắc tộc vào các khu vực của những nhóm tôn giáo/sắc tộc khác.

Tình trạng này khiến chúng ta phải xem xét rằng liệu những tin tức tốt đẹp được nêu ra ở trên về tiền bạc và phương tiện truyền thông từ phương Tây, trên thực tế có thể là những tin xấu cho những nhóm người đã bị làm đảo lộn cuộc sống bởi những cuộc cải cách gần đây. Đến nay vẫn còn một vấn đề xã hội nan giải khác đang diễn ra tại Myanmar, được các nhà nghiên cứu của tổ chức Theo dõi Dân Tộc học chỉ ra, và là điều có thể dẫn đến nhiều vụ việc căng thẳng hơn.

Khoảng 90% dân số của đất nước Myanmar là người theo đạo Phật, và các cơ cấu quản lý hậu cải cách của nước này phản ánh tình trạng đa số dân Myanmar là người theo đạo Phật. Hơn nữa, các tổ chức Phật giáo và các hệ thống đức tin là lực lượng dẫn đường trong các cuộc biểu tình chống chính phủ và các phong trào cải cách mà hai năm trước đã dẫn đến sự ra đi của chế độ độc tài quân sự ở Myanmar.

Những nhà hoạt động là các tăng lữ được coi là các nhà lãnh đạo tinh thần của đất nước Myanmar và cũng là những nhà giải phóng chính trị của nước này. Họ được coi trọng cả trong và ngoài nước vì ngay cả cộng đồng quốc tế cũng chịu ơn họ.

Tuy nhiên, hiện nay, dường như họ đang dồn hết năng lượng của mình để chống lại các nhóm sắc tộc thiểu số đang sinh sống trong nước, đặc biệt là nhóm sắc tộc Hồi giáo Rohingya. Mặc dù những sự bất bình của họ, như chúng ta đã thấy ở trên, cũng có thể là khá hợp lý, nhưng những cáo buộc và các chiến thuật kích động của họ phần lớn được thể hiện trên những cơ sở của vấn đề sắc tộc.

Điều này có nguy cơ biến họ từ những anh hùng nhân quyền thành những kẻ chống nhân quyền, vấn đề nan giải này cũng có nguy cơ phát triển theo hướng tăng dần và gây ra nhiều khó khăn hơn cho giới chức cầm quyền mới ở Myanmar cũng như cộng đồng quốc tế./.

2182. Kiến nghị số 01 của LS Trần Vũ Hải về chợ Túc Duyên

 

 

0001

0002

0003

0004

2183. THÔNG BÁO THÀNH LẬP BAN VẬN ĐỘNG HIỆP HỘI DÂN OAN VIỆT NAM

Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Việt Nam, Ngày 31 tháng 12 năm 2013.

THÔNG BÁO THÀNH LẬP BAN VẬN ĐỘNG HIỆP HỘI DÂN OAN VIỆT NAM

Kính gửi:        Những Dân oan Việt Nam

     Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng

     Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình

Chúng tôi, những người có tên dưới đây thông báo như sau:

 

1. Theo Điều 25 Hiến pháp được Quốc hội nước Việt Nam thông qua ngày 28/11/2013 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2014, “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp và lập hội, biểu tình.” và không ai có quyền ngăn cản các quyền tự do đó nếu không có những căn cứ được quy định trong Hiến pháp này.

2. Để thực hiện Quyền tự do lập hội, chúng tôi quyết định thành lập Ban vận động Hiệp hội Dân oan Việt Nam.

3. Chúng tôi nhất trí suy tôn bà Lê Hiền Đức (sinh ngày 12/12/1932), một nhà giáo hưu trí, tích cực đấu tranh bảo vệ dân oan, chống tham nhũng, người đoạt Giải thưởng Liêm chính năm 2007 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, làm:

– Chủ tịch Ban vận động Hiệp hội Dân oan Việt Nam.

– Chủ tịch danh dự Hiệp hội Dân oan Việt Nam.

4. Chúng tôi, những người tham gia Ban vận động Hiệp hội Dân oan Việt Nam, là nạn nhân của việc các cơ quan công quyền tại Việt Nam không thực hiện đúng pháp luật, không đảm bảo quyền Con người, quyền Công dân theo pháp luật Việt Nam và các Công Ước Quốc tế mà Việt Nam tham gia. Những việc làm trái pháp luật, vi phạm quyền Con người này đã xâm hại nghiêm trọng đến cuộc sống, việc làm, tài sản, kinh doanh của chúng tôi. Chúng tôi biết rằng, còn có hàng trăm ngàn, thậm chí hàng triệu người khác tại Việt Nam cũng là nạn nhân như chúng tôi. Chúng tôi thấy cần liên kết thành một hội giống như “Hội nạn nhân chất độc màu da cam” để cùng nhau bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo đúng pháp luật Việt Nam và Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Chúng tôi tin rằng, Nhà nước Việt Nam sẽ khuyến khích thành lập Hiệp hội Dân oan, để góp phần đảm bảo dân chủ và dân sinh tại Việt Nam.

5. Những người là nạn nhân của việc không đảm bảo quyền Con người, quyền Công dân từ các cấp chính quyền, cơ quan pháp luật do không thực hiện đúng pháp luật Việt Nam và Công Ước quốc tế mà Việt Nam tham gia đều có thể làm thành viên của Hiệp hội.

6. Tuy nhiên, để việc thành lập Hiệp hội đúng Pháp luật Việt Nam, chúng tôi đề nghị ông Chủ tịch Quốc hội và ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn chúng tôi cách thức thành lập Hiệp hội.

7. Trong vòng 60 ngày, từ ngày 01/01/2014 đến 02/03/2014, nếu chúng tôi không nhận được hướng dẫn của ông Chủ tịch Quốc hội và ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ về viêc thành lập Hiệp hội, thì Hiệp hội Dân oan đương nhiên được thành lập từ ngày 03/03/2014, Ban vận động Hiệp hội Dân oan sẽ trở thành Ban chấp hành Hiệp hội Dân oan, những người đăng ký làm thành viên sẽ trở thành thành viên Hiệp hội Dân oan.

8. Những thành viên Ban vận động Hiệp hội Dân oan sẽ được bổ sung trong thời gian tới.

9. Thông báo này sẽ được coi là Thông báo số 01 của Ban vận động Hiệp hội Dân oan Việt Nam. Chúng tôi sẽ có những Thông báo tiếp theo trong thời gian sắp tới.

Những người khởi xướng (đồng thời là thành viên đầu tiên của Ban vận động thành lập Hiệp hội Dân oan):

1. Lê Hiền Đức – Chủ tịch Ban vận động,

Địa chỉ: Nhà số 7, ngõ 56,  Phố Pháo Đài Láng, Đống Đa, Hà Nội.

2. Nguyễn Xuân Ngữ – Thường trực Ban vận động – 0966701379

Địa chỉ: Phòng C9 nhà số 41 đường Tân Nhơn Phú, P.Phước Long B, Quận 9. Tp.Hồ Chí Minh

3. Lê Văn Lung

Địa chỉ: Số 9 Trần Não, P.Bình An, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh.

4. Nguyễn Thị Kim Phượng

Địa chỉ: 13/26/9 Khu phố 1, P.Bình An, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh.

5. Đặng Văn Dật

Địa chỉ: Xóm 1 xã Xuân Quan, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

6. Đạm Văn Đồng

Địa chỉ: Xóm 10 xã Xuân Quan, huyện Văn Giang, tỉnh Hứng Yên.

Thay mặt Ban vận động Hiệp hội Dân oan Việt Nam

                                                                                                      Nguyễn Xuân Ngữ

 

Sự thật lịch sử và quyền lợi dân tộc – HẾT MIẾNG NẠC, các ông lớn BÁN MIẾNG XƯƠNG thế nào?


Sự thật lịch sử và quyền lợi dân tộc

Năm 2007, trong khi tình hình quan hệ Việt-Trung vẫn tiếp tục có những diễn biến phức tạp, được biết có một quyển sách do NXB Lao Động vừa ấn hành xong thì có lệnh thu hồi. Sách này tập hợp những bài viết của một tác giả chuyên khảo về sử địa-văn hóa Việt Nam và khu vực Đông Á-Đông Nam Á, không có một lời nào chỉ trích Trung Quốc, nhưng chỉ vì có một bài viết liên quan đến cuộc đăng quang năm 2000 của tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Trần Thủy Biển vốn bị Trung Quốc công kích kịch liệt vì chủ trương “Đài Loan độc lập” của ông này. Việc thu hồi quyển sách như vậy đã được thực hiện vội vã bởi một lý do khá mong manh, có lẽ xuất phát từ những chuyện nhạy cảm về ngoại giao giữa hai bên tranh chấp.

 

Trước đó một năm, khi chủ biên-hiệu đính quyển Từ điển Lịch sử Trung Hoa (NXB Thanh Niên, 2006) vốn được biên soạn căn cứ chủ yếu vào một sách chữ Hán có đề tài tương tự do Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã ấn hành năm 1996, đến mục từ “Cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979”, chúng tôi đã tự động bỏ bớt trước khi qua khâu biên tập chính thức của NXB, vì biết đây thuộc vấn đề nhạy cảm, nội dung lại nói đại khái Việt Nam gây hấn và Trung Quốc cần phải “dạy cho chúng bài học”… Tuy có thể viết lại mục từ này theo một cách trình bày khác, trung thực hơn, nhưng suy đi nghĩ lại, đã quyết định bỏ đi để khỏi sinh phiền. Thật ra, chúng tôi đơn giản chỉ biên dịch thôi chứ chưa hẳn viết sử, nhưng trong một quyển lịch sử Trung Quốc mà bỏ qua giai đoạn chiến tranh biên giới Việt-Trung (các năm 1979, 1988…) thì rõ ràng là thiếu, và những người biên soạn như vậy coi như cũng không làm tròn trách nhiệm đối với độc giả.

 

Nhắc lại vài câu chuyện nho nhỏ trên đây để bây giờ chúng ta cũng có phần nào thông cảm với những người biên soạn sách giáo khoa về môn Lịch sử, khi họ, vì những lý do tế nhị tương tự, cũng đã bỏ qua một nội dung quan trọng khiến cho thế hệ trẻ ngày nay, hầu như không ai biết gì về cuộc chiến tranh đó cả, hoặc chỉ biết một cách rất lờ mờ khi có ai tò mò tìm đọc những bài viết không chính thức trên mạng Internet.

Nói “thông cảm” vì thật ra những người có trách nhiệm viết sử giáo khoa chẳng phải hèn nhát gì mà không dám viết ra sự thật, nhưng có thể do không được phép, hoặc do ảnh hưởng, cách suy diễn từ những chỉ thị, hướng dẫn gì đó của cơ quan ban ngành cấp trên được phát ra theo một quan điểm hay cách nhận thức nhất định nào đó của một số quan chức có trách nhiệm hữu quan.

 

Thời gian mấy tháng gần đây, do tình hình diễn biến ngày một khác đi trong mối bang giao Trung-Việt, sau một thời gian dài phía Việt Nam gần như giấu giếm, cuộc chiến tranh Việt-Trung khởi từ tháng 2. 1979 mới được khơi lại một cách công khai trên một số phương tiện truyền thông, đi cùng với việc một số bậc thức giả đặt vấn đề cần phải đưa đầy đủ vào sử sách những nội dung liên quan đến cuộc chiến đấu dũng cảm bảo vệ biên giới năm 1979 của nhân dân Việt Nam.

 

Cho tới nay, sách giáo khoa môn Lịch sử của Việt Nam chỉ có không đến 10 dòng viết về cuộc chiến tranh biên giới, mà theo GS Vũ Dương Ninh (người tham gia biên soạn bộ sách giáo khoa lịch sử hiện hành) thì cách nay 7-8 năm, “đưa được chừng ấy dòng vào sách giáo khoa cũng là một sự quyết tâm của các tác giả” (xem Tuổi Trẻ, 20.2.2013).

Ở đây có một vấn đề chung hết sức phức tạp đối với mọi người làm sử trong bối cảnh lịch sử cụ thể hiện tại, đó là mối quan hệ giữa sự thật lịch sử và quyền lợi dân tộc. Nếu việc nói lên sự thật như một đòi hỏi tất yếu của khoa học lịch sử mà có phương hại cụ thể đến quyền lợi quốc gia, trong điều kiện mối quan hệ đặc thù giữa hai nước như trong trường hợp Trung Quốc với Việt Nam thì người viết sử có thể làm được những gì?

Nói chung, về cơ bản cũng phải tôn trọng sự thật lịch sử.

 

Các sử gia Trung Quốc, vì những lý do thuộc về chính trị, có lẽ họ cũng vấp phải những trục trặc ngoài ý muốn khi bắt buộc phải xuyên tạc lịch sử theo ý đồ chính trị của nhà cầm quyền. Vài quyển lịch sử Việt Nam do người Trung Quốc gần đây viết bằng chữ Hán, như Việt Nam thông sử của Quách Chấn Đạc-Trương Tiếu Mai xuất bản năm 2001 đã cố ý giải thích sai một số sự kiện lịch sử, như cho Việt Nam đã trở thành đất đai của các vương triều Trung Quốc dưới thời Bắc thuộc, nên những cuộc nổi dậy của Trưng Trắc, Lý Bí, Khúc Thừa Dụ… đều bất hợp pháp, là hành động phản loạn nhằm thiết lập chính quyền phong kiến cát cứ, tách khỏi đại gia đình đa dân tộc thống nhất Hoa Hạ (xem bài viết của Trần Nghĩa, Tạp chí Hán Nôm, 2(63), 2004, tr. 64). Riêng trong cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung, sự xuyên tạc còn trắng trợn hơn khi các sách giáo khoa môn Sử cũng như các phương tiện thông tin tuyên truyền khác đều dạy cho học sinh và mọi người Trung Quốc rằng “đường lưỡi bò” chín đoạn trên biển Đông thuộc chủ quyền Trung Quốc, còn Việt Nam là nước chủ động xâm lăng Trung Quốc nên Trung Quốc cần phải tự vệ và “dạy cho chúng bài học”…

Ở đây, rõ ràng, vì quyền lợi dân tộc hẹp hòi mà đã cố ý bóp méo sự thật lịch sử, bất chấp việc làm như thế chỉ có lợi cho ý đồ xâm lược (chưa chắc thành công) mà không thấy cái hại lâu dài là sự giả dối vì lợi ích chính trị nhất thời sẽ dần dần làm biến dạng những đức tính tốt đẹp cố hữu của nhân dân Trung Quốc, thứ vốn xã hội cần thiết để dân tộc Trung Quốc có thể xây dựng tương lai cho mình một cách bền vững mà vẫn không cần xâm hại đến những dân tộc khác.

 

Sự bất ổn còn thể hiện ở chỗ có sự nhập nhằng giữa cái chính trị nhất thời với những giá trị nhân bản lâu dài mà một quốc gia cần phải tạo được cho công dân của mình thông qua các hoạt động văn hóa-giáo dục.

Cách làm sai lệch kiểu như trên, có thể nói, không đâu rõ rệt bằng ở nhà cầm quyền Trung Quốc, chính vì thế Việt Nam nên rút bài học từ những kinh nghiệm sai lầm này, trên cơ sở nhận thức rằng văn hóa-giáo dục bao gồm những giá trị lâu dài gắn liền với sự thật chứ không phải với những điều giả dối. Do vậy, khi tính chuyện đưa nội dung cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung vào sách giáo khoa như nhiều người đang đề nghị thì chúng ta cứ mạnh dạn làm sớm, nhưng tuyệt đối không làm theo cách tuyên truyền giả dối kiểu Trung Quốc, nghĩa là chỉ cần viết trung thực, sao cho học sinh nhận biết được sự thật lịch sử khách quan, để từ đó tự tìm ra được nhận thức, thái độ ứng phó thích hợp.

 

Phải thành thật nhận rằng, trong quá khứ, khi hai nước còn thân thiện với nhau, đường lối chính trị hóa triệt để học đường theo kiểu Trung Quốc cũng có ảnh hưởng nhất định tới cách hành xử của Việt Nam trong một số vấn đề thuộc phạm vi giáo dục. Nhớ lại hồi năm 1979, sau cuộc đụng độ ở biên giới Việt-Trung, Bộ Giáo dục Việt Nam đã có văn bản chỉ thị xóa bỏ trong sách giáo khoa văn học tất cả những bài học liên quan đến văn học, văn hóa, đời sống Trung Quốc, như bài “Vịt Bắc Kinh” ở bậc tiểu học, các bài về kinh Thi, Tây du ký… ở bậc trung học. Đến sau, khi hòa hoãn trở lại, những bài học này mới được phục hồi. Việc làm có vẻ ấu trĩ của một thời người ta hầu như không phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa văn hóa-giáo dục với chính trị, và giữa những giá trị phổ biến nhân loại với những lợi ích dân tộc nhất thời.

 

Trong khá nhiều trường hợp, sự chi phối của những quyền lợi chính trị nhất thời đôi khi bất lợi khi đặt toàn bộ vấn đề lợi ích ở mức độ dân tộc hay nhân loại trên một bình diện rộng lớn hơn, và công việc nghiên cứu lịch sử vì vậy trước sau vẫn đòi hỏi tính trung thực, để giáo dục công dân trong nước trước hết sự lương thiện rồi mới đến những phẩm chất khác như yêu nước, yêu lao động…. Trong chiều hướng đúng đắn này, với tầm nhìn xa về lợi ích lâu dài, ngay cả khi cần viện dẫn đến quyền lợi dân tộc, chỉ trong trường hợp quyền lợi đó không chính đáng, phi chính nghĩa, xâm hại đến quyền lợi các dân tộc khác, người ta mới cần đến việc bóp méo sự thật lịch sử như Trung Quốc vẫn thường làm. Còn như đường đường chính chính, không việc gì phải khổ sở uốn cong ngòi bút!

 

Cách viết sử trung thực-khoa học nói chung chỉ cần trình bày đúng các sự kiện như chúng đã diễn ra trong quá khứ rồi kết nối lại thành một trình tự dễ theo dõi mà không nhất thiết phải chêm thêm vào những lời bình luận chủ quan theo hướng tuyên truyền.

 

Nhân nhắc đến những mâu thuẫn giữa Trung Quốc-Việt Nam trong vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa, có liên quan đến cuộc hải chiến anh dũng của quân đội VNCH năm 1974 chiến đấu bảo vệ Hoàng Sa, nhiều người khen ngợi tập hồi ký Can trường trong chiến bại của Hồ Văn Kỳ Thoại là viết khá tốt (tái bản lần thứ nhất ở Hoa Kỳ, năm 2007). Tôi không đủ khả năng thẩm tra độ trung thực tất cả các sự kiện được kể ra trong cuốn sách đó, nhưng phải thành thật nhận rằng, với tư cách là một đô đốc hải quân chỉ huy cuộc hải chiến lúc bấy giờ, tác giả đã trình bày diễn biến cuộc đụng độ Việt-Trung khá đầy đủ chi tiết, xứng đáng được dùng làm sử liệu tham khảo. Còn ở những chuyện khác (ngoài cuộc hải chiến), tác giả cũng chỉ tuần tự kể việc theo ký ức và theo một số tài liệu tham khảo dẫn ở cuối sách, đặc biệt mặc dù thuộc “bên thua cuộc”, ông không hề có một lời lẽ khiếm nhã nào đối với bên thắng cuộc, không vị nể ai mà cũng không có ác ý với ai.

 

Năm ngoái, Hội Sử học Việt Nam có đặt vấn đề lập kế hoạch biên soạn lại một bộ thông sử Việt Nam theo hướng trung thực hơn, vượt ra ngoài những giới hạn của vấn đề ý thức hệ. Thiết tưởng đây là chiều hướng tích cực đáng được thúc đẩy, và có thể nhân cơ hội soạn lại này, chỉnh sửa ngay một số những sự kiện lịch sử sai lạc (như nói Mai Thúc Loan khởi nghĩa năm 722 vì uất ức trong chuyện phải tham gia đoàn người gánh trái vải nộp cống cho nhà Đường…, nói trong Lịch sử lớp 6, tr. 64; hay một số nhận định chưa chính xác về triều Nguyễn, về Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh…), đồng thời đưa thêm những nội dung mới lâu nay kiêng kỵ vì những lý do chính trị này khác, như cuộc hải chiến bảo vệ Hoàng Sa năm 1974, cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung những năm 1979, 1988…

Nếu đã có chính nghĩa đàng hoàng, thì sự thật lịch sử và quyền lợi dân tộc, xét theo hướng lợi ích lâu dài, chẳng những không hề trái nghịch mà còn thống nhất, dung hợp được với nhau một cách hài hòa, biện chứng.

TRẦN VĂN CHÁNH/THEO VHNA

HẾT MIẾNG NẠC, các ông lớn BÁN MIẾNG XƯƠNG thế nào?

Các tập đoàn, tổng công ty (TĐ, TCT) nhà nước đang trầy trật thoái vốn đầu tư ngoài ngành, để kịp về đích đúng hạn trước năm 2015, nếu không muốn bị… tuýt còi.

“Miếng nạc” bán trước

Nếu như trước năm 2013, kết quả thoái vốn đầu tư ngoài ngành của các TĐ, TCT gần như là con số 0, thì kết thúc năm 2013, tình hình đã khác.

“Đến thời điểm này, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã đi được khoảng 2/3 chặng đường thoái vốn đầu tư ngoài ngành, khi đã hoàn tất thoái vốn tại: Tổng CTCP Bảo hiểm SHB-Vinacomin, CTCP Phát triển đường cao tốc BIDV, CTCP Cảng hàng không quốc tế Long Thành, CTCP Bảo hiểm Hàng không…”, ông Nguyễn Văn Biên, Phó tổng giám đốc TKV nói và khẳng định, các thương vụ thoái vốn đều đảm bảo nguyên tắc bảo toàn vốn.

Một số thương vụ có lãi, nhưng không phải do chênh lệch giá bán, mà trong nhiều năm qua, TKV nhận được cổ tức từ các khoản vốn đầu tư.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vừa công bố bán được 25,2 triệu cổ phiếu tại Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) cho CTCP Xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội.

Trong thương vụ này, EVN bảo toàn được vốn khi bán được với giá bằng mệnh giá, thu về 252 tỷ đồng. Tuy nhiên, EVN vẫn còn nắm tới 76.856.018 cổ phiếu ABBank, tương đương tỷ lệ sở hữu 16,02%.

