Thứ Hai, 31-03-2014 – ÂM MƯU THÂM ĐỘC CỦA TRUNG QUỐC


CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT

1<- NÊN TIẾP TỤC PHÁT HÀNH TEM VỀ HOÀNG SA – TRƯỜNG SA (Tễu).

Những vòng tròn… (DLB).

CLB BÓNG ĐÁ NO-U FC RA SÂN LẦN THỨ 100 – 30/03/2014 (Thành).

– Thái Bình: Ông Tập Cận Bình muốn Mỹ phải ‘công bằng’ ở Biển Đông (Boxitvn).

Trường Sa : Tàu Philippines phá vòng vây Trung Quốc, đổ bộ lên Bãi Cỏ Mây (RFI). – Manila nộp tiếp bằng chứng chống TQ (BBC). – Philippines thúc đẩy vụ kiện Trung Quốc (NLĐ). – Philippines trình hồ sơ 4.000 trang tài liệu kiện Trung Quốc (VOV).

NGUYỄN PHÚ ĐỨC, NGUYỄN XUÂN PHONG VÀ NGUYỄN TIẾN HƯNG VIẾT VỀ CÁI CHẾT CỦA ĐỆ NHỊ CỘNG HOÀ (DĐXHDS).

Chân dung của một tên bồi bút (DLB). Không phải bồi bút thường, mà đó chính là ông Hồ Chí Minh. Theo báo Nông Nghiệp Việt Nam, thì bút hiệu C.B. đã được ông Hồ Chí Minh sử dụng tại 147 tài liệu trên báo Nhân Dân, viết từ tháng 3 năm 1951 đến tháng 3 tháng 1957. Bài viết đấu tố bà Nguyễn Thị Năm được C.B. viết vào ngày 21 tháng 7 năm 1953 trên báo Nhân Dân.

Quan chế thời nay không bằng xưa? (BBC). – Hạn chế ‘con ông cháu cha’ trong lịch sử (BBC). – Xử lý nghiêm tiêu cực trong công tác tổ chức cán bộ (Tin tức).

Vì sao người dân không thiện cảm với công an? (RFA). – Việt Nam : Hai dân oan Dương Nội cắn lưỡi « tự tử » trong trại tạm giam ? (RFI). – “Các người có lương tâm không?” (DT). – LUẬT SƯ KHÔNG ĐƠN ĐỘC (Nguyễn Quang Vinh).

– Đặng Đình Cung: Sáu lý do để bãi bỏ án tử hình (Boxitvn).

Lại được xem cô Trinh diễn xuất (DLB).

Hiểu đúng về xã hội dân sự ở Việt Nam (QĐND).

Vụ Nhã Thuyên: PGS.TS NGÔ VĂN GIÁ LÊN TIẾNG (Tễu). – Hồ sơ bảo vệ luận văn 2010 (junglepoetry). – Viết gì nữa về vụ Nhã Thuyên??? (Chu Mộng Long). – Lời khuyên vụ Nhã Thuyên: bớt cãi cọ, hãy kiện cáo! (Chép sử Việt).“Vẫn biết rằng đi kiện ở xứ sở có nền pháp lý XHCN này thì vẫn như “Con kiến kiện củ khoai”, nhưng … may thay, nay không phải như thời Nhân văn Giai phẩm nữa rồi. Đó cũng là điều mà các nhà “lý luận văn học nghệ thuật” và tuyên giáo của đảng cần ý thức rõ.”

Sinh viên nói Quốc hội còn xa lạ với giới trẻ (TT).

– Nguyễn Hữu Quý: Ucraine chìm ngập trong nợ nần, Việt Nam thì khi nào mới bị lộ? (Boxitvn).

– Đoàn Hưng Quốc: McDonald’s, Ukraine và Việt Nam (Boxitvn).

“Vụ JTC hối lộ không ảnh hưởng đến ODA”, ông Nguyễn Trần Bạt nói giọng quan chức chính phủ hay nhà tư vấn đầu tư chính trực? (Chép sử Việt). – Nhật – Việt họp bàn chống tham nhũng (BBC). – Chi tiết vi hành điều tra “ông anh” ăn 16 tỷ của Thứ trưởng GTVT (KT).

Cái “hậu” của kịch bản đường sắt cao tốc và nhà máy điện nguyên tử Việt Nam (DLB).

Café sáng thứ 7 (#26): Tham nhũng, ăn cắp và nghèo đói (Bautx). – Ghi nhanh–Có thật là phía NB không biết được thành phần ăn hối lộ ở phía VN? (Tú Hờ) (NLG).

20 luật sư tham gia bào chữa vụ án “bầu” Kiên (DT).

Xử lý nghiêm các cán bộ gây nhũng nhiễu doanh nghiệp (PLTP).

Đề nghị liên ngành Y tế, Giáo dục, Văn Thể Du, Công an phối kết hợp Ủy ban tỉnh Đồng Nai xử lý kiên quyết “thần y” 9 tuổi (Chép sử Việt). “Xử lý dứt điểm nhanh đi, không là bọn Y tế Thế giới, Bác sĩ không biên giới, Y sĩ không biên giới, lại cả Quỹ nhi đồng LHQ nữa nó nhẩy vào là rách việc lắm.”

Lương hưu sẽ giảm (NLĐ). – Teo tóp (NLĐ).

Bắt đầu cấp CMND 12 số (NLĐ).

Gian nan “đòi” nước cho… sông (NLĐ).

Tú Hờ—Tiếp viên VNA bị bắt, lỗi ở đâu? (NLG). – Có tiêu cực trong tuyển tiếp viên, phi công! (NLĐ). – Vietnam Airlines nên xin lỗi phía Nhật Bản? (ĐS&PL). – Hàng xách tay Nhật đội giá, Vietnam Airlines tăng giám sát (VOV).

Làm rõ sự cần thiết của Cảng hàng không quốc tế Long Thành (HQ).

“Hàng triệu kiều bào” chẳng lo “nguy cơ mất quốc tịch” (Chép sử Việt). “Hãy ngồi vào sửa luật theo hướng đảo ngược lại quy định thủ tục hiện hành: ai chưa tuyên bố thôi quốc tịch Việt Nam, trong khi chính quyền xác định được họ từng là người Việt Nam, thì sẽ nghiễm nhiên còn là người mang quốc tịch Việt Nam.”

Tại sao các nước dân chủ lại giàu có? (Boxitvn).

Phe đối lập Campuchia tiếp tục đòi điều tra lại bầu cử Quốc hội (TTXVN/Tin tức).

Trung Quốc siết chặt vòng vây Chu Vĩnh Khang (TT). – Tịch thu 14,5 tỷ USD từ người thân, cộng sự của Chu Vĩnh Khang (Tin tức).

TQ hành quyết tử tù nhiều hơn cả thế giới cộng lại (VOV).

Một trong nhiều khẩu hiệu của người biểu tình trước Phủ Tổng thống Đài Loan ngày 30/03/2014 : "Chúng tôi không có một Đài Loan khác để bán".

Hơn 100.000 người biểu tình tại Đài Bắc đòi hủy hiệp định với Bắc Kinh (RFI). =>

Bắc Triều Tiên bác bỏ các chỉ trích của Hội đồng Bảo an LHQ (VOA). – Nhật Bản, Bắc Triều Tiên đối thoại cấp cao tại Bắc Kinh (VOA). – Bắc Triều Tiên lại đe dọa thử hạt nhân (RFI). – Triều Tiên muốn cải thiện quan hệ với Nhật Bản (TTXVN/Tin tức). – Quan hệ liên Triều rơi vào giai đoạn “thảm họa” (NLĐ).

Thái Lan bầu cử Thượng viện (VOA). – Thái Lan bầu Thượng viện trong bối cảnh khủng hoảng chính trị (RFI). – Thái Lan: Bầu cử Thượng viện diễn ra suôn sẻ (VTV). – Nước mắt vỉa hè (SK&ĐS). – Bà Yingluck đối mặt thử thách mới (NLĐ).

147 năm trước đế quốc Nga đã bán Alaska (Kichbu).

Bí ẩn tâm hồn Nga (Bài 1) (pro&contra).

Tất cả nhân viên Bộ Nội vụ Ukraine đã rời khỏi Crimea (TTXVN). – Tất cả nhân viên Bộ Nội vụ Ukraine đã rời khỏi Crimea (TTXVN).

Sáp nhập Crimea, Quân đội Nga được gì? (TP). – Thủy quân lục chiến Nga bảo vệ vũ khí Ukraine (TP).

Ngoại trưởng Mỹ, Nga sẽ thảo luận về vấn đề Ukraine tại Paris (VOA). – Ngoại trưởng Mỹ-Nga bàn về Ukraina tại Paris (RFI). – Máy bay đột ngột đổi hướng vì ông Kerry muốn gặp ông Lavrov (Soha). – “Đòn thù” phong tỏa tài sản (NLĐ).(dùng từ “Đòn thù” là ý gì vậy ta???)

 

– Không chấp nhận “gác tranh chấp cùng khai thác” từ “đường lưỡi bò” (Infonet).

– Tranh chấp biển Đông: Philippines nộp biên bản luận chứng (PLTP). – 4.000 trang hồ sơ Philippines kiện Trung Quốc có nội dung gì? (MTG). – Philippines quyết kiện Trung Quốc đến cùng (SK&ĐS).

– Quốc hội 1 viện hay 2 viện? (LĐ).

– Bộ Công an muốn thêm Tướng: Đừng để ra ngõ gặp tướng! (VNN).

– Bùi Hoàng Tám: Nhà công vụ và Nhà của Chủ tịch Nước!  (DT). – 10 năm thu nhập của viên chức cũng khó mua nổi nhà (PLTP).

– Ngân sách hai năm không chi gì mới trả đủ nợ công (GTVT).

Cơ hội cho Việt Nam từ đăng cai ASIAD (GDVN). – Tiền tổ chức Asiad 2019: Ngân sách địa phương là của ai? (TT).

“Tiềm năng” tham nhũng trong ODA (VnEco). – Thống nhất sớm làm rõ nghi án JTC đưa hối lộ (GTVT).

– 12 bị can gây thất thoát gần 200 tỷ đồng (ANTĐ).

– Chất vấn bộ trưởng vụ thương lái nước ngoài (PLTP).

– Có cần thiết phải bắt giam y tá Thuận? (SK&ĐS). – Trẻ tử vong bắt y tá:Bộ chưa nhận được báo cáo? (ĐV).

Tư nhân thi hành án dân sự, liệu có ổn? (TP). – Bỏ thời hiệu khởi kiện, có làm khó cho Tòa? (PLVN). – Cần khởi tố vụ án ném “bom xăng” vào nhà Trưởng công an xã (ĐS&PL). – Sẽ xử lý người có công “rởm” (KP).

– Hà Tĩnh: Sông lở, dân bất an vì “cát tặc” hoành hành (Tầm nhìn).

– Dân Đà Nẵng muốn được… thu hồi đất (PLTP). – Đà Nẵng sẽ hạn chế xe máy thế nào? (VTC).

– ‘Bức thư du học sinh Nhật nêu hiện trạng có thực’ (TVN).

– Tiếp viên buôn đồ ăn cắp: Người Việt ở Nhật bị nghi ngờ, dò xét? (Vef). – Biết rồi, khổ lắm… không thể không buôn lậu! (KT).

– Chính phủ Việt Nam nói “Tôi Đồng Ý”? (MTG).

– Thế lực gia tộc Chu Vĩnh Khang ở Giang Tô (VNN) (đang đợi có loạt bài thế lực Mr.X ở KG, Mr.4 ở….)

– Biểu tình lớn ở lãnh thổ Đài Loan (PLTP).

– Triều Tiên dọa thử hạt nhân ‘nặng đô’ hơn? (ĐV). – Nhật Bản và Triều Tiên tổ chức đàm phán lần đầu tiên kể từ năm 2012 (MTG).

– Thái Lan bầu cử trong lo ngại (TN). – Nổ bom trong ngày bầu cử Thượng viện Thái Lan (PLTP). – Thái Lan bầu cử: Quyết định số phận Thủ tướng Yingluck (DV). – Lãnh đạo Đài Loan nhượng bộ người biểu tình (MTG).

– Người Tatar ở Crimea đòi tự trị (TN). – Biểu tình đòi tách miền nam ra khỏi Ukraine (KT). – “Vua sôcôla” đối đầu “nữ hoàng khí đốt” (TT).

– Ecuador không công nhận chính phủ lâm thời của Ukraine (TTXVN). – Nga trả lại Ukraine tàu ngầm Zaporozhye (TP).

– Mỹ viện trợ cho Moldova 10 triệu USD (VTV).

– Nga- Mỹ bất đồng về giải quyết khủng hoảng tại Ukraine (VOV).

– Đằng sau cuộc khủng hoảng Ukraine (PT). – Châu Âu đừng mong “thoát khỏi tay” Nga (Infonet).

KINH TẾ

Tình hình sở hữu chéo tại các TCTD (VietFin). – Xu thế dòng tiền: Chu kỳ tăng mới sẽ lặp lại? (VnEco).

Vàng tuần 31/3-4/4: Bắt dao rơi (ĐTCK).

Nhộn nhịp chào bán cổ phiếu (NLĐ).

Tôm hùm thương phẩm là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao của ngành thủy sản Việt Nam

Tôm hùm thương phẩm là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao của ngành thủy sản Việt Nam

Nhà giá thấp vẫn bán chạy (NLĐ). – Giải mã sự thật về lời đồn liêu trai khiến tòa tháp nghìn tỷ hàng chục năm đìu hiu giữa Sài Gòn (Giadinh.net).

Vốn cho bình ổn thị trường tăng hơn 4 lần (NLĐ).

Do đâu có “rủi ro về thuế” của DN (Tầm nhìn).

Vì sao họ thua kiện? (NLĐ).

<- Thích ứng với rào cản (NLĐ). – Hỗ trợ tối đa để ngư dân yên tâm bám biển (Tin tức). – Hiến kế tháo gỡ khó khăn cho cá tra tại An Giang (TTXVN).

Những chuyến xe cây giống từ miền Nam (RFA).

Bank of China dự báo gia tăng rủi ro tài chính toàn cầu (TTXVN).

 

– Ngàn tỷ vốn Nhà nước giao vào tay ai? (infonet).

– Đừng vẽ dự án để xin vốn ODA (DV).

– Tái cơ cấu: Không thể quên Quỹ tín dụng nhân dân (NCĐT).

– Sacombank – Eximbank: còn chung đường về? (NCĐT).

– Gói tín dụng 50.000 tỷ: Trông chờ sự rộng lượng của ngân hàng? (Infonet). – 50.000 tỷ đồng cho bất động sản: Ý nghĩa về mặt tinh thần (ANTĐ).

– Không thể bóp cung để khơi cầu (TN). – Cơ hội trên thị trường bất động sản (TN). – Kích hoạt BĐS, thời điểm bơm vốn (Vef).

– Đặc khu kinh tế Vân Đồn: Biến tham vọng thành hy vọng (TN).

– Quảng Ninh: Tiên phong thực hiện mô hình đặc khu kinh tế (CT).

– Vụ PMU Thanh Hóa: Lãnh đạo tỉnh trải thảm, thuộc cấp lại rải… chông? (PL).

– Petrolimex: Lãi ở xăng dầu, lỗ ở ngân hàng, bất động sản… (ĐV).

– Chia cổ tức cao, FPT có ý gì? (NCĐT).

– Tiền bán cổ phần DNNN sử dụng chưa hiệu quả (PLTP).

– Đại gia ngủ siêu giường, nhà chăng thép gai có sướng? (TVN).

– NTD bị thiệt vì DN “sợ” thông tin hàng giả (PLTP).

– Toan tính kĩ lưỡng, vì sao Starbucks chưa thể hạ gục cà phê Việt? (VTC).

– Rau sạch vẫn chưa đạt yêu cầu (ANTĐ). – Siêu thị ‘đổi đời’ rau bẩn, ‘lên đời’ hàng Trung Quốc (ĐV).

– Đình chỉ công ty sản xuất bim bim có chuột chết khô ở Hà Nội (GDVN).

– Tái cơ cấu ngành thủy sản tập trung vào 4 nhóm giải pháp (VTV).

– Lãng phí 2 tỷ USD/năm vì sử dụng phân bón không hiệu quả  (VTV).

– Thanh Hóa chỉ đạo việc nạn bọ hung đen hại mía theo phản ánh của Tầm nhìn (Tầm nhìn).

– Vì sao dưa vẫn đổ về cửa khẩu Tân Thanh? (TP).

VĂN HÓA-THỂ THAO

Bốn con rồng đất bị giấu được nhân dân thôn Quang Húc, xã Đông Quang (huyện Ba Vì, Hà Nội) phát hiện.

Có bao nhiêu vật cổ “bốc hơi” tại đình Quang Húc (PLXH). =>

Bảy ngày sách “lên ngôi” (NLĐ).

Người già và Em bé (RFA).

Sự thực không thể bị chôn vùi (KỲ 22) (Nhật Tuấn).

NHÀ THƠ LÊ TRIỂN CƯỚI “MƯA TRÁI MÙA” (Nguyễn Trọng Tạo).

NHIỀU HƠN MỘT THÁNG THƠ CỦA LÊ VĨNH TÀI (Hợp Lưu).

Nhắm mắt lại mà yêu (Trang Hạ).

Âu Bảo Ngân – The Voice và tương lai nhạc kịch Việt Nam (VOA).

Những quy định bất khả thi (NLĐ).

Bị đe dọa, Hoa hậu Diễm Hương gửi đơn cầu cứu khẩn cấp (MTG).

Ngoài 10,5 tỷ đồng, Chánh Tín còn nợ ngân hàng nhiều khoản (GD&TĐ).