Đại diện Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) cho biết, sau khi được Chính phủ cho phép bán toàn bộ hơn 11% vốn tại CTCK KIS Việt Nam, với giá bằng mệnh giá cho cổ đông lớn nước ngoài tại CTCK KIS Việt Nam là Công ty Đầu tư chứng khoán Hàn Quốc (KIS), Vinatex đang hoàn tất những khâu cuối cùng để kết thúc thương vụ thoái vốn.

Như vậy, về cơ bản, Vinatex hoàn tất thoái vốn đầu tư ngoài ngành, qua đó đẩy nhanh quá trình xác định giá trị DN, để dự kiến chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO) trong quý I/2014.

Tìm hiểu của ĐTCK cho thấy, các thương vụ thoái vốn thành công đến thời điểm này, đa phần là những “miếng nạc” dễ bán, bởi so với tiềm năng phát triển của DN, thì mức giá bán bằng mệnh giá là khá hấp dẫn với những NĐT đã gắn bó từ lâu và nắm rõ giá trị DN.

Nói cách khác, với những khoản vốn đầu tư ngoài ngành mà có đối tác đồng ý mua bằng mệnh giá, có nghĩa là bảo toàn được vốn, các “ông lớn” đang ưu tiên bán sớm. Với những khoản đầu tư có nguy cơ bán lỗ, họ đang đợi cơ chế, để không đối mặt với rủi ro bị truy trách nhiệm làm mất vốn nhà nước…

“Khúc xương” chờ cơ chế

Tuy đã thoái xong phần lớn các khoản đầu tư ngoài ngành, nhưng ông Biên cho biết, đến thời điểm này, giá trị các khoản đầu tư ngoài ngành của TKV còn khoảng 400 tỷ đồng. Phần lớn giá trị của khoản đầu tư này đang nằm tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB), phần còn lại tại CTCK Sài Gòn – Hà Nội (SHS), CTCP Đầu tư phát triển khu kinh tế Hải Hà và một quỹ đầu tư chứng khoán. Trong số các khoản đầu tư ngoài ngành mà TKV đang trầy trật thoái vốn, khoản đầu tư vào CTCP Đầu tư phát triển khu kinh tế Hải Hà, DN do Tập đoàn Vinashin chủ trì góp vốn, là khoản “xương” nhất, bởi đối mặt với nguy cơ mất vốn.

Với EVN, việc bán được 25,2 triệu cổ phiếu ABBank chưa giúp giải tỏa được gánh nặng thoái vốn tại ngân hàng này, bởi lượng cổ phiếu chuyển nhượng thành công chỉ chiếm 25% tổng lượng cổ phiếu đang nắm giữ tại ABBank. Với lượng cổ phiếu còn lại lên tới 76.856.018 cổ phiếu ABBank, EVN cũng đang đau đầu tìm đối tác nhận chuyển nhượng.

Trong năm 2013, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) đặt mục tiêu hoàn tất thoái vốn tại CTCK Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIG). Tuy nhiên, Vinachem đã thất bại khi thoái toàn bộ 2,1 triệu cổ phiếu, tương đương 6,13% vốn tại VIG, do thị giá cổ phiếu giảm dưới mệnh giá quá sâu. Đến nay, Vinachem vẫn chưa tiết lộ kế hoạch tái thoái vốn tại VIG.

Trong khi các khoản đầu tư ngoài ngành khá… ngon ăn, đã được các TĐ, TCT thoái xong, thì nhiều khoản dù rất muốn bán, nhưng đang bế tắc do lỗ, thậm chí lỗ lớn.

Để giải tỏa nút thắt này, tại Hội nghị của Chính phủ với các địa phương bàn giải pháp phát triển kinh tế năm 2014, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh cho biết, Chính phủ đang chỉ đạo các bộ, ngành nghiên cứu bổ sung cơ chế mới là: đối với các khoản đầu tư ngoài ngành đang lỗ và càng kéo dài quá trình thoái vốn càng lỗ, làm mất vốn lớn, thì cho phép bán dưới giá trị đầu tư ban đầu để thu hồi vốn.

Dự thảo Nghị quyết về vấn đề này đang được khẩn trương hoàn thiện, để trình Chính phủ xem xét ban hành trong quý I/2014.

THEO ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

Trưởng Ban Kinh tế Trung ương: Chúng ta đã có những quyết sách đúng và cần thiết

Sau một năm tái lập Ban Kinh tế Trung ương, GS. TS Vương Đình Huệ – Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương – đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Lao Động về những kỳ vọng của kinh tế VN năm 2014.

Đánh giá những kết quả đạt được của năm nay phải nói đến sự điều hành quyết liệt và kịp thời của Đảng và Chính phủ trong 3 năm qua. Từ chỗ lạm phát tăng cao nay đã giảm xuống còn ở mức trên 6%, lãi suất giảm mạnh, thanh khoản ngân hàng được kiểm soát, xuất khẩu đã có tốc độ tăng trưởng đáng kể, thu hút các nguồn lực FDI, ODA năm sau cao hơn năm trước, cán cân thanh toán tổng thể được cải thiện, dự trữ ngoại hối tăng.

Hội nghị T.Ư 3 chỉ ra vấn đề mấu chốt của nền kinh tế (KT) phải đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ bằng việc tái cơ cấu, xác định 3 khâu trọng tâm đột phá là tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu hệ thống tài chính, ngân hàng và tái cơ cấu DNNN.

Ngoài trọng điểm là kết luận của Hội nghị T.Ư 8, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Nghị quyết của QH, Chính phủ đã phê duyệt các đề án thành phần, tập trung vào các trọng điểm tái cơ cấu ngành, lĩnh vực, xem đây là khâu đột phá quan trọng trong cải cách KT. Điểm nổi bật lớn nhất trong tái cơ cấu ngành năm qua là tái cơ cấu ngành nông nghiệp và có quyết sách lớn về vấn đề tam nông.

Trung ương tới đây sẽ sơ kết 5 năm việc thực hiện Nghị quyết 26 của Hội nghị T.Ư 7 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn để có những quyết sách tiếp theo. Cái được tiếp theo là tập trung tháo nút thắt điểm nghẽn của nền KT như tồn kho cao, nợ xấu, tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp.

Thực tế cho thấy, chúng ta đã và đang tiến hành tái cấu trúc KT trong bối cảnh nguồn lực thực còn hạn chế. Để giải quyết nhanh nợ xấu của ngân hàng, năm qua chúng ta đã thành lập và đưa vào hoạt động Cty Quản lý tài sản (VAMC). Đây là giải pháp cần thiết nhằm khơi thông sự vận hành của hệ thống ngân hàng, đưa tín dụng ra nền KT.

Tuy vậy không phải không có ý kiến quan ngại cho rằng, đây là hình thức chuyển nợ từ ngân hàng thương mại sang VAMC. Tôi cho rằng, về mặt kỹ thuật thì là như vậy, nhưng quan trọng là chúng ta đã giải quyết được bài toán cấp bách về cân đối tài sản của các ngân hàng thương mại, tạo điều kiện cho ngân hàng tiếp tục cho vay và giải ngân.
Tuy nhiên, nếu nghiêm khắc nhìn nhận, nền kinh tế vẫn chưa có tốc độ bứt phá, một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội không đạt hoặc tăng chậm hơn dự báo, thưa ông?

Đúng vậy, mặc dù đạt được những chỉ tiêu quan trọng, song bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn một số chỉ tiêu chưa đạt như mong muốn. Đó là tốc độ tăng trưởng GDP đạt thấp, tổng đầu tư toàn xã hội và giải quyết việc làm chưa đạt mục tiêu, kinh tế vĩ mô phục hồi nhưng chưa vững chắc; lạm phát được kiềm chế nhưng vẫn có nguy cơ tăng trở lại trong thời gian tới.

Đối với việc thực hiện đề án tái cơ cấu tổ chức tín dụng và các DNNN cũng vẫn còn chậm và còn gặp nhiều khó khăn, nợ xấu có giảm nhưng vẫn còn cao, hoạt động sản xuất kinh doanh của DN còn khó khăn, DN giải thể và ngừng hoạt động còn tăng. Trong năm tới, chúng ta tiếp tục củng cố tính vững chắc kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát có mục tiêu. Qua đó, cần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát mới có thể phục hồi sản xuất kinh doanh, đảm bảo an sinh xã hội.
Năm 2014 theo ông đánh giá kinh tế thế giới có sức bật gì và ảnh hưởng như thế nào tới kinh tế VN?

Năm 2014, nhiều dự báo của các tổ chức tài chính quốc tế là kinh tế thế giới sẽ phục hồi và tăng trưởng cao hơn năm 2013. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo, tăng trưởng GDP toàn cầu khoảng 3,5-3,6% (cao hơn so với năm 2013 là 0,9%). Có 4 điểm đáng quan tâm: Một là, các nền kinh tế hàng đầu vẫn tiếp tục có tăng trưởng, Trung Quốc, Mỹ tăng khoảng 2,5-2,6%.

Khu vực các nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozon) bắt đầu khắc phục được nợ công, tăng trưởng dự kiến xấp xỉ 1%… Các chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài, đảm bảo nợ công là ưu tiên được các quốc gia giải quyết. VN là nền kinh tế có độ mở lớn, năm 2013, XNK lên tới 270 tỉ USD.

Do đó, tín hiệu hồi phục của kinh tế thế giới hồi phục cũng là tín hiệu tốt cho kinh tế VN. Chúng ta cần phải tiếp tục triển khai 3 đột phá chiến lược. Đó là tập trung đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng giao thông. Dù trong điều kiện ngân sách khó khăn, tổng đầu tư cho giao thông không được thấp hơn năm nay; đã xuất hiện những yếu tố tăng năng suất lao động tổng hợp, không chỉ là yếu tố vốn và tiếp theo là đổi mới về chất lượng nguồn nhân lực.

Đối với đề án tái cơ cấu nền kinh tế, mục tiêu 2015 phải có kết quả cụ thể, tới đây vấn đề cổ phần hóa, thoái vốn của các tập đoàn chắc chắn sẽ nhanh hơn.

Trân trọng cảm ơn ông.

THEO LAO ĐỘNG

CHỌN MẶT GỬI VÀNG – CHUYỆN ĐỜI XƯA, CHUYỆN ĐỜI NAY

CHUYỆN ĐỜI XƯA

Trong lịch sử tồn tại của mình, mỗi khi gặp khó khăn, cần phải có nhiều tiền, đảng Cộng sản Việt Nam thường dòm ngó đến số vàng dự trữ trong mỗi gia đình người Việt Nam. Với quyền lực trong tay (bao gồm chính quyền và quân đội) cộng với mưu sâu kế hiểm, họ nhiều lần khua khoắng số vàng này của dân.

Thủ đoạn được dùng có khi là những lời lẽ ngọt ngào về các lý tưởng cao cả tốt đẹp để người dân tự động móc vàng trong túi ra (Tuần lễ vàng, Việt kiều hồi hương). Nhưng cũng có khi là chiếm đoạt công khai bằng chính sách và bộ máy công quyền rồi dùng báo chí tuyên truyền biện minh cho hành vi của mình rồi đổ lỗi cho người khác (Cải tạo công thương, Đánh tư sản, 16 tấn vàng). Hoặc là dồn người dân vào đường cùng rồi mở một lối thoát ra để ai muốn ra khỏi thì phải nộp vàng (tổ chức vượt biên bán chính thức cho Hoa kiều, người xuất cảnh phải giao nhà cửa, vàng, đá quý cho Nhà nước giữ).

Ở đây nhắc lại một số chuyện đời xưa của đảng Cộng sản liên can đến số vàng dự trữ trong tủ của người dân Việt Nam.

1. Tuần lễ vàng

Sau khi giành được chính quyền ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh phát động tuần lễ vàng nhắm vào tầng lớp thương nhân và trung lưu ở các thành thị. Cũng nhắc lại là ở thời điểm đó, các vùng nông thôn miền Bắc mới vừa trải qua trận đói khiến hàng triệu người chết làm cho người dân nông thôn gần như kiệt quệ, cho nên giới thượng và trung lưu chính là đối tượng mà đảng Cộng sản muốn nhắm tới.

Qua tuần lễ vàng, chính quyền Hồ Chí Minh đã thu được 20 triệu đồng và 370 kg vàng. Trong đó có những nhà tư sản đóng góp nhiều như ông bà Trịnh Văn Bô đã hiến tặng hơn 5.000 lượng vàng, ông Đỗ Đình Thiện tặng 100 lượng vàng và 1 triệu đồng tiền đấu giá bức chân dung Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Sơn Hà tặng 10,5 kg vàng bạc, đá quý và còn rất nhiều người khác nữa. Họ đóng góp cho Hồ Chí Minh với một niềm tin là tài sản, tiền vàng của họ sẽ được dùng vào mục đích giành độc lập và kiến thiết đất nước.

Nhưng thực tế thì sau khi gom vàng được của người dân, thì Hồ Chí Minh đã ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 đồng ý cho Pháp tái xâm lược miền Bắc. Điều này đã đi ngược lại với lời tuyên bố độc lập của Hồ Chí Minh ngày 2-9-1945.

Sự phản bội không chỉ dừng lại ở đó, sau khi nắm được chính quyền ở miền Bắc năm 1954 và ở miền Nam sau năm 1975, đảng Cộng sản tiếp tục thực hiện chính sách cải tạo công thương nghiệp nhằm tịch thu toàn bộ cơ sở sản xuất kinh doanh, tài sản và nhà cửa của những người thuộc tầng lớp thương nhân mà rất nhiều người trong số họ đã đóng góp rất lớn cho đảng Cộng sản trong những ngày đầu giành chính quyền.

2. Vàng của Việt kiều hồi hương

Vào khoảng năm 1960 – 1964, nghe lời kêu gọi của chính quyền VNDCCH, Việt kiều ở Thái Lan và Tân Đảo (New Caledonia) hồi hương về miền Bắc. Khi những Việt kiều mới đặt chân xuống cảng Hải Phòng, trong không khí hân hoan chào đón, cán bộ chính quyền nói với họ rằng: Bà con có vàng cứ gửi vàng cho Chính phủ giữ dùm, khi nào cần tiền để chi tiêu hoặc làm ăn thì sẽ rút tiền ở Kho bạc địa phương nơi mình sinh sống, giá trị vàng sẽ được quy đổi theo giá thị trường tại thời điểm rút,còn vàng thì để Chính phủ dùng để xây dựng đất nước. Lúc đó họ là những người Việt xa xứ lâu năm, chưa ai sống chung với cộng sản nên đã tin tưởng và giao hết số vàng dành dụm lâu nay cho Chính phủ VNDCCH để nhận lại tờ giấy chứng nhận gửi vàng. Họ nghĩ việc gửi tiền giống như kiểu gửi ngân hàng ở nước họ sinh sống trước đây, khi nào cần thì rút lại tiền vì đó là tiền của mình.

Sau này khi bị đưa về các vùng kinh tế mới ở miền trung du các tỉnh Thái Nguyên, Nghệ An, Thanh Hóa, các Việt kiều phải chịu đựng cuộc sống rất cực khổ, thiếu thốn. Khi đó, họ muốn rút tiền ra để làm ăn, tiêu xài thì chính quyền yêu cầu phải làm đơn xin được rút tiền thì mới giải quyết. Lúc này vàng đang nằm trong tay của Nhà nước nên họ đành phải xin xỏ, cạy cục mãi mới được phát lại những số tiền ít ỏi vì tiền khi đó đã được quy đổi theo giá trị vàng với giá rẻ mạt do Nhà nước ấn định.

3. Vụ 16 tấn vàng, vừa ăn cướp vừa la làng

Sau năm 1975, khi nền kinh tế đất nước gặp khó khăn, nhiều người miền Nam (bao gồm các nhân sĩ trí thức, cán bộ chính quyền và người dân) đã đề cập đến việc dùng 16 tấn vàng trong ngân khố quốc gia Việt Nam Cộng hòa để giải quyết khó khăn nhưng báo chí của bên thắng cuộc tuyên bố rằng chính tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã mang 16 tấn vàng ra nước ngoài. Nhưng sau này họ đã im lặng thừa nhận khi mà những nhân chứng của cả hai bên, thắng cuộc và thua cuộc như Bùi Tín (cựu đại tá QĐNDVN), Nguyễn Văn Hảo (phó thủ tướng phụ trách kinh tế VNCH), Huỳnh Bửu Sơn (chuyên viên phụ trách kho vàng, Ngân hàng Quốc gia VNCH), lên tiếng xác nhận số vàng này đã được bàn giao cho bên thắng cuộc.

4. Thu vàng của người Hoa vượt biên bán chính thức

Sau các chiến dịch đánh tư sản ở miền Nam, đảng Cộng sản biết, dù đã tịch thu hầu hết tài sản, máy móc, hãng xưởng nhưng các thương gia Hoa kiều vẫn còn cất giấu rất nhiều vàng, đá quý và đôla. Một chiến dịch nữa được tung ra để gom tiếp số vàng còn ở trong tay người Hoa đó là cho phép họ vượt biên bán chính thức. Theo đó, chính quyền cộng sản sẽ lên danh sách, cấp giấy phép đóng tàu, bán bến bãi đổi lại người Hoa phải nộp vàng cho chính quyền. Tổng số vàng tiền thu được trong chiến dịch này như sau: “Số tàu đã cho đi: 533; Số người đã đi: 134.322; Thu vàng: 16.181kg; Ngoại tệ: 164.505 đô la; Tiền ngân hàng VN: 34.548.138 đồng; Một số tài sản khác: 538 ô tô, xe du lịch; 4.145 nhà và gian nhà 217”. (Huy Đức, Bên Thắng cuộc, tập 1). Chỉ tính riêng số vàng đã hơn 16 tấn, tức là nhiều hơn số vàng trong ngân khố quốc gia của Việt Nam Cộng hòa.

5. Tang vật là vàng trong các vụ án.

Hiện nay ở Việt Nam, trong các vụ án, khi công an tạm giữ các tang vật là vàng thì bao giờ họ cũng ghi trong biên bản là kim loại màu vàng chứ không ghi thẳng ra là vàng. Sau đó, khi trả lại tang vật cho người dân thì vàng đó có thể biến thành vàng giả và công an sẽ không chịu trách nhiệm gì hết vì biên bản đâu có ghi đây là vàng thật đâu, chỉ ghi là kim loại màu vàng thôi mà. Nếu ai đó phản đối việc ghi vàng là kim loại màu vàng trong biên bản thì công an nói là làm sao mà biết được đây có phải là vàng thật không. Đây là một thủ đoạn cướp vàng quen thuộc của công an nhà Sản.

6. Vụ 96 viên kim cương

Vào cuối thập niên 90, chính quyền Việt Nam vẫn còn duy trì quy định cấm người xuất cảnh đi nước ngoài mang theo tài sản quý như vàng, đôla, đá quý. Những tài sản đó phải gửi lại cho Nhà nước, khi nào hồi hương thì Nhà nước sẽ trả lại. Đây là hình thức từng bước chiếm đoạt tài sản của người dân vì hầu như rất ít Việt kiều hồi hương về Việt Nam và nếu lỡ làm mất giấy tờ thì coi như Nhà nước lấy luôn.

Năm 1995, Bộ luật Dân sự Việt Nam được ban hành. Theo đó Nhà nước Việt Nam công nhận quyền sở hữu tài sản của người dân và bắt đầu cho phép người dân thực hiện các giao dịch dân sự như: thừa kế, mua bán, ủy quyền, cho tặng…

Khi đó có một bà Việt kiều Pháp đã làm giấy ủy quyền cho luật sư Đào Hoàng Mỹ đến Kho bạc Nhà nước TP.HCM nhận lại 96 viên kim cương mà bà đã gửi lại cho Nhà nước trước khi xuất cảnh. Sau khi xuất trình đầy đủ hồ sơ, vị luật sư này đã lấy lại được số kim cương này. Đến cuối năm đó, khi cấp trên của Kho bạc kiểm kê kho quỹ mới phát hiện. Khi đó, chính quyền TP.HCM tìm cách lấy lại bằng cách buộc tội luật sư Đào Hoàng Mỹ chiếm đoạt tài sản. Nhưng với những bằng chứng pháp lý rõ ràng, chính quyền TP.HCM đành nuốt hận và mở chiến dịch tấn công trả thù luật sư Đào Hoàng Mỹ. Lúc đó báo chí đăng bài cho là bà Đào Hoàng Mỹ đã chiếm đoạt 96 viên kim cương của thân chủ, đồng thời chính quyền yêu cầu Đoàn luật sư TP.HCM khai trừ bà ra khỏi Đoàn. Sau đó bà gia nhập Đoàn Luật sư Đắc Lắc, chính quyền TP.HCM tiếp tục yêu cầu Đoàn Luật sư Đắc Lắc khai trừ bà. Rồi họ thấy bà để bảng hiệu Luật sư Đào Hoàng Mỹ ở trước nhà, họ bắt bà phải tháo xuống vì cho rằng bà không còn là luật sư nữa, bà đành sửa bảng hiệu là Thạc sĩ luật Đào Hoàng Mỹ.

Đây là một thắng lợi hiếm hoi của người dân trong vô số trường hợp người dân bị trắng tay.

CHUYỆN ĐỜI NAY

Mấy hôm nay, báo chí bắt đầu đề cập đến chính sách của Chính phủ về việc huy động vàng trong dân. Có lẽ là nhà Sản đang gặp khó khăn gì đó, cần phải có nhiều tiền để giải quyết nên mới bàn tính việc lấy vàng của dân. Mục đích thì vẫn như cũ nhưng hình thức thì có phần tinh vi hơn. Số vàng nằm trong nghe nói đâu khoảng 500 tấn, tức gấp hơn 30 lần số vàng của VNCH, mà lại nằm trong túi của những người đang ở trong vòng kiềm tỏa của nhà Sản. Nếu nhà Sản không nghĩ cách thâu tóm số vàng này mới là lạ.

Chỉ lạ một điều là, mặc dù Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là người huy động nhưng các ngân hàng thương mại (NHTM) sẽ đứng ra nhận vàng của dân. Như vậy, việc huy động vàng của dân được tách ra làm hai giao dịch riêng biệt, độc lập nhau: một là các NHTM vay vàng của dân; hai là NHNN vay lại vàng của các NHTM.

Với một bộ máy công quyền đầy rẫy tham nhũng và tiêu tiền ngân sách phung phí như hiện nay, liệu NHNN sẽ có đủ vàng để trả cho các NHTM để các NHTM trả lại vàng người dân hay không.

Một khi NHNN không có đủ vàng để trả lại cho các NHTM, dẫn đến việc các NHTM tuyên bố phá sản, giải thể – kiểu Vinashin – thì ai sẽ phải trả vàng lại cho người dân? NHNN sẽ vô can khi các NHTM tuyên bố phá sản.

Việc NHNN không trực tiếp đứng ra nhận vàng của dân thì NHNN sẽ không phải chịu trách nhiệm về số vàng đã huy động của người dân. Người dân chỉ có thể đòi các NHTM trả lại vàng, chứ không thể đòi NHNN được. Phải chăng đây là cách gài thế để chuẩn bị cho việc quịt nợ – cướp vàng trong tương lai.

Chưa hết, với vai trò quản lý nhà nước trong tay, NHNN hoặc cao hơn là Chính phủ có thể thay đổi luật chơi bằng cách ban hành những luật lệ, quy định có lợi cho phía chính quyền hơn là phía người dân. Rủi ro pháp lý nếu xảy ra, gây thiệt hại cho người dân gửi vàng thì đó là việc giữa người dân và các NHTM. Nếu muốn giải quyết thì người dân nộp đơn kiện ở Tòa án và người dân sẽ bị sa vào mớ bùng nhùng không lối thoát của những vụ kiện tụng.

Nhìn qua vụ án Huyền Như chiếm đoạt 5.000 tỷ đồng. Rõ ràng là cô ta chiếm đoạt tiền trong tài khoản của khách hàng gửi tại Ngân hàng Công thương. Lẽ ra, NH Công thương phải có trách nhiệm trả lại tiền cho khách hàng vì tiền đang do NH Công thương giữ. Đằng này, họ lại phủi trách nhiệm, cho là Huyền Như chiếm đoạt tiền của khách hàng cho nên khách hàng phải tự đi đòi Huyền Như trả nợ, còn NH Công thương thì vô can. Qua vụ này, thấy được sự ngang ngược, bất công của hệ thống pháp luật Việt Nam luôn muốn bảo vệ lợi ích cho chính quyền và các Ngân hàng (có vốn của Nhà nước) bất chấp quyền lợi của người dân. Kịch bản này hoàn toàn có thể lặp lại trong chính sách huy động vàng sắp tới của NHNN.
Một khả năng có thể xảy ra là NHNN có thể đứng ra bảo lãnh cho NHTM vay vàng. Khi đó người dân cần đòi NHTM cho coi, hoặc nhờ luật sư xem xét kỹ lưỡng, các điều khoản của việc bảo lãnh này để làm rõ phạm vi bảo lãnh và nghĩa vụ bảo lãnh của NHNN tới đâu nhằm bảo toàn số vàng cho mình.

Còn nếu như NHNN không đứng ra bảo lãnh các khoản huy động vàng của NHTM thì người dân tuyệt đối không nên giao vàng cho các NHTM. Và khi đó, cái gọi là “NHNN ủy quyền cho các NHTM huy động vàng” chỉ là mớ giấy lộn.

KẾT LUẬN

Ông bà mình có để lại cho chúng ta một câu rất chí lý, đó là “Chọn mặt gửi vàng”. Câu này trở nên rất đúng trong tình hình hiện nay khi mà có nhiều gương mặt lên tiếng kêu gọi người dân gửi vàng. Những gương mặt đó xuất hiện kèm theo các chức danh và học vị rất là oai như là: Thủ tướng, Thống đốc, Bộ trưởng, Giáo sư, Tiến sĩ, Chuyên gia kinh tế. Nhưng bà con coi thử coi có gương mặt nào đáng tin để bà con gửi vàng không. Các NHTM hiện nay có đáng tin cậy nữa không khi mà nguy cơ đổ vỡ của các NHTM xuất hiện ngày càng nhiều. Liệu đến khi xảy ra chuyện, bị mất vàng thì những gương mặt đang kêu gào huy động vàng hiện nay có khả năng giúp người dân lấy lại được vàng không.

Tầng lớp người dân lao động đang vất vả kiếm sống không phải là đối tượng của chính sách huy động vàng cho nên hệ thống tuyên truyền báo chí sẽ hướng về thành phần trung lưu và thượng lưu. Một mặt họ sẽ đưa tin đậm nét về các vụ cướp vàng làm cho những người đang giữ vàng sợ hãi phải đem vàng đi gửi Ngân hàng, mặt khác họ sẽ ca ngợi về việc huy động vàng sẽ mang lại ích nước lợi nhà… Nếu cần tăng sức hấp dẫn, NHNN sẽ tăng lãi suất gửi vàng để đánh vào lòng tham của mọi người. Mọi người cũng nên biết rằng, cho dù xảy ra nhiều vụ trộm cướp vàng đi nữa thì xã hội cũng không thiệt hại nhiều bằng việc một NHTM nào đó tuyên bố phá sản, không trả lại được vàng cho người dân.

Trước khi quyết định gửi vàng cho NH, mọi người cần đặt ra cho mình mấy câu hỏi:

– Ai là người vay vàng của mình và mình sẽ đòi ai trả lại vàng? Có ai đứng ra bảo lãnh cho việc huy động vàng này không? Mức độ uy tín của người bảo lãnh có cao không? Việc bảo lãnh cụ thể ra sao?
– Khi cần thì người dân lấy vàng ra có dễ không, làm sao bảo đảm được là vàng mình nhận lại từ NHTM có đúng chất lượng như lúc mình gửi không. Có khả năng người dân bị buộc phải nhận lại bằng tiền thay vì nhận bằng vàng không?
– Cơ sở pháp lý cao nhất của việc huy động vàng là những văn bản pháp luật nào? Ai ký, ai ban hành và ai có thể thay đổi hay hủy bỏ được những văn bản đó?
– Vàng của mình sẽ được sử dụng như thế nào, cho mục đích gì? Ai sẽ là người trực tiếp xài, ai phê duyệt và ai sẽ kiểm soát việc xài số vàng này?
– Khả năng sinh lợi cũng như khả năng hoàn vốn của việc sử dụng số vàng như thế nào?
– Nếu các NHTM hay NHNN không trả vàng lại được thì mình sẽ dựa vào ai hay công cụ pháp luật, cơ quan hay tòa án nào để đòi lại? Khả năng đòi lại được có cao không? Nếu các NHTM tuyên bố phá sản thì mình sẽ làm gì?

Và cuối cùng bà con không nên quá chú trọng đến lãi suất mà người ta trả cho mình cũng như đừng quan tâm đến các lý tưởng cao đẹp mà nhà Sản rêu rao mà hãy nhìn lại những việc làm của nhà Sản trước đây để biết ý họ muốn gì.

KIM HẰNG

Chuyện Hiến pháp và Quốc hội – Việt Nam 2013: Sôi sục bất ổn xã hội


Việt Nam 2013: Sôi sục bất ổn xã hội

Trong căn phòng u lạnh của trạm xá, Đỗ Thị Thiêm – một phụ nữ nông dân chống cưỡng chế đất đai ở làng Trịnh Nguyễn, tỉnh Bắc Ninh bị băng trắng phủ kín cả phần ngực và hai bên sườn. Vào khoảng giữa năm 2013, chị đã bị những kẻ giấu mặt tạt axit. Nhiều dân làng Trịnh Nguyễn không hề hoài nghi về việc nhóm thủ ác đối với chị Thiêm được chủ đầu tư và cả công an địa phương sai khiến.

Chỉ vài tháng sau khi xuất viện, chị Thiêm lại bị công an tỉnh Bắc Ninh bắt giữ liên quan đến vụ việc bà con nông dân làng Trịnh Nguyễn phải náu mình đòi công lý dưới gầm cầu vượt.

Cảnh nạn phân tầng và phân hóa xã hội ở Việt Nam năm 2013 mới đắng chát làm sao! Trong khí buốt tê tái lòng người vào những ngày cuối năm, một nỗi bất an cùng cực cho năm sau vẫn siết lấy buồng tim những người nông dân mất đất.

Đám mối

Giai tầng nông dân – vốn chiếm đến 60% dân số trong độ tuổi lao động ở Việt Nam – đang lâm vào tình trạng bức bách về kế sinh nhai. Trong khi trên khắp mọi vùng đất nước vẫn hàng ngày lê thê hình ảnh những đoàn dân oan lũ lượt kéo nhau đi đòi quyền lợi bị đánh cắp, một hình ảnh tiêu biểu cho nạn suy thoái kinh tế lại đột phá đầy tính tương hợp: nhiều nông dân phải trả ruộng, bỏ ruộng vì canh tác kém hiệu quả.

Hai hình ảnh liền mạch này lại dẫn đến một bức tranh tương phản: thân gốc chính trị của chế độ “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đang mục ruỗng trên đám mối khổng lồ lan rộng và ăn sâu đến tận cùng.

 

Giải quyết đất... RFA files
Giải quyết đất… RFA files

Thân gốc chính trị của chế độ “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đang mục ruỗng trên đám mối khổng lồ lan rộng và ăn sâu đến tận cùng.

Từ nhiều năm qua, đám mối ấy đã được hình thành từ vô số kẻ đầu cơ trục lợi mà đến năm 2011, giới công luận ở Việt Nam đã chính thức đặt cho nó cái tên là “nhóm lợi ích”. Rất tương đồng với người bạn có tên “Bốn Tốt” đóng đô ở Bắc Kinh, ích lợi của một chủng tộc đặc thù ở Hà Nội và các địa phương được cấu kết bởi rất nhiều quan chức quen thói ăn vặt cùng số đại gia tăng trưởng không ngừng nghỉ trong các lĩnh vực đầy đặn tính độc quyền quốc gia như xăng dầu, điện lực, viễn thông, cùng những kẻ đầu cơ mới nổi phất lên từ chuyện kinh doanh hoàn toàn thiếu minh bạch về chứng khoán, bất động sản và vàng bạc.

Vào năm 2012, cơ quan cảnh sát điều tra đã bắt Nguyễn Đức Kiên – người được coi là “bố già” trong nhiều lĩnh vực đầu cơ và có những tham vọng không thèm che giấu đối với chính trường. Nhưng Kiên chỉ là một trong nhiều khối u ác tính chưa phát lộ. Điều đáng nói là ở Việt Nam đã lâu nay xuất hiện nhiều “cá mập” như Kiên – những kẻ thường chỉ chịu hạ mình ăn sáng với các quan chức tối thiểu cấp thứ trưởng.

Ngay cả án tử hình năm 2013 dành cho kẻ có cái tên rất đẹp là Dương Chí Dũng cũng chỉ có ý nghĩa như hành vi “diệt ruồi”, trong lúc vẫn chưa có một con hổ nào được pháp luật chiếu cố.

Hố phân cách giàu nghèo cũng vì thế đã ngày càng trở nên không thể chịu đựng nổi. Cách đây hai chục năm, báo chí chính thống của nhà nước đã tiết lộ độ chênh lệch giữa 5% số người có thu nhập cao nhất với 5% số người có thu nhập thấp nhất lên đến hơn 30 lần. Còn giờ đây, trong khi con số thống kê của các cơ quan chính quyền chỉ thừa nhận khoảng phân hóa đó chưa đến 10 lần, giới chuyên gia phản biện độc lập lại chắc mẩm rằng hố xa cách này phải lên đến 60-70 lần.

 

Giải quyết biểu tình... RFA files
Giải quyết biểu tình… RFA files

Rất nhiều quan chức quen thói ăn vặt cùng số đại gia tăng trưởng không ngừng nghỉ trong các lĩnh vực đầy đặn tính độc quyền quốc gia như xăng dầu, điện lực, viễn thông

Những gì đang xảy ra ở Việt Nam thật ra chỉ là cái bóng của những gì đã lộ ra ở Trung Quốc. Vào năm 2011, một nhà phản biện độc lập của Trung Hoa là Vương Tiểu Lỗ đã thống kê độ chênh lệch giữa 5% có thu nhập cao nhất với 5% có thu nhập thấp nhất lên đến 67 lần.

Đó cũng là lý do vì sao mà Trung Quốc đang có đến 200 nhà tỷ phú đô la, nhảy lên bậc trọc phú danh dự trên thế giới. Không chịu kém cạnh, Việt Nam cũng đang len dần vào trang lót của tạp chí Forbes với khoảng 300 đại gia có tài sản trên 100 triệu USD tính theo đầu người.

Oán hận

Vào năm 2012, giới chính khách Việt đã phải chính thức thừa nhận một cụm từ mới: nhóm thân hữu. Tính chất hết sức đặc biệt của khái niệm này chính là sự gắn kết rất hữu cơ và “bền vững” giữa một số chính khách có thực quyền với nhau và với nhóm các đại gia trong nhiều lĩnh vực kinh tế.

Quá dung dưỡng cho các nhóm lợi ích lộng hành, nhóm thân hữu đã trở thành quan tòa để phán quyết về số phận của đại đa số tầng lớp cùng khốn dưới đáy. Nghịch lý “nước giàu dân nghèo” ở Trung Quốc đang tái hiện rất nhanh ở đất nước có lịch sử “ngàn năm Bắc thuộc” và đến nay vẫn còn chịu nhiều phụ thuộc không che giấu vào Trung Nam Hải.

 

Giải quyết giao thông... RFA files
Giải quyết giao thông… RFA files

 

Không chỉ lệ thuộc đến 90% vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu dùng cho sản xuất, giới tuyên giáo Việt Nam vẫn đang là tấm gương phản chiếu một sự chung đụng rập khuôn đáng hổ thẹn với kẻ mà người dân gọi là “thiên triều”.

Khi 2013 kết thúc, cuộc suy thoái kinh tế ở Việt Nam đã trải qua đúng 6 năm. Tuy nhiên, thời gian đó vẫn như chưa đủ để ứng với điểm kết thúc của một chu kỳ suy thoái thường thấy, mà tất cả hầu như mới chỉ phác ra giai đoạn đầu tiên của một chu kỳ khủng hoảng kinh tế có thể kéo dài đến hàng chục năm hoặc hơn, và hầu như chắc chắn có thể dẫn quốc gia hình chữ S vào ít nhất một thập kỷ mất mát không tránh khỏi.

Nhiều nông dân và cả trí thức Việt Nam đang biểu lộ phản ứng có tính đối đầu với lực lượng công quyền. Tâm lý thù ghét người giàu và giới quan chức cai trị ngày càng ăn sâu vào não trạng của lớp nông dân mất đất, bị nghèo hóa và bị đẩy vào cảnh bần cùng

Tuy thế, vẫn chưa một lần các nghị quyết của đảng cầm quyền ở Việt Nam thừa nhận câu chuyện đất nước này đang lâm vào một cuộc khủng hoảng toàn diện và sâu sắc – điều đã được giới nghiên cứu và truyền thông quốc tế tìm cách mở mắt cho họ từ suốt mấy năm qua.

Kinh tế luôn có thói quen quyết định đến chân đứng chính trị và cả vận mệnh của các chính khách. Với Việt Nam – nơi nền kinh tế còn phải dựa phần lớn vào sản xuất nông nghiệp, bi kịch của nông dân chắc chắn sẽ dẫn đến đến thảm cảnh của chế độ. Bỏ đất, mất đất, và ngay cả trong lúc Việt Nam được khá nhiều ưu ái của cơ chế WTO và lượng xuất khẩu gạo của nước này đứng thứ hai trên thế giới, giá xuất gạo vẫn giảm tương đối và nông dân vẫn thực lỗ…, tất cả những trái khoáy ghê gớm như thế không chỉ bày biện một khuôn mặt điều hành kinh tế chằng chịt sẹo, mà còn khiến cho cơ thể ý thức hệ trở nên tàn tạ hầu như toàn diện những tư tưởng của nó.

Mục ruỗng tư tưởng lại dẫn đến biến thái hành vi. Tháng 9/2013, một nông dân Thái Bình đã xả súng bắn chết vài quan chức điều hành quỹ đất của tỉnh này. Suy thoái kinh tế kéo dài và bế tắc kéo theo những mầm mống khủng hoảng xã hội đang mau chóng lộ diện và có thể bùng nổ trong vô thức. Phần lớn sự lộ hình này đến từ nông thôn miền Bắc – những địa phương có truyền thống cách mạng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và cả khởi nghĩa nông dân.

Gần tương tự không khí ở Trung Quốc, nhiều nông dân và cả trí thức Việt Nam đang biểu lộ phản ứng có tính đối đầu với lực lượng công quyền. Tâm lý thù ghét người giàu và giới quan chức cai trị ngày càng ăn sâu vào não trạng của lớp nông dân mất đất, bị nghèo hóa và bị đẩy vào cảnh bần cùng. Mối dắt dây liên tục và hầu như không tránh khỏi như thế sẽ có thể khiến cho chế độ cầm quyền lâm vào ngõ cụt chỉ trong 3-4 năm nữa, một khi khủng hoảng kinh tế công khai trưng diện cái thảm cảnh quay quắt của nó.

Nhà báo Phạm Chí Dũng, Việt Nam 30-12-2013
*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA

  (RFA)

Chuyện Hiến pháp và Quốc hội

“Không có vùng cấm” hay “Vùng nào cũng cấm”

Ngay từ những tháng đầu năm 2013, sau khi ông Phan Trung Lý, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội VN, Ủy viên Ủy ban Sọan thảo Hiến pháp, tuyên bố “không có vùng cấm” nào trong việc góp ý của tòan dân về chuyện tu chính Hiến pháp 1992, thì người dân Việt đã dồn dập góp ý theo lời kêu gọi của nhà nước, từ Thư của Hội Đồng Giám Mục VN, Tuyên bố của Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Tuyên Bố của Công Dân Tự Do cho tới Tuyên Bố Nguyễn Đắc Kiên; và đặc biệt là Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992 của 72 nhân sĩ, trí thức, gọi tắt là “Kiến Nghị 72”.

Bản dự thảo Hiến pháp của nhóm nhân sĩ, trí thức đó đã đề nghị bỏ lời nói đầu của bản Hiến pháp VN 1992 vì nó mang “tính chất vi hiến” là bị áp đặt dưới sự chỉ đạo của chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh chứ không thực sự phản ánh nguyện vọng nhân dân; đề nghị bỏ tên nước hiện hành “CHXHCNVN”; đổi thể chế Chủ tịch sang Tổng thống chế; cho các đảng phái đối lập đúng nghĩa tham chính; bảo vệ quyền làm người; tôn trọng sở hữu tư nhân về đất đai; “rạch ròi” tam quyền phân lập; lực lượng võ trang phải bảo vệ đất nước, nhân dân, chứ không phải trung thành với đảng CS; cho trưng cầu dân ý về Hiến pháp…

Riêng về Điều 4 Hiến Pháp, ông Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng Thư ký Hội Trí thức yêu nước TP HCM, người ký tên trong bản kiến nghị dự thảo hiến pháp vừa nói, cho biết:

Tôi thấy rằng họ có thể ghi những điều mà dự thảo yêu cầu, nhưng nếu Điều 4 còn thì nó sẽ phủ định hết tất cả. Vì họ độc quyền lãnh đạo mà nếu họ ghi những điều đó đồng thời với Điều 4 thì Điều 4 sẽ phủ định hết tất cả những gì thay đổi. – Huỳnh Kim Báu

Tôi thấy rằng họ có thể ghi những điều mà dự thảo yêu cầu, nhưng nếu Điều 4 còn thì nó sẽ phủ định hết tất cả. Vì họ độc quyền lãnh đạo mà nếu họ ghi những điều đó đồng thời với Điều 4 thì Điều 4 sẽ phủ định hết tất cả những gì thay đổi.

Nhưng rồi chuyện tòan dân nghe theo lời kêu gọi của đảng, nhà nước và đã sôi nổi góp ý, bàn cãi, đề nghị, kể cả “sôi nổi” tại diễn đàn Quốc Hội…thì chuyện “không có vùng cấm” lại sớm trở thành “có vùng cấm” khi người cầm đầu đảng là TBT Nguyễn Phú Trọng chỉ trích những người góp ý, chẳng hạn như đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp, là “suy thóai tư tưởng, đạo đức”, trong khi Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng cảnh cáo về điều gọi là “tuyên truyền chống phá đảng và nhà nước”…Từ Thanh Hóa, MS Nguyễn Trung Tôn cho biết:

Trước đây chúng tôi cũng rất mừng vì có thể qua sự sửa đổi Hiến pháp thì phần nào đó, Hiến pháp VN sẽ thay đổi, và người dân sẽ có nhiều quyền hơn để rồi có thể góp phần xây dựng Tổ Quốc và đảm bảo sự công bằng xã hội.

Nhưng rồi chuyện “không có vùng cấm” đã nhanh chóng trở thành “có vùng cầm” khiến MS Nguyễn Trung Tôn lưu ý:

Vấn đề Quốc Hội đề ra việc sửa đổi Hiến pháp và lấy ý kiến tòan dân cũng chỉ là, một lần nữa, đảng CS tiếp tục dùng chiêu bài Hiến pháp để mị dân và lừa dối quốc tế. Nhưng thực ra chẳng có điều gì thay đổi cả.

Qua bài “Đảng – Nhà nước, Hiến Pháp”, tác giả Nguyễn Trung không quên lưu ý rằng:

Sửa hiến pháp nhưng bị khuôn vào những nguyên tắc chỉ đạo của Tổng bí thư như sửa gì thì cũng phải trong khung khổ Cương lĩnh và Điều lệ Đảng…không có tam quyền phân lập, gác lại vấn đề sở hữu đất đai…, chỉ đạo như thế là đứng trên, là ban cho, là ông chủ của nhân dân, là đứng trên Hiến pháp mất rồi! – Nguyễn Trung

Sửa hiến pháp nhưng bị khuôn vào những nguyên tắc chỉ đạo của Tổng bí thư như sửa gì thì cũng phải trong khung khổ Cương lĩnh và Điều lệ Đảng, quyền lực của hệ thống chính trị là thống nhất, không có tam quyền phân lập, gác lại vấn đề sở hữu đất đai…, chỉ đạo như thế là đứng trên, là ban cho, là ông chủ của nhân dân, là đứng trên Hiến pháp mất rồi!