Cái đẹp như là cái lý tưởng – đọc Mỹ học của Kant (PBVH).

Facebook sẽ dùng vệ tinh, máy bay không người lái để phủ Internet toàn cầu (TN).

Thêm một người thiệt mạng trước thềm World Cup 2014 (ANTĐ).

 

– Xếp hạng di tích mộ đô đốc thủy binh thời Tây Sơn (TN).

– Pác Tạ và chuyện thêu dệt mang màu sắc kỳ quái quanh dòng họ Ma (Infonet).

– Ngược dòng Nậm Nơn (PT).

– “Cụ cây” có người hỏi mua hàng chục tỉ nhưng không ai dám bán (Infonet).

– Đôi cá lạ “biết khóc” trong ao đình có hai đứa trẻ chết đuối (PL).

– Phô trương công đức ở đền Mẫu Âu Cơ (TN).

– Cách chào của người Việt (TN).

– Muốn biết dân Hà Nội xin cứ ra đường… (VNN). – Hệ thống quy tắc ứng xử cho người Hà Nội: Phải đi vào “gốc rễ” của vấn đề (HNM).

– Giới trẻ vẫn đến với sách giấy (PLTP).

– Theo dấu văn thơ – Kỳ 26: Tướng cướp Bạch Hải Đường (TN).

– Ngày nói dối, Chủ tịch VFF và…Trịnh Công Sơn (ĐV).

– Khi giới trẻ làm phim (TN).

– Giải thể thao sinh viên Việt Nam (VUG) 2014: Đại học quốc tế Hồng Bàng vô địch futsal (TTVH).

– 1 năm ngày mất của Chinua Achebe – nhà văn có ảnh hưởng nhất châu Phi (TTVH).

GIÁO DỤC-KHOA HỌC

Gỡ khó cho các trường ngoài công lập (PT).

Sẽ thi tốt nghiệp THPT trong 5 buổi (NLĐ).

Hiệu trưởng có vai trò gì? (pro&contra).

Thầy phải yêu bài dạy của mình (NLĐ).

GV tiểu học có bằng thạc sĩ chưa được chuyển ngạch lương theo bằng (GD&TĐ).

Sườn bò nghi làm từ xốp ‘tái xuất cổng trường’ (KP).

Nhật Bản đình chỉ một giáo sư đại học vì “đạo” luận văn (TTXVN).

 

– Thực chất vẫn có điểm sàn (KTĐT). – Cần có định hướng nghề nghiệp sớm (ANTĐ). – Công nghệ hạt nhân khát nhân lực (TT).

– Thi tốt nghiệp THPT: Giảm thời gian môn Văn, Toán (VnM).

– Dạy môn tự nhiên bằng tiếng Anh ở Nam Định: Có thực sự cần thiết? (PT).

– Bất ngờ từ những bài văn nghị luận yêu sớm (VNN).

– Lên Facebook nói xấu thầy cô (TT).

– Hàng loạt giáo viên bị ‘khủng bố’ bằng tin nhắn (TN).

– Chuyện người thầy từng bị chôn sống (TT).

– Thư viện chưa dùng đã hoang phế (TN).

– Festival Người tự kỷ 2014 (PL&XH).

– Chờ ‘tiền lệ’, bao giờ mới có ô tô, điện thoại (TVN).

XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG

Người dân chỉ có thể qua lại cầu tạm trong mùa khô. - See more at: http://vtv.vn/thoi-su-trong-nuoc/nguoi-dan-huyen-nam-po-van-kho-bo-cau-tam/110069.vtv#sthash.VmDorpoO.dpuf

Người dân chỉ có thể qua lại cầu tạm trong mùa khô.

Đổi giấy phép lái xe: Ai tiếp tay cho cò? (NLĐ).

<- Người dân huyện Nậm Pồ vẫn khó bỏ cầu tạm (VTV).

Liệu thần may mắn có mỉm cười với người phụ nữ ve chai nghèo phát hiện 5 triệu yen Nhật trong chiếc loa cũ? (LĐ).

Dưa hấu thừa ế, chất đống vì sản xuất thiếu quy củ (TP).

Hải Phòng: Vụ bị chém và tử vong vì thuốc diệt cỏ: Nữ sinh tự mua thuốc và để lại thư tuyệt mệnh (LĐ).

Một cán bộ ngân hàng chết trong tư thế treo cổ (TT).

Liên tục những vụ bắn, chém kinh hoàng trên đường phố Sài Gòn (LĐ).

Choáng với đôi nam nữ “yêu” ngay bên đường Yên Phụ (Soha).

 

– Vật vã chờ khám bệnh lúc nửa đêm: Giải quyết dồn ứ (TN).

– Cô giáo chui túi nilon qua suối: Tận mắt chứng kiến đường vào Sam Lang (Infonet).

– Rừng bị thu hẹp, voi về phá bản (TN). – Sống chung với voi rừng (TP).

– Nhà báo Mỹ ‘thán phục’ kỹ năng đi xe máy của người Việt (Infonet).

– PGS.TS Huỳnh Văn Sơn: Rượu bia là lưỡi dao oan nghiệt! (PT).

– Bốc cốt bầy hầy khiến dân bỏ chạy (PLTP).

– Hơn 10 năm thiếu điện giữa thành phố (PLTP). – Những người khốn khổ về đêm (PLTP).

– Vì sao nhiều tỉnh chưa sẵn sàng cân xe? (GTVT).

– Khó tin ‘nông trại’ cần sa giữa thành phố Cảng (VNN).

QUỐC TẾ

Quân Taliban tấn công trụ sở ủy ban bầu cử tại thủ đô Afghanistan (RFI).

Cảnh sát và binh sĩ Iraq tại thành phố Ramadi, thủ phủ của tỉnh Anbar, phía tây Baghdad.

Cảnh sát và binh sĩ Iraq tại thành phố Ramadi, thủ phủ của tỉnh Anbar, phía tây Baghdad.

10 người thiệt mạng trong các vụ bạo động ở Iraq (VOA). =>

Ai Cập loan báo ngày bầu cử tổng thống (VOA).

Bầu cử địa phương Thổ Nhĩ Kỳ trắc nghiệm sự ủng hộ Thủ tướng (VOA).

Venezuela, một trong những quốc gia đắt đỏ nhất thế giới (RFI).

Châu Âu cấm nhập cá từ Cam Bốt, vì đánh bắt sai luật quốc tế (RFI).

Tiết lộ chấn động: Hàng chục nghìn lính Mỹ bị làm vật thí nghiệm (Soha).

Nga muốn duy trì đối thoại với Đức (Tin tức).

Trật tự thế giới mới (pro&contra).

Toàn văn bài phát biểu về Ukraine khiến nước Đức dậy sóng (Soha). – Đức sẵn sàng điều máy bay và tàu hải quân đến trấn an 3 nước vùng Baltic (MTG).

NATO: Sau Crimea, cần bảo vệ quyền tự chọn của mỗi nước (TTXVN).

Miến Ðiện tiến hành cuộc thống kê dân số (VOA). – Điều tra dân số Miến Điện : Dân Rohingya dưới sức ép của Phật tử cực đoan (RFI). – Miến Điện : Tên « Rohingya » bị cấm trong cuộc điều tra dân số lần đầu tiên từ 30 năm qua (RFI).

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Úc điều phối tìm phi cơ Malaysia mất tích (RFI). – Thiết bị dò tìm hộp đen tham gia cuộc tìm kiếm MH370 (VOA). – MH370: Người thân TQ giận dữ (BBC).

Tàu hải quân Australia tham gia tìm kiếm máy bay mất tích (VOV). – Lập ủy ban quốc tế điều tra vụ máy bay Malaysia mất tích (TT). – Vụ chuyến bay MH370 mất tích: Thân nhân Trung Quốc đến Kuala Lumpur đòi Malaysia xin lỗi (TN). – Mật vụ nhập cuộc điều tra vụ MH370 (GD&TĐ). – Bất đồng lòng tin Mỹ – Malaysia trong vụ MH370 (MTG). – Tuần thứ 4 tìm kiếm, vụ MH370 mất tích vẫn chìm trong bí ẩn (VOV).

 

– Thủ tướng Israel cảnh báo về hòa bình Trung Đông (VOV).

– Iran tăng cường an ninh dọc tuyến biên giới với Pakistan (TTXVN).

– Ai Cập ấn định lộ trình tổ chức bầu cử Tổng thống (VOV).

– Đằng sau quyết định bàn giao khu trục hạm Type-52D của TQ (ĐV). – Cuba cải cách lớn, Trung Quốc vui mừng (ĐV). – Trung Quốc lợi dụng MH370 cho mục tiêu chính trị gì? (Infonet).

– Chưa thoát khỏi ám ảnh (ANTĐ). – Tình báo Mỹ do thám 122 nguyên thủ (TT).

– Bầu cử ở Thổ Nhĩ Kỳ: Đảng của Thủ tướng Erdogan tạm dẫn đầu (VOV).

– Bầu cử vòng 2 tại Pháp: Đảng đối lập tiếp tục thắng lớn (VOV).

– Các vật trôi nổi không phải mảnh vỡ máy bay (PLTP). – Tình báo Mỹ: Không có bằng chứng máy bay Malaysia bị khủng bố (Tin tức). – Malaysia kêu gọi tình báo quốc tế tham gia tìm kiếm máy bay mất tích (GTVT).

 

* Video: + Việt Nam quê hương tôi (Phần 42) (RFA); + 7 sự kiện đáng chú ý trong tuần 29.03.2014 (RFA); + Tình trạng bi đát của nhà vườn trồng rau (RFA); + Chính sách của VN đối với đạo Cao Đài (RFA); + Bản tin video tối 28-03-2014 (RFA).

* VTV: + Chào buổi sáng – 30/03/2014; + Báo chí toàn cảnh – 30/03/2014; + Điểm báo – 30/03/2014; + Toàn cảnh thế giới – 30/03/2014; + Thời sự 12h – 30/03/2014; + Tin quốc tế 17h – 30/03/2014; + Thời sự 19h – 30/03/2014.

2162. ÂM MƯU THÂM ĐỘC CỦA TRUNG QUỐC

Nguyễn Trọng Vĩnh

Một mặt họ thực hiện ý đồ kiểm soát thị trường nước ta, lũng đoạn nền kinh tế nước ta, mặt khác họ chủ trương phá hoại kinh tế ta, nhất là của nông dân.

Ai cũng biết mọi loại hàng hóa rẻ tiền của TQ (có cả loại độc hại) chiếm lĩnh thị trường, cạnh tranh đè bẹp hàng hóa của ta. Họ mua cổ phiếu của các công ty ta, dần sẽ chiếm 51%, trở thành công ty của TQ; tập đoàn Yulun Gang Tô sẽ xây dựng nhà máy sản xuất sợi, dệt, nhuộm tại Nam Định, chiếm 80.000m2, công suất sản xuất sợi 9.816 tấn/năm, dệt 21,6 triệu m/năm, nhuộm 24 triệu m/năm; nhà máy dệt tại huyện Nghĩa Hưng, diện tích 1.000 ha, công xuất cũng lớn… nhằm tiến tới lũng đoạn nền kinh tế nước ta.

 

Hàng hóa của họ tương lai xuất khẩu từ Việt Nam sẽ được hưởng thuế 0% nếu ta sẽ tham gia được vào T.P.P, hóa ra “cốc mò cò xơi”.

Đồng thời với ý đồ nắm kinh tế, TQ còn chủ trương phá hoại kinh tế của ta, nhất là của nông dân.

Tờ báo “Thời nay” số 436 ngày 20/3/2014 đăng tin: Những nhóm thương nhân nước ngoài (nói toét ra là thương nhân TQ) vào mua lá khoai lang non ở Vĩnh Long, thu mua lá điều, lá vải thiều, rễ hồ tiêu, móng trâu, bò, lá cây huyết đằng, mầm cây thảo quả ở Hà Giang… tất cả các loại trên với giá rất cao; khi thu gom với số lượng lớn rồi thì đột nhiên bỏ, thương nhân biến mất. Trước đây họ còn mua ốc bươu vàng, đỉa, với giá cao để những nông dân hám lợi nuôi, phát triển, gây hại cho ta. Họ đưa vào giống lạc hạt to, mẩy, rải trên các cánh đồng lớn, kết quả thu hoạch mỗi bụi được 3 củ (quả), giống cũ của nông dân mỗi bụi được trên dưới 20 củ. Họ đặt mua thanh long, sau đó đột ngột ngừng, khiến hàng trăm xe thanh long bị ứ tại cửa khẩu Tân Thanh, không thể tiểu thụ. Họ còn thu gom sầu riêng của Tiền Giang, tiêm hóa chất ủ chín rồi xuất khẩu bị trả lại, khiến các khách hàng nước ngoài nghi ngờ hoa quả của Việt Nam, làm cho xuất khẩu của ta giảm sút.

Những thương lái “nước ngoài” nói trên làm những việc ác độc đó, họ được lờ lãi gì, chính là giới cầm quyền TQ chi tiền phái họ đi phá hoại kinh tế Việt Nam.

Nông dân ta nhiều người bị mắc mưu, tham lợi trước mặt, chuốc lấy hậu quả điêu đứng. Các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương điềm nhiên để mặc, không làm gì!

Bộ máy tuyên truyền, Hội Nông dân sinh ra để làm gì, sao không tuyên truyền giáo dục cho nông dân nhận rõ lợi, hại, hiểu âm mưu thâm độc của TQ. Các cơ quan chức năng, chính quyền các cấp sao không theo sát những thương lái đó để truy tố họ về tội phá hoại sản xuất khi họ hành động?

Những sự việc rành rành ra thế, mà có những cán bộ của ta, kể có những vị trong cấp cao nhất vẫn còn bị mê hoặc bởi “16 chữ và 4 tốt”, “tình hữu nghị Trung – Việt”!!

 

2163. TẠI SAO TRUNG QUỐC CHƯA THIẾT LẬP ADIZ Ở BIỂN ĐÔNG?

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Năm, ngày 27/03/2014

Báo Liên Hợp buổi sáng mới đây đăng bài viết của tác giả Trương Vân, phó Giáo sư trường Đại học quốc gia Niigata Nhật Bản lý giải tại sao Trung Quốc chưa vội vàng thiết lập vùng nhận dạng phòng không ở Biến Đông. Dưới đây là nội dung cơ bản của phân tích trên.

 

Cuối tháng 11/2013, sau khi tuyên bố thiết lập vùng nhận dạng phòng không trên biển Hoa Đông, Trung Quốc cho biết sẽ xem xét thiết lập vùng nhận dạng phòng không ở các khu vực khác vào thời điểm thích hợp. Tuyên bố này khiến mọi người ngay lập tức liên tưởng đến khu vực Biển Đông (Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa).

Từ đầu tháng 2/2014, dư luận về khả năng Trung Quốc sẽ lập vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông lại nổi sóng. Trước vấn đề này, người phát ngôn của Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã trấn an bằng việc đưa ra tuyên bố tin tưởng vào sự ổn định ở Biển Đông cũng như quan hệ với các nước láng giềng, qua đó ngầm chỉ ra rằng tạm thời không vội vàng thiết lập vùng nhận dạng phòng không tại Biển Đông.

Kể từ khi Trung Quốc tuyên bố thiết lập vùng nhận dạng phòng không trên biển Hoa Đông, có rất nhiều phân tích và bình luận về ý đồ của Trung Quốc. Nhật Bản và Mỹ chỉ trích dữ dội về hành động của Trung Quốc, một số quốc gia Đông Nam Á cũng bày tỏ lo ngại, tuy nhiên do chứng cứ không đủ và thời gian quá ngắn nên rất khó đưa ra phán đoán khách quan và chuẩn xác, vì vậy cũng khó tránh việc xuất hiện các luận điểm vội vàng. Tuy nhiên, xem xét tình hình vài tháng qua có thể thấy quyết định của Trung Quốc không chỉ “rất thận trọng” mà còn thể hiện được sự cao tay về tư duy chiến lược.

Nhìn bề ngoài, việc thiết lập vùng nhận dạng phòng không ở biển Hoa Đông là nhằm đối phó với Nhật Bản, song mục tiêu thực sự lại là Mỹ. Mặc dù Mỹ, Nhật, Trung được xem là mối quan hệ ba bên, tuy nhiên do mối quan hệ đồng minh quân sự mật thiết Mỹ-Nhật, nên có thể kết cấu mối hệ ba bên kia thành quan hệ giữa Trung Quốc với đồng minh Mỹ-Nhật. Mỹ từ lâu đã xác lập vùng nhận dạng phòng không ở khu vực này, sau đó trên danh nghĩa chuyển lại cho Nhật trong quá trình Nhật Bản giành lại quyền kiểm soát Okinawa. Tuy nhiên điều này không ngăn cản việc Mỹ coi vùng biển rộng lớn Tây Thái Bình Dương như “hồ” riêng của mình và có những hành động tự do vượt quá mức bình thường, cho nên trên danh nghĩa vùng nhận dạng phòng không được coi là của Nhật Bản song về thực chất lại là của Mỹ.