Từ Đà Lạt, TS Hà Sĩ Phu khẳng định rằng “chừng nào việc soạn thảo và quyết định Hiến pháp còn do một tập thể mà tuyệt đại đa số (trong tập thể ấy) là người của một phe, một đảng thì… xin đừng tranh biện làm gì cho hoài công !

Một “trò bịp” không hơn không kém

Qua bài “Lan man chuyện hiến pháp”, nhà báo Nguyễn Minh Cần nhắc lại rằng trước khi đưa ra việc lấy ý kiến dân về “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992” thì các nhân vật chóp bu trong Bộ Chính Trị, từ tổng bí thư, chủ tịch nước cho tới thủ tướng… đã lớn tiếng “chặn họng” nhân dân rằng “Bỏ điều 4 là tự sát”, “chỉ có quyền sở hữu toàn dân chứ không thể có quyền sở hữu tư nhân về đất đai”, “không thể có báo chí tư nhân”, “không thể có đảng phái đối lập”, “không thể có đa nguyên, đa đảng”, “quân đội và công an là của đảng, không thể khác được”, “kinh tế quốc doanh là chủ đạo”, “nhà nước ta không tam quyền phân lập”… Do đó, theo nhà báo Nguyễn Minh Cần, người dân bình thường có chút suy nghĩ cũng có thể nhận rõ cái việc sửa đổi hiến pháp này chỉ là một “trò bịp” không hơn không kém. Nhà báo Nguyễn Minh Cần khẳng định:

Mục đích chính của đảng cầm quyền là qua việc lấy ý kiến dân để sửa đổi hiến pháp lần này là để khoác lên chế độ độc tài toàn trị hiện hữu, khoác lên đảng cầm quyền một cái áo choàng “chính thống”,“chính danh” nào đó bằng cách tuyên bố cuộc lấy ý kiến của dân vừa qua đã hoàn toàn thắng lợi, “nó tương đương với một cuộc Trưng cầu dân ý”! Nghĩa là họ sẽ “mập mờ đánh lận con đen” là đảng cầm quyền đã “hiện thực hóa quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân” trong “một cuộc Trưng cầu dân ý” (!),trong “một Ðại hội Diên Hồng của dân tộc ta trong thời đại mới”(!) và toàn dân đã chuẩn thuận, đã phúc quyết bản hiến pháp sửa đổi, như vậy là toàn dân đã cho phép cái gọi là đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục trường kỳ thống trị nhân dân Việt Nam “muôn năm”.

Blogger Phạm Lê Vương Các cũng bày tỏ lo ngại ngay từ lúc còn “sớm sủa” ấy, tức cả 10 tháng trước khi Quốc Hội VN thông qua bản Hiến pháp sửa đổi với tỷ lệ phiếu thuận gần như tuyệt đối. Blogger Vương Các lúc đó báo động:

Với một Quốc hội có đến 95% đảng viên CS thì ai cũng biết trước kết quả…
Với một Quốc hội có đến 95% đảng viên CS thì ai cũng biết trước kết quả…
Nếu phải ngụy tạo một ưu thế đẹp thì dù được 100% nghị gật bỏ phiếu cũng nên giảm đi còn 70-80% thôi mới đáng mặt những kẻ nói dối thức thời. Con số 97,59% dù thật hay giả cũng là một con số dại dột trong tuyên truyền, vì nó gây ấn tượng một con số chua chát đáng buồn… cười! – TS Hà Sĩ Phu
Nếu được thông qua, nó sẽ tiếp tục báo hiệu cho những hình ảnh người nông dân ùn ùn kéo nhau đi kiếu kiện đất đai, bất đồng chính kiến lần lược rủ nhau vào tù vì đe dọa cho an ninh quốc gia và trật tự công cộng, cho đến việc người dân phải oằn lưng gánh nợ cho sự thua lỗ của các tập đoàn nhà nước, và rồi chúng ta sẽ tiếp tục được nghe những điệp khúc tự chỉnh đốn, phê bình và tự phê bình lên một tầm cao mới.
Trong bối cảnh như vậy, nhiều bloggers cảnh báo rằng việc giới cầm quyền cho sửa đổi hiến pháp là vô nghĩa, đó là chưa kể các quan mọi cấp lâu nay chứng tỏ bất tuân luật pháp – mà nói theo lời báo Tổ Quốc, “ chính đảng CS cũng không coi hiến pháp ra gì”.
Khi nêu lên câu hỏi là giới cầm quyền “Sửa đổi hiến pháp để làm gì ?”, tờ báo nhắc lại rằng Hà Nội đã 5 lần sửa đổi hiến pháp, nhưng “Tất cả đều chỉ nhắm giải quyết một vấn đề nhất thời của ban lãnh đạo CS, chứ hoàn toàn không liên quan gì tới lợi ích dân tộc” cả.
Và, đúng như những gì mà những người có tâm huyết với quê hương, dân tộc lo ngại, Quốc Hội VN đã thông qua bản Hiến pháp cũ sửa đổi thành Hiến pháp mới 2013 với tỷ lệ phiếu tán thành tới 97,59%, khiến công luận không khỏi liên tưởng đến những “đại diện của dân”, thêm một lần nữa, trở thành “đại diện của đảng”.

TS Hà Sĩ Phu chua chát rằng “ Nếu phải ngụy tạo một ưu thế đẹp thì dù được 100% nghị gật bỏ phiếu cũng nên giảm đi còn 70-80% thôi mới đáng mặt những kẻ nói dối thức thời. Con số 97,59% dù thật hay giả cũng là một con số dại dột trong tuyên truyền, vì nó gây ấn tượng một con số chua chát đáng buồn… cười!”.

Câu hỏi mà đã từ lâu, và đặc biệt là bây giờ, được mạnh mẽ nêu lên là đại biểu Quốc Hội VN có thực sự do người dân bầu chọn và thật sự đại diện cho nguyện vọng và quyền lợi của dân hay không ? Hay họ dưới hình thức cơ quan lập pháp để làm công cụ và phục vụ cho đảng ?

Blog Dân Làm Báo cho biết “đối với một Quốc hội có đến 500 đại biểu đều là đảng viên CS thì ai cũng biết trước kết quả…”.

TS Hà Sĩ Phu cũng không quên lưu ý rằng “đa số trong Quốc hội với 95% đảng viên chính là một ‘nhóm lợi ích’ khổng lồ mà quyền và lợi gắn chặt với điều 4 và với ‘sở hữu toàn dân” thì đa số ấy chỉ là đa số của một phe nhóm”. TS Hà Sĩ Phu nhân tiện trích dẫn lời nhà khoa học Albert Einstein từng khẳng định “Chúng ta không thể thắng được lũ ngu bởi chúng quá đông. Lên tiếng với Đài ACTD, nhà hoạt động xã hội Nguyễn Lân Thắng từ Hà Nội cho biết:

Chủ nghĩa Mác – Lê là sai lầm cả về lý luận và thực tiễn, là nguy hại, phải dứt khoát từ bỏ khỏi các văn kiện của đảng và nhà nước”, và “ghi chủ nghĩa Mác – Lê và chủ nghĩa xã hội trong hiến pháp không những là sai lầm mà còn là lừa dối, là bịp bợm, khi cả thế giới đã từ bỏ, chôn vùi những học thuyết sai lầm này rồi

Giáo sư Trần Phương

Quốc hội hiện nay không đáp ứng được nguyện vọng của rất nhiều quần chúng. Rất nhiều người không tán thành việc Hiến pháp được thông qua… Họ là những người mà quần chúng mất hết sự tin tưởng.

Nhà báo Hùynh Ngọc Chênh xem chừng như không “dằn được bực tức” mà phải thốt lên rằng “ Đến cái cơ quan gọi là lập pháp cũng không được quyền công khai góp ý sửa đổi hiến pháp” và “người ta dựng ra cả một hệ thống cơ quan dân cử từ trung ương xuống tận xã, phường để ngồi họp bàn và thông qua những vấn đề mà người ta đã quyết định sẵn từ trước. Người ta có thể huy động toàn dân một cách tốn kém vào việc góp ý để thay đổi hiến pháp nhưng rồi hiến pháp vẫn cứ như xưa”.

Sai lầm về lý luận lẫn thực tiễn

Như vậy là xã hội VN sẽ vẫn tiếp tục dưới “ánh sáng chỉ đường của chủ nghĩa Mác-Lê” dù Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng mới đây cảnh báo “ đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở VN hay chưa”; đảng CS vẫn là lực lượng lãnh đạo xã hội, luật đất đai vẫn thuộc sở hữu tòan dân; quân đội vẫn trung thành với đảng; không có chuyện tam quyền phân lập…Đó là chưa kể, cũng theo lời lãnh đạo đảng, “ Hiến pháp là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của đảng”, nghĩa là một văn kiện “hạng hai sau cương lĩnh đảng” – tiếp tục dọn đường cho vai trò mà nhà báo Hạ Đình Nguyên gọi là “thế thiên hành đạo” của ĐCSVN quyết định số phận của người dân Việt “vô hạn định qua Điều 4”.

Blogger Quê Choa cho rằng “bảo vệ Đảng như rứa càng làm mất uy tín Đảng, càng làm cho người ta thấy Đảng đang đuối lý và quanh co”. Rồi blogger Quê Choa, tức nhà văn Nguyễn Quang Lập, nêu lên câu hỏi và tự trả lời:

Vì sao không tam quyền phân lập?- Vì giữ chùa thờ Phật thì được ăn oản!
Vì sao đất đai phải sở hữu toàn dân?- Vì giữ chùa thờ Phật thì được ăn oản!
Vì sao quân đội phải trung thành với Đảng?- Vì giữ chùa thờ Phật thì được ăn oản!
Vì sao không được bỏ điều 4?- Vì giữ chùa thờ Phật thì được ăn oản!

Blogger Trương Nhân Tuấn lưu ý rằng giới cầm quyền trong mấy thập niên qua đã không hoàn thành nhiệm vụ lịch sử được rầm rộ quảng bá là làm cho “dân giàu nước mạnh”, mà lèo lái đất nước “đi từ thất bại này đến thất bại khác”: Nền kinh tế kiệt quệ, tài nguyên bị khai thác bừa bãi, cạn kiệt, môi trường bị tàn phá, đạo lý xã hội suy đồi, con người hư hỏng, đất nước bị phương Bắc đe doạ, lãnh thổ không còn nguyên vẹn như Tiền Nhân để lại… Tác giả xem chừng như không dằn được bực tức rằng “ Hiến pháp Việt Nam vẫn khẳng định con đường đã thất bại từ hơn ba thập niên qua”.

Giáo sư Trần Phương, Hiệu trưởng trường Đại học Dân lập Quản lý Kinh doanh Hà Nội, cựu Phó Thủ tướng, khẳng định “chủ nghĩa Mác – Lênin là sai lầm cả về lý luận và thực tiễn, là nguy hại, phải dứt khoát từ bỏ khỏi các văn kiện của đảng và nhà nước”, và “ghi chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa xã hội trong hiến pháp không những là sai lầm mà còn là lừa dối, là bịp bợm, khi cả thế giới đã từ bỏ, chôn vùi những học thuyết sai lầm này rồi

Tạp chí Điểm Blog xin dừng lại ở đây. Và trước thềm Năm Mới 2014, Thanh Quang kính chúc quý vị mọi điều may mắn.

Thanh Quang, phóng viên RFA
2013-12-30

Viễn cảnh nào cho kinh tế Việt Nam 2014?

Với nhiều dự đoán kinh tế Việt Nam tiếp tục sẽ “đi ngang” trong một vài năm sắp tới, liệu đâu là phao cứu sinh và liệu đâu tiếp tục là trở ngại khi nền kinh tế hiện đang được cho sẽ thoát đáy.

Thách thức của các ban ngành

Kinh tế Việt Nam năm 2013 khép lại với sự ổn định và ngày càng vững chắc hơn, nhưng để duy trì được những thành quả bước đầu đó cho năm 2014 thì còn nhiều chông gai, thách thức và cần rất nhiều những nỗ lực của tất cả các ban ngành… đây là tâm trạng chung của nhiều vị bộ trưởng bên lề Hội nghị trực tuyến của Chính phủ với các địa phương về thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế 2014.

Nhìn chung, ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tổng cầu và phục hồi niềm tin trong kinh doanh là những mục tiêu cơ bản được Chính phủ cũng như giới chuyên gia đánh giá là những gì Việt Nam cần đạt được trong năm 2014.

Trên lý thuyết, ổn định kinh tế vĩ mô bao trùm từ đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng GDP, kiềm chế lạm phát, cho tới phối hợp các chính sách tiền tệ và tài khóa linh hoạt, nhằm có được tốc độ tăng trưởng 5,8% và CPI dao động trên dưới 7%. Trong khi đó, khôi phục tổng cầu được nhắm tới là hồi phục thị trường bất động sản, từ đó “tác động lan tỏa” của thị trường này sẽ là “cú hích” làm ấm lên các thị trường khác và một chính sách chi tiêu công hợp lý. Riêng lĩnh vực niềm tin kinh doanh, giới chuyên gia cho rằng trong ngắn hạn, giải quyết nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế hấp thụ vốn, giải quyết hàng tồn kho của các doanh nghiệp, kích cầu tiêu dùng của người dân … và trong dài hạn, đề án tái cơ cấu nền kinh tế sẽ giải quyết được mọi nút thắt hiện có.

Để duy trì được những thành quả bước đầu đó cho năm 2014 thì còn nhiều chông gai, thách thức và cần rất nhiều những nỗ lực của tất cả các ban ngành… đây là tâm trạng chung của nhiều vị bộ trưởng

Rõ ràng với những chỉ tiêu đặt ra cho 2014, nhiệm vụ mà Chính phủ phải theo đuổi và duy trì không hề đơn giản. Trong bài phỏng vấn mới đây trên tờ Tuổi Trẻ, ông Trương Văn Phước, phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cho rằng năm 2014 cần phải có một cuộc chấn hưng nền kinh tế, coi đó là chiến dịch “Điện Biên Phủ về kinh tế.”
Một cửa hàng siêu thị ở Hà Nội (2013)
Một cửa hàng siêu thị ở Hà Nội (2013)VNeconomic
Chiến dịch “Điện Biên Phủ về kinh tế.”

Ông Phước cho rằng những khó khăn của nền kinh tế vẫn còn, nếu Việt Nam khởi động một chiến dịch tổng lực “Điện Biên Phủ về kinh tế” thì có thể tạo ra một cú hích cho đất nước vượt qua khó khăn này. Những điểm cơ bản ông Phước phân tích là cần một chính sách cho phép người nước ngoài mua bất động sản, phối hợp hài hòa giữa đầu tư công và tín dụng của ngân hàng để dòng vốn chảy ra thị trường nhanh nhất, đặc biệt, là những đột phá trong chính sách đầu tư của nhà nước sẽ góp phần tăng tổng cầu… quá trình này cần phải diễn ra nhanh hơn, mạnh hơn để tạo ra một kỳ vọng cao hơn cho nền kinh tế.

Vậy đâu sẽ là điểm sáng cho năm 2014, có lẽ câu trả lời sẽ là tốc độ lạm phát đã được kiềm chế, và từ đó, dư địa cho các chỉ tiêu khác dễ dàng được thực hiện hơn. P.G.S, T.S Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế ở Hà Nội phân tích về luận điểm này:

“Điểm sáng lớn nhất là kiểm soát được lạm phát. Trước kia là thành công trong ngắn hạn, trong trung và dài hạn chưa có khả năng kiềm chế và kiểm soát được, điều này được thể hiện là từ 2007 đến 2012 cứ hai năm tăng, một năm giảm, nhưng đến nay chúng ta thấy đã khắc phục được. Khi đã kiểm soát được lạm phát thì có một dư địa rất lớn cho các chính sách khác để có thể thực hiện được.”

Những khó khăn của nền kinh tế vẫn còn, nếu VN khởi động một chiến dịch tổng lực “Điện Biên Phủ về kinh tế”thì có thể tạo ra một cú hích cho đất nước vượt qua khó khăn này….cần một chính sách cho phép người nước ngoài mua bất động sản, phối hợp hài hòa giữa đầu tư công và tín dụng của ngân hàng để dòng vốn chảy ra thị trường

ông Trương Văn Phước
Bên cạnh điểm sáng là tốc độ lạm phát được kiềm chế, nhiều chuyên gia cho rằng 2014, lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) sẽ vẫn là “phao cứu sinh” cho nền kinh tế. Theo số liệu hiện có, đến hết 11 tháng đầu năm 2013, tổng vốn FDI đăng ký mới và tăng thêm lên tới hơn 20 tỷ đô la, tăng hơn 50% so với cùng kỳ năm ngoái, các nhà đầu tư lớn  vào Việt Nam vẫn là Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc… đây sẽ vẫn là lĩnh vực đóng góp nhiều vào tốc độ tăng trưởng toàn nền kinh tế, tạo công ăn việc làm và là nguồn thu về ngoại tệ.
Kiềm chế mức lạm phát...RFA file
Kiềm chế mức lạm phát…RFA file
Viễn cảnh khác của nền kinh tế 2014, giới chuyên gia cho rằng nợ xấu sẽ tăng chứ không giảm, mặc dù công ty quản lý tài sản quốc gia VAMC đã được thành lập, nhưng hoạt động vẫn chỉ dừng ở mức tạm thời là nơi nắm giữ nợ xấu thay cho các ngân hàng, chứ cơ chế xử lý triệt để thì vẫn chưa được định hình rõ ràng.

Đồng thời, lĩnh vực bất động sản 2014 vẫn được xem là tiếp tục bị đóng băng, khi nguồn cung vẫn dôi dư trong khi đầu ra thì vẫn còn yếu. Nhiều người cho rằng, có khả năng đến cuối năm 2014, thị trường sẽ khả quan hơn nhờ hoạt động M&A (sát nhập và cạnh tranh) khởi sắc sẽ đưa thị trường bất động sản khỏi bế tắc.

Gộp chung 2 lĩnh vực nợ xấu và bất động sản, T.S Ngô Trí Long tiếp tục phân tích:

“Những thách thức lớn vẫn còn đặt ra phía trước, thí dụ vấn đề nợ xấu, tuy thành lập công ty VAMC nhưng nói chung mới chỉ là mặt chuyển đổi. Nhìn vào bảng cân đối, tạm thời không còn xấu như trước, nhưng thực chất giải quyết nợ xấu cũng là bài toán nan giải vì thực ra đó chỉ là từ tổ chức tín dụng chuyển lên ngân hàng Nhà nước, chuyển từ túi này bỏ sang túi khác. Còn việc giải quyết mua bán nợ xấu như thế nào thì thực sự chưa giải quyết và chưa có lối thoát.

Những thách thức lớn vẫn còn đặt ra phía trước, thí dụ vấn đề nợ xấu, tuy thành lập công ty VAMC nhưng nói chung mới chỉ là mặt chuyển đổi. Nhìn vào bảng cân đối, tạm thời không còn xấu như trước, nhưng thực chất giải quyết nợ xấu…đó chỉ …chuyển từ túi này bỏ sang túi khác
T.S Ngô Trí Long

Đặc biệt, thị trường bất động sản, mặc dù Nhà nước đưa ra giải pháp thực hiện Nghị quyết 02 của Chính phủ, với gói hỗ trợ 30 ngàn tỉ đồng, phải nói rằng cái đó hoàn toàn chưa thành công, mà giải ngân thì còn ở mức độ rất thấp, thị trường bất động sản chưa có lối thoát, chưa có lối ra. Nói một cách khác, niềm tin vào thị trường vẫn chưa rõ, sức mua còn hạn chế. Năm 2014, nền kinh tế vẫn theo hướng đi ngang, chứ chưa có khả năng vực dậy một cách mạnh mẽ.”

Trong một bài viết gần đây của T.S Nguyễn Đức Thành, Giám đốc TT Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, thuộc đại học Kinh tế – Đại học QG Hà Nội có đưa ra 4 thách thức chính mà Việt Nam phải đối mặt trong năm 2014, ngoài 3 vấn đề cơ bản như nợ xấu, bất động sản và tỉ giá, T.S Nguyễn Đức Thành còn chỉ ra thâm hụt ngân sách của Chính phủ sẽ trở thành vấn đề quan trọng cho năm sau, lý do cơ bản là nguồn thu giảm vì doanh nghiệp suy yếu trong khi chi tiêu của CP lại không hề thuyên giảm, từ đó, đòi hỏi chính phủ sẽ vay nợ nhiều hơn để bù đắp các khoản thâm hụt ngân sách, từ đó, trực tiếp ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường vốn và gây ra những rủi ro tiềm tàng.

Dù có thể sẽ có cả những điểm sáng lẫn những thách thức tồn tại song song trong năm 2014, nhưng lĩnh vực bao trùm cần giải quyết nhất sẽ vẫn là đề án tái cơ cấu, một bài toán “nợ” và một nút thắt đã kéo dài từ nhiều năm nay. Nhận xét về tiêu chí này, T.S Lê Đăng Doanh, nguyên viện trưởng Viện quản lý kinh tế phân tích:

“Cho đến nay đã có đề án tái cấu trúc nhưng chưa thực hiện được bao nhiêu, đề án tái cấu trúc đầu tư công thì chưa được trình ra đầy đủ. Kế hoạch 5 năm 2010-2015 cũng đề ra ba khâu đột phá quan trọng. Một là đột phá, một nỗ lực vượt bậc trên lĩnh vực thiết lập thể chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Thứ hai là xây dựng kết cấu hạ tầng và thứ ba là nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực. Cả ba khâu đột phá đó cho đến nay mới làm được rất khiêm tốn và thể chế kinh tế thị trường thì gần đây nhiều người thấy là Nhà nước đã can thiệp quá nhiều vào thị trường”.

Năm cũ sắp qua, năm mới chạm ngõ, hi vọng rằng những gì năm 2013 đạt được sẽ là những tiền đề quan trọng để 2014 có đà phát huy, hi vọng một chiến dịch tổng thể “Điện Biên Phủ” sẽ đưa Việt Nam vào một vận hội mới.

Vũ Hoàng, phóng viên RFA
2013-12-30

Ngày 31/12/2013 – Phải chăng Đảng CSVN đã thất bại trong việc bảo vệ chủ quyền?


  • Trận Khe Sanh sau 45 năm (BBC) – Một số nhận định về ‘Binh thư đánh Mỹ’ của Bắc Việt Nam nhân lễ kỷ niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1914-2014).
  • Phản ứng sau phiên tòa Vinalines (BBC) – Dương Chí Dũng tự viết đơn không qua luật sư để gửi lên Tòa án Tối cao, phủ nhận tội ‘tham ô’ và chống án tử hình.
  • Kilo Hà Nội và Su 30 “phá” chiến thuật Không – Hải chiến Biển Đông bằng cách nào? (BaoMoi) – (PetroTimes) – Trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, Mỹ đã xoay trục chiến lược về Thái Bình Dương và cụ thể là Biển Đông để đối phó. Cường quốc quân sự số 1 thế giới cũng đồng thời xây dựng học thuyết quân sự Không – Hải chiến (Air – Battle Sea) nhằm kiểm soát cuộc chơi.
    Trung Quốc cũng “nóng mặt” thiết lập chiến thuật Không – Hải chiến trên Biển Đông nhằm thách thức Mỹ.
  • Vì sao ASEAN chậm phản ứng với “vùng phòng không” của Trung Quốc? (BaoMoi) – (Petrotimes) – Việc Trung Quốc đơn phương áp đặt “vùng nhận diện phòng không” (ADIZ) trên biển Hoa Đông mà không có bất kỳ tham vấn nào trước với các nước láng giềng và Mỹ khiến nhiều nước trong khu vực quan ngại, xem đây là động thái làm gia tăng căng thẳng ở Đông Á.
  • Trường Sa mùa biển động: Cờ Tổ quốc trên biển Đông (BaoMoi) – (TNO) Trước khi nhổ neo làm nhiệm vụ ngoài biển, các tàu Hải quân VN đều nhận thêm cơ số cờ Tổ quốc để đảm bảo màu đỏ sao vàng liên tục hiện diện trên nóc đài chỉ huy, khẳng định chủ quyền lãnh thổ.
  • Hành trình bay khẳng định chủ quyền trên Biển Đông (BaoMoi) – Đóng góp ổn định từ 18 – 20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) mỗi năm, ngành dầu khí trở thành một trong những mũi nhọn hàng đầu cho kinh tế đất nước. Tuy nhiên, một hoạt động rất đặc biệt gắn bó mật thiết với ngành này – “Bay dầu khí (BDK)” còn đóng góp vai trò khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông.
  • Triển vọng kinh tế 2014 : Hàn Quốc và Philippines dẫn đầu Châu Á (RFI) – Năm 2013 sắp khép lại, nhật báo kinh tế Les Echos có bài dự đoán triển vọng kinh tế năm tới tại các nước Châu Á đang trỗi dậy. Bài viết mang tựa đề “Năm 2014, những lá bài của Châu Á đang trỗi dậy được xáo lại có lợi cho các nước nhỏ”. Les Echos tập hợp nhận định của các chuyên gia làm việc cho ngân hàng Anh Quốc RBS, tập đoàn tài chính Nhật Nomura và công ty tư vấn Pháp TAC.
  • Thêm một quan chức Trung Quốc thân Chu Vĩnh Khang bị điều tra (RFI) – Theo hãng tin AFP hôm nay 30/12/2013, chính quyền Trung Quốc đã thông báo đã mở điều tra về tham nhũng một cựu quan chức thân cận với ông Chu Vĩnh Khang, từng là một trong những lãnh đạo nhiều quyền lực của chế độ Bắc Kinh trong nhiều năm trước đây.
  • Sự im lặng khó hiểu của ASEAN về vùng phòng không Trung Quốc (RFI) – Việc Trung Quốc đơn phương tuyên bố lập vùng nhận dạng phòng không ở biển Hoa Đông đã gây ra phản ứng mạnh mẽ từ phía Nhật, Mỹ, Hàn Quốc, Úc. Các nước này bày tỏ sự bất bình hoặc chỉ trích Bắc Kinh làm cho tình hình khu vực thêm căng thẳng. Nhưng cho đến nay, Hiệp hội các nước Đông Nam Á – ASEAN vẫn im hơi lặng tiếng một cách khó hiểu.
  • Đồn công an Tân Cương bị tấn công : 8 người chết (RFI) – Theo thông báo của chính quyền Tân Cương, được hãng tin AFP trích dẫn, vào hôm nay, 30/12/2013, đã có 8 người bị lực lượng an ninh hạ sát. Những người này đã << tấn công >> vào một đồn công an trong vùng. Ngoài ra, còn có một người khác đã bị bắt.
  • Lãnh đạo Trung Quốc sẽ không gặp Thủ tướng Nhật (RFI) – Theo hãng tin Reuters, hôm nay 30/12/2013, Bắc Kinh ngỏ ý cho biết lãnh đạo của họ không muốn có cuộc gặp thượng đỉnh Trung – Nhật, sau sự kiện Thủ tướng Shinzo Abe đến thăm đền Yasukuni, địa danh mà Bắc Kinh vẫn coi là biểu tượng của chủ nghĩa quân phiệt Nhật trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai.
  • Bình Nhưỡng hành quyết nhiều quan chức cùng với Jang Song Thaek (RFI) – Nhiều nguồn tin từ báo chí cũng như quan chức Hàn Quốc hôm nay 30/12/2013, khẳng định, ngoài ông chú rể đỡ đầu của Kim Jong Un, bị hành quyết hôm 12/12/2013 , còn có nhiều quan chức thân cận khác cũng cùng chung số phận với ông Jang Song Thaek.
  • Khủng bố đẫm máu thứ nhì tại Nga (RFI) – Sáng nay, 30/12/2013, tại Volgograd, ở phía tây nam nước Nga, một chiếc xe điện bánh hơi đã phát nổ làm 14 người thiệt mạng và khoảng một chục người bị thương. Đây là vụ khủng bố thứ hai trong vòng 24 giờ qua. Chỉ còn vài tháng nữa là đến Thế Vận Hội mùa đông Sotchi, tình hình an ninh tại Nga gây lo ngại.
  • Nhà riêng của đại sứ Đức tại Hy Lạp bị xả súng (RFI) – Theo nguồn tin của cảnh sát Hy Lạp , sáng sớm hôm nay 30/12/2013,nhiều kẻ lạ mặt đã xả súng vào tư dinh của đại sứ Đức tại Hy Lạp, nằm ở ngoại ô thủ đô Athènes. Vụ tấn công xảy ra lúc 3h30, giờ địa phương. Đơn vị cảnh sát chống khủng bố ngay sau đó đã được điều đến hiện trường để tiến hành điều tra.
  • 2013 : Năm nước Pháp can thiệp ngoại giao và quân sự (RFI) – Lên tuyến đầu can thiệp vào Trung Phi và Mali, chớm nở ý định nhảy vào Syria, hăng hái trong hồ sơ Iran. Đó là những nét nổi bật trong hành động và chính sách đối ngoại của nước Pháp trong năm 2013, điều mà người ta thường thấy rõ nét ở Hoa Kỳ hơn là một nước châu Âu.
  • Nam Cực : Tàu phá băng Úc thất bại trong việc cứu tàu Nga (RFI) – Chiếc tàu phá băng Úc trên đường đến giải cứu một con tàu Nga bị mắc kẹt trong băng gần Nam Cực đã phải quay ngược trở về vào hôm nay 30/12/2013 khi còn cách mục tiêu khoảng 10 hải lý. Theo chính quyền Úc, thời tiết xấu là nguyên nhân khiến cho nỗ lực giải cứu lại thất bại.
  • Cận Đông : Pháp và Ả Rập Xê Út đồng quan điểm (RFI) – Nhân chuyến công du Ả Rập Xê Út, kết thúc hôm nay 30/12/2013, Tổng thống Pháp François Hollande và Quốc vương Ả Rập Xê Út Abdallah đã có cuộc tiếp xúc thượng đỉnh vào hôm qua. Hai bên đã bày tỏ quan điểm hoàn toàn đồng nhất về các cuộc khủng hoảng đang khuấy động vùng Trung Cận Đông. Trên bình diện kinh tế, trao đổi thương mại song phương cũng sẽ được tăng cường.
  • Vô địch Schumacher bị chấn thương sọ não (RFI) – Cựu vô địch đường đua xe hơi Công thức 1, người Đức Michael Schumacher hôm qua bị ngã trên đường trượt tuyết trên dãy Alpes của Pháp và bị chấn thương não nặng và hiện vẫn đang trong tình trạng nguy kịch.
  • Ai Cập bắt giữ 4 ký giả đài Al-Jazeera (VOA) – Mạng lưới truyền hình Al-Jazeera có trụ sở tại Qatar cho biết Ai Cập đã bắt giữ 4 nhà báo của họ và đã yêu cầu trả tự do ngay tức khắc cho những nhà báo này
  • Myanmar cần tránh áp lực về biển Đông (BaoMoi) – Đó là lời kêu gọi do Phó tổng giám đốc U Aung Htoo của Ban Phụ trách các vấn đề ASEAN thuộc Bộ Ngoại giao Myanmar đưa ra trước khi nước này bắt đầu nhậm chức Chủ tịch ASEAN từ ngày 15.1.2014.
  • Nhật Bản sẽ mở ‘tour chủ quyền’ tới Senkaku cho phóng viên quốc tế (BaoMoi) – Trong nỗ lực mới nhất nhằm thông báo với giới truyền thống quốc tế về lập trường của Tokyo đối với lãnh thổ đang tranh chấp với Bắc Kinh, Bộ Ngoại giao Nhật Bản đang lên kế hoạch mời tới hơn 100 nhà báo Mỹ và châu Âu tại Trung Quốc đến thăm Okinawa và Senkaku vào năm tới.
  • Bí mật về căn cứ của “sát thủ Biển Đông” Kilo Hà Nội (BaoMoi) – (PetroTimes) – Tàu ngầm kilo Hà Nội đang về gần đến Việt Nam. Căn cứ của một trong những tàu ngầm tấn công tối tân nhất thế giới này chính là quân cảng Cam Ranh. Quân cảng Cam Ranh, nơi vẫn được xem là một trong những quân cảng tốt nhất thế giới.
    Giới quân sự vẫn cho rằng: Ai sở hữu quân cảng Cam Ranh sẽ có thể đủ khả năng phong tỏa được cả Biển Đông. Dù hải quân Nga đã trả lại quân cảng này cho Việt Nam nhưng với đa số chúng ta, nơi đây vẫn là một bí mật.
    Hãy cùng PetroTimes tìm hiểu căn cứ mới của “sát thủ Biển Đông” tàu ngầm kilo Hà Nội.
  • Cam kết vì an ninh hàng hải (BaoMoi) – ANTĐ – Có quyền lợi và lợi ích liên quan mật thiết ở Biển Đông, cả Nhật Bản và Mỹ đều đã đưa ra những cam kết bảo đảm an ninh hàng hải cho các quốc gia Đông Nam Á nằm án ngữ trên vùng biển chiến lược quan trọng này.
  • Vì sao Trung Quốc quyết cướp Biển Đông? (BaoMoi) – Nếu mất Biển Đông, Trung Quốc sẽ mất toàn bộ quyền kiểm soát đối với một tuyến đường sinh mệnh rất dài trên biển, tuyến quốc phòng bị thu hẹp, con đường ra biển của miền Nam Trung Quốc bị chặn đứng.
  • Thời sự tuần qua: Dò được tín hiệu xương cốt ở TMV Cát Tường (BaoMoi) – Hà Nội chính thức có thêm 2 quận mới; Kẻ chặt tay cô gái cướp xe SH lĩnh án tử hình; Xe giường nằm chở 33 khách lao vực sâu; Sinh đôi bằng tinh trùng của người chồng đã mất; Tiết lộ về gia thế cực khủng của vợ Thanh Bùi; Sốc: Phát hiện 3 hộ gia đình sống trên “cây” giữa Thủ đô; ‘Nhà ngoại cảm’ chỉ nạn nhân Cát Tường dưới ao bèo…là những thông tin thời sự nổi bật tuần qua.
  • Tàu ngầm Hà Nội vào biển Đông (BaoMoi) – Công ty chuyên theo dõi hải trình tàu biển quốc tế exactEarth (Canada) hôm qua dẫn hình ảnh vệ tinh cho Thanh Niên hay tàu Rolldock Sea đang chở tàu ngầm HQ182 Hà Nội đã rời cảng Jurong của Singapore lúc 1 giờ 05 sáng 29.12 (tức 0 giờ 05 giờ Việt Nam cùng ngày).
  • Thời tiết Bắc bộ sẽ ấm dần lên vào năm mới (BaoMoi) – Theo dự báo của Trung tâm khí tượng thủy văn Trung ương, tình trạng rét đậm, rét hại tại miền Bắc sẽ kéo dài đến hết tháng 12. Sang năm mới thời tiết ở Bắc bộ sẽ ấm dần lên.
  • Rét đậm, rét hại ở miền Bắc kéo dài hết tháng 12 (BaoMoi) – Trung tâm dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương cho biết, do ảnh hưởng của không khí lạnh được tăng cường nên ở các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, trời tiếp tục rét đậm, rét hại kéo dài trên diện rộng. Đợt rét đậm, rét hại này có khả năng duy trì đến hết tháng 12/2013, sau đó thời tiết sẽ ấm dần lên. Vùng núi các tỉnh Bắc Bộ cần đề phòng băng giá và sương muối.

Phải chăng Đảng CSVN đã thất bại trong việc bảo vệ chủ quyền?

Xin thưa với các tiến sĩ, giáo sư của báo Nhân Dân, Quân đội Nhân Dân. Đây chỉ là câu hỏi giả thiết. Quý vị đừng nhảy cẫng lên chụp mũ chống Đảng, chống băng nhóm gì cả. Câu chuyện có nguyên nhân của nó.

Chả là chúng tôi, những người biểu tình phản đối quân Trung Quốc xâm lược. Khi bị bắt vào trại Lộc Hà, bị cơ quan an ninh xét hỏi. Trong quá trình bị xét hỏi kèm với việc giải thích, tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ chủ quyền. Các cán bộ an ninh đưa ra một lý lẽ rằng.

“Giờ chúng ta muốn bảo vệ đất nước, phải giữ ổn định chính trị. Vì sao, vì giữ ổn định chính trị mới phát triển được kinh tế. Có kinh tế mạnh thì chúng ta mới có vũ khí, có phương tiện để bảo vệ chủ quyền…”

Cá nhân tôi đồng ý với lý lẽ của cán bộ an ninh, mặc dù tôi biết lịch sử khi thành lập nhà nước này, kinh tế gần như con số không. Nhưng nhờ ngoại giao được với các cường quốc cộng sản anh em, Việt Nam có được pháo 105 ly, xe tăng, tên lửa… để chiến đấu. Mặc dù nền kinh tế Việt Nam lúc đó đến cái xe đạp cũng không sản xuất được ra hồn.

Cuộc biểu tình đầu tiên chống quân Trung Quốc xâm lược nổ ra năm 2007, đến năm 2009 tôi bị bắt vì tội in áo Hoàng Sa- Trường Sa- Việt Nam… rồi đến năm 2011, năm 2012 cuộc biểu tình như thế lại nổ ra. Tôi lại bị bắt vì tội biểu tình Hoàng Sa – Trường Sa. Phải nói một điều đôi khi trước lúc bắt người biểu tình, chính quyền đã dùng loa trên xe ô tô công an để thuyết phục rằng hành động biểu tình của chúng tôi là gây rối trật tự công cộng, có đánh giá tinh thần yêu nước, nhưng chuyện bảo vệ chủ quyền nhà nước có đường lối bảo vệ.

Trong ngần ấy năm bức xúc vì chuyện chủ quyền tôi vẫn nghe lập luận quen thuộc và rất có lý của cơ quan an ninh.

– Kinh tế phải mạnh mới bảo vệ chủ quyền, giờ phải khéo léo giữ hòa bình để tranh thủ phát triển kinh tế mạnh lên, có tiền mua tàu, tên lửa, khí tài, nuôi quân đội… giờ Đảng và Nhà Nước đang phải lo lắng như thế, các anh đừng nóng vội làm mất trật tự xã hội, khiến cho tình hình bất ổn hơn.

Giờ nhìn lại đã mấy năm trôi qua, nền kinh tế của Việt Nam phát triển hay là lụi bại?

Nếu nền kinh tế của chúng ta không phát triển, thậm chí lụi bại, đời sống cán bộ, nhân dân, chiến sĩ khó khăn hơn. Mọi thứ tăng giá nhiều hơn, thu phí nhiều hơn thì rõ ràng nền kinh tế không phát triển mạnh mà đang vào chỗ suy yếu. Phải suy yếu thì nợ công mới đầm đìa, mới phải tái cơ cấu, mới phải bán cổ phần của các tập đoàn, doanh nghiệp lớn. Mới phải tìm cách huy động vàng trong dân để làm vốn nhà nước. Hàng loạt doanh nghiệp phá sản, giải thể….

Và nói gì thì nói, thực tế một điều là nền kinh tế chúng ta đi xuống.

Nếu vậy, phải chăng chiến lược phát triển kinh tế để đảm bảo chủ quyền đã thất bại? Rõ ràng theo lập luận các anh đưa ra, phát triển kinh tế để bảo vệ chủ quyền. Thì mệnh đề phát triển kinh tế đã không thành, vậy mệnh đề bảo vệ chủ quyền suy ra cũng thất bại theo?

Ngoài một điểm sáng là phát biểu của bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh mới đây tại hội nghị quân chính toàn quân, ông Thanh khẳng định kiên quyết giữ vững chủ quyền biển đảo. Và tàu ngầm Kilo về tới Việt Nam. Tàu ngầm là một chương trình có từ lâu, còn mục tiêu quân đội của ông Thanh lẽ ra phải nhắc thêm trong trách của quân đội rất nặng nề nữa là bảo vệ Đảng, bảo vệ CNXH, sẵn sàng dập tắt biểu tình, bạo động… Những điểm này sáng nhưng chưa tỏ, vì chẳng mới mẻ gì và cũng chẳng hơn gì so với trước. Và nó cũng chẳng đủ để chứng minh luận thuyết kinh tế phát triển mạnh để bảo vê chủ quyền.

Giá như khi tàu ngầm Kilo về tới Việt Nam, giá cả viễn thông, xăng dầu… không tăng vọt. Giá như cả chính phủ phải nhẫy cẫng lên mừng như bắt được vàng vì ngân sách thu hoàn thành kế hoạch. Giá như người công nhân không phải nhận gạch, nước mắm thay tiền thưởng Tết…

Có lẽ Đảng đã thành công trong việc phát triển kinh tế để bảo vệ chủ quyền.

Nền ngoại giao Câu Tiễn

Ngoại giao khéo léo là một trong những biện pháp mà ĐCSVN ca ngợi trong việc bảo vệ chủ quyền. Đó là tăng cường hiểu biết hai nước, tăng cường quan hệ toàn diện từ văn hóa, kinh tế, quân sự, chính trị…

Một ông đại sứ ở Trung Quốc hàm tương đương thứ trưởng mà phải nói

“Chính sách nhất quán của Việt Nam là coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị, tăng cường hợp tác toàn diện với Trung Quốc. Chúng ta không có hai lòng. Thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với Trung Quốc cũng góp phần vào hòa bình, ổn định trong khu vực và thế giới”.

Xưa nay chuyện ăn ở một hay hai lòng, chỉ dành cho kẻ đầy tớ, bầy tôi. Lẽ nào ở cấp hàm tương đương thứ trưởng ngoại giao, một ông đại sứ không biết về câu cú, chữ nghĩa lại đi sử dụng từ “hai lòng” trong một mối quan hệ tưởng là phải bình đẳng giữa hai nước? Người ta nói một lòng thờ bố, một lòng thờ chủ, một lòng thờ vua… có ai nói một lòng thờ bạn đâu. Với bạn bè chỉ cần chí tình, chí nghĩa là đủ. Trong quan hệ vợ chồng có sử dụng từ một lòng, hai lòng. Nhưng đó dành cho người vợ, vì vai trò người đàn ông trong lịch sử như vai trò của một ông chủ. Người ta khen vợ ăn ở một lòng, không hai lòng hai mặt với chồng là vậy.

Ở quan hệ ngoại giao hai nước có lịch sử văn hóa truyền thống phong kiến, đều biết rõ về sự một lòng, hai lòng là chỉ quan hệ cấp bậc phân chia thế nào. Vậy ông đại sứ Thơ địa diện cho VN nói câu vậy, thì ông định xếp vai vế Việt Nam với Trung Quốc là gì?

Một ông Vũ Xuân Hồng, chức danh là Chủ tịch các hội liên hiệp hữu nghĩ Viêt Trung trả lời báo Tuần Vietnamnet rất chi tiết về ơn nghĩa, công lao của Trung Quốc đối với Việt Nam, ông Hồng kể rõ tên từng địa danh, công trình mà Trung Quốc giúp Việt Nam từ đời nảo đời nào.

“Chúng ta vẫn còn đó bao công trình lớn của Trung Quốc xây dựng trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa: nhà máy thép Thái Nguyên, sợi Nam Định, phân đạm Hà Bắc… các công ty Trung Quốc vào Việt Nam làm ăn. Biên giới mở cửa để hai nước giao thương buôn bán, hòa bình hữu nghị. Đó là nền tảng lâu dài cho nhân dân cả hai bên. Dứt khoát không nên dấy lên điều gì có thể dẫn đến xung đột.”

Thế nhưng chủ quyền của đất nước ông đấy, đang có vấn đề gì, ở đâu, quân Trung Quốc đóng chỗ nào, khoanh vùng chỗ nào, bắn ngư dân Việt lúc nào, thời điểm nào. Ông Vũ Xuân Hồng không nhớ, trái lại ông lại mập mờ nói:

“Biển Đông là một trong những câu chuyện nhạy cảm, phức tạp; nhưng đừng để ảnh hưởng đến đại cục. Chúng ta còn có bao nhiêu lĩnh vực cần cùng nhau phát triển: kinh tế, xã hội, chia sẻ kinh nghiệm, hợp tác phát triển…”

Chủ quyền rõ ràng, sao lại là câu chuyện nhạy cảm, phức tạp. Cách mà ông Hồng nói khiến người ta cảm giác câu chuyện chủ quyền là một câu chuyện có lỗi, vấn đề chủ quyền là vấn đề không hay, không nên nhắc đến làm gì. Tại sao ông không kể rõ chi tiết địa danh, thời điểm của vấn đề biển đảo rành rọt như ông kể tên các công trình Trung Quốc giúp Việt Nam?