Trung Quốc tất nhiên hiểu rõ điều này song tại sao cuối năm 2013 mới tuyên bố thiết lập vùng nhận dạng phòng không ở biển Hoa Đông? Điều này có thể lý giải rằng trước đó Trung Quốc xác định vẫn chưa đến mức cần phát tín hiệu rõ ràng với Mỹ. Tuy nhiên, việc căng thẳng trong tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư giữa Nhật Bản và Trung Quốc đã tạo điều kiện cho Mỹ đẩy mạnh chiến lược quay lại châu Á. Và động thái này của Mỹ buộc Trung Quốc phải đưa ra quyết định. Mặc dù phán đoán tính hiệu quả về quyết định trên của Trung Quốc vẫn còn quá sớm, song nhìn vào kết quả hiện tại có thể thấy nó đã phát huy tác dụng nhất định trong việc răn đe Mỹ. Nhìn vào cách phản ứng khác nhau giữa Nhật Bản và Mỹ đối với hành động trên của Trung Quốc cho thấy điều đó. Trong khi phản ứng của Nhật Bản không chỉ không thừa nhận, mà còn yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ, đồng thời chỉ thị các hãng hàng không nước này không chấp hành vùng nhận dạng phòng không của Trung Quốc, thì Mỹ chỉ bày tỏ không thừa nhận, nhưng không yêu cầu hủy bỏ và vẫn yêu cầu các hãng hàng không của mình chấp hành vùng nhận dạng phòng không do Trung Quốc vạch ra.

Tuy nhiên, đối với việc thiết lập vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông lại hoàn toàn khác. Ngay sau khi có những dư luận về khả năng Trung Quốc thiết lập vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông, Mỹ đã lập tức có những phản ứng mạnh mẽ. Tháng 2 năm nay, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Russell trước Quốc hội nước này đã mạnh mẽ chỉ trích dã tâm của Trung Quốc trên Biển Đông, đồng thời cảnh báo Trung Quốc không nên có các hành động giống như vậy (lập vùng nhận dạng phòng không) ở Biển Đông. Sau đó, người phụ trách các vấn đề về châu Á thuộc ủy ban an ninh quốc gia Mỹ đã mạnh mẽ cảnh cáo Trung Quốc không được thiết lập vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông. Tại sao lập trường của Mỹ về các vấn đề Biển Đông lại dứt khoát như vậy, điều này được lý giải là bởi vì tiêu điểm của trò chơi trên biển giữa Mỹ và Trung Quốc là ở Biển Đông chứ không phải là biển Hoa Đông.

Thứ nhất, so với biển Hoa Đông, Biển Đông liên quan đến lợi ích của nhiều bên và tình hình ngày càng phức tạp. Điểm khác nhau giữa Biển Đông và biển Hoa Đông ở chỗ Biển Đông là tranh chấp liên quan đến 5 nước và vùng lãnh thổ, bốn nước thuộc ASEAN, trong đó mâu thuẫn tương đối căng thẳng với Trung Quốc có hai nước là Philippines và Việt Nam. Trong khi đó, tranh chấp chủ quyền ở biển Hoa Đông chỉ có hai bên là Trung Quốc và Nhật Bản. Đối với Trung Quốc, chính đồng minh Mỹ-Nhật khiến cho những tính toán chiến lược đối với Nhật Bản càng đơn giản. Song trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc cần phải tính toán kỹ trong quan hệ tổng thể với ASEAN, cũng như cần phải có chiến lược khác nhau đối với từng nước trong khối này. Đối với Mỹ, vấn đề Biển Đông cũng phức tạp như vậy. Sau Thế chiến thứ hai, trụ cột ngoại giao của Mỹ ở Đông Á là mạng lưới đồng minh song phương, song ở Đông Nam Á ngoài Thái Lan và Philippines không có đồng minh nào của Mỹ. Trung Quốc muốn thiết lập vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông cần phải suy tính đến sự khác biệt về kết cấu các mối quan hệ kể trên.

Thứ hai, không gian trò chơi ngoại giao Mỹ-Trung trong vấn đề Biển Đông lớn hơn nhiều so với biển Hoa Đông. Trong vấn đề biển Hoa Đông, Trung Quốc nhận thức rất rõ về kết cấu liên minh Nhật-Mỹ, mối quan hệ Trung-Nhật sẽ tiếp tục bế tắc và không thể giải quyết trong thời gian ngắn. Trung Quốc xác định để vấn đề biển Hoa Đông có tiến triển cần phải thực hiện chiến lược kiên nhẫn và cũng chờ đợi từ những tiến triển trong mối quan hệ Trung-Mỹ. Lịch sử cho thấy việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao Trung-Nhật là dựa trên tiền đề quan hệ Trung-Mỹ được cải thiện. Tuy nhiên, không gian ngoại giao trên Biển Đông giữa Mỹ và Trung Quốc lớn hơn rất nhiều. Đối với Mỹ, Philippines và Việt Nam là trọng điểm, điều này giải thích tại sao ngay sau khi Trung Quốc thiết lập vùng nhận dạng phòng không ở Hoa Đông, Ngoại trưởng Mỹ Kerry đã đến thăm hai nước này. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ cũng tuyên bố rõ ràng mong muốn nâng cấp quan hệ Mỹ-Philippines. Mặc dù chưa có ý định thiết lập căn cứ quân sự tại Philippines, song Mỹ muốn được tự do hơn khi ra vào các căn cứ của nước này. Người ngôn này cũng cho biết Mỹ muốn hỗ trợ và giúp đỡ Việt Nam nâng cao khả năng phối hợp giải quyết các vấn đề trên biển.

Thứ ba, vấn đề Biển Đông không chỉ liên quan đến Thái Bình Dương, mà còn có cả Ấn Độ Dương, điều này cho thấy phạm vi “cuộc chiến” trên biển giữa Mỹ và Trung Quốc càng rộng lớn hơn. Tại eo biển Malacca, mỗi ngày có tới 15 triệu thùng dầu và một nửa số lượng hàng hóa của thế giới vận chuyển qua đây. Theo tin tức của tờ Financial Times, các tàu hải quân Trung Quốc hồi tháng 2 vừa qua đã đi qua eo Sunda và đây là lần đầu tiên hải quân Trung Quốc đi qua eo biển này đến Ấn Độ Dương để tham gia một cuộc diễn tập quân sự tại đây. Theo đánh giá của các nhà phân tích khoảng 5 năm nữa, hải quân Trung Quốc ra vào Biển Đông và biển Hoa Đông là chuyện rất phổ biến. Tuy nhiên, hiện nay Trung Quốc muốn thiết lập vùng nhận dạng phòng không ở khu vực Biển Đông cần phải xem xét đến việc Mỹ có phản ứng thái quá hay không, dẫn đến khả năng gây ra môi trường bất ổn. Tóm lại, là một nhà nước có chủ quyền, Trung Quốc có thể thiết lập vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông, song Trung Quốc không vội vàng làm điều đó, bởi vì còn cần phải tính tới rất nhiều các yếu tố cân bằng khác./.

 

2164. DƯ LUẬN XUNG QUANH CUỘC BẦU CỬ QUỐC HỘI TRIỀU TIÊN 2014

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Năm, ngày 27/03/2014

(http://38north. org ngày 14/3/2014)

Cuộc bầu cử Hội đồng Nhân dân Tối cao (SPA), tức Quốc hội của Triều Tiên, lần thứ 13 vừa được tổ chức vào ngày 9/3/2014. Những cuộc bầu cử như vậy thường diễn ra cứ 5 năm một lần. Cuộc bầu cử quốc hội gần đây nhất, ban đầu dự kiến tổ chức năm 2008, nhưng sau đó đã được tiến hành vào năm 2009, có nhiều khả năng là để phù hợp với tình trạng sức khỏe ngày càng xấu đi của nhà lãnh đạo khi đó là Kim Châng In (Kim Jong II). Cuộc bầu cử năm 2003 cũng bị trì hoãn một vài tháng nhằm phản ứng lại việc Mỹ xâm lược Iraq, và được tổ chức vào tháng 8 của năm đó. Xét tất cả những ngoại lệ trước đây này, cần lưu ý rằng về mặt kỹ thuật, cuộc bầu cử 2014 là khá bình thường. Do đó, sẽ là sai lầm khi diễn giải cuộc bầu cử 2014 là sự kiện để Kim Jong Un thể hiện mong muốn định hình lại cảnh quan chính trị sau cuộc thanh trừng Jang Song Thaek vào tháng 12/2013. Cuộc bầu cử quốc hội 2014 có thể là một dịp tốt để thực hiện mục tiêu như vậy, nhưng về cơ bản thì nó không phải được thiết kế cho để đạt được mục tiêu đó.

 

Hiện có những lý do khá thuyết phục cho thấy cuộc bầu cử lần này không khác gì một trò hề. Nhưng cuộc bầu cử SPA, cũng như các kỳ họp của SPA – không giống như các Đại hội Đảng – là một trong số ít hoạt động chính trị được tiến hành thường kỳ ở Triều Tiên. Do chúng ta có rất ít lựa chọn thay thế, nên việc cố gắng tìm hiểu sâu hơn về cuộc bầu cử quốc hội lần này là rất hữu ích.

Vận động phương tiện truyền thông để chuẩn bị cho cuộc bầu cử

Vào ngày 8/1/2014, Triều Tiên công bố rằng cuộc bầu cử SPA sẽ được tổ chức vào ngày 9/3. Một loạt bước đi đã diễn ra tiếp đó, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của nhà nước nhằm tạo ấn tượng về một tiến trình thủ tục chính thức đúng đắn.

Trong số những bước đi nói trên có việc đề cử Kim Jong Un làm ứng cử viên ở tất cả các đơn vị bầu cử của đất nước vào ngày 4/2. Ông Kim Jong Un sau đó đã chọn Đơn vị bầu cử Paektusan số 111 và đây rõ ràng là một quyết định mang tính biểu tượng có chủ đích, xét sự liên hệ chặt chẽ của hai người tiền nhiệm của ông Kim với ngọn núi thiêng Paektu của cách mạng Triều Tiên. Nhưng dường như không có một chuẩn mực nào về “đơn vị bầu cử dành cho các nhà lãnh đạo Triều Tiên”. Kim Jong II đã tham gia cuộc bầu cử năm 2003 tại Đơn vị bầu cử số 649, và cuộc bầu cử năm 2009 ở Đơn vị bầu cử số 333; vì thế trong tương lai, Kim Jong Un rất có thể sẽ lựa chọn một đơn vị bầu cử khác cho cuộc bầu cử SPA kế tiếp, dự kiến tổ chức vào năm 2019.

Các nội dung được lặp đi lặp lại về sự tin tưởng tuyệt đối, đoàn kết một lòng, sự lãnh đạo nhất quán cũng như ngôn ngữ sử dụng trong các tin tức liên quan là những lời nhắc nhở mạnh mẽ về cái mà chúng ta có thể gọi là việc thần tượng hóa lãnh đạo trong các thời kỳ cai trị của Kim Nhật Thành và Kim Jong II. Đây là điều đáng chú ý, bởi vì có vẻ như những ngôn từ như vậy đã giảm bớt phần nào trong khoảng hai năm đầu tiên nắm quyền của Kim Jong Un và điều này đã tạo cơ hội để ông Kim tập trung một cách thực dụng hơn vào các dự án mang tính thực tế. Nhưng giai đoạn kiềm chế ở đây dường như đã kết thúc với sự kiện Jang Song Thaek bị thanh trừng. Việc nhà lãnh đạo Kim Jong Un không chỉ đưa ra một mà là hai bài phát biểu theo thứ tự hồi tháng Hai – một bài phát biểu về vấn đề nông nghiệp và một bài về hệ tư tưởng – đã xác nhận cho nhận định này.

Vào ngày 19/2, Kim Jong Un đã gửi một thư ngỏ cho tất cả các cử tri và hành động đó có thể được hiểu như là một lời kêu gọi thể hiện lòng trung thành đối với bản thân ông cũng như sự lãnh đạo của ông. Với việc hành động như vậy, Kim Jong Un đã làm theo tấm gương của cha mình, người cũng đã gửi thư ngỏ đến các cử tri vào ngày 10/7/2003, và tiếp đó là vào ngày 18/2/2009. Rõ ràng, Kim Jong Un, vốn có sự xuất hiện trước công chúng rất khác với cha mình, đã quyết định rằng lần này ông sẽ có cách hành xử giống như người tiền nhiệm.

Cuộc bu cử 9/3/2014

Vào ngày bầu cử, Kim Jong Un đã bỏ phiếu tại Đại học Tổng hợp Kim Nhật Thành, nơi ứng cử viên của đơn vị bầu cử này là chỉ huy một đơn vị KPA (Quân đội Nhân dân Triều Tiên), tức là một thành viên của quân đội. Đáng chú ý là trong số những người tháp tùng ông Kim trong dịp này không chỉ có một số nhân vật như Choe Ryong Hae – người có tin nói là vị quan chức số hai ở Triều Tiên – mà còn có cả Kim Yo Jong, em gái của Kim Jong Un và từ lâu được đồn đoán là một nhân vật đầy tham vọng và năng động về chính trị.

Đơn vị bầu cử Paektusan số 111, nơi Kim Jong Un là ứng cử viên, có thể nằm tại một khu vực xa xôi, nhưng trong số những người đăng ký làm cử tri ở đây có một nhóm nhân vật nổi tiếng. Nhóm này gồm có Jang Jong Nam (Bộ trưởng Quốc phòng), Yang Hyong Sop (Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch SPA), Ri Yong Mu (Phó Chủ tịch ủy ban Quốc phòng), Kim Won Hong (Bộ trưởng An ninh Nhà nước), Choe Pu II (Bộ trưởng Bộ Bảo vệ An ninh Nhân dân) và Kim Chang Sop (Giám đốc Ban Chính trị của Bộ An ninh Nhà nước). Vào ngày 10/3, ủy ban Bầu cử Trung ương báo cáo rằng 100% cử tri của đơn vị bầu cử này đã tham gia bỏ phiếu và tất cả đều bỏ phiếu cho Kim Jong Un.

Theo báo cáo chính thức của ủy ban Bầu cử Trung ương, 99,97% cử tri đăng ký đã tham gia bỏ phiếu (năm 2009 là 99,98%), và tất cả đều đã bỏ phiếu ủng hộ các ứng cử viên. Truyền thông nhà nước đã công bố danh sách đầy đủ tên đại biểu tại 686 đơn vị bầu cử (năm 2009 là 687 đơn vị bầu cử), mặc dù, giống như năm 2009, chỉ bằng phiên bản tiếng Triều Tiên.

Thông tin chi tiết hơn về các đại biểu cũng như lý lịch của họ lâu nay chỉ được cung cấp một vài tuần sau cuộc bầu cử, thường là trong phiên họp thường kỳ đầu tiên của quốc hội mới được bầu. Theo báo cáo nói trên, trong năm 2009, có 316 đại biểu đã được bầu lần đầu tiên (chiếm 46%); trong năm 2003, con số này đứng ở mức khoảng 50%. Sẽ khá là hữu ích khi ghi nhớ những số liệu này trước khi đi đến kết luận rằng Kim Jong Un theo như cáo buộc là đang tìm cách thay thế nhóm tinh hoa cầm quyền sau cuộc thanh trừng Jang Song Thaek. Trừ khi thực tế cho thấy Kim Jong Un đã thay thế tới 60% số đại biểu hoặc hơn, sẽ rất khó để lập luận rằng một điều gì đó bất thường đã xảy ra. Các số liệu hiện chưa được công bố, nhưng những thông tin bổ sung dự kiến sớm được đưa ra khi SPA triệu tập phiên họp đầu tiên của mình.

Nếu trong năm 2009, có tới 16,9% số đại biểu là đến từ quân đội, 10,9% là thuộc lớp công nhân và 10,1% là nông dân, vậy tỷ lệ 62,1% số đại biểu còn lại là ai? Những khoảng trống như vậy là khá điển hình trong các báo cáo thống kê của Triều Tiên (hiện có dấu hiệu cho thấy đa số các thành viên SPA là những quan chức chính quyền và quan chức đảng). Nếu so sánh các kết quả bầu cử năm 2003 và năm 2009, chúng ta nhận thấy tỷ lệ đại biểu nữ trong cuộc bầu cử 2009 là ít hơn, tỷ lệ học giả và số người tốt nghiệp đại học thì cao hơn chút ít, và độ tuổi trung bình của các đại biểu cũng cao hơn. Sự khác biệt nổi bật nhất là ở chỗ tầng lớp giai cấp: tỷ lệ công nhân đã giảm từ 33,4% xuống chỉ còn 10,9%. Bất chấp cái dường như được coi là sự nhấn mạnh chung trong đường hướng chính trị của CHDCND Triều Tiên đối với quân đội và tầng lớp lao động, cả hai nhóm này đều thiếu rất nhiều đại diện; trong khi đó, các quan chức chính quyền dường như nắm gần hai phần ba số ghế tại quốc hội. Vậy nên việc so sánh cuộc bầu cử 2014 với kết quả của các cuộc bầu cử trước sẽ là điều khá thú vị.

Tính xác đáng của cuộc bầu cử SPA

Các hệ thống xã hội chủ nghĩa lâu nay có tiếng về việc tổ chức bầu cử với chỉ một ứng cử viên cho mỗi ghế trong quốc hội và số phiếu thuận thường gần đạt mức 100%. Chúng tôi muốn đặt câu hỏi tại sao người dân ở những nước này lại sẵn sàng chấp nhận một màn kịch như vậy. Nhưng điều có vẻ như là một trò đùa đối với những người thuộc các nền dân chủ phương Tây vốn coi trọng nghi thức thủ tục không phải là không có một lôgích nội tại nhất định.

Việc cuộc bầu cử quốc hội rốt cuộc cũng diễn ra đã phản ánh nội dung được khẳng định trong tên gọi chính thức của nước này (Cộng hòa “Dân chủ” Nhân dân Triều Tiên), về nguyên tắc, ban lãnh đạo Triều Tiên dường như đồng ý rằng cuộc bầu cử là một phần cần thiết của nền dân chủ. Tuy nhiên, thực tế của cuộc bầu cử này lại khác với những lý tưởng của phương Tây, chắng hạn như hình ảnh của Triều Tiên về một nền dân chủ thịnh vượng là không giống với mô hình đang thịnh hành ở Mỹ hoặc ở châu Âu.