Lịch sử có nền ngoại giao nín nhịn của Câu Tiễn của nước Việt. Nhưng Câu Tiễn nằm gai, nếm mật, Hàng đêm ngửa cổ nhắc với trời đất mối thù bị mất đất.

Câu Tiễn không nhịn nhục để sắm biệt thự, để mua nhà cho bồ nhí, để mua những món ngon vật lạ trong thiên hạ. Câu Tiễn cũng chẳng vun vén cho con cái nắm những vị trí hái ra tiền. Toàn quân, toàn dân nước Việt của Câu Tiễn ngày đêm cày cấy, tăng gia phát triển kinh tế để nước giàu, quân mạnh. Vua quan nước Việt của Câu Tiễn cùng mặc áo vải gai, cùng dệt vải, cày cấy với dân. Câu Tiễn cũng không gửi con sang Hoa Kỳ với số vốn chuyển theo đề lo chỗ mới làm ăn.

Và đương nhiên chấp nhận nền ngoại giao nhịn nhục để phục quốc, Câu Tiễn ngày ăn cơm rau dưa không quá hai món, sẽ không béo múp ngón tay như Vũ Xuân Hồng…

Câu Tiễn mặc áo gai, làm sao bóng bảy, tóc tai mượt mà, mày râu nhẵn nhụi như đại sứ Nguyễn Văn Thơ.

Vậy thì nền ngoại giao khéo léo của Việt Nam với Trung Quốc là gì? Tất nhiên với những gì chúng ta thấy, nó chẳng phải là nền ngoại giao nhịn nhục để mưu đồ quật khởi như Câu Tiễn.

Một nền ngoại giao sáng tạo.

Đơn giản tên gọi của nó là thế thôi.

Tái bút: Đây chỉ là những suy nghĩ cá nhân, phiến diện, chủ quan và thiếu dẫn chứng. Bài viết mang cảm tính hơn là biện chứng khoa học. Bởi người viết trình độ hạn hẹp, chỉ nói vấn đề theo góc nhìn hạn chế của mình. Không phải là quan điểm của những nhà đấu tranh dân chủ, đấu tranh cho tiến bộ xã hội, đất nước. Những nhà đấu tranh đó ở một tầm cỡ lớn hơn nhiều người viết bài này. Vài lưu ý cho bạn đọc khỏi đánh giá lẫn lộn vàng thau.
Người Buôn Gió

Theo blog Người Buôn Gió

Sự im lặng khó hiểu của ASEAN về vùng phòng không Trung Quốc

Hai hãng hàng không dân sự trong khối ASEAN là Singapore Airlines và Thai Airways cho biết tuân thủ yêu cầu của Trung Quốc - AFP
Hai hãng hàng không dân sự trong khối ASEAN là Singapore Airlines và Thai Airways cho biết tuân thủ yêu cầu của Trung Quốc – AFP


Đức Tâm (RFI)

Việc Trung Quốc đơn phương tuyên bố lập vùng nhận dạng phòng không ở biển Hoa Đông đã gây ra phản ứng mạnh mẽ từ phía Nhật, Mỹ, Hàn Quốc, Úc. Các nước này bày tỏ sự bất bình hoặc chỉ trích Bắc Kinh làm cho tình hình khu vực thêm căng thẳng. Nhưng cho đến nay, Hiệp hội các nước Đông Nam Á – ASEAN vẫn im hơi lặng tiếng một cách khó hiểu.

Khi lập vùng phòng không, Trung Quốc không hề tham khảo trước các nước láng giềng hoặc Hoa Kỳ. Điều này cho thấy Bắc Kinh quyết tâm tiến hành đơn phương các hoạt động vì lợi ích riêng của mình, đặc biệt trong vấn đề biên giới, lãnh thổ.

Giới chuyên gia về Đông Nam Á rất quan tâm đến khả năng liệu Trung Quốc có lập một vùng phòng không tương tự tại Biển Đông hay không. Dường như đoán trước được câu hỏi này, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc Dương Vũ Quân (Yang Yujun) đã tuyên bố : « Trung Quốc sẽ thiết lập các vùng nhận dạng phòng không khác, vào thời điểm thích hợp, sau khi hoàn tất các chuẩn bị cần thiết ».

Ba ngày sau khi tuyên bố lập vùng phòng không ở biển Hoa Đông, Bắc Kinh điều hàng không mẫu hạm Liêu Ninh xuống Biển Đông.

Trước các tín hiệu này, ASEAN vẫn không hề có phản ứng. Chỉ có ba hãng hàng không dân sự, trong đó có hai công ty thuộc khối ASEAN là Singapore Airlines và Thai Airways, hãng thứ ba là Qantas Airways của Úc đều cho biết sẽ tuân thủ các yêu cầu của Trung Quốc khi đi qua vùng phòng không.

Vài ngày sau, Ngoại trưởng Philippines lên tiếng cảnh báo là Trung Quốc có thể tìm cách kiểm soát không phận trên Biển Đông. Thông cáo chung của Thượng đỉnh kỷ niệm 40 năm quan hệ Nhật – ASEAN chỉ đề cập một cách gián tiếp đến hành động của Trung Quốc, rằng các bên « đồng ý tăng cường hợp tác nhằm đảm bảo sự tự do bay trên bầu trời và an ninh hàng không dân sự, phù hợp với các nguyên tắc của luật pháp quốc tế ».

Theo nhà phân tích Dylan Loh Ming Hui, thuộc trung tâm nghiên cứu quan hệ quốc tế Rajaratnam, đại học Nanyang Technological University, Singapore, thì có ba nguyên nhân giải thích phản ứng chậm trễ của ASEAN.

Trước tiên, dường như lãnh đạo các nước ASEAN muốn áp dụng chính sách « Chờ xem ». Có thể họ nghĩ rằng, tại sao lại chấp nhận rủi ro chọc tức Trung Quốc và làm cho tình hình thêm xấu đi, trong lúc những nước lớn hơn, có ảnh hưởng hơn lại không chủ trương đối đầu với Bắc Kinh.
Nguyên nhân thứ hai là một số nước trong ASEAN cho rằng vùng phòng không Trung Quốc tác động rất ít đến Hiệp hội – và như vậy, không có lý do gì để lo ngại – bởi vì tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở biển Hoa Đông hoàn toàn khác với tranh chấp ở Biển Đông.

Nguyên nhân thứ ba là do cơ chế ra quyết định của ASEAN đòi hỏi phải có sự đồng thuận trong toàn khối. Do vậy, rất khó có được một câu trả lời chung, nhất là các nước thành viên có các quan điểm khác nhau về Trung Quốc.

Phản ứng chậm trễ của ASEAN làm cho Trung Quốc hiểu rằng việc lập vùng phòng không được chấp nhận và sẽ khuyến khích Bắc Kinh hành động tiếp ở những nơi khác. Nếu đã lập được vùng phòng không ở biển Hoa Đông, nơi mà tình hình căng thẳng hơn, quan hệ với Nhật Bản xấu hơn, thì có trở ngại gì mà không làm tiếp ở Biển Đông, nơi mà tình hình tương đối yên ổn hơn ?

Vả lại, cách hành xử của Trung Quốc ở biển Hoa Đông không khác gì so với tại Biển Đông, như điều động tàu hải giám, ngư chính, máy bay xâm nhập vào các vùng đang có tranh chấp.

Theo giới chuyên gia, ASEAN cần có tiếng nói chung, bày tỏ mối lo ngại và yêu cầu Trung Quốc cho biết có ý định lập vùng phòng không ở Biển Đông hay không. Nếu Bắc Kinh trả lời một cách mơ hồ, hoặc tiêu cực, thì ít ra, ASEAN có thời gian để thương lượng nội bộ, cùng nhau đưa ra kế hoạch đối phó chung.

ASEAN có một số cơ chế để giải quyết các tranh chấp, như Hiệp ước bất tương xâm 1976 mà Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ đều tham gia hay tuyên bố chung 2002 về ứng xử của các bên tại Biển Đông – DOC, nhưng chưa đủ và không hiệu quả.

Nếu ASEAN không có tiếng nói và hành động chung, thể hiện tình đoàn kết nội bộ, thì ít có khả năng ngăn chặn được Trung Quốc tìm cách thống trị vùng trời Biển Đông và ở những nơi khác.

 

  • Britain, China boost biz ties (Washington Post) – The United Kingdom has experienced a surge of Chinese investment in recent years, among which are some extraordinarily fast-growing companies confidently establishing their footprint on British soil through both organic growth and acquisitions.
  • ‘Virtual’ era opening up for telecom users, firms (Washington Post) – The Ministry of Industry and Information Technology officially issued the first group of licenses for mobile virtual network operators on Thursday, allowing private domestic companies to offer repackaged mobile services.
  • Year-end bonuses at SOEs to rise: Poll (Washington Post) – More State-owned enterprises in China will offer higher year-end bonuses to employees than foreign and private companies, a recent survey suggests.
  • Hebei faces huge cuts in steel capacity to reduce pollution (Washington Post) – China’s largest steel base, Hebei province, will cut 67.26 million metric tons of capacity by 2017 without putting too much emphasis on local growth in gross domestic product in order to create a sustainable development of the industry and improve air quality.
  • ODI on track to outstrip FDI, official says (Washington Post) – China’s foreign trade grew at its weakest pace in the past two years since the opening-up of the economy, but its share of global trade and outbound investment is still rising.
  • Elite feet (Washington Post) – The wealthy are swapping golf courses for racetracks.
  • Cruisin’ for a fusion (Washington Post) – The food served at Unico by Mauro Colagreco is neither Spanish, nor French, nor Argentine, nor Chinese.
  • Dashing forward (Washington Post) – Running is sprinting ahead in popularity nationwide, despite cultural hurdles and air pollution. Matt Hodges reports in Shanghai.
  • A survivor’s game (Washington Post) – The past year has been especially difficult for high-end restaurants in Beijing. Many top Chinese restaurants either closed down or have tried to reinvent themselves for a downscale market. At the same time, some middle and low-end eateries have sustained good business. The closing of Maison Boulud at Qianmen 23 on Dec 8 came as a shock to many gourmets in Beijing. Just three months ago in September, New York-based founder Daniel Boulud himself was in town to celebrate its fifth anniversary. The restaurant had a good reputation and won plenty of media awards for both food and service.
  • Gray skies, black humor (Washington Post) – Someone in Beijing says its smog is so dense he cannot see the Chairman Mao portrait at the Tian’anmen Rostrum.
  • Festivities and food miles (Washington Post) – This week, we demolished about 4 kilograms of baby pork ribs, two whole lamb legs and about another kg of chicken wings. To be fair, we had a lot of help to eat them, and it was over four meals through Christmas Eve, Christmas and Boxing Day.
  • Growing and learning from vegetables (Washington Post) – It was a weekend venture motivated by the desire to feed his children pesticide-free greens, but he definitely reaped more than what he expected when the farm started growing.
  • Flying high once more (Washington Post) – A brain tumor nearly grounded a veteran fighter pilot forever but Shen Wenjie was determined to get back in the air, he tells Peng Yining in Yantai, Shandong province.
  • Language skills a path to jobs for Tibetans (Washington Post) – Without providing any qualifications or certificates, language schools in Lhasa have led many people struggling with literacy to new job opportunities.
  • 3rd high-level official probed (Washington Post) – A senior Sichuan political adviser is being investigated for “suspected serious law and discipline violations”, the country’s top anti-graft watchdog announced on Sunday.
  • Japan PM ‘must correct mistake’ (Washington Post) – China is taking a tougher stance toward Japan, observers said, after a state councilor condemned Japanese Prime Minister Shinzo Abe’s visit to a shrine honoring its war dead, including war criminals.
  • China says Abe must repent for shrine visit (Washington Post) – Chinese State Councilor Yang Jiechi on Saturday declared Japanese Prime Minister Shinzo Abe’s visit to the Yasukuni shrine was a mistake that must be corrected.
  • Xi joins diners for dumplings (Washington Post) – The public hailed President Xi Jinping after a man-of-the-people appearance at a steamed dumplings restaurant in Beijing on Saturday.
  • Volunteers enriched by exchange (Washington Post) – The first batch of Chinese volunteers to go to Brunei had to make some tough decisions concerning families, education and work. Some of the 23 volunteers, ranging in age from 21 to 53, left babies behind. Some delayed finishing their college education. Others quit their jobs.
  • Shrine visit fury mounts (Washington Post) – Outrage from Asian neighbors and world powers continued to grow on Friday over Japanese Prime Minister Shinzo Abe’s visit to a controversial shrine.
  • Anger over Abe’s shrine visit (Washington Post) – Shinzo Abe stunned the world by making himself the first sitting Japanese PM in seven years to visit a war crime shrine.

Chế độ góp phần tạo nên ‘tội phạm’? – CIA theo dõi sát trận Hoàng Sa 1974


LM H Tuấn – Đảng là cha, là mẹ & Nhân dân mồ côi!

LM H Tuấn
Theo Dân Làm Báo
Câu chuyện về Đảng là đạo đức, là văn minh thì lâu nay nghe ra rả, nhưng Đảng là Mẹ thì mới được ông Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn ấn hành vừa mới đây trên báo Quân đội Nhân dân (QĐND) [1].

Thực ra thì đối với một người trưởng thành từ trong quân ngũ, là một Đảng viên khi tròn 18 tuổi thì việc Đảng hóa thành niềm tin, cuộc sống, lý tưởng, thành đạo đức, văn mình, là mẹ vĩ đại trong thời điểm chiến tranh loạn lạc… không có gì là lạ.

Nhưng khi người Đảng viên ấy khoác trên mình màu áo của một quân đội với danh xưng QĐND sau cuộc chiến và được nuôi bởi những đồng thuế của dân thì cái việc Đảng hóa đó trở nên kệch cỡm, thô bịch và đầy chất nịnh bợ, tôi tớ.

Vì Đảng hóa như vậy nên ông đã nhầm lẫn phán chắc nịch: “Không có Đảng thì không có Quân đội nhân dân Việt Nam”. Vì sao?

– Thứ nhất, trong tiến trình của Lịch sử, đội quân nhân dân luôn tồn tại, và nó được tổ chức bởi các Đảng phái ban đầu, nếu như không có Đảng Cộng sản thì sẽ có Đảng Quốc dân, Đảng Lập hiến, Đảng Thanh niên, Phục Quốc hội [2] hay bất kỳ Đảng phái nào sẽ tổ chức thành lập đội quân. Cái quan trọng là, đội quân đó được nhân dân nuôi dưỡng, bao bọc ra sao từ quá khứ cho đến hiện tại? Và đội quân của người Cộng sản với 34 người hôm đó (tôi xin lấy mốc mà người Cộng sản như ông Trung tướng đang nhìn nhận) sẽ ra sao nếu không nhận được điều đó từ nhân dân?… Kể cả khi đội quân ấy hoạt động vũ trang – bán vũ trang, chính trị từ thời Việt Bắc lập chiến khu cho đến Mậu Thân 68, tổng tấn công 74-75?

– Thứ hai, đội quân Nhân dân ngày hôm nay, đội quân mà ông tự hào là Đảng cho ra đời thì những chàng trai – cô gái tuổi đôi mươi đó lại từ dân mà ra, và hầu hết đều là những người dân-không-đảng-phái, họ gia nhập đội quân như là phương cách góp phần bảo vệ giang sơn, bảo vệ xóm làng, chống lại ngoại xâm chứ chưa bao giờ nghĩ sẽ bảo vệ Đảng Cộng sản cả. Nó cũng giống như khi Nguyễn Ái Quốc đọc được bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng trên báo Nhân đạo (L’Humanité) vào tháng 7/1920 ông cho rằng, đây là con đường giải phóng chúng ta nhưng không phải ông hiểu về Mác, về Lênin mà ông đơn thuần bị thu hút bởi yếu tế dân tộc & thuộc địa mà bản sơ thảo nhắc đến, cũng như việc ông gia nhập Đảng Cộng sản Pháp cũng là vì Đảng hứa một cách cụ thể là từ nay Đảng sẽ đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa. [3]

– Thứ ba, việc đem công lao sáng lập trong quá khứ để buộc quân đội phải theo Đảng trong hiện tại & tương lai nó cũng hợm hĩnh như việc đem công lao lãnh đạo làm nên thống nhất lãnh thổ 1975 để biện hộ cho việc duy trì quyền lãnh đạo độc tôn, để biện hộ cho sai lầm, để biện hộ cho khuyết điểm không thể sửa chữa nỗi của Đảng trong thời kỳ hòa bình vậy. Làm việc đó khác nào phỉ nhổ vào lịch sử, đem Lịch sử ra đổi chác thưa ông Trung tướng?

Nếu ông trung tướng cho rằng, đội quân hiện nay là do Đảng lập nên, do Đảng lãnh đạo và bảo vệ Đảng – không tách rời khỏi Đảng là tất yếu. Vậy thì xin nói lại các quan điểm mà các ông đang trốn tránh:

– Một là, đội quân hiện nay các ông cố tình đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, rồi dùng nó như 1 công cụ bảo vệ tổ chức Đảng Cộng sản thì tốt nhất, các ông nên đổi tên là Cấm vệ quân Đảng Cộng sản đi.

– Hai là, nếu đội quân hiện nay là từ Đảng mà ra và các ông mặc nhiên buộc trung thành, biến nó thành đội quân bảo vệ Đảng thì tốt nhất, các ông nên lấy quân hằng năm từ gần 4 triệu Đảng viên của mình. Tương tự các phí duy trì cho đội quân này cũng nên lấy từ tiền Đảng phí thay vì thuế nhân dân.

Ông trung tướng cho rằng, bảo vệ Đảng chính là tăng cường năng lực cho Đảng bảo vệ Tổ quốc, do đó quân đội ta đã viết nên và tô thắm truyền thống “Trung với Đảng, hiếu với dân”; “Trung với nước, hiếu với dân”. Tôi cho là phải, vì ít nhất ông đã không bỏ quên yếu tố Nước đối với Quân đội. Tuy nhiên:

– Việc đưa quân đội Quốc gia biến thành của riêng cho Đảng cộng sản. Rồi cố gán ghép bằng khẩu hiệu “trung với Đảng, hiếu với Dân” là một sự đánh tráo nham nhở. Một quốc gia với một đội quân chỉ có một mệnh lệnh duy nhất là Bảo vệ lãnh thổ, cương vực quốc gia trước nguy họa từ bên ngoài. Nếu đội quân buộc phải bảo vệ Đảng như là một điều kiện cần và đủ để đảm bảo an ninh quốc gia thì khi Đảng của các ông bị phân hóa, bị suy yếu, bị chia bè-cánh, đội quân đó có đủ sức để đảm nhiệm các mệnh lệnh linh thiêng như trên? Hay là các viễn cảnh Loạn 12 sứ quân lại tái diễn thời hiện đại?

– Đưa quân đội quốc gia (vốn để bảo vệ cho một cộng đồng lớn người) trở thành một đội quân bảo vệ cho một nhúm người với sứ mệnh đặt ngang hàng để buộc đội quân đó phục tùng mọi mệnh lệnh của Đảng, coi nhiệm vụ của Đảng là nhiệm vụ của quân đội, coi hiểm họa của Đảng là hiểm họa của quân đội thì Quân đội đó có còn là một quân đội của Dân, của Quốc gia nữa không? Có xứng đáng để tên là Quân Đội Nhân Dân Việt Nam nữa không? Có xứng đáng để hát một cách tự hào là “Vì Nhân dân quên mình, mình nhân dân hy sinh nữa hay không?” [4].

Sau khi dẫn dắt người đọc, ông lộ rõ ý đồ là muốn đánh thẳng vào những quan điểm về việc muốn QĐND Việt Nam phải trung lập, tách ly ra khỏi lãnh đạo của ĐCS bằng việc nhân danh đạo lý: “Đối với thế hệ chúng tôi và những lớp người đi trước, Đảng, Bác Hồ, nhân dân là cha, là mẹ; Quân đội nhân dân Việt Nam là con của Bác, của Đảng, của dân. Đạo lý người Việt Nam không cho phép ai từ bỏ cha mẹ. Bất kỳ ai đòi quân đội từ bỏ sự trung thành với Đảng, với Bác Hồ là đều trái đạo lý, trái lịch sử. Chúng tôi, những người đã trải qua, hoặc đang trong quân ngũ, mang đạo lý của dân tộc, không chấp nhận quan điểm đó.”

Lần này, tôi cho rằng, ông thực sự mê muội. Vì sao?

– Vì một lần nữa ông lấy cái quan điểm, cái quá khứ của chính ông áp đặt vào thế hệ của ông để rồi ông cho rằng ai cũng coi “Đảng, Bác Hồ, nhân dân là cha, mẹ” mà lại quên rằng, khi những người thế hệ như ông, trước ông và sau ông gia nhập vào đội quân đó, phần lớn họ chỉ có một nguyện vọng duy nhất: Cầm súng, bảo vệ quê hương – xóm làng. Ông đòi hỏi người ta trân trọng lịch sử, nhưng ông lại đem lịch sử thế hệ ra để đổi chác.

– Vì trong một xã hội, nếu duy trì sự gắn bó mật thiết như giữa quân đội với Đảng như cha-mẹ-con thì nghiễm nhiên, quân đội đó trở thành những công cụ tốt nhất để bảo vệ chế độ đó. Ở một mức độ cao hơn, khi quân đội hòa với độc đảng là một thì thể chế chính trị sẽ trở thành chính quyền độc tài quân sự (quân phiệt hóa).

– Vì sau khi ông cố gắng thêm chữ Nhân dân sau “Đảng” (tổ chức của ông), sau “Bác Hồ” (lãnh tụ của ông), ông đi đến một kết luận thật trung thực: “Bất kỳ ai đòi quân đội từ bỏ sự trung thành với Đảng, với Bác Hồ là đều trái đạo lý, trái lịch sử.” Xin hỏi ông trung tướng với chức vị đầy mình rằng:

+ Từ bao giờ đạo lý dân tộc lại gắn với sự trung thành đối với 1 Đảng phái?

+ Từ bao giờ đạo lý dân tộc lại gắn liền với một người lãnh đạo?