Dân chủ ở Triều Tiên được định nghĩa như là sự cai trị của đa số, và sự cạnh tranh giữa các lực lượng chính trị được coi là biểu hiện của các lợi ích khác nhau. Đối với một người theo chủ nghĩa Mác-Lênin, sự cạnh tranh như vậy, hoặc sự đối lập, chỉ có thể tồn tại ở chủ nghĩa tư bản giữa hai tầng lớp công nhân và giai cấp tư sản. Nhưng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đang loại bỏ sự đối lập này bằng cách trao quyền cho giai cấp công nhân, với Đảng Cộng sản là đại diện duy nhất của giai cấp này. Do nền dân chủ được định nghĩa là sự cai trị của đa số, chế độ chuyên chế của giai cấp vô sản và sự độc quyền về quyền lực của Đảng Cộng sản được coi là hiện thân hoàn hảo của nền dân chủ. Đối với những người vốn bị thuyết phục về lôgích này thông qua sự giáo dục chính trị, các cuộc bầu cử mang tính cạnh tranh đơn giản là không có ý nghĩa.

Đối với người Triều Tiên, ý tưởng trên được điều chỉnh để phù hợp với hệ thống lãnh đạo; từ thời thơ ấu, người Triều Tiên đã được giáo dục rằng sự tồn tại của một nhà lãnh đạo là thứ đảm bảo duy nhất cho hạnh phúc của nhân dân và đất nước. Một khi ý tưởng về sự lãnh đạo nhất quán được chấp nhận, lúc đó cơ hội cho các cuộc bầu cử mang tính cạnh tranh là rất ít. Sẽ là rất hữu ích khi nhận thức được lôgích này,, vì nó sẽ giúp chúng ta hiểu rằng những gì mà chúng ta gọi là các cuộc bầu cử công bằng và dân chủ không chỉ bị ngăn cản bởi họng súng, mà còn bởi sự truyền bá tư tưởng mạnh rnẽ và hiệu quả.

Một điểm có liên quan khác là về các đảng phái chính trị khác nhau ở Triều Tiên. Điều này nghe có vẻ kỳ quặc với nhiều người, nhưng nhà nước Triều Tiên không quan tâm đến uy tín của mình, về mặt pháp lý, CHDCND Triều Tiên là một nhà nước đa đảng, nơi Đảng Lao động Triều Tiên tồn tại cùng với Đảng Dân chủ Xã hội Triều Tiên và Đảng Chondoist (Đảng Thanh hữu Thiên đạo). Tuy nhiên, vai trò hàng đầu của Đảng Lao động Triều Tiên đã được đưa vào trong hiến pháp; Vậy làm thế nào để điều đó có thể tương thích được với sự tồn tại của các đảng khác?

Giải pháp cho vấn đề nói trên là thành lập một liên minh, được gọi là Mặt trận Dân chủ Thống nhất Triều Tiên. Một cấu trúc như vậy là không bình thường ở các nước xã hội chủ nghĩa theo hệ tư tưởng của Lênin. Thí dụ ở Đông Đức, liên minh này được gọi là “Mặt trận Dân tộc” và bao gồm Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất cầm quyền cùng với mười lăm đảng phái chính trị và tổ chức khác, trong đó có Đảng Dân chủ Xã hội, Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo, Đảng Dân chủ Quốc gia và Đảng Dân chủ Tự do. Do đó, sự đối lập tiềm tàng đã được nội bộ hóa trước khi nó có thể xuất hiện. Cử tri đã được yêu cầu bỏ phiếu cho các ứng cử viên của “mặt trận” này, chứ không phải cho một đảng cụ thể.

Với chỉ một ứng cử viên cho mỗi ghế, cùng với nguyên tắc đã được tuyên bố rằng các cuộc bầu cử không phải để cạnh tranh mà là để xác nhận lòng tin của nhân dân đối với ban lãnh đạo của họ, điểm thú vị về cuộc bầu cử SPA vì thế không phải là ở chỗ bầu cử, mà là ở chỗ lựa chọn các ứng cử viên và tác động thực tế mà cuộc bầu cử sẽ mang lại.

Theo như chúng ta biết, việc nhận diện các đơn vị vực bầu cử ở Bắc Triều Tiên cùng với lý lịch các đại biểu là vẫn còn khá mơ hồ. Cử tri biết những người mà họ bỏ phiếu ủng hộ, nhưng chỉ có vậy. Điều đó nghe có vẻ kỳ lạ đối với người Mỹ, do các thành viên Quốc hội Mỹ và các đơn vị cử tri thường có mối quan hệ gần gũi. Tuy nhiên, đây không phải là tiêu chuẩn mang tính toàn cầu. Thí dụ ở Đức, mối liên hệ này yếu hơn nhiều. Nhiều ứng viên tham gia tranh cử vào Quốc hội Đức (Bundestag) là không được bầu trực tiếp. Cử tri Đức có hai lá phiếu: một lá phiếu dành cho một ứng cử viên cụ thể và một cho danh sách ứng viên của đảng; tỷ lệ phiếu mà một đảng nhận được sẽ xác định có bao nhiêu ứng cử viên được niêm yết trong danh sách của đảng này sẽ trúng cử. Sự trung thành của các ứng cử viên được bầu theo cách như vậy là hoàn toàn dành cho đảng của họ cũng như những người đã đưa họ vào các vị trí trong danh sách ứng viên của đảng.

Tình hình phần nào đang diễn ra tương tự ở Triều Tiên. Sự trung thành của một thành viên SPA sẽ dành cho những người đã lựa chọn thành viên này ra ứng cử chứ không phải dành cho những người đã bỏ phiếu ủng hộ. Tiếng nói quyết định trong vấn đề này thuộc về Đảng Lao động Triều Tiên, điều vốn cũng đúng đối với các ứng cử viên thuộc những đơn vị quân đội. Tuy nhiên, làm thế nào để một người có được sự tin tưởng của Đảng Lao động Triều Tiên? Cũng giống như ở những nơi khác: thông qua tham vọng, các mối liên hệ, mạng lưới và sự bộc lộ lòng trung thành tuyệt đối. Đây nhất định là một tiến trình cạnh tranh ở mức độ cao. Chắc chắn rằng đây không phải là về sự cạnh tranh dân chủ để giành được sự ủng hộ của cử tri, mà là về sự cạnh tranh trong bộ máy chính quyền để giành được sự tin tưởng của cấp trên. Nhưng nó vẫn là cạnh tranh và sự cạnh tranh đó khá khốc liệt.

Khi xem xét vấn đề nói trên, việc đơn giản không thừa nhận SPA là một quốc hội “nghị gật” bao gồm những con rối vô hồn sẽ là không hoàn toàn chính xác. Tốt hơn là nên coi SPA như một nhóm quan chức thành công và đầy tham vọng, với mỗi thành viên trong đó đã tìm được cách xoay xở để giành thắng lợi trong một cuộc cạnh tranh khá khó khăn. Họ biết các quy tắc trong hệ thống của họ khá rõ; xét cho cùng, đây là cách thức mà họ đã hành động bấy lâu nay. Nếu mọi thứ đều ổn định trong hệ thống của Triều Tiên, họ sẽ tiếp tục “cúi đầu” và làm chính xác những gì mà họ được chỉ thị, gặt hái những lợi ích vật chất và xã hội khi trở thành một nhân vật quan trọng (VIP) và đổi lại là tán thành bất cứ những gì mà các lãnh đạo của họ đề xuất. Sự linh hoạt chí tồn tại trong các nhiệm vụ nhỏ hơn, thường là mang tính chất địa phương. Hàn Quốc nổi tiếng vì sự cạnh tranh giữa các vùng; Triều Tiên cũng không phải là ngoại lệ. Đặc biệt, các tỉnh ở phía Tây Bình Nhưỡng và các tỉnh phía Đông Hamgyong được cho là có tham gia vào sự cạnh tranh khốc liệt, và tất cả các tỉnh này đang đoàn kết với nhau do ghen tị với thủ đô Bình Nhưỡng, nơi hầu hết các nguồn tài nguyên được rót vào. Ưu tiên mang tính tiêu chuẩn của một thành viên SPA sẽ là chứng tỏ được sự tin tưởng của những người đã đưa anh ta vào chiếc ghế trong quôc hội bằng cách phục vụ các lợi ích của địa phương mình ở mức tốt nhất có thể, chẳng hạn như bằng cách khiêm tốn đề xuất rằng khu vực địa phương của mình là một địa điểm hoàn hảo một khi nhà lãnh đạo Triều Tiên quyết định xây dựng một khu nghỉ mát trượt tuyết hoặc một đặc khu kinh tế ở đó.

Tuy nhiên, hiện có những ví dụ mang tính lịch sử cho thấy làm thế nào mà một tiến trình bỏ phiếu được nghi thức hóa và do nhà nước kiểm soát có thể trở thành nguồn gốc cho sự bất mãn và chống đối. Ở Đông Đức trước đây, sự thất vọng đối với một chính phủ bị già hóa và kém linh hoạt đã ngày càng gia tăng khi những tin tức về cải cách của Gorbachov lan truyền khắp nơi. Một cách để thể hiện sự không hài lòng này đơn giản là làm mất hiệu lực của các lá phiếu, điều mà một lượng lớn cử tri đã thực hiện trong cuộc bầu cử địa phương năm 1989 và nhiều cử tri đã làm như vậy một cách công khai. Khi Egon Krenz (nhà lãnh đạo cộng sản cuối cùng của Đông Đức) công bố kết quả – với 98,85% bỏ phiếu “ủng hộ” – điều rõ ràng đối với tất cả mọi người là nhà nước đã có hành động gian lận phiếu bầu. Những cáo buộc liên quan khi đó đã đóng một vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu của các cuộc biểu tình chống nhà nước hồi tháng 10/1989, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống và cuối cùng là sự thống nhất nước Đức. Điều này không phải là để nói rằng Triều Tiên đang trong tình huống như vậy, nhưng việc yêu cầu người dân bày tỏ ý kiến của họ ở một mức độ nào đó đều luôn nguy hiểm, ngay cả trong một chế độ độc tài được kiểm soát chặt chẽ.

Tóm lại, cuộc bầu cử SPA cho chúng ta biết nhiều về lôgích nội tại vốn đang giữ hệ thống Triều Tiên khỏi tan vỡ. Ngoài ra, nó còn cung cấp nền tảng cho sự cạnh tranh nội bộ đầy khốc liệt và do đó góp phần hình thành nên một nhóm tinh hoa gồm các chính trị gia cấp trung đầy tham vọng mà một ngày nào đó có thể tiến xa hơn rất nhiều chứ không chỉ là các “nghị gật”. SPA là một diễn đàn cho sự cạnh tranh giữa các vùng trong một quốc gia mà nhiều người trong chúng ta có xu hướng coi là có tính thuần nhất nhiều hon so với thực tế vốn có của nó. Theo nhũng điều kiện nhất định, quốc hội có thể là một nguồn tiềm năng dẫn đến tình trạng bất mãn hoặc là tiêu điểm của sự bất mãn đó. Vì vậy, bất chấp đặc tính còn phải bàn cãi của nó, chúng ta không được đánh giá thấp vai trò của cuộc bầu cử SPA cũng như của cơ quan lập pháp ở Triều Tiên./.

 

2165. Trao đổi với tác giả Doãn Mạnh Dũng về bài viết “Từ thoát lũ ra biển Tây đến cảng cửa ngõ Trần Đề”

Lê Phú Khải

Đọc kỹ bài viết của kỹ sư Doãn Mạnh Dũng với bài viết kể trên, tôi đoán ông là một nhà khoa học đang định cư ở nước ngoài có tâm huyết với các vấn đề kinh tế – xã hội của đất nước nên đã có những nghiên cứu, đề xuất rất sâu sắc về vấn đề thuỷ lợi ở vùng Đồng bằng SCL, một vùng trọng điểm nông nghiệp của đất nước.

 

Thực ra, những vấn đề tôi nêu lên trong bài viết: “Đê bao ở ĐBSCL”… không có gì mâu thuẫn với kiến giải của ông về vấn đề thuỷ lợi cho ĐBSCL. Cái cần được phân định rõ chỉ là các khái niệm về đê ngăn mặn, đê bao, đê bao lửng còn được gọi là bờ bao trong công cuộc khai phá ĐBSCL gần 40 năm qua. Thực tế công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL diễn ra suốt gần 40 năm qua ở một vùng đồng bằng rộng lớn có nhiều vùng sinh thái khác nhau, có vùng đầu nguồn hàng năm bị lũ đe doạ, có vùng cuối nguồn, thiếu nước ngọt, bị mặn xâm thực, có vùng trũng như Đồng Tháp Mười.. v.v…là rất phức tạp và luôn biến động. Khi mùa lũ về, công việc thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là làm lúa những năm qua đã diễn ra rất đa dạng. Đặc biệt là có nhiều sáng tạo của nông dân đồng bằng mà chưa một công trình nào tổng kết.

Trong bài viết của kỹ sư Doãn Mạnh Dũng có nhắc đến số liệu 20.000 km bờ bao mà An Giang chiếm nhiều nhất là 4.200 km… trong bài viết của tôi. Tác giả đặt câu hỏi, là tỉnh đầu nguồn, vì sao An Giang lại có nhiều đê bao như thế? Tôi xin trình bài để Kỹ sư Doãn Mạnh Dũng nắm được. Bờ bao khác với đê bao. Đê bao để phân ngăn vùng mặn và vùng ngọt ở các tỉnh cuối nguồn. Còn bờ bao là những công trình tạm thời, còn được gọi là đê bao lửng, chỉ để ngăn lũ sớm, thu hoạch xong lúa hè thu thì bà con lại cho nước chảy tràn vào ruộng, lấy phù sa và tôm cá, vệ sinh đồng ruộng. An Giang là tỉnh đầu nguồn, bị lũ sớm đe doạ nên bà con sáng tạo ra bờ bao để làm lúa vụ ba, còn gọi là hè thu muộn. Vì thế An Giang có nhiều km bờ bao nhất.

Chủ tịch An Giang là ông Nguyễn Minh Nhị (Bảy Nhị), ở nhiệm kỳ của ông, đã viết đề án “Biến mùa lũ thành mùa sản xuất chính”. Với đề án sáng tạo này, An Giang đã phát triển những ngành nghề như đóng ghe thuyền, làm các dụng cụ đánh bắt cá mùa lũ, khai thác các cây con tự nhiên trong mùa lũ… Đề án này hàng năm đã đem lại nguồn lợi lớn cho An Giang. Đến nay, nếu về mùa lũ, khách du lịch bốn phương đến Long Xuyên, Châu Đốc… sẽ được thưởng thức món đặc sản “lẩu cá linh – bông điên điển” rất nổi tiếng. Cá linh và bông điên điển là hai thứ trời cho, rất sẵn, rất rẻ tiền về mùa lũ… mà nay trở thành món đặc sản ở An Giang!

Hiện nay, bà con ở An Giang lại đắp đê bao kiên cố để làm lúa vụ ba ăn chắc. Nhưng chỉ làm 2 vụ liền trong hai năm, đến năm thứ ba thì không làm nữa, mở cống tháo nước phù sa vào đồng ruộng để bồi bổ đất. Đây là những sáng tạo liên tiếp của bà con. Không cập nhật cuộc sống thì không thể biết những thông tin này. Người viết bài này đang có mặt ở ĐBSCL, tiến sỹ Bảnh, viện trưởng lúa ĐBSCL cho biết: Quyết định 99 TTg là rất tốt cho ĐBSCL.

Đồng bằng sông Cửu long là thế! Ở miền Trung, Miền Bắc nước ta, hay bà con ở nước ngoài… khó có thể phân biệt được thế nào là đê ngăn mặn, đê bao, đê bao lửng hay còn gọi là bờ bao mà chính quyền và nhân dân ĐBSCL đã sáng tạo ra để chung sống với lũ, để tồn tại. Điều băn khoăn lớn ở ĐBSCL hiện nay là, với một vùng nông nghiệp đa dạng, thiên nhiên trù phú, con người năng động mà gần 40 năm rồi vẫn nghèo khó, vẫn lam lũ…

Tôi rất cảm ơn tác giả Doãn Mạnh Dũng đã cho hay những kiến thức sâu sắc về công tác nghiên cứu thuỷ lợi, đề xuất những ý kiến đáng được quan tâm nghiên cứu với ĐBSCL. Tôi chỉ xin cung cấp những khái niệm đã được bà con và cán bộ ngành thuỷ lợi ở ĐBSCL đã sử dụng những năm qua, để tránh những hiểu lầm khi trao đổi, tranh luận mà thôi! Không thống nhất được tên gọi sự vật thì “ ông nói gà, bà nói cuốc”!

Đã đến lúc nhà nước cần có một hội thảo khoa học để tổng kết những gì được, mất trong công cuộc khai thác ĐBSCL 40 năm qua, để có phương châm chiến lược cho tương lai ĐBSCL. Tiến sỹ Võ Tòng Xuân vừa phát biểu trên Đài TNVN rằng, ĐBSCL không có nhạc trưởng trong công việc xuất khẩu lúa gạo nên nông dân rất cực khổ.    

Cần Thơ 31/03/2014

 

 

Advertisements

Ngày 31/3/2014 – Ngàn tỷ vốn Nhà nước giao vào tay ai?


TIN LÃNH THỔ

 

TIN XÃ HỘI

 

TIN KINH TẾ

TIN GIÁO DỤC

TIN ĐỜI SỐNG

TIN CÔNG NGHỆ

TIN VĂN HÓA GIẢI TRÍ

 

TIN THẾ GIỚI

Ngàn tỷ vốn Nhà nước giao vào tay ai?

Một giám đốc sở được cử làm người đại diện kiêm nhiệm nhưng không hoàn thành nhiệm vụ thì có thể bị cách chức giám đốc không? Chắc chắn là Không!

Quy chế hoạt động của người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp (Quy chế) đã được Bộ Tài chính ban hành ngày 14/2/2014, có hiệu lực thi hành từ 1/4.

Tuy nhiên, rất đáng tiếc, Quy chế còn không ít nội dung nửa vời và thiếu tính khả thi. Bởi lẽ, còn khá nhiều câu hỏi được đặt ra với người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp (DN) chưa được trả lời hoặc trả lời chưa thấu đáo. Câu hỏi trước hết và quan trọng nhất là: Ai là người đại diện?

Trong đội ngũ cán bộ, công chức của nước ta hiện có bao nhiêu người “có khả năng, kinh nghiệm thực tế từ ba năm trở lên về quản lý tài chính DN, về kinh doanh và tổ chức quản lý DN” và bao nhiêu người “có đủ trình độ ngoại ngữ để làm việc trực tiếp với người nước ngoài”?

Khoản 2 Điều 2 của Quy chế quy định: Người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn nhà nước đầu tư vào DN là cá nhân được chủ sở hữu phần vốn nhà nước ủy quyền bằng văn bản để thực hiện quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ sở hữu phần vốn nhà nước, bao gồm: Người đại diện là người làm việc chuyên trách tại DN; người đại diện là cán bộ, công chức thuộc cơ quan hành chính nhà nước (Bộ, UBND tỉnh) được cử hoặc chỉ định làm người đại diện kiêm nhiệm tại DN.

Trong quy định trên, người đại diện làm việc chuyên trách tại DN có là công chức nhà nước không? Chưa có câu trả lời. Song, chắc chắn rằng, tiền lương và các khoản phụ cấp khác của “người đại diện chuyên trách” không được chi từ ngân sách nhà nước. Trong các DN 100% vốn nhà nước, một số cán bộ quản lý được gọi là “viên chức quản lý” nhưng không phải tất cả những viên chức đó đều là người đại diện.

Song, người đại diện kiêm nhiệm lại là cán bộ, công chức thuộc cơ quan hành chính nhà nước. Điều đó có nghĩa là làm “người đại diện” chỉ là việc làm thêm của cán bộ, công chức được cử hoặc chỉ định. Từ đó, quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của người làm chuyên trách và người “làm thêm” không thể như nhau. Chẳng hạn, một giám đốc sở được cử làm người đại diện kiêm nhiệm nhưng không hoàn thành nhiệm vụ thì có thể bị cách chức giám đốc? Câu trả lời chắc chắn là: Không!

Khoản 5 Điều 3 của Quy chế quy định một trong những tiêu chuẩn của người đại diện là “có trình độ chuyên môn bậc đại học trở lên, có khả năng, kinh nghiệm thực tế từ ba năm trở lên về quản lý tài chính DN, về kinh doanh và tổ chức quản lý DN phù hợp với yêu cầu của vị trí được ủy quyền làm người đại diện. Trường hợp DN có yếu tố nước ngoài thì người đại diện phải có đủ trình độ ngoại ngữ để làm việc trực tiếp với người nước ngoài”.

Không biết quy định trên có căn cứ vào số liệu thống kê nào cho biết đến nay, trong đội ngũ cán bộ, công chức của nước ta có bao nhiêu người “có khả năng, kinh nghiệm thực tế từ ba năm trở lên về quản lý tài chính DN, về kinh doanh và tổ chức quản lý DN” và bao nhiêu người “có đủ trình độ ngoại ngữ để làm việc trực tiếp với người nước ngoài”?

Hiện nay, ở nước ta cần tới hàng nghìn cán bộ, công chức có đủ tiêu chuẩn như trên để cử hoặc chỉ định làm người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn nhà nước đầu tư vào DN. Liệu có đủ số lượng cán bộ, công chức bảo đảm tiêu chuẩn đó? Nếu không đủ, quy định như trên cũng chỉ là quy định cho có mà thôi!

THEO BÁO CÔNG THƯƠNG

Cuộc đấu tranh cho tự do ngôn luận của các nhà báo Việt Nam tại Sài Gòn bốn chục năm về trước

Nhà văn Vũ Thư Hiên:Để giới thiệu với các bạn, nhất là các nhà báo, một đoạn trích trong bài tường thuật về cuộc đấu tranh cho tự do ngôn luận của các nhà báo VN tại Sài Gòn bốn chục năm về trước.

https://i2.wp.com/www.hennhausaigon2015.com/users/saomai/Pictures/HoangSa_TruongSa/HS_TS_146.jpg

… Báo Chính Luận số ra chiều Thứ Sáu 20-9 đề ngày Thứ Bảy 21-9-74 đã tả lại những giây phút căng thẳng đó và khung cảnh của chiều Thứ Năm 19-9 trong một bài viết dài ghi lại hoạt động của tòa soạn Sóng Thần cũng như của cả làng báo dưới tựa đề “Sóng Thần nổi lửa chống đàn áp tự do ngôn luận”:

“Mười ngàn số báo Sóng Thần ngùn ngụt bốc cháy trước những khuôn mặt suy tư, cay đắng của toàn ban biên tập Sóng Thần. Nhà báo Sóng Thần đã chọn thái độ của những người thế yếu, tay trắng trước sức mạnh của cảnh sát, thái độ tự hủy.

Hà Thế Ruyệt đã châm ngọn lửa hoả thiêu tim óc của chính mình, bạn bè mình, hỏa thiêu những lời nói can trường nhất trong cái quyết tâm tự đặt mình trên con đường đã chọn, con đường tranh đấu cho tự do báo chí và chống tham nhũng.

Chuyện xẩy ra vào đúng lúc trẻ em bán báo đang chờ giờ phát hành. Cảnh sát Quận 3 đưa tới một lịnh tịch thu. Tổng Thư Ký Uyên Thao không chịu vì báo chưa phát hành, chưa được bán ra thì vấn đề hốt báo phải được xét lại. Nhật báo Sóng Thần không cho cảnh sát tịch thu nhưng cảnh sát cũng không để báo Sóng Thần phát hành.

Đúng lúc đó, cuộc họp báo tại bệnh viện Vì Dân để thanh minh về việc làm của Phu Nhân Thổng Thống Thiệu trong bệnh viện này đang tiếp diễn. Phái viên Sóng Thần Lê Thiệp nhận được tin từ tòa soạn đã bước lên micro xin phép Chủ Tọa Đoàn loan một tin riêng của làng báo. Và, trước sự ngỡ ngàng của Chủ Tọa Đoàn, phái viên Lê Thiệp nói với các ký giả đang dự cuộc họp báo: “Tôi xin gửi tới quí vị một tin liên quan tới tờ Sóng Thần. Giờ này Cảnh Sát đang phong tỏa nhà in của chúng tôi để tịch thu số báo sẽ ra chiều nay. Toà soạn Sóng Thần đã quyết định tử thủ nhà in và hỏa thiêu tất cả những số báo đã in. Tôi phải trở về góp mặt với tòa soạn nên xin được rời khỏi cuộc họp báo trước”.

Toàn thể ký giả lập tức tẩy chay họp báo để về với Sóng Thần, sau khi dành một phút mặc niệm Tự Do Báo Chí vừa bị bóp chết thêm một lần nữa với hành động tịch thu Sóng Thần.

Toàn bộ tòa soạn báo Điện Tín kéo tới. Các hãng thông tấn quốc tế AP, UPI. Reuter, NHK, NBC, ABC… cùng các nhật báo Đông Phương, Chính Luận… đều có mặt. Anh em ký giả tần ngần nhìn nhau. Tự do báo chí là điều mơ ước, tường trình đầy đủ sự thật là lý tưởng, nhưng cảnh sát vẫn bọc kín, ngăn chặn không cho lọt ra ngoài một tờ báo nào. Sóng Thần mời thừa phát lại tới lập vi bằng về việc thiêu hủy các số báo đã được in ra.

Hà Thế Ruyệt châm ngọn lửa đốt tim óc anh em mình…

Ngọn lửa lan dần trên trang báo. Ngọn lửa tự hủy cứ thế bốc lên soi vào mặt ký giả. Báo chí kéo tới mỗi lúc một đông. Tịch thu à? Vâng, tịch thu vì Sóng Thần đăng một bài đối chiếu lời hứa trước quốc dân với những việc làm của Tổng Thống Thiệu. “Mai các anh có ra?” – “Vâng”, Uyên Thao trả lời. “Mai chúng tôi vẫn ra. Chúng tôi sẽ thông báo sự kiện này tới các hội đoàn báo chí quốc nội, liên đoàn báo chí quốc tế”.

Dân chúng tụ lại trước nhà in. Một hàng xe cây và xe Jeep cảnh sát í ới những tiếng trong máy liên lạc vô tuyến. Việc gì vậy? Những người làm báo chọn đường tự hủy vì không chấp nhận tịch thu báo….. Mười ngàn số báo xếp ngay ngắn thành hàng bốc lửa ngùn ngụt. Cảnh sát vẫn bọc một vòng phía ngoài chờ ra tay. Đống tro của mười ngàn tờ báo như một vết nhơ trong lịch sử chế độ. Và, Lý Đại Nguyên đã phủ lên trên một tấm giấy viết “Thà đốt, không chịu bị đàn áp – Chỉ có Cộng Sản mới sợ hãi tự do báo chí”. Tờ giấy trắng phủ đống tro như một nấm mộ và cạnh đó là một tấm carton viết: “Tự Do hay là Chết”. Một cuộc họp báo tại chỗ và dân biểu Nguyễn Trọng Nho, ủy viên trong ban hành động chống tịch thu báo, thành viên Ủy Ban Tranh Đấu Đòi Tựï Do Báo Chí và Xuất Bản, người đã có mặt tích cực với tòa soạn Sóng Thần từ lúc đầu, tuyên bố: “Chỉ có những kẻ độc tài mới sợ sự thật, không muốn nghe lòng dân mới sợ hãi báo chí, bóp nghẹt báo chí.”.

Nghị viên Hà Thế Ruyệt, phụ tá chủ nhiệm Sóng Thần phát biểu:“Sóng Thần đã chọn đường lối chống tham nhũng và Sóng Thần sẽ đi đến cùng. Ngày mai vẫn có Sóng Thần dù sau đó là cái chết. Toà soạn Sóng Thần sẵn sàng vào tù và nếu Sóng Thần có chết, ký giả Sóng Thần có vào tù thì đã chết, đã vào tù trên tư thế chiến đấu diệt tham nhũng để đất nước này có thể chống Cộng mà tồn tại”.

Tại tòa soạn Sóng Thần, điện thoại reo không ngừng. Các hội đoàn, các hãng thông tấn quốc tế liên lạc tới tấp đòi nghe kể nội vụ. NBC, AP, rồi Trung Tâm Văn Bút, Hội Bảo Vệ Nhân Quyền … Đại diện tòa soạn chỉ đủ thời gian để trả lời “Ngày mai chúng tôi vẫn có mặt và vẫn đăng đủ các bài dự định. Tất nhiên có cả nguyên văn bản Cáo trạng 6 điểm”. Đáp lại là một an ủi “xin thông báo ngay cho chúng tôi những tai nạn có thể xảy ra cho Sóng Thần. Chúng tôi sẵn sàng chia xẻ mọi chuyện với anh em”.

Việc Sóng Thần nổi lửa chống tịch thu trở thành đề tài lớn của toàn thể báo chí. Báo Điện Tín trong số 964 đề ngày 21-9, viết:

“Ngọn lửa lên cao nung nấu lòng kiên trì và quyết tâm đấu tranh cho tự do báo chí khi mười mấy ngàn số báo Sóng Thần đã được châm lửa cháy để thà hỏa thiêu chứ không chấp nhận tịch thu bên cạnh những biểu ngữ đòi tự do viết còn ướt mực… Bộ DVCH chiều qua đã hạ con dao đồ tể trên đầu nhật báo Sóng Thần, nạn nhân bị tịch thu đầu tiên từ khi có phong trào đòi tự do báo chí đến nay. Với nhiều chiếc xe cây và gần 50 cảnh sát chìm nổi bao vây nhà in, đại diện Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát quận 3 đưa lệnh tịch thu cho nghị viên Hà Thế Ruyệt, phụ tá Chủ Nhiệm nhật báo Sóng Thần. Nghị viên Ruyệt đã phản kháng và không cho cảnh sát tịch thu bởi lẽ lệnh tịch thu xuất trình là một lệnh “không đóng dấu và không có chữ ký”. Một thừa phát lại ngay sau đó đã lập vi bằng công chứng về sự lạm pháp của Nhà Nước mà đại diện là Ty Cảnh Sát quận 3.

Anh Uyên Thao trong nhóm đầu não báo Sóng Thần ngồi trên đống báo với mồ hôi nước mắt của anh em nói: “Họ làm bất hợp pháp, chúng ta có quyền cho báo ra ngay. Nhưng làm sao xô được hàng rào cảnh sát?”

Trước tin nhật báo Sóng Thần bị tịch thu, rất nhiều ký giả và thông tín viên báo chí đã bỏ ngang cuộc họp báo của bịnh viện Vì Dân để chạy về ủng hộ tinh thần cho nhật báo nạn nhân. Ngoài số lượng đông đảo giới báo chí trong và ngoài nước, người ta nhận thấy ngay từ phút đầu có sự hiện diện của ông Hồng Sơn Đông, chủ nhiệm báo Điện Tín, dân biểu Nguyễn Trọng Nho trong Ủy Ban Chống Đàn Áp và Tịch Thu Báo Chí… và nhiều dân biểu khác.

Sau một hồi cãi vã dằng dai, ông Hà Thế Ruyệt, phụ tá chủ nhiệm báo Sóng Thần cương quyết không cho cảnh sát tịch thu báo Sóng Thần và đã ra lệnh đốt báo… Nghị viên Hà Thế Ruyệt cũng cho biết con đường mà ông và báo Sóng Thần đi có hai lối, một là tự do, hai là chết. Ông cho biết sẽ tiếp tục con đường mình đi để tranh đấu cho tự do bị đàn áp, dù bị chết hay dù cả tòa soạn Sóng Thần bị nhà nước bỏ tù”.

Báo Trắng Đen số 2226 đề ngày 21-9-74 chạy slogan 8 cột trên đầu trang 1 “Phản đối Nhà Nước Tịch Thu Báo Sóng Thần” và tuyên dương hành động nổi lửa của Sóng Thần như một sự biểu dương hào hùng của báo giới VN trong bài xã luận mang tựa đề: Ngọn lửa Sóng Thần mở cửa tự do ngôn luận. Bài viết có những đoạn sau:

“… Ngày 19-9 nhật báo Sóng Thần bị tịch thu… Anh em Sóng Thần đã giữ báo lại, đồng thời cấp báo cho Ủy Ban cùng các tòa soạn các nhật báo, các hãng thông tấn cùng với nhóm dân biểu trẻ, sau đó đã phản kháng cơ quan an ninh tới tịch thu không cho tịch thu, đem 10.000 số báo đã in ra trước sân nhà in nổi lửa đốt…

Ngọn lửa tự thiêu hóa Sóng Thần cũng là ngọn lửa đã làm sáng thêm niềm tin và lòng quả cảm của làng báo VN trong công cuộc tranh đấu đòi quyền tự do báo chí. Ngọn lửa đó cũng đã đốt cháy luôn những danh từ, để lộ ra những chữ tự do dân chủ đích thực nạm vàng.

Báo chí VN phải được tự do ngôn luận thực sự, đã tới lúc mọi sự giả trá bịp bợm phải được triệt tiêu. Cuộc đấu tranh đòi quyền tự do báo chí đang tới lúc cam go, làng báo đứng lại một bước là bị đẩy lui vào chỗ chết. Làng báoVN không thể chết, do đó phải sát cánh để tiến lên. Ngọn lửa tự thiêu hóa Sóng Thần, ngọn đuốc mở đường tiến cho làng báo VN vượt qua bóng đêm tăm tối đã trùm phủ khung trời báo chí VN từ 2 năm nay.”

Nhật báo Đông Phương số 812 đề ngày 21-9-74 viết:

“Số báo phát hành chiều qua, đồng nghiệp Sóng Thần đã bị tịch thu.
Báo động đỏ được ấn nút, cả làng báo xôn xao. Chuông điện thoại của các tòa soạn đồng loạt reo vang, anh em ký giả đổ xô đến tòa soạn báo Sóng Thần… Đồng nghiệp Sóng Thần chỉ chấp thuận cho tịch thu vài chục tờ để lập biên bản, còn thì đem ra đốt ngay trước cửa tòa soạn… Đốt như Ủy Ban Tranh Đấu đốt sắc luật 007, ngọn lửa bùng lên trên nét mặt của làng báo hiện diện, mọi người đều đanh lại…

Đã đến lúc nhà cầm quyền không thể thao túng luật pháp vì toàn dân đều muốn có một luật pháp được áp dụng bằng tinh thần đại chúng trong một thể chế được mệnh danh là dân chủ, chứ không phải là luật pháp trong tinh thần độc tài, độc tôn, không ngoài mục đích phục vụ cá nhân, suy tôn cá nhân, bảo vệ uy quyền cá nhân hầu đạt tới mục đích bảo vệ quyền lợi một thiểu số, rồi mệnh danh đó là Quốc Gia Dân Tộc và Hiến Pháp”.