+ Từ bao giờ Lịch sử lại sai trái khi người dân không còn trung thành với Đảng, với Bác Hồ?

– Vì hiện nay, ĐCS Việt Nam đang trở thành một cái động chứa nhóm lợi ích, những kẻ bòn vét tài nguyên quốc gia cũng như vét kiệt nguồn lực con người. Nó đang chuyển thành trở thành một khối đối lập đối với lợi ích nhân dân Việt Nam, thế hệ Việt Nam mai sau. Thế mà ông vẫn kêu gào đòi đội quân từ dân ra, ăn thuế dân phải tiếp tục trung với Đảng. Khác gì Nhân dân ngu muội, tự mài vũ khí giết mình, con mình, cháu mình trong tương lai?

Nói dễ hiểu hơn một chút là, không biết ông trung tướng có siêng đọc báo – xem đài không? Nếu có hẵng ông sẽ biết tin Kim Jong-un (lãnh tụ Triều Tiên) đã ra lệnh cho các binh sĩ tiền tuyến phải “trung thành”, sẵn sàng trở thành những “viên đạn, quả bom người” để bảo vệ lãnh đạo Triều Tiên. Ông trung tướng có hiểu được cái mệnh lệnh mà Kim Jong-un đưa ra với cái mệnh lệnh trung với Đảng mà ông và những người như ông đang cố bảo vệ, tuyên truyền không ạ?

Tóm lại, mệnh lệnh cao nhất của Quân Đội là BẢO VỆ QUỐC GIA & TRÁNH LÀ DỤNG CỤ CỦA BẤT KỲ ĐẢNG PHÁI NÀO CẢ. Vì thế, Quân Đội Nhân Dân phải Trung với Quốc Gia, Hiếu với Nhân Dân. Chỉ có như thế, Quân đội mới tránh việc phân mảnh khi mà nội bộ Đảng Cộng sản bị phân hóa thành các thế lực khác nhau bởi vì tính thống nhất Đảng phái chỉ mang tính tạm thời, không phải là vĩnh viễn. Vì “quyền lực mà không có lòng tin của nhân dân thì chẳng là gì cả (Catherine II)” thưa ông Trung tướng!

Cuối cùng, xin gửi ông và những người như ông một câu chuyện ngụ ngôn thời Liên Xô:

Sĩ quan Liên Xô nói chuyện với một tân binh:

– Ai là cha của anh?

– Dạ, nguyên soái Stalin ạ!

– Sao lại như vậy được?

– Thì người ta vẫn nói nguyên soái là cha già của dân tộc đấy thôi!

Sĩ quan rất ngạc nhiên nhưng đành phải thừa nhận tân binh có lý. Ông ta hỏi tiếp:

– Thế ai là mẹ của anh?

– Dạ, Liên Xô ạ!

– Thế có nghĩa là thế nào?

– Thì người ta vẫn nói Liên Xô là mẹ của tất cả các dân tộc…

Trả lời của tân binh làm viên sĩ quan khoái trá. Với niềm hy vọng lớn lao, anh ta hỏi tân binh bằng giọng thân mật:

– Thế cậu muốn trở thành người như thế nào?

– Dạ, thưa, em muốn thành đứa mồ côi ạ!

LM H Tuấn

danlambaovn.blogspot.com

___________________________________________

Chú thích

[1] qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/234591/print/Default.aspx

[2] vi.wikipedia.org/wiki/Danh_sách_đảng_phái_chính_trị_Việt_Nam

[3] bacho.camau.gov.vn/gioithieu/cuocdoihoatdong/23-dautranh.html

[4] vov.vn/Van-hoa/Am-nhac/Nhac-si-Doan-Quang-Khai-ke-chuyen-Vi-nhan-dan-quen-minh/300083.vov

Những phát ngôn bi hài của quan chức Việt Nam

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2013-12-26
tong-bi-thu-305

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại phiên họp tổ của Quốc hội về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 hôm 24/10/2013.

Courtesy ANTD

 

 

Năm 2013 được xem là năm có nhiều phát ngôn gây sốc của quan chức cao cấp Việt Nam. Nổi trôi cùng thế sự những người theo dõi thời cuộc nén tiếng thở dài theo kiểu cười mà buồn.

Lạ lùng nhất?

Đứng đầu danh mục những phát biểu chính trị trong năm 2013 được dư luận cho là lạ lùng nhất và gây chấn động nhất là của ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trên mạng Internet ngày 24/10/2013, báo chí lề phải trong đó có Tuổi Trẻ, Thanh Niên đã đưa tin về sự kiện Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại phiên họp tổ của Quốc hội về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Khi góp ý về Lời nói đầu của Hiến pháp, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã xác định: “Đến hết thế kỷ này không biết đã có Chủ nghĩa Xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa….” Ông Trọng đã phát biểu như vậy khi muốn sửa sai các câu chữ trong Lời nói đầu của Hiến pháp, liên quan đến việc xây dựng Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam và công cuộc đổi mới đất nước. Độc giả các báo chắc hẳn đầy suy tư trăn trở vì với sự nhận định của Tổng bí thư như thế, nhưng Đảng Cộng sản lại kiên quyết độc quyền lãnh đạo đất nước đi theo con đường Xã hội Chủ nghĩa và hiến định hẳn hoi.

Nhận định về phát biểu gây sốc được xếp hạng bậc nhất của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhà giáo Đỗ Việt Khoa ở Hà Nội phát biểu:

Ông Trọng xét về khía cạnh người dân là ông ấy nói đúng! Vì sự yêu thích chủ nghĩa xã hội ấy, ai cũng nhìn thấy nó là một thứ không tưởng không thể xây dựng được.
-Đỗ Việt Khoa

“Trong thời gian qua thì những người quan tâm đến chính trị của đất nước cũng ngạc nhiên nhiều về các phát biểu của các quan chức ở Việt Nam. Trong đó thì đúng là câu của ông Nguyễn Phú Trọng về việc ‘đến hết thế kỷ 21 này không biết có chủ nghĩa xã hội hay chưa’ thì cũng là một sự thật. Thực tế tôi có thể nói rằng lời ông Trọng xét về khía cạnh người dân là ông ấy nói đúng! vì sự yêu thích chủ nghĩa xã hội ấy, ai cũng nhìn thấy nó là một thứ không tưởng không thể xây dựng được.”

Ông Nguyễn Phú Trọng còn có một lời phát biểu nữa cũng thuộc loại gây sốc khi ông nhận định về vấn nạn tham nhũng của Việt Nam: “Đến Đường Tăng đi lấy kinh cũng phải hối lộ. Bước chân sang nước phật đã phải hối lộ…Cho nên chúng ta phải xem xét, bĩnh tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt… ”Tổng bí thư đã phát biểu những lời vừa nêu trong dịp tiếp xúc cử tri Hà Nội vào ngày 7/12/2013. Mạng xã hội đã phản ứng khá gay gắt về phát biểu của ông Nguyễn Phú Trọng, trong khi báo chí Nhà nước thì lại trích dẫn để tán dương quyết tâm chống tham nhũng của Tổng bí thư.

Theo tiểu sử, ông Nguyễn Phú Trọng tốt nghiệp khoa văn Đại học Tổng hợp Hà Nội trước khi trở thành Giáo sư Tiến sĩ. Do vậy dư luận phật tử khá bất bình về cách ví von thiếu hiểu biết và khó chấp nhận của ông. Phật tử Phúc Thịnh có bài trên trang Blog Xuân Diện Hán Nôm giải thích là: “Đường Tăng trao bát vàng trước khi nhận kinh Phật là diệt trừ Tư tình, diệt trừ Tư sản, loại bỏ mọi của cải và danh vọng thế tục, diệt cái cội nguồn của tham, sân, si, mạn, nghi và ác kiến, chứ không phải là vấn đề tham lam, hay hối lộ gì ở nơi nước Phật.”

Ấn tượng nhất?

11731349-03-250
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Hội nghị ngành ngân hàng ngày 18/12/2013 tại Hà Nội. Courtesy sbv.gov.vn

Sau Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, người đọc báo cũng ghi nhận phát ngôn được cho là ấn tượng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Theo VnExpress, VnEconomy phát biểu tại Hội nghị ngành ngân hàng được tổ chức ngày 18/12/2013 tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định dứt khoát độc quyền xuất nhập khẩu vàng.

Trao đổi với chúng tôi nhà giáo Đỗ Việt Khoa góp ý kiến:

“Đấy là một phát biểu mà tôi cho là gây sốc, trước kia người ta ngấm ngầm làm còn bây giờ công khai nói độc quyền cho nhà nước. Như thế là anh đã không tôn trọng đúng qui luật thị trường, trong khi anh lại đòi các nước, đòi phương tây phải công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Cái này là mâu thuẫn không thể được, chúng tôi chỉ là những người dân thấp cổ bé họng nhưng chúng tôi cũng nhìn thấy.”

Về chính sách độc quyền vàng được tái khẳng định bởi Thủ tướng Chính phủ, Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long từ Hà Nội nhận định:

“Về quan điểm ông Thủ tướng nói là quyền của ông ấy. Nhưng khi ông đi ra thế giới thì trong điều kiện hội nhập mọi hoạt động phải tuân thủ thông lệ quốc tế. Độc quyền xuất nhập khẩu vàng, Ngân hàng Nhà nước đứng ra với tư cách là một người kinh doanh vàng thì hoàn toàn không phù hợp với thông lệ, không phù hợp chức năng của cơ quan quan lý tiền tệ của một đất nước. Với 8.000 tỷ chênh lệch giá đưa vào ngân sách, ông ấy nói là để làm lợi cho quốc gia. Theo cá nhân tôi, đã là một nền kinh tế thị trường thì phải tuân thủ qui luật với những chuẩn mực của nó, đồng thời phải chia sẻ lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng, chứ không thể nhà nước lấy tất cả những phần đó. Ở đây vô hình chung người bị thiệt là doanh nghiệp và người tiêu dùng, họ không được hưởng lợi khi giá thế giới xuống thấp mà có sự chênh lệch rất cao giữa giá thế giới và giá trong nước trên thị trường vàng. Cái chênh lệch đó ông ấy lại độc quyền xuất nhập khẩu để bán lấy lãi mà ông nói phục vụ ngân sách nhà nước. Tôi thấy việc này chưa đảm bảo hài hòa lợi ích của ba chủ thể trong một nền kinh tế thị trường là nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng.”

Năm 2013, người đọc báo cũng ghi nhận sự kiện được gọi là Thủ tướng tự sướng khi ông công bố thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đạt 1960 USD/ năm. Theo báo chí lề phải, Thủ tướng đã rất phấn khởi khi khi phát biểu tại Diễn đàn Quan hệ Đối tác Phát triển tổ chức ngày 5/12/2013  tại Hà Nội là GDP đầu người của Việt Nam đã tăng 23% so với năm 2012.

Thời gian đó, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS đã tự giải thể là Tiến sĩ Nguyễn Quang A có nhận định:

“Cái việc ‘tự sướng’ với các con số là một truyền thống lâu đời ít ra cũng phải ít ra mấy chục năm của Việt Nam này rồi. Người ta chỉ thích các con số mà không biết đàng sau những con số đó ý nghĩa thực của nó như thế nào. Thí dụ cái gọi là tăng trưởng GDP, con số đó có thể có nhiều ý nghĩa nhưng xét về thu nhập của người dân lấy GDP hàng năm chia cho 90 triệu người dân để ra con số thu nhập đầu người một nghìn mấy (1960 USD) thì nó không thực sự là người dân được hưởng.”

Gây sốc nhất?

Tác giả những phát ngôn gây sốc trong tốp đứng đầu của năm 2013 còn phải kể tới Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng. Theo Lao Động Online ngày 15/11/2013, khi bị chất vấn về vấn đề quy hoạch thủy điện, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng phát biểu: “Quy hoạch thủy điện mang tính đặc thù…Đây là của cả nước chứ không riêng của Chính phủ, hay của Bộ Công thương. Chúng ta đang nói về chúng ta, chứ không nói về chính phủ về bộ ngành này, bộ ngành khác.” Phát biểu này đã làm nóng nghị trường, hầu hết đại biểu đều băn khoăn bức xúc không biết Bộ trưởng Công thương đang nói về cái gì.

TT Nguyễn Tấn Dũng từng phát biểu. Đó là, chức Thủ tướng của tôi là do Đảng phân công, tôi không xin ai cả. Như vậy hình như họ không cần nhân dân, họ không cần đến dư luận.
-Đỗ Việt Khoa

Nhà giáo Đỗ Việt Khoa ở Hà Nội nhận định:

“Tôi cho rằng phát biểu này cũng theo một kiểu mô thức rất phổ biến hiện nay, đó là cứ vòng vèo rồi lẩn tránh trách nhiệm cụ thể của mình. Đây là một hiện trạng xấu do cơ chế hiện nay sinh ra. Chúng ta cũng thấy là ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng phát biểu mà theo tôi là câu nói sốc hơn mọi người. Đó là, chức Thủ tướng của tôi là do Đảng phân công, tôi không xin ai cả. Như vậy hình như họ không cần nhân dân, họ không cần đến dư luận. Đảng là ai là cá nhân nào thì chúng tôi cũng không biết được. Những cách nói mập mờ đó có thể mới nghe qua không để ý nhưng với những người có tuổi, giới trí thức quan tâm đều rất là xót xa cho hiện trạng ở Việt Nam hiện nay, như vậy là người ta không dám nhận trách nhiệm thậm chí đổ vấy trách nhiệm.”

Một trong những nhân vật có phát ngôn gây sốc cũng được liệt kê trong tốp 10 là bà Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến.

Theo Kienthuc.net.vn, sau vụ việc gây chấn động ngành y là 3 trẻ sơ sinh tử vong ở Quảng Trị sau tiêm vắc xin viêm gan B hồi vào hạ tuần tháng 7/2013 bà Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã hăng hái phát biểu: “Sẽ không có bao che, mà công khai, minh bạch nguyên nhân. Trách nhiệm của ai sẽ xử lý người đó. Lỗi của vắc xin sẽ xử vắc xin; lỗi do người tiêm, xử người tiêm; lỗi do kỹ thuật xử lý kỹ thuật…”

Nhà giáo Đỗ Việt Khoa nhận định:

“Tôi công nhận rằng phát ngôn của bà Bộ trưởng Y tế được mọi người xếp vào dạng phát ngôn gây sốc thì cũng hợp lý. Hài hước nhất là lỗi vắc xin xử vắc xin…Người đứng đầu là Bộ trưởng Y tế phải chịu trách nhiệm cái đó. Ở đây bà ấy lại đổ cho người khác, đây là hiện trạng chung chung ở Việt Nam, khi gặp vấn đề khó người ta phát biểu loanh quanh rồi cuối cùng người ta lại đổ vấy trách nhiệm cho nhau, chứ ít có ai chịu trách nhiệm thực sự.”

Bà Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến là tâm điểm của báo chí qua phát ngôn gây sốc không chỉ một lần của mình. Tại kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa 13 diễn ra hồi tháng 6/2013, khi trả lời các nhà báo về vấn đề quá tải ở các bệnh viện tuyến trên, bà Bộ trưởng Y tế đã trả lời rằng: “Thiếu giường bệnh  thì…phải hỏi Nhà nước”.

Ghi nhận từ nghị trường cũng gom nhặt được phát ngôn khá bi hài của ông Nguyễn Đình Quyền, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội. Liên quan đến vụ án oan 10 năm của ông Nguyễn Thanh Chấn mà dư luận bàng hoàng về cách làm việc của ngành Công an và Tòa án, nhưng ông Quyền lại nói với báo chí: “Cơ quan điều tra Việt Nam được coi là một trong những cơ quan giỏi nhất thế giới. Quá trình điều tra của Việt Nam rất nhanh. Khóa trước chúng tôi làm việc với FBI 1 tuần, thấy án an ninh quốc gia, giết người cướp của của ta rất giỏi, vì công cuộc phòng chống tội phạm của ta dựa vào nhân dân.”

Vừa rồi là những phát ngôn gây sốc, phát ngôn ấn tượng của các quan chức cao cấp Việt Nam. Năm nào làng báo lề phải, lề trái cũng gom góp được nhiều phát ngôn ấn tượng của các quan chức Việt. Và như nhà giáo Đỗ Việt Khoa, một người miệt mài tranh đấu cho sự công khai minh bạch thì sang năm 2014 và sau nữa, sẽ tiếp tục có những phát ngôn gây sốc, chừng nào Việt Nam chưa cải cách thể chế chính trị của mình.

http://www.youtube.com/feature=player_embedded

CIA theo dõi sát trận Hoàng Sa 1974

Bốn mươi năm trước, Trung Quốc tấn công Hoàng Sa, đánh bật lực lượng hải quân Việt Nam Cộng Hòa đồn trú tại đó và chiếm đóng quần đảo này từ đó.

Trận hải chiến kéo dài chưa tới hai ngày dẫn đến việc Trung Quốc chiếm trọn quyền kiểm soát quần đảo này.

Điện tín của CIA cũng theo dõi phản ứng từ Bắc Việt khi đó

Bị ràng buộc bởi Hiệp định Paris, Hạm đội 7 Mỹ nằm ngoài khơi Thái Bình Dương không can thiệp một chút gì vào cuộc chiến này cả, nhưng điều đó không có nghĩa là Hoa Kỳ không quan tâm: Hồ sơ bạch hóa của CIA cho thấy họ theo dõi trận chiến và tường trình lên tổng thống Mỹ mỗi ngày.

Không phải tới năm 1973 Mỹ mới theo dõi tình hình Hoàng Sa.

Hầu hết những động thái trước đó của Trung Quốc liên quan đến quần đảo này đều được CIA ghi nhận, kể cả lời tuyên bố đường lưỡi bò 12 hải lý năm 1958.

Những thông tin này được tóm tắt trong bản Central Intelligence Bulletin (“CIB”), một bản tin tình báo hàng ngày của CIA nộp cho Tổng thống và các viên chức cao cấp.

Gia tăng hoạt động

Ngày 16 tháng 6 năm 1971, một bản CIB báo tin Bắc Kinh gia tăng hoạt động trong vùng quần đảo Hoàng Sa:

“Những đoàn công voa hải quân từ Yu-lin (Du Lâm) trên đảo Hải Nam hiện tới Hoàng Sa thường xuyên, nhất là Woody Island (đảo Phú Lâm), một trong những đảo lớn nhất trong nhóm. Bảo vệ đoàn tàu chủ yếu là tàu khu trục, là tàu chiến lớn nhất trong hạm đội Nam Hải của Trung Quốc.”

Bản CIB này cho biết Trung Quốc “đang xây một bến đậu, vét một con kênh, xây một cây cầu, và dựng nhiều tòa nhà mới trên đảo.”

Bản CIB cũng khuyến cáo là trong tình trạng nhiều nước cùng tranh chủ quyền Hoàng Sa, những hoạt động xây cất này củng cố thêm đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc.

Hồ sơ CIA cũng nhận xét rằng Trung Quốc từ nhiều năm đã giữ một đài truyền thông và quan sát trên đảo Phú Lâm và ngư dân Trung Quốc dùng Hoàng Sa làm nơi trú ẩn và lấy tổ yến.

Tới tháng 1/1974, giao tranh xảy ra giữa Trung Quốc và Việt Nam Cộng Hòa tại Hoàng Sa.

Bản tin CIB đề ngày 18/1 (giờ Washington, tức 17/1 giờ Việt Nam) báo động là “Trung Quốc và Nam Việt Nam có thể đã giao tranh hôm 16/1 vì Trung Quốc chiếm đảo Robert Island (đảo Hữu Nhật).

Sài Gòn (ý nói CIA tại Sài Gòn) báo cáo là binh sĩ Nam Việt Nam bắn vào phía Trung Quốc khi những người này dựng lều và cắm cờ trên đảo. Phía Nam Việt Nam cũng cho rằng quân Trung Quốc đã đổ bộ xuống hai đảo nữa trong nhóm đảo Lưỡi Liềm (còn gọi là Nguyệt Thiềm).”

Chiến hạm Nhật Tảo của VNCH đã tham gia bảo vệ Hoàng Sa

Bản tin CIB nhận xét rằng trước trận giao tranh này, vụ đụng độ duy nhất trước đó là năm 1959 khi phía VNCH bắt một số ngư dân Trung Quốc trong nhóm đảo Lưỡi Liềm và vài ngày sau thả họ ra.

Đến hôm sau, bản tin CIB ngày 19/1 báo tin “lực lượng Trung Quốc và Nam Việt Nam giao tranh trên một hòn đảo của Hoàng Sa, đươc cho biết là Duncan Island (đảo Quang Hòa). Bản tin này, với nhiều đoạn còn chưa được bạch hóa, đưa tin rằng có 74 thủy quân lục chiến Việt Nam đổ bộ lên đảo và “bị khoảng hai đại đội Trung Quốc bao vây.”

“Phía Nam Việt Nam báo tin có 3 thủy quân lục chiến bị giết và 2 bị thương, và hiện đã rút lực lượng ra khỏi đảo.”

Bản tin ngày 21/1, tóm tắt trận hải chiến, ghi nhận “quân đội Trung Quốc và Nam Việt Nam giao tranh hôm qua (tính ra là ngày 19/1) trong ngày thứ nhì, với phía Trung Quốc chiếm trọn phần kiểm soát quần đảo Hoàng Sa.”

Bản tin này, đi kèm một trang bản đồ Hoàng Sa, trích lời “phát ngôn viên Nam Việt Nam” cho biết:



Một bức điện tín khác đề ngày 21/1 cho rằng Bắc Việt Nam ‘lúng túng’ trước trận chiến Hoàng Sa

“Phía Trung Quốc sau khi không kích vào sáng hôm qua thì tiếp theo với cuộc đổ bộ vào các đảo Pattle, MOney, và Robert (Hoàng Sa, Quảng Ảnh, Hữu Nhật). Các lực lượng hải và không quân của Sài Gòn đã được lệnh rút ra khỏi vùng này, và phía Nam Việt Nam đã bỏ lại quân đội trên đảo. Trong số người bị bỏ lại là một sĩ quan liên lạc người Mỹ, thuộc văn phòng tùy viên quốc phòng (DAO).”