Việc báo Sóng Thần nổi lửa tự thiêu vì bị tịch thu thực sự gây xúc động cho các giới và nhiều nhân vật đã lên tiếng bày tỏ thái độ, qua ghi nhận của các báo, các hãng thông tấn như Linh Mục Thanh Lãng, Chủ tịch Trung Tâm Văn Bút VN, nhà văn Nhật Tiến, Phó Chủ tịch TTVBVN, dân biểu Nguyễn Phúc Liên Bảo, nghị sĩ Hoàng Xuân Hào, Chủ tịch Ủy Ban Tư Pháp Định Chế Thượng Viện, ký giả Thái Dương, Chủ tịch Nghiệp Đoàn Ký Gỉa VN, ký giả Trần Tấn Quốc, linh mục Trần Hữu Thanh…

Riêng Hòa thượng Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất sau 60 phút báo Sóng Thần bị tịch thu đã lắc đầu tỏ vẻ chán ngán. Vị Hoà thượng Già Lam không phát biểu ý kiến, chỉ cho biết trong vài ngày tới, Ngài sẽ có phản ứng chính thức và đó là phản ứng của tập thể Phật Giáo Việt Nam.

Hành động phản đối nạn tịch thu báo của Sóng Thần cũng được loan đi khắp thế giới như nỗ lực đấu tranh cho tự do báo chí và quyền đòi hỏi biết rõ sự thật của nhân dân Miền Nam VN. Ngay lúc 20 giờ tối 19-9, hãng thông tấn AP đã loan tin liên tục 3 lần việc ký giả báo Sóng Thần tự đốt báo để phản đối. Đài VOA, đài BBC, các hãng thông tấn UPI, Reuter đều loan tin về việc báo Sóng Thần chống lệnh tịch thu bằng những lời lẽ khích lệ. Đặc biệt, đài VOA trong khi đang phát thanh lúc 22 giờ đã ngưng lại nêu lý do kỹ thuật chỉ phát thanh nhạc băng. Đến 23 giờ, đài này trở lại chương trình với tin đầu tiên là vụ báo Sóng Thần bị tịch thu. Đây là lần đầu tiên đài này đề cập đến cao trào báo chí đòi tự do tại miền Nam VN.

Sau đây là nội dung một trong 3 bản tin của hãng thông tấn AP về vụ Sóng Thần:

“Các ký giả đã đốt 10 ngàn số của một nhật báo đối lập vào chiều thứ năm không cho cảnh sát tịch thu số báo này. Đây là một hành động khác trong một loạt đụng độ giữa chính phủ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và báo chí VN. Báo chí đã lên án chính phủ áp bức báo chí.

Các giới chức của nhật báo Sóng Thần cho biết cảnh sát đã tới nhà in của báo này để tịch thu số báo đề ngày 20-9 vì báo này đăng một bài xã luận chỉ trích Tổng Thống Thiệu trong thời gian 7 năm tại chức. Tờ báo trên cũng loan báo số tới sẽ đăng nguyên văn bản Cáo Trạng Số 1 của Phong Trào ChốngTham Nhũng tố cáo Tổng Thống Thiệu và những cá nhân tham nhũng, trong đó có vấn đề bất động sản và ma túy.

Cảnh sát đã đến tận nhà in tiïch thu số báo trên sau khi Sóng Thần gửi bản vỗ tới bộ DVCH theo thể lệ hiện hành. Ký giả của Sóng Thần và của các báo khác có cảm tình với Sóng Thần đã thiêu hủy số báo trên. Bài xã luận của báo này chỉ trích Tổng Thống Thiệu đã không mang lại hòa bình cho VN sau 7 năm tại chức. Giới chức của báo Sóng Thần cho biết cảnh sát nói với họ rằng cảnh sát được lệnh tới tịch thu báo này vì vi phạm an ninh quốc gia bằng cách chỉ trích Tổng Thống Thiệu. Các giới chức trên cho biết sẽ tiếp tục kế hoạch và cho đăng Cáo Trạng Số 1 vào tờ báo ra chiều Thứ Sáu”.

Riêng báo Sóng Thần đã cấp tốc gửi một khẩn báo đề ngày 19-9-1974 tới Hội Bảo Vệ Nhân Quyền và Dân Quyền VN, Ủy Ban Tranh Đấu Đòi Tự Do Báo Chí, Trung Tâm Văn Bút VN, Nghiệp Đoàn Ký Giả VN, Hội Chủ Báo VN kêu gọi các hội đoàn này “vận dụng mọi khả năng và uy tín sẵn có để đòi nhà cầm quyền chấm dứt tức khắc các hành động đàn áp đối với báo chí VN nói chung và nhật báo Sóng Thần nói riêng”.

Đêm Thứ Năm 19-9, trong lúc tin tức về vụ Sóng Thần nổi lửa chống tịch thu tiếp tục loan truyền tại các thủ đô trên thế giới, Ủy Ban Tranh Đấu Đòi Tự Do Báo Chí và Xuất Bản tại Sài Gòn đã họp khẩn từ 20 giờ tới 22 giờ, quyết định mở rộng cho tất cả đại diện hội đoàn Công Giáo, Phật Giáo, văn hóa, nhân quyền, các nghiệp đoàn ký giả cùng đại diện phế binh…tham gia Ủy Ban, đồng thời tuyên cáo tích cực yểm trợ Sóng Thần đấu tranh đòi tự do báo chí và xuất bản … 5 tờ báo đáp ứng lời kêu gọi ngay tại buổi họp là Hòa Bình, Đông Phương, Dân Luận, Đại Dân Tộc và Điện Tín.

Rồi thời gian bước qua ngày Thứ Sáu 20-9, ngày thử thách do Sóng Thần chọn lựa.

9 giờ sáng, tòa soạn Sóng Thần được tin chỉ còn lại 2 tờ báo đứng chung với Sóng Thần. Bạn đồng hành tuy ít nhưng vẫn là một khích lệ. Và, Sóng Thần tuyên bố tự đặt dưới sự che chở của Hiến Pháp để nắm tay Điện Tín, Đại Dân Tộc cùng bước lên.

Sóng Thần số 980 ra chiều Thứ Sáu 20-9 (đề ngày Thứ Bảy 21-9) công bố lời khẩn báo đưa ra đêm 19-9. Số báo này cũng đăng nguyên văn bản Cáo Trạng Số 1 của PTNDCTN và một bản tuyên bố minh định thái độ của nhật báo Sóng Thần là “Sóng Thần tự đặt dưới sự che chở của Hiến Pháp”:

“Theo giáo sư Lipton, đặc tính của dân chủ là sự bình đẳng giữa cá nhân công dân và chính quyền. Trong khi đó, Hiến Pháp VNCH qui định rằng: Tự do ngôn luận là quyền tự do căn bản. Về nghề nghiệp, sứ mạng báo chí là diễn đạt và phổ biến trung thực mọi suy tư, mọi sự việc để thông đạt tin tức cho quần chúng. Đó là những căn bản chỉ đạo của Sóng Thần.

Đó cũng là lý do Sóng Thần lên tiếng bày tỏ trong số báo hôm qua các nhận định về công tác lãnh đạo quốc gia của Tổng Thống Thiệu và cho phổ biến trong số báo này bản Cáo Trạng 6 điểm của Phong Trào Nhân Dân Chống Tham Nhũng.

Số báo hôm qua đã bị tịch thu. Dù vậy, chúng tôi không dừng lại. Chúng tôi chỉ thấy cần thiết phải xác định rằng chưa bao giờ chúng tôi hành động như kẻ tử thù của chế độ. Tất cả việc làm đã qua và sẽ tới của chúng tôi chỉ là giữ không cho hơi thở tự do cáo chung, tức là không để cho chế độ Dân Chủ cáo chung. Nếu việc làm của chúng tôi bị cản lại vì bất cứ lý do nào thì kẻ chủ mưu cản trở là kẻ thù của tự do, kẻ thù của chế độ.

Với tinh thần trách nhiệm công dân đó và với ý thức sáng suốt về một giai đoạn tế nhị của quốc gia, chúng tôi long trọng tuyên bố tự đặt nhật báo Sóng Thần dưới sự che chở của Hiến Pháp. Đàn áp Sóng Thần cũng đồng nghĩa với hành vi xóa bỏ Hiến Pháp”.

Ngày 20-9 trở thành một ngày lớn của báo chí VN và diễn biến từ xế trưa cho tới chiều của ngày này đã được báo Công Luận diễn tả như sau trong số báo 1853 đề ngày 24-9-74:

“14g45: Lực lượng của Ủy Ban Chống Tịch Thu Báo được báo động. Áp dụng chiến thuật mới, cảnh sát tung an ninh chìm với hàng trăm nhân viên “hộ pháp” dàn hàng ngang trước nhà in Dân Nguyện của báo Đại Dân Tộc, nhà in Long Giang của báo Điện Tín và nhà in Tân Minh của báo Sóng Thần.

“16giờ: Lệnh tịch thu được cảnh sát đưa ra, nhân viên cảnh sát sắc phục định kéo vào nhà in hốt báo. Các vị linh mục xông lên ngăn cản. Các dân biểu không cho cảnh sát tịch thu, mang báo chất giữa đường nổi lửa đốt hừng hực và phát cho đồng bào. Nhân viên an ninh chìm nhào tới giựt xé. Đồng bào nhảy vào. Hai bên giằng co dữ dội trên đường phố. Tiếng đả đảo nổi dậy từng chập. Máy vô tuyến của cảnh sát gọi nhau nheo nhéo…

“17giờ: Lực lượng an ninh đang vây nhà inTân Minh rạt ra. Tiếng còi lệnh, tiếng gọi máy, tiếng ra lệnh, hô hoán, chưởi bới nổi lên từ hàng ngũ cảnh sát…. Đồng bào từ khu Vườn Chuối tủa ra chặn xe lại… Anh em Sóng Thần mở cửa nhà in đón tiếp. Lực lượng cảnh sát ùa vào, mấy sĩ quan cảnh sát cũng “lâm chiến” nhảy xổ vào giành giật báo với dân chúng…

Sau khi bảo vệ không cho báo Sóng Thần bị tịch thu, dân biểu Nguyễn Văn Binh cho biết Ủy Ban sẽ tranh đấu đến cùng để đòi hỏi tự do báo chí, để người dân được biết sự thật, để tiếng nói dân tôïc “không bị chận họng như từ trước đến nay”….Vượt phong tỏa của nhân viên công lực, một số dân biểu, nghị sĩ đã dùng quyền bất khả xâm phạm chạy xe vào cở sở ấn loát Tân Minh chất hàng chồng báo lên xe riêng của mình và vọt khỏi hàng rào kiểm soát…”

Trong một ký sự dài đăng trên Sóng Thần số ra chiều 21-9 đề ngày 22-9-74, nhóm phóng viên Sóng Thần đã ghi lại hoạt cảnh diễn ra từ 6g30 sáng tới buổi tối Thứ Sáu 20-9 từ phía trong tòa soạn Sóng Thần tới ngoài đường phố như sau:

“- Đốt rồi!

Tổng thư ký Uyên Thao ngã người xuống ghế lặng đi. Khuôn mặt anh như già hẳn sau nhiều giờ đồng hồ căng thẳng vì chờ đợi. Niềm tin tưởng của anh thật vô bờ.

(FB Vũ Thư Hiên)

Lan man cảm nghĩ vụ công an “làm chết người” – Vladimir Putin: Từ tình báo KGB đến tổng thống độc tài kiểu Sô Viết


Cái “hậu” của kịch bản đường sắt cao tốc và nhà máy điện nguyên tử Việt Nam

Trong những ngày qua lại một quả bom không nhỏ vừa lú và sắp nổ, đó là dự án đường sắt siêu cao tốc Bắc Nam. Chính quyền Nhật Bản đang điều tra vụ Công ty Tư vấn Giao thông Nhật Bản đút lót cho quan chức đảng viên cộng sản cao cấp của Cục Đường sắt VN và các quan chức có liên quan đến dự án số tiền “lót đường” lên đến hơn 16 tỷ đồng để công ty này được quyền thực hiện dịch vụ cố vấn kỹ thuật cho dự án xây dựng tuyến đường sắt siêu cao tốc Bắc Nam trị giá khoảng 320 tỷ đồng, chuẩn bị cho đại dự án trị giá hơn 40 tỷ USD vay từ Nhật, tương đương khoảng 800.000 tỷ đồng.

Số tiền huê hồng (mà dân Việt gọi văn hoa là lại quả) 16 tỷ so với trị giá 320 tỷ cho công việc nghiên cứu tư vấn thì chỉ mới được 5%, trong khi theo thông lệ bất thành văn thì tiền huê hồng mà các công ty trúng thầu phải lại quả cho hệ thống các quan chức cao cấp đảng cộng VN và nhóm lợi ích của các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở ít nhất cũng phải từ 10% đến 20%. Như vậy có nghĩa là:

(1) Hoặc công ty tư vấn Nhật “hay”, họ nhận được hợp đồng với chi phí “lại quả” rẻ như bèo.

(2) Hoặc các chức sắc cộng sản cao cấp cả trong Cục Đường sắt và các ngành, bộ liên hệ đến dự án khôn lanh đáo để. Lần này họ bỏ con tôm hùm mà chỉ lấy con tép cho dự án trị giá 320 tỷ, để sau này bắt con cá mập cho dự án xây dựng đường sắt siêu tốc trị giá hơn 800 ngàn tỷ đồng.

Dầu theo cách lý luận biện chứng “duy tiền” nào đi nữa thì cả hai phía – Công ty tư vấn Nhật (1) và quan chức cao cấp đảng cộng sản Việt Nam (2) – đều thắng và thắng. Theo cách nói của dân làm ăn tại các xứ tư bản “trắng” là “win win situation”.

Rất thính tai mắt mũi miệng, và rất nhạy bén với “tiền”, lãnh đạo Cục Đường sắt cấu kết cùng đối tác Nhật tổ chức tiếp thị với các chuyến đi tham quan, kết hợp du lịch hưởng thụ cộng thêm phong bì tại Nhật, Tàu, Pháp… cho nhiều quan chức của các cơ quan liên hệ, các đảng viên cao cấp đại biểu nhân dân (?) trong Quốc hội. Các quan chức này đã không ngần ngại và hung hăng thúc ép nhanh chóng thông qua đại dự án đường sắt siêu tốc trị giá chừng 40-50 tỷ USD (tương đương 800 nghìn tỷ đồng VN) với những lý luận rất ấn tượng. Thí dụ:

(1) Lý giải gây sốc là từ ngài đảng viên cao cấp, đại biểu quốc hội với số IQ vượt chỉ tiêu, đồng chí Trần Tiến Cảnh. Ông phán: Các nước có chỉ số IQ cao đều xây đường sắt cao tốc. Ra nước ngoài tôi đi thử rồi. Tốc độ nhanh, an toàn, trẻ em đi học, bà mẹ đi làm… Việt Nam không phải nước nghèo, với quyết tâm chính trị, tôi đề nghị phải xây”.

(2) Lý giải gây choáng khác là từ ngài đảng viên cộng sản cao cấp khác, đồng chí đảng viên đảng cộng sản đại biểu tỉnh Đắk Nông Lương Phan Cừ ví von:Miền Trung có những bãi biển xinh đẹp, như những nàng tiên đang ngủ. Có đường sắt cao tốc, giao thông thuận tiện, các nàng tiên sẽ được đánh thức“.

(3) Ngài đồng chí đảng viên cao cấp đảng cộng sản Phan Xuân Dũng – đại biểu thành phố Huế – trong lúc tuyên bố ủng hộ dự án đường sắt cao tốc đã hưng phấn hò Huế bài hátkể chuyện các chàng trai, cô gái con cháu Bác Hồ đi mở đường”.

clip_image002
Đại biểu Quốc hội IQ cao vượt chỉ tiêu Trần Tiến Cảnh (Hà Nam):
Ra nước ngoài tôi đi thử tàu hỏa siêu tốc rồi!

 

Tuy dự án đường sắt cao tốc bị Quốc hội từ chối nhưng quan chức lãnh đạo Cục Đường sắt và Công ty Tư vấn Nhật vẫn kiên trì thúc đẩy làm cho được bằng cách cắt đường sắt siêu tốc Bắc Nam thành nhiều khúc. Trước kia là đại dự án đường sắt siêu tốc Bắc Nam, nay họ cấu kết nhau trình chính phủ và đưa ra Quốc hội dự án đường sắt siêu tốc cho hai đoạn từ Hà Nội đến Vinh và đoạn từ TP Hồ Chí Minh đến Nha Trang, thêm vào đó là dự án đường sắt “tốc độ cao” Bắc Nam – theo lối đảo chữ “cao tốc” thành “tốc độ cao” nhằm đổi trắng thành đen bắn lựu đạn hỏa mù. Nói chung Cục Đường sắt và các công ty tư vấn Nhật bằng mọi cách phải thực hiện cho bằng được đại đự án đường sắt cao tốc Bắc Nam. Không “đánh” chính qui được thí họ “đánh” du kích, tằm ăn dâu theo cách bọn xâm lược Tàu ngoài biển Đông.

Người dân Việt và những trí thức quan tâm lúc đó đã nghi ngờ về ý định mờ ám của những đảng viên cộng sản cao cấp lãnh đạo ngành đường sắt và Công ty Tư vấn Nhật Bản. Nay với quả bom tham nhũng vừa bị lộ và sắp nổ, cũng như những quả bom tham nhũng trước kia như PMU, dự án xa lộ Đông Tây…, do phía chính phủ Nhật Bản khui ra, thì mọi người mới thấy rõ tại sao các đồng chí đảng viên cao cấp của đảng cộng sản Việt Nam lại quyết tâm bằng mọi cách thực hiện đại dự án đường sắt siêu tốc Bắc Nam. Đó chính là món tiền lại quả huê hồng khổng lồ từ 80 ngàn tỷ (10%) đến 160 ngàn tỷ (20%) trên số chi phí khoảng 800 ngàn tỷ đồng (40 tỷ USD)!

Nếu đem số tiền lại quả này chia bình quân cho 800 đảng viên cộng sản cao cấp trung ương thì mỗi vị sẽ nhận được khoảng từ 100 đến 200 tỷ đồng.

Kịch bản đại dự án đường sắt siêu tốc Nam Bắc với cái “hậu” ngọt là nhiều, thật nhiều quan chức cao cấp của đảng cộng sản Việt Nam được phần thưởng đô la béo bở sống vài đời chưa hết. Nhưng 90 triệu dân đen và con cháu sẽ gánh “hậu” đắng và cay với món nợ tỷ tỷ tỷ (triệu tỷ) đồng.

Đại dự án nhà máy điện nguyên tử hạt nhân cũng đang diễn ra cùng kịch bản tương tự. Chi phí cho toàn bộ đại dự án nhà máy điện nguyên tử hạt nhân cũng tốn tương đương như đại dự án đường sắt siêu tốc, khoảng từ 40-50 tỷ USD. Tương tự như cách thức làm việc của Cục đường sắt và công ty Nhật, cũng chỉ một công ty tư vấn Nga Rosatom hợp đồng với Tập đoàn Điện lực Việt Nam đầy tai tiếng tham nhũng, móc ngoặc và lãng phí, vừa nghiên cứu khả thi của dự án, vừa chính họ sẽ đứng ra bán và xây cất toàn bộ nhà máy và lò phản ứng nguyên tử. Họ cũng dùng một phương cách tiếp thị như đưa quan chức cao cấp đảng cộng sản Việt Nam đi tham quan, đưa dân địa phương không biết gì về nguyên tử hay hạt nhân đi nghiên cứu kỹ thuật nhà máy điện hạt nhân tại Nga, tại Nhật. Khi về nước, cũng tương tự như các quan chức đảng viên cộng sản cao cấp và cao “IQ” nói về dự án đướng sắt siêu tốc, những quan chức và cán bộ đảng viên cộng sản cao cấp tại trung ương và tại địa phương nơi sắp xây nhà máy điện nguyên tử hùng hổ tuyên bố: điện hạt nhân chứ không phải nguyên tử đâu mà sợ, nhà máy điện nguyên tử tuyệt đối an toàn!

Khi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố hoãn lại dự án điện hạt nhân tại Ninh Thuận ít nhất năm 2020 vì lý do an toàn thì tập đoàn Rosatom đầy tai tiếng trong ngành kỹ nghệ điện hạt nhân tại Nga, một tập đoàn bị thế giới xem như đại băng đảng Mafia tại Nga, cùng các quan chức đảng viên cao cấp đảng cộng sản Việt Nam trong Tập đoàn Điện Việt Nam, quan chức trong Bộ Công Thương cứ phớt lờ và còn hống hách tuyên bố là vẫn tiếp tục tiến hành.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam , Bộ Công Thương và Rosatom của Nga lại cũng nôn nóng làm nhà máy điện nguyên tử tại Ninh Thuận tương tự như các quan chức đảng viên cao cấp của đảng cộng sản tại Cục Đường sắt và Công ty tư vấn Nhật Bản nôn nóng làm tuyến đường sắt siêu tốc Bắc Nam. Hôm nay thì bên Cục đường sắt bị mắc nghẹn cục sắt cao tốc lại quả nặng 16 tỷ.

Nước Nhật Bản dầu sao là một quốc gia có truyền thống tự do dân chủ thật sự, có một quốc hội thực sự do dân bầu chọn và họ phục vụ quyền lợi của dân, tôn trọng minh bạch, và thực sự chống tệ nạn tham nhũng của các công ty khi kinh doanh tại các nước khác, có đạo luật rõ ràng về việc ngăn cấm các công ty Nhật Bản đút lót các quan chức chính phủ của nước khác. Trong khi với nước Nga, từ chính quyền đến các tập đoàn kinh doanh đều nổi tiếng thế giới về tệ nạn tham nhũng. Rosatom lại là cánh tay phải của Putin và thế lực cầm quyền tại Nga. Do đó quả bom “nguyên tử” tham nhũng giữa tập đoàn mafia Rosatom và các quan chức đảng viên đảng cộng sản cao cấp liên quan đến đại dự án nhà máy điện nguyên tử hạt nhân thật khó hay nói cách khác là không có khả năng bị phanh phui ngay tại Nga, còn tại Việt Nam thì đương nhiên là tuyệt đối không thể nào xảy ra.

Kịch bản đại dự án đường sắt siêu tốc dầu sao còn “có chút hậu” vì: một là chính quyền Nhật rất gắt gao về tệ nạn tham nhũng tại trong và ngoài nước nên nạn lại quả rút ruột công trình được chính phủ kiểm soát gắt gao và sớm bị khám phá nếu có xảy ra; hai là với dự án đường sắt siêu tốc, nếu có tai nạn thì chỉ nằm trong khu vực nhỏ và mức thiệt hại nhân mạng không kinh khủng.

Kịch bản đại dự án nhà máy điện nguyên tử hạt nhân, nếu cứ tiếp tục tiến hành với sự trợ giúp tài chính của nước Nga bằng hình thức cho vay trong tình trạng có đầy rẫy tham nhũng từ hai nước và do một tập đoàn sân sau của Putin là Rosatom xây dựng bất chấp lời can ngăn của toàn dân, đặc biệt của đại đa số nhân sĩ trí thức và chuyên viên khoa học nguyên tử trong ngoài nước, thì đất nước và dân tộc Việt Nam sẽ bị “tuyệt hậu”, bị tiêu tùng. Dân tộc Việt Nam sẽ bị xóa sổ trên bản đồ thế giới một khi có tai nạn tại lò phản ứng nguyên tử như đã xảy ra tại nhà máy điện nguyên tử Chernobyl – Ukraine thuộc Liên Xô (Nga) năm 1986, nhà máy điện hạt nhân Fukushima tại Nhật Bản năm 2011, và cũng đã từng xảy ra tại các nước khác như Mỹ với tai nạn tại nhà máy điện nguyên tử Three Mile Island năm 1979.

clip_image004clip_image006
Tin tai nạn trên báo Time và công tác khử phóng xạ sau tai nạn tại NMĐNT Three Mile Island năm 1979
clip_image008clip_image010
Toàn cảnh khu lò phản ứng nguyên tử Chernobyl sau khi bị nổ và trẻ em Ukraine bị ung thư vì bị nhiễm phóng xạ từ nhà máy Chernobyl (thời điểm 2006).
clip_image012
Cảnh trước và sau khi lò phản ứng nguyên tử Fukushima nổ
clip_image014
Cảnh thành phố “ma” Tamioka tại Fukushima 3 năm sau
clip_image016
Hàng ngàn bao chứa đất nhiễm phóng xạ uranium chất đống không nơi nào chịu chứa

Nguyễn Hùng, Trần Hoài Nam

Ngày 30/03/2014
Tham khảo:
Các nước có IQ cao đều làm đường sắt cao tốc
Sắp trình Chính phủ đề án xây đường sắt tốc độ cao
Nghi án hối lộ 16 tỷ: ‘Cái giá phải trả cho ‘Bộ Đường sắt’
Dự án đường sắt cao tốc:Tập đoàn của Nhật hối lộ quan chức Việt Nam 782.000 USD?
clip_image018
Điện nguyên tử: Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng lên tiếng hoãn, Rosatom của Nga thúc giục làm liền. Ai là chủ đích thực của Việt Nam?
Chernobyl: the world’s worst nuclear accident in photos – then and now
First pictures from Fukushima nuclear disaster
The ghost towns of Fukushima: three years after Japan’s nuclear accident
Các tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Lan man cảm nghĩ vụ công an “làm chết người”

Năm 1994 tôi ở buồng 6D bên chẵn của trại giam Hà Nội. Lúc ấy anh Kỳ là trưởng buồng. Anh Kỳ năm đó khoảng 46 tuổi, người cao, trắng trẻo, nhanh nhẹn. Anh là công an xã, bị can tội giết người, anh bị xử 17 năm.

Công an dùng nhục hình tra tấn để ép cung tù nhân. Ảnh minh họa

Buồng 6D nằm tít góc bên trong cùng của dãy buồng giam, thành phần toàn cán bộ hay dây mơ rễ má cán bộ trại. Có một ông buôn lậu, có ông tham ô, có ông làm giấy tờ cho người đi nước ngoài, có cả thằng học sinh 16 tuổi cầm dao gọt hoa quả giết bạn. Thằng đó bị tù 6 năm, nó ca hát suốt ngày.

Tôi nằm cạnh anh Kỳ, ngay hôm đầu tiên vào buồng. Quản giáo dẫn tôi vào chỉ chỗ nằm ở đó, lúc bỡ ngỡ tôi không hiểu là chỗ nằm tức là vị trí. Có nghĩa tôi sẽ là buồng phó.

Ở một buồng giam toàn thành phần khá lành như thế, chẳng có chuyện đánh đập, cướp bóc hay tra tấn gì. Mỗi tù nhân khi nhận quà cứ mang 1/3 đến biếu lại buồng trưởng. Anh Kỳ nhà ở Sóc Sơn, nghèo, vợ anh lâu lắm mới tiếp tế cho anh vì còn nuôi ba đứa con nhỏ. Có lẽ quản giáo thương tình đồng nghiệp cho anh làm trưởng buồng để có chút lộc lá. Áng chừng anh chưa đủ kinh nghiệm giang hồ nên bổ sung tôi làm buồng phó.

Bình thường anh Kỳ rất hiền, tôi nhớ có lần thằng Tuấn nằm ngủ, nửa đêm mơ thế nào tinh trùng xuất ra ướt đẫm quần. Nó dậy xin đi tắm. Ở tù kỵ nhất buổi đêm xáo trộn. Tôi xuống chỗ nó xem thấy thế, đồng ý cho nó đi tắm. Quay về tôi báo anh Kỳ chuyện như vậy. Anh Kỳ nét mặt buồn thiu, anh ngậm ngùi lắc đầu:

– Khổ thân, đang tuổi ăn tuổi lớn yêu đương mà thế.

Sau này tôi trải qua nhiều buồng giam, nhưng không bao giờ tôi gặp được người buồng trưởng nào như thế. Toàn những loại buồng trưởng, trách nhiệm xăm trổ đại bàng, rồng phượng hành hạ tra tấn tù khác như tra tấn một con chó. Có lẽ may mắn cho tôi bị ảnh hưởng từ anh khi mới bước chân vào tù, cho nên sau này khi có làm trưởng buồng, đội trưởng tôi cũng không làm gì đến mức phải hao tổn phúc phận của tổ tiên.

Tôi nghe chuyện, mới biết anh chẳng giết ai. Làng anh bắt được thằng ăn cắp, mọi người đuổi theo vây đánh. Anh hô – bắt được đánh chết mẹ nó đi. Thế nào thằng trộm bị đánh chết thật. Ra tòa có người khai anh hô câu đó. Anh Kỳ bị kết án đầu vụ, lĩnh án 17 năm tù. Lúc đó anh là trưởng cônng an xã. Nói là trưởng công an xã, nhưng kiến thức luật pháp, xã hội hay văn hóa anh chả biết gì mấy. Làm việc thì năng nổ, nhiệt tình, không tham nhũng hay hoạch họe. Sở dĩ tôi tôi nói chắc vậy vì chức đội trửởng buồng giam cũng quyền sinh sát lớn lắm. Nhưng anh không hề lạm dụng nó đề bắt chẹt hay lột đồ gì của ai.

Anh Kỳ đi trại cải tạo Phú Sơn, từ nhà anh ở Sóc Sơn đi đến trại đó cũng tiện. Tôi đi trại cải tạo phía Nam. Chúng tôi chỉ ở bên nhau được vài tháng. Trại tạm giam chỉ là nơi tạm giam, thời gian ở tạm giam so với thời gian ở tù chỉ là một thoáng. Nên ít khi người ta nhớ đến nhau.

17 năm tù cho một câu hô có tính bộc phát của một trưởng công an xã. Đó là thời điểm năm 1994, cũng thời điểm ấy một công an khác là Phạm Tùng Dương hay cái gì Tùng Dương bị kết án tử hình vì bắn chết người trên cầu Chuơng Dương. Cảnh sát Tùng Dương làm nhiệm vụ đầu cầu, thấy có một thanh niên đi vào làn xe ô tô, Dương đuổi theo chặn lại, giằng co cái túi đựng tiền của người ấy, súng nổ, người kia chết. Tùng Dương lãnh án tử hình. Bản án thi hành vào một mùa xuân năm 1995 thì phải. Lúc đó tôi là tự giác bên ngoài, nghe thây quản giáo phòng này ngậm ngùi nói với quản giáo phòng kia – hôm nay Tùng Dương “đi” rồi đấy.

Những điều ấy nói lên rằng, thưở đó số phận của các cảnh sát, công an chưa nằm ngoài vòng pháp luật. Họ phải nhận những bản án nghiêm khắc như bất kỳ tên tội phạm nào, thậm chí còn là nặng hơn vì là người thực thi pháp luật, am hiểu pháp luật.

Thế rồi năm tháng trôi, bỗng một ngày có ông thứ trưởng công an lên làm thủ tướng. Rồi từ đó nhiều ông thứ trưởng khác làm bí thư tỉnh ủy, làm ở Viện Kiểm Sát, Tòa Án hay làm thường trực ban bí thư. Ở cấp nhỏ hơn thì công an là bí thư quận, chủ tịch huyện, chủ tịch phường.

Nguyên nhân có thể là suy diễn, cho nên không dám kết luận tại vì nhiều công an giữ những chức như thế mà chiến sĩ công an phạm tội lãnh mức án khiến người dân ngỡ ngàng hay không?

Công an bỗng nhiên làm lạc đạn. Mà lạc đạn nhiều lắm, đạn bắn chỉ thiên mà tòan cắm xuống như vụ bắt đám bạc, vụ cuỡng chế ở Nghi Sơn, Thanh Hóa. Rồi người ta vào đồn là tự tử, là bị bệnh đột tử. Rồi tự họ lao vào dùi cui, rồi muôn vàn cái chết khi gặp công an mà lý do đều trời ơi, đất hỡi. Báo chí thì viết theo kiểu như – 5 người công an làm chết đương sự. Súng cướp cò làm hai nạn nhân thiệt mạng, đột tử khi bị bắt giam… báo chí không còn phong độ như thời ráo riết mổ xẻ tìm nguyên nhân vụ Tùng Dương nữa. Thậm chí là công an “làm chết người” cũng chả buồn đăng phiên tòa như vụ ở Thanh Hóa và bao nhiêu vụ khác nữa. (Trong khi đó thì vụ Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Hải, Lê Quốc Quân… báo chí lê thê mấy kỳ, xử trốn thuế mà lại với sang chuyện bị cáo thế này thế nọ về chính trị…)

Các mức án dành cho công an “làm chết người” cũng ngày càng nhẹ đị. Từ 7 năm vụ Bắc Giang xuống 4 năm vụ ông Trịnh Xuân Tùng rồi cuối cùng là án treo cho các chiến sĩ công an ở vụ Tuy Hòa. Với cái đà xử và báo chí đưa tin thế này, liệu chúng ta có cần thiết đến tòa án và công luận nữa trong các vụ xử chiến sĩ công an hay không?

Hay chăng bỏ quách đi cho khỏi mất thời gian. Khỏi xét xử làm gì. Có sợ hậu vận, âm phúc thì những thủ phạm là công an chỉ cần đến nhà nạn nhân xin lỗi là đủ. Không thì đến chùa chiền nào đó gọi vị cao tăng đang ngồi viết báo cáo tình hình an ninh chính trị, tôn giáo, nhờ vị ấy làm cái lễ giải oan hồn là xong.

Con người bất cứ là ai, làm gì phạm tội đều sợ bị trả giá. Trả giá về mặt luật pháp và nỗi lo sợ mơ hồ là trả giá bằng hậu vận, âm đức. Nhưng những người chiến sĩ công an ngày này chẳng lo về mặt luật pháp, cũng chẳng lo về mặt tâm linh. Vậy thì cái gì sẽ khiến họ phải đắn đo khi dùng bạo lực để đối xử với người dân?

Chẳng có gì khiến họ phải lo sợ kể cả thể xác lẫn tâm hồn. Bởi thế chúng ta thấy nụ cuời tươi tắn trong phiên tòa, lúc mà những đứa con thơ của nạn nhân vấn khăn tang cầm di ảnh bố cũng ở đó. Nụ cười của người chiến sĩ công an phạm tội giết người mà đuợc tòa án và báo chí chuyển ngữ là “làm chết người” đó sẽ là nụ cười của câu trả lời.

– Chẳng có gì khiến chúng tôi phải bận tâm. Chúng tôi là thanh kiếm và lá chắn của chế độ, đó là quy luật như trái đất vẫn quay mặc dù thế nào đi nữa.

Dù thế nào thì tôi cũng phải công nhận, tôi gặp nhiều công an tốt. Thậm chí là kể cả khi tôi bị bắt tù vì tội hình sự. Cả quãng thời gian dài đằng đẵng qua bao nhiêu nhà tù, phòng giam tôi chưa hề phải viết xấu về người công an nào phụ trách tôi. Tôi vẫn nhớ những buổi chiều qua song sắt trại giam tôi và người công an trẻ trạc tuổi tôi nói chuyện. Chúng tôi xưng tên với nhau, câu chuyện về tình yêu, cuộc đời và những trải nghiệm, văn học, âm nhạc. Tôi nhớ có lần người công an trẻ đó giật mình nói:

– Hiếu này, tôi không phải khó khăn gì hay quan cách gì đâu. Nhưng nếu có ai đi qua ông đừng xưng hô thế nầy nhé. Có tôi và ông thì không sao.