Một số tài liệu khác cho thấy viên sĩ quan này khi đó đã giải ngũ, và trở thành một nhân viên dân sự của DAO tên là Gerald Kosh, sau đó có viết báo cáo chi tiết về trận chiến nộp cho Bộ binh Hoa Kỳ.

“Cho tới gần đây,” bản tin viết tiếp, “phía Nam Việt Nam chỉ duy trì sự hiện diện trên đảo Hoàng Sa. Sự xuất hiện của binh sĩ Sài Gòn trên các đảo lân cận có thể đã kích thích cho hoạt động quân sự của Bắc Kinh.”

Tới ngày 29/1, bản tin CIB cho biết Trung Quốc bắt đầu trả tù binh, khởi đầu với Gerald Kosh và năm quân nhân VNCH bị thương, sẽ được chuyển cho Hồng thập tự tại biên giới Hong Kong ngày 31/1.

CIA cũng quan tâm đến một chi tiết do một sĩ quan Việt Nam nói với phóng viên Washington Post, cho rằng vài ngày trước trận hải chiến, VNCH quan sát tàu chiến Liên Xô đi qua vùng biển này.

Bài báo này khiến CIA phải kiểm chứng lại, và trả lời trong một bức điện gửi từ trung tâm điều hành Operation Center của CIA đến phòng Situation Room của Nhà Trắng.

Bức điện tín đề ngày 23/1 bác bỏ chi tiết này và viết, “Không một chiếc tàu chiến Xô-viết nào đến gần quần đảo Hoàng Sa từ sau tháng 11 năm ngoái, dù có một tàu tuần dương, một tàu khu trục, và ba tàu ngầm đi băng qua biển Nam Hải (biển Đông) trên đường đến Ấn Độ Dương.

Liên Xô lo Trung Quốc

Hải quân Xô-viết tỏ ra đặc biệt không quan tâm đến vụ Hoàng Sa: Tàu Xô Viết neo ở biển Nam Hải để thu thập tình báo vẫn theo dõi căn cứ hải quân Hoa Kỳ ở Subic Bay, Philippines, thay vì sự việc ở Hoàng Sa.”

Bản đồ Hoàng Sa của Hoa Kỳ ghi nhận hoạt động xây cất từ phía TQ

Trong khi CIA tường thuật là cả Việt Nam Cộng Hòa lẫn Trung Quốc đều khẳng định chủ quyền tại Hoàng Sa, thì một bức điện tín khác đề ngày 21/1 cho rằng Bắc Việt Nam “lúng túng” trước trận chiến này.

Bức điện tín trích báo chí Pháp cho hay “nguồn tin được phép nói” (authorized sources) của Hà Nội phát biểu rằng giữ gìn chủ quyền lãnh thổ là một “nghĩa vụ thiêng liêng” của mọi quốc gia, nhưng ngược lại cũng cho rằng “những tranh chấp nhiều khi phức tạp đối với lãnh thổ và ranh giới giữa hai nước láng giềng cần được xem xét kỹ lưỡng và thận trọng.”

Liên Xô, ngược lại, không ngại ngần dùng trận chiến này để bêu xấu Trung Quốc.

Bản tin CIB ngày 21/3/1974 cho rằng: “Bộ máy tuyên truyền của Moscow đã dùng sự kiện Hoàng Sa và việc Trung Quốc ủng hộ phiến quân ở Miến Điện để lợi dụng sự nghi ngại truyền thống của Nam và Đông Nam Á đối với Trung Quốc.”

Bản tin này cũng cho rằng “Moscow có thể cũng lo ngại rằng việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa là bằng chứng của một sự hiểu ngầm giữa Bắc Kinh và Washington về khu vực.”

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của nhà báo Vũ Quý Hạo Nhiên ở California, Hoa Kỳ. BBC sẽ tiếp tục đăng tải các bài về chủ đề hải chiến Trường Sa và tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.

Xem thêm:Thái độ của Mỹ sau trận Hoàng Sa 1974‘, và ‘Hà Nội im lặng nhưng không đồng tình
Vũ Quí Hạo Nhiên
Theo BBC

Trọng Thiện – Học từ sự sụp đổ của Nho giáo

Trọng Thiện
Theo Diễn Ngôn
Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề bởi văn hóa truyền thống của Trung Quốc, đặc biệt giới trí thức tinh hoa. Văn hóa Nho giáo coi lễ là cách quản lý gia đình và xã hội, nên sự phục tùng được đặt lên hàng đầu. Trong gia đình, con trái ý cha mẹ là con bất hiếu. Ở cấp quốc gia, quân trái ý vua là bất trung. Những hành vi này trở thành nền tảng giá trị đạo đức trong xã hội cũng như triết lý trong cai trị của nhà nước phong kiến. Trong quá khứ, khi xã hội khá đồng nhất thì lễ đã rất thành công trong sắp đặt xã hội và duy trì vai trò quản lý của nhà nước.


Ảnh: khi chiếm vị trí độc tôn cũng là lúc Nho giáo tự chôn mình (nguồn: internet)Suốt một thế kỷ qua, Việt Nam đã trải qua những biến động lịch sử, văn hóa và chính trị to lớn. Các tư tưởng triết học phương Tây nhanh chóng thâm nhập vào Việt Nam trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nước ta. Cùng với sự tan rã của triều đình phong kiến, các giá trị truyền thống như lễ đã bị vỡ vụn. Chúng ta có thể học được rất nhiều điều từ sự đổ vỡ của Nho giáo. Theo nhà văn hóa, nhà sử học Trần Trọng Kim, một tư tưởng đã thống trị Việt Nam hơn 2000 năm mà bị đạp đổ nhanh chóng là do nhiều nguyên nhân nội sinh, cũng như ngoại sinh dưới đây.

Thứ nhất, Việt Nam ta xưa tôn sùng Nho giáo, cho là chính đạo độc tôn. Luân lý, phong tục, chính trị, bất cứ việc gì cũng lấy Nho giáo làm cốt. Tuy nhiên, các học thuyết về tôn giáo hay chính trị cũng tuân theo cái lẽ huyền bí của trời đất. Khi chiếm vị trí độc tôn, không ai dám phê bình đến, không dám sửa đổi nữa, lâu ngày thành cái vỏ cứng, rồi cứ khô dần đi. Khi đó, Nho giáo không có cái sinh khí sinh hoạt hàng ngày làm cho ngày càng mới thêm, càng tươi tốt thêm, thì tất là cái tinh thần mất mòn đi, sau chỉ còn cái xác không mà thôi.

Thứ hai, bỏ qua việc tiếp thu đôi khi hời hợt, thấy cái vỏ chứ không thấy cái hồn, nhiều trí thức người Việt cứ quen tiếp thu thụ động, theo cái khuôn nhất định của tiền nhân để lại. Việc phải trái hay dở thế nào, cũng chỉ ở trong cái khuôn đó, chứ không chệch ra ngoài được. Mặc trời đất vận động, xã hội biến đổi, họ vẫn thuận theo lễ, nể sợ bề trên nên sự phê bình phản biện càng ngày càng hẹp lại, thậm chí không dám cất tiếng, chỉ phù họa với ý của bề trên.

Thứ ba, do coi Nho giáo là tư tưởng độc tôn nên không biết có cái tư tưởng gì khác nữa mà so sánh cái hơn, cái kém. Trí thức chỉ sáng tác văn chương, học thuộc chữ nghĩa trong cái lồng Nho giáo và nghĩ rằng mình đã thấu hiểu và thuận theo thiên lý. Vì không tìm hiểu rộng ra ngoài Nho giáo, nên đất nước rất kém về khoa học kỹ thuật cũng như nền kỹ trị xã hội. Đến khi thời thế biến đổi, bỗng chốc tư tưởng phương Tây tràn vào, mà nhất là cái thế lực ấy lại mạnh hơn và năng động hơn, thì làm thế nào mà đứng được? Người trong nước lúc đó như đang ngủ mê, thức dậy, ngơ ngác không biết xoay xở thế nào. Lúc đầu tìm cách kháng cự lại, sau thấy càng cựa bao nhiêu lại càng bị đè bẹp bấy nhiêu, thế bất đắc dĩ mới đành chịu bẹp.

Từ bài học lịch sử chúng ta phải thấy việc tôn sùng bất cứ một điều duy nhất nào đó sẽ dẫn đến xơ cứng, suy kiệt và thụt lùi. Nó ngăn cản xã hội sáng tạo trong tìm kiếm giải pháp tốt nhất cho vấn đề của mình. Điều này cũng được chia sẻ bởi Albert Einstein khi ông nói “vấn đề không thể được giải quyết bằng lối suy nghĩ cũ, lối suy nghĩ đã tạo ra chính vấn đề đó.”

Chế độ góp phần tạo nên ‘tội phạm’?

Tiến sỹ Đoàn Xuân Lộc
Gửi cho BBC Việt ngữ từ London
Dương Chí Dũng, Bạc Hy Lai và Chang Song-thaek sau khi thất sủng
Các ông Dương Chí Dũng, Bạc Hy Lai và Chang Song-thaek đều thất sủng
Năm 2013, Bắc Hàn, Trung Quốc và Việt Nam – ba nước có chế độc độc đảng và là ba quốc gia ‘cộng sản’ trong số ít quốc gia ‘cộng sản’ còn lại trên thế giới – có một số ‘vụ án’ lớn thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế.

Giữa tháng 8, ở Trung Quốc ông Bạc Hy Lai, một chính trị gia nổi tiếng và một thời đầy quyền uy, bị kết án chung thân.

Vào giữa tháng 12, ở Bắc Hàn, ông Chang Song-thaek, người chú (dượng) nhiều quyền lực của lãnh tụ Kim Jong-un, bất ngờ bị hành quyết.

Vào hai tháng cuối năm, Việt Nam xử và ra bốn bản án tử hình cho lãnh đạo hai doanh nghiệp nhà nước – gồm Dương Chí Dũng, lãnh đạo Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam.

Câu hỏi được đặt ra là tại sao những ‘vụ án’ như vậy lại xảhay ra tại ba nước này?

Những ‘vụ án’ như thế có thể diễn ra tại những quốc gia đa đảng, dân chủ và tự do như Anh hay Mỹ?

Vụ Chang Song-thaek

Trên danh nghĩa Bắc Hàn là một nước ‘cộng sản’ và ‘xã hội chủ nghĩa’ do Đảng Lao động Triều Tiên độc quyền lãnh đạo. Về đường hướng, quốc gia này vừa theo chủ nghĩa Mác-Lênin vừa dựa trên thuyết Juche (Chủ thể) – một thuyết đề cao sự độc lập, tự cường được Kim Il-sung (Kim Nhật Thành) khởi xướng.

Dưới sự cai trị của gia đình họ Kim trong suốt 65 năm qua – từ Kim Il-sung qua Kim Jong-il và hiện giờ là Kim Jong-un – Bắc Hàn hiện là một quốc gia nghèo nhất và cũng có hồ sơ nhân quyền tồi tệ nhất thế giới.

Ông Chang Song-thaek
Ông Chang Song-thaek bị xử tử tức thì sau khi thất sủng

Khó có ai biết được thực sự điều gì đã xẩy ra trong quốc gia đầy bí ẩn ấy. Nhưng việc ông Chang – người được coi là đóng vai trò quan trọng trong việc giúp Kim Jong-un tiếp nhận, nắm giữ và củng cố quyền lực từ khi cha mình chết vào cuối năm 2011 – bị hành quyết cho thấy sự tàn bạo của Kim Jong-un và chính quyền Bắc Hàn.

Sự kiện này chứng tỏ rằng trong một quốc gia độc tài và tàn ác như vậy một nhân vật một thời đầy quyền uy như ông Chang cũng có thể bị thất sủng, hành quyết bất cứ lúc nào.

Mới chỉ cách đây không lâu, ông Chang còn là cánh tay phải của Kim Jong-un. Giờ ông bị đối xử còn tệ hơn ‘một con chó’.

Một chuyện như thế chắc chắn sẽ chẳng bao giờ xảy ra trong một quốc gia văn minh, dân chủ.

Hơn nữa, nếu sống ở một quốc gia dân chủ và tự do khác, chắc ông Chang cũng không cần phải ‘tạo phản’ và nếu ông có những hành động ‘phản bội’ lãnh đạo của mình, chắc ông cũng không phải chịu một kết cục bi thảm như vậy.

Vụ Bạc Hy Lai

Một người khác cũng một thời đầy quyền uy nhưng cuối cùng không chỉ mất hết mọi chức quyền mà còn bị tù tội là ông Bạc Hy Lai – cựu Bí thư Trùng Khánh, ủy viên Bộ chính trị.

Khác hẳn với Bắc Hàn, trong những thập kỷ vừa qua Trung Quốc đã có những cải cách, cởi mở và đạt được những thành tựu kinh tế vượt bậc, đưa quốc gia này trở thành cường quốc kinh tế thứ hai của thế giới.

“Cũng như ở Bắc Hàn, những người có đặc quyền, đặc lợi ở Trung Quốc thường là những ai có liên hệ với chế độ. Chang Song-thaek là con rể của Kim Nhật Thành và là chú của Kim Jong-un. Trong khi đó, Bạc Hy Lai là con trai Bạc Nhất Ba, một trong Bát đại nguyên lão của Đảng cộng sản Trung Quốc.”

Hơn nữa, hoàn toàn trái ngược với kiểu lãnh đạo ‘cha truyền con nối’ có dáng dấp phong kiến của Bắc Hàn, vai trò lãnh đạo ở Trung Quốc được Đảng Cộng sản bầu lên và nhiều người khác nhau được trao quyền lãnh đạo.

Nhưng cũng giống Bắc Hàn, Trung Quốc là một quốc gia ‘cộng sản’, ‘xã hội chủ nghĩa’ và độc đảng. Nếu Bắc Hàn theo chủ nghĩa Mác-Lênin và thuyết Chủ thể của Kim Nhật Thành, Trung Quốc dựa vào chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng của Mao Trạch Đông.

Cũng như ở Bắc Hàn, những người có đặc quyền, đặc lợi ở Trung Quốc thường là những ai có liên hệ với chế độ. Chang Song-thaek là con rể của Kim Nhật Thành và là chú của Kim Jong-un. Trong khi đó, Bạc Hy Lai là con trai Bạc Nhất Ba, một trong Bát đại nguyên lão của Đảng cộng sản Trung Quốc.

Mối liên hệ này đã giúp ông Bạc Hy Lai thăng tiến trên con đường chính trị của mình. Trước Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 2012, ông được xem là một ứng viên sáng giá cho một trong chín ghế của Ban thường vụ Bộ chính trị – cơ quan quyền lực cao nhất tại Trung Quốc.

Nhưng, cũng giống như Chang Song-thaek, trong một thời gian ngắn ông Bạc bất ngờ bị thất sủng và bao tham vọng chính trị của ông biến thành mây khói.
Trong phiên tòa kéo dài tới năm ngày tại Tế Nam, tỉnh Sơn Đông vào tháng 9 vừa qau, ông bị kết án tù chung thân và tịch thu hết tài sản.

Ông Bạc Hy Lai tại tòa
Ông Bạc Hy Lai từng là ứng viên vào thường trực Bộ Chính trị

Nếu sống trong một đất nước dân chủ, tự do – nơi lãnh đạo được dân công khai, dân chủ bầu lên, chứ nhờ lý lịch hay dàn xếp phe phái chưa chắc ông Bạc được nắm chức vụ quan trọng.

Nếu làm chính trị trong một quốc gia minh bạch, có tự do báo chí – nơi đó mọi hành động của các chính trị gia luôn bị dám sát, theo dõi – chắc chắn ông Bạc cũng không có cơ hội hay dám phạm những tội như các tội ông bị kết án.

Và nếu có, chắc ông đã bị phát hiện và truy tố ngay từ đầu, chứ không phải đợi đến khi ông nhăm nhe một vị trí cao.

Hơn nữa, nếu ở một quốc gia nơi đó pháp luật nghiêm minh, rõ ràng chắc chính ông và nhiều người khác cũng không phải nghi vấn có âm mưu gì đó trong việc ông bị thất sủng và thanh trừng.

Vụ Dương Chí Dũng

Không có vụ án nào liên quan đến giới lãnh đạo cao cấp xẩy ra tại Việt Nam trong năm 2013. Nhưng Việt Nam đã cho xét xử hai vụ án lớn với những bản án nặng được đưa ra, trong đó có án tử hình dành cho ông Dương Chí Dũng – một trong hai cựu lãnh đạo của Vinalines bị kết án tử hình.

Khác với Chang Song-thaek và Bạc Hy Lai, dù có cha và em làm trong ngành công an, ông Dương Chí Dũng không phải là người nhiều quyền uy hoặc có liên hệ mật thiết nào đó với các công thần của chế độ.

Chức vụ cao nhất của ông là Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vinalines và Cục trưởng Cục hàng hải Việt Nam.

Ông Dương Chí Dũng (thứ hai từ trái sang)
Ông Dương Chí Dũng từng là Cục trưởng Hàng hải

Nhưng nếu xem xét kỹ sẽ thấy có không ít tương đồng giữa ‘vụ án’ Dương Chí Dũng với ‘vụ án’ Chang Song-thaek và đặc biệt ‘vụ án’ Bạc Hy Lai.

Cũng giống như Bắc Hàn và đặc biệt Trung Quốc, Việt Nam là một quốc gia ‘cộng sản’, theo đường hướng ‘xã hội chủ nghĩa’ – theo đó các doanh nghiệp nhà nước được hiến định nắm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.

Trong một cơ chế như vậy, các tổng công ty hay doanh nghiệp nhà nước luôn có nhiều đặc quyền, đặc lợi và lãnh đạo những doanh nghiệp này cũng có nhiều cơ hội để tham ô hay làm giàu bất chính.

“Và việc ông Dũng vui mừng về việc được bổ nhiệm Cục trưởng Cục hàng hải cách đây chưa đầy hai năm nhưng giờ phải đối diện với án tử hình cho thấy – cũng giống như trường hợp Chang Song-thaek và Bạc Hy Lai – trong một thể chế chính trị như Bắc Hàn, Trung Quốc và Việt Nam, một cá nhân hôm nay được ‘làm quan’, được hưởng nhiều quyền lợi, bổng lộc nhưng mai có thể bị tước hết mọi thứ, thậm chí cả sự tự do, mạng sống của mình.”

Ông Dũng chắc chắn đã không có cơ hội để ‘tham ô’ như ông bị cáo buộc, kết án nếu như Vinalines không được trao những đặc quyền hay trở thành một miếng đất béo bỡ cho những người như ông Dũng khai thác, lợi dụng.

Vì nếu có sự cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, sòng phẳng, hay phải từ chính mình tìm kiếm nguồn vốn, hoặc phải đưa ra chiến lược kinh doanh đúng đắn để mới có thể cạnh tranh với các đổi thủ khác hay có thể tồn tại, phát triển, chắc chắn ông Dũng và những quan chức khác tại Vinalines không đi ‘tham ô’ như thế.

Trước khi bị khởi tố không lâu, vào tháng 2 năm 2012, ông Dũng được bổ nhiệm giữ chức vụ Cục trưởng Cục Hàng hải và một buổi lễ công bố quyết định ấy đã được tổ chức rầm rộ với sự có mặt của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận Tải Đinh La Thăng.

Chắc chính ông Dũng và nhiều người khác vẫn còn nhớ tấm hình ông Dũng tươi cười cầm một bó hoa rất lớn đứng cạnh ông Thăng trong ‘lễ’ công bố quyết định đó.

Chỉ được bổ nhiệm làm một Cục trưởng mà tổ chức đón mừng linh đình như vậy chứng tỏ rằng chức vụ đó mang lại cho đương sự không ít quyền lợi.

Một ‘buổi lễ’ tốn kém và rầm rộ như vậy chắc chắn sẽ chẳng bao giờ diễn ra tại các nước thực sự tự do, dân chủ, minh bạch – nơi những người công quyền được chọn nắm giữ các chức vụ, vị trí vì năng lực chứ không phải vì có quan hệ hay ô dù.

Và việc ông Dũng vui mừng về việc được bổ nhiệm Cục trưởng Cục hàng hải cách đây chưa đầy hai năm nhưng giờ phải đối diện với án tử hình cho thấy – cũng giống như trường hợp Chang Song-thaek và Bạc Hy Lai – trong một thể chế chính trị như Bắc Hàn, Trung Quốc và Việt Nam, một cá nhân hôm nay được ‘làm quan’, được hưởng nhiều quyền lợi, bổng lộc nhưng mai có thể bị tước hết mọi thứ, thậm chí cả sự tự do, mạng sống của mình.

‘Sản phẩm’ của chế độ?

Trường hợp của Bạc Hy Lai và đặc biệt vụ Chang Song-thaek với vụ án của Dương Chí Dũng không giống nhau vì ba quốc gia và cả nhân vật này đều có nhiều khác biệt.

Tuy vậy, điều đó không có nghĩa là ba trường hợp này không có những tương đồng.

Nhờ liên hệ với chế độ và nhờ cơ chế, cả ba nhân vật từng có rất nhiều đặc quyền, đặc lợi.

Nhưng môi trường và cơ chế như vậy cũng là con dao hai lưỡi vi nó góp phần đẩy đưa họ vào con đường ‘phạm tội’ – ‘tạo phản’, ‘tham nhũng’ và ‘tham ô’.

Vì những ‘tội’ ấy họ bị tước hết mọi quyền lợi và phải đối diện với tù chung thân, án tử hình.

Chang Song-thaek, Bạc Hy Lai và Dương Chí Dũng ít nhiều phải chịu trách nhiệm về hành động của mình vì làm chính trị hoặc kinh doanh tại Bắc Hàn, Trung Quốc và Việt Nam không phải ai cũng phải đối diện kết cục bi thảm như họ.

Nhưng nếu sống trong một quốc gia đa đảng, dân chủ, tự do và luật pháp thực sự công minh, chưa chắc ba người đó đã có được những đặc quyền đặc lợi và cũng chưa chắc rơi vào tình trạng bi thảm hiện nay.

Và do đó, ba trường hợp này cũng đặt ra câu hỏi phải chăng cơ chế của Bắc Hàn, Trung Quốc và Việt cũng góp phần tạo nên những vụ như ‘vụ án’ của Chang Song-thaek, Bạc Hy Lai và Dương Chí Dũng?

Bài thể hiện quan điểm của tác giả hiện sống tại Anh Quốc.