Tôi cũng nhớ đến Hùng M, quản giáo trực trại V. Khi anh ta sai, tôi nói thẳng là muốn đi trại giam khác, anh ta đỏ mặt nói:

– Đ.m. tao là công an, nhưng tao có đối xử mày theo kiểu công an với tù đâu. Tao sai thì mày nói tao, chứ mày làm thế đéo có tình nghĩa gì. Tao cũng cần có bạn, mà kiếm bạn ở trong đám tù có dễ đâu.

Nhưng đó là một thời đã xa, đã 20 năm rồi. Nó chỉ là ký ức đẹp về những người chiến sĩ công an sống có tình. Sống còn biết sợ đến hai chữ “thất đức”.

Tôi cũng nhớ anh Kiên, anh Dũng. Hai người cảnh sát đã coi tôi như em, hay cho tôi thuốc lá, tiền khi nhà tôi không đến thăm tôi. Khi còn ở nhà, mỗi khi làm ăn được tôi đều đến thăm người quản giáo cũ là ông Hỷ. Nếu ông đọc được những dòng này, xin ông hiểu tôi không nói về những con người như ông và những người cảnh sát tôi nhắc tên.

Tôi chỉ muốn nói rằng, những người cảnh sát của 20 năm trước đã dần ít đi. Thay thế vào đó là những người cảnh sát có tư cách ngược lại. Kể từ khi nhiều công an được điều động chuyển ngành những chức vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền. Cũng kể từ khi đó mà bỗng nhiên nhiều vụ công an làm chết người càng nhiều hơn, các mức án cũng nhẹ hơn, các công an đi chùa cũng nhiều hơn. Và đời sống của họ cũng… khá giả hơn.
Người Buôn Gió
Theo blog Người Buôn Gió

Vladimir Putin: Từ tình báo KGB đến tổng thống độc tài kiểu Sô Viết

Qua những diễn biến gần đây tại Ukraine với sự cưỡng bức sáp nhập bán đảo Crimea vào Liên Bang Nga do ông Putin tổng thống nước Nga đạo diễn, người ta tự hỏi: Ông Putin đang áp dụng một chính sách gì đây trong một thế giới hậu chiến tranh lạnh cách đây đã hơn 20 năm, nền trật tự thế giới được đặt trên căn bản luật pháp quốc tế, tinh thần dân chủ tự do, sự thương lượng và hợp tác đa phương nhằm phát triển kinh tế, tạo cuộc sống hòa bình, hạnh phúc ấm no cho mọi dân tộc trên toàn thế giới.

Ai cũng biết ông Putin từng là nhân viên tình báo mật vụ KGB của Liên Bang Sô Viết (1) trong 17 năm (1975-1991). Ông từng tuyên bố từ bỏ KGB năm 1991 để trở thành nhà hoạt động chính trị ít ai biết tiếng, nhưng lại thành công trên con đường chính trị nhanh nhất thế giới.

Trong bài này, chúng ta tìm hiểu lý do gia nhập KGB của ông, những hoạt động trong thời gian là nhân viên tình báo, lý do từ bỏ KGB, lý do sự thành công quá nhanh trên chính trường, và tại sao ông lại có những bước đi nguy hiểm có thể gây ra cuộc đại chiến thế giới như hiện nay.

Là một nhà tình báo, cuộc đời của ông đầy bí ẩn. Tuy nhiên sau này người ta biết được nhiều chi tiết tiểu sử của ông do ông hoặc các cựu nhân viên KGB kể lại.

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ

Vladimir Vladimirovich Putin (phát âm Pu Chin) sinh ngày 7 tháng 10 năm 1952 tại Leningrad (2). Cha ông từng đi lính hải quân của Hồng Quân Liên Sô, mẹ làm việc trong một hãng chế tạo.

Thuở niên thiếu, ông có ước mơ trở thành nhân viên tình báo KGB do ảnh hưởng phim ảnh tuyên truyền về những hoạt động gián điệp, về những anh hùng KGB do các diễn viên nổi tiếng đóng vai chính.

Lúc 16 tuổi, ông từng đến văn phòng KGB ở Leningrad xin gia nhập nhưng bị khước từ, lại còn bị nhạo báng. Người ta cho biết muốn được thu nhận vào KGB ít nhất phải tốt nghiệp đại học, đại học tốt nhất là luật khoa. (3)

Trái lại, cha mẹ và thầy dạy Judo của Putin muốn ông vào học đại học kỹ thuật. Họ nghĩ rằng ông sẽ có tương lai tốt hơn. Ngoài ra, người thầy Judo còn có sự quen biết với trường đại học này, Putin có thể được nhận mà không phải trải qua kỳ thi tuyển khó khăn, nhưng ông vẫn nhất quyết theo học ngành luật chỉ vì muốn có cơ hội gia nhập KGB, cho dù biết rõ nếu thi rớt sẽ phải đi lính.

Cuối cùng, Putin đã đậu vào trường luật thuộc Đại Học Tổng Hợp Leningrad (trước đây có tên Đại Học Saint Petersburg rất nổi tiếng tại Âu Châu, được thành lập năm 1819). Đại học này có nhiều phân khoa như khoa học nhân văn, y học, kỹ thuật… Dĩ nhiên ở đây người ta dạy luật theo kiểu Sô Viết, luật xã hội chủ nghĩa, Mác xít, Lê nin…

GIA NHẬP KGB

Vào một ngày năm thứ tư trong lịch trình 5 năm đại học luật, nhà trường gọi Putin lên phòng riêng gặp một người lạ mặt, một nhân viên tuyển dụng KGB. Người này báo Putin có thể được nhận vào KGB. Họ đã theo dõi hồ sơ lý lịch của ông rất kỹ do nhà trường cung cấp từ lâu. Ở các nước cộng sản mỗi đại học đều có nhân viên tình báo núp dưới nhiều danh nghĩa, theo dõi hành tung của sinh viên, hoặc tìm kết nạp những sinh viên đủ điều kiện. Sau buổi gặp gỡ đầu tiên, ông ta biến mất, cậu sinh viên Putin nghĩ rằng họ đã quên mình. Nhưng một năm sau, năm cuối cùng của trường luật, người này lại xuất hiện làm thủ tục nạp đơn xin gia nhập KGB. Nếu không có cuộc gặp gỡ này có lẽ Putin đã chọn nghề luật sư. Ông kể lại như vậy sau này.

Năm 1975, tốt nghiệp đại học luật khoa ngành Bang Giao Quốc Tế, Putin được nhận vào cơ quan tình báo KGB, được huấn luyện tại Okhta, thành phố Leningrad để trở thành nhân viên tình báo chuyên nghiệp. Dĩ nhiên, Putin đã là đảng viên Cộng Sản từ khi còn là sinh viên.

Sau khi thụ huấn, Putin được cử làm sĩ quan phản tình báo ở Leningrad trong 4 năm, nhiệm vụ theo dõi, giám sát những người ngoại quốc bị KGB tình nghi như các nhà ngoại giao, các du khách, thương gia… kể cả những công dân Sô Viết bất đồng chính kiến.

Sau thời gian ngắn, Putin nhận ra rằng cơ quan tình báo Liên Sô đã quá già nua, lỗi thời, do tình hình thoái hóa của xã hội, với lối suy nghĩ cứng nhắc, chậm chạp, nhân viên làm việc cho qua chuyện, không có sáng kiến… Lúc đầu ông phàn nàn, sau phải chấp nhận vì ông ta đã là đảng viên trung thành với nhà nước Liên Sô, với chủ nghĩa cộng sản, rất tích cực với công việc trong suốt cuộc đời của ông ta. Bị chất vấn khi ra tranh cử tổng thống, ông trả lời: “Tất nhiên tôi phải làm những việc khó coi như vậy, đây là thực tế, thật đáng tiếc”. (4)

Năm 1984, Putin được huấn luyện tại trường tình báo cao cấp Hồng Kỳ Andropov ở Moscow đặc biệt về tình báo quốc ngoại, khu nói tiếng Đức, chuẩn bị hoạt động trong môi trường các nước Đông Đức, Áo, Thụy Sĩ (5). Vì thế Putin nói tiếng Đức trôi chảy.

NHỮNG NĂM CÔNG TÁC TẠI ĐÔNG ĐỨC

Năm 1985, Putin được cử làm việc tại thành phố Dresden, Đông Đức với vai trò mặt nổi “Chủ Nhiệm Nhà Hữu Nghị Sô – Đức” nhưng bên trong ông giữ nhiệm vụ hết sức quan trọng, phối hợp giữa KGB với cơ quan tình báo Stasi của Đông Đức. Nguồn tin khác còn cho rằng ông có nhiệm vụ giám sát quân đội Sô Viết tại Đông Đức. Trụ sở làm việc của Putin là tòa nhà đồ sộ màu xám ở số 4 Angelikastrasse, thành phố Dresden sát bên cạnh tổng hành dinh cơ quan tình báo Stasi.

Đông Đức là vị trí quan trọng vào thời điểm chiến tranh lạnh, là nơi đối đầu giữa Đông và Tây, nơi trú đóng của 380,000 quân đội Hồng Quân với các dàn hỏa tiễn tầm trung của Liên Sô, hàng chục ngàn nhân viên tình báo KGB hiện diện và tình báo quân sự Sô Viết, là trụ sở của cơ quan tình báo khổng lồ Stasi của Đông Đức thường xuyên theo dõi hàng trăm ngàn công dân Đông Đức với hàng triệu hồ sơ mật…

Mục tiêu hàng đầu của Putin là NATO (Tổ Chức Liên Phòng Bắc Đại Tây Dương), nhằm đánh cắp tin tức, tài liệu, nhất là tài liệu kỹ thuật của Tây Phương. Trình độ kỹ thuật của khối Sô Viết lúc đó thua xa Tây Phương. Đối tượng của ông là những thành phần được mệnh danh “legends” (người huyền thoại) bao gồm giáo sư, chuyên viên, sinh viên, được kết nạp và gửi đến các nước Tây Phương làm gián điệp, đặc biệt các sinh viên đang theo học tại các trường kỹ thuật chuẩn bị xâm nhập môi trường Hoa Kỳ để hoạt động.

Tình báo Stasi làm hồ sơ căn cước giả cho các những “người bạn” (friends). Hàng chục ngàn người được “ghi nhận” là “bạn” có thể trở thành gián điệp được gửi đến các nước trên thế giới. Chính Putin sau này thú nhận ông từng dùng những người có “lý lịch tốt” như giáo sư cử đi tham dự các khóa hội thảo quốc tế. Những tin tức loại này được gửi về tổng hành dinh ở Moscow.

Dĩ nhiên, hành tung của KGB cũng như các cơ quan tình báo đều kín đáo tuyệt đối. Phương pháp của Putin thường dùng là kết nạp người địa phương, các viên chức địa phương làm việc cho KGB. (6). Putin dùng hình thức mỹ nhân kế được gọi là “chim én” mua chuộc, gài bẫy các đối tượng để khai thác tin tức hoặc ép làm việc cho KGB. Putin đã xử dụng rất nhiều “chim én” xinh đẹp hoạt động tại các khách sạn loại sang ở Dresden, Đông Đức và nhiều thành phố khác.

Cơ quan tình báo nước Đức thống nhất hiện nay đang lo âu về mạng tình báo mà Putin thành lập trước kia khi ông ta còn làm việc ở Đông Đức mang tên chiến dịch “Mặt Trời Mọc” rất tinh vi. Người ta nghi ngờ mạng này hiện còn đang hoạt động mặc dù nước Đức đã thống nhất trên 2 thập niên qua. Chính quyền Đức đã điều tra các cựu mật vụ Đông Đức, tất cả đều khai không biết gì. Dĩ nhiên, dù có biết họ cũng không thể nói. Đó là nghề nghiệp của họ (7).

Nhiều tài liệu cho thấy 6 năm hoạt tại Đông Đức, Putin được đánh giá đạt nhiều thành quả cao, nhận được nhiều huy chương.

Thời gian tại Đông Đức [theo lời kể của ông sau này], ông đã nhận ra sự yếu kém của nền kinh tế chỉ huy của Đông Đức, có những dấu hiệu sẽ đưa đến sụp đổ. Trong khi ở chính quốc Liên Sô, ông Gorbachev đã phải thực hiện cải cách nhằm cứu vãn tình thế thì tại Đông Đức nhà độc tài Honecker vẫn áp dụng chính sách cực kỳ tàn ác.

Có nguồn tin cho rằng khi Gorbachev thực hiện chính sách cải cách, Putin có nhiệm vụ tìm kiếm những nhân vật Đông Đức có tinh thần cải cách nhằm thay thế nhà độc tài Honecker sau này.

Năm 1990, Đông Đức sụp đổ, dân chúng biểu tình chống chính quyền cộng sản khắp nơi, đuổi quân Liên Sô về nước, KGB cũng phải cuốn gói. Trước khi rời Đông Đức, Putin ra lệnh phá hủy tất cả hồ sơ bí mật của KGB trong đó có hồ sơ của ông. Có lẽ vì thế rất nhiều tin tức bí mật của Putin đã được chôn vùi.

TRỞ VỀ THÀNH PHỐ NHÀ LENINGRAD

Năm 1989, bức tường Bá Linh sụp đổ kéo theo sự tan rã của Đông Đức năm 1990. Putin về nước làm việc tại Đại học Quốc gia Leningrad phụ trách Quan hệ quốc tế. Thật ra, nhiệm vụ bí mật của Putin vẫn là nhiệm vụ của KGB theo dõi sinh viên, tuyển chọn người làm việc KGB.

Vào thời gian này, Putin không muốn thăng cấp vì không thể di chuyển gia đình vợ hai con và cha mẹ già 80 tuổi về Moscow. Putin gặp lại vị giáo sư dạy luật trước đây là Anatoly Sobchak (8), người có đầu óc dân chủ, tinh thần cởi mở cải cách cùng với Tổng Thống Gorbachev, hiện đang giữ chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân thành phố Leningrad. Sobchak mời Putin làm phụ tá đặc trách đối ngoại tại Ủy Ban.

Tháng 6 năm 1991, giáo sư Sobchak được bầu làm thị trưởng St Petersburg (được đổi tên từ Leningrad trong cuộc bầu cử này), một chức vụ dân bầu đầu tiên của thành phố sau gần 80 năm dưới ách cai trị của CS. Putin được vị giáo sư cử làm việc trong Ủy ban quốc ngoại tại văn phòng thị trưởng, với trách nhiệm tăng cường quan hệ quốc tế và đầu tư nước ngoài.

Ngày 19/8/1991, cuộc đảo chính có sự tham dự của cơ quan KGB chống lại Tổng thống Mikhail Gorbachev cuối cùng thất bại, Putin chính thức từ bỏ KGB vào ngày hôm sau 20 tháng 8 năm 1991. Cấp bậc cuối cùng trong KGB là Trung Tá. Putin kể lại sau này: “Ngay khi cuộc đảo chánh bắt đầu, tôi đã phải quyết định đứng về phía nào, dù rằng tôi đã bỏ cả cuộc đời cho tổ chức (KGB) này”.

Trong cuộc đảo chánh 19-8-1991, giáo sư Sobchak xuýt nữa bị quân đảo chánh bắt giữ. Nhờ có Putin dùng uy thế KGB đã giúp ông giáo sư an toàn, cuối cùng cuộc đảo chánh thất bại.

Có nhiều câu hỏi đặt ra cho ông Putin: ông có thật tình từ bỏ KGB hay không, hay đây chỉ là một sự biến hình theo thời thế của những nhà tình báo chuyên nghiệp. Trước tình thế thay đổi nhanh chóng, Putin kịp thời biết KGB không còn là môi trường tiến thân, nên ông ta đã nắm bắt thời cơ nhảy qua môi trường chính trị mà ông ta không hề có kinh nghiệm.

CON ĐƯỜNG CHÍNH TRỊ NHƯ DIỀU GẶP GIÓ

Putin hoàn toàn không có chút vốn liếng về chính trị. Nghề nghiệp chính của ông ta là tình báo. Tuy nhiên, vì là học trò cũ của giáo sư Sobchak, được ông Sobchak cất nhắc vào chính quyền thành phố St Petersburg, Putin hoàn toàn gặp may mắn, được đưa đẩy vào tình thế thuận lợi trong môi trường mới như diều gặp gió.

Năm 1996, giáo sư Sobchak thất cử thị trưởng Saint Petersburg, Putin không còn chỗ đứng đã phải di chuyển lên Moscow làm việc trong ban tham mưu của TT Yeltsin tại điện Kremlin. Năm 1998, Putin giữ chức Giám Đốc Cơ Quan An Ninh Quốc Gia, sau kiêm nhiệm chủ tịch Hội Đồng An Ninh tại Kremlin.

Năm 1999 Putin được TT Yeltsin đề cử giữ thủ tướng liên bang Nga thay thế thủ tướng Sergei Stepashin vì sự khác biệt của ông này về vấn đề Cheschnya. Mọi người hết sức ngạc nhiên sự xuất hiện nhân vật Putin mà cho đến nay không ai biết. Chẳng những vậy, tổng thống già yếu Yeltsin lại còn tuyên bố Putin sẽ là kế nghiệp tổng thống của ông.

Trong buổi điều trần tại quốc hội Duma ngày 16/8/1999 để nhận chức vụ thủ tướng Nga, chẳng ai biết Putin là ai, ngay cả TT Yeltsin khi giới thiệu cũng nhầm tên với ông thủ tướng cũ. Trong bài diễn văn, Putin nói rõ sự suy nghĩ của ông là phải phục hồi Liên Bang Sô Viết, nhưng chẳng ai muốn nghe ông nói. (9)

Tháng 12, 1999 bất ngờ ông Yeltsin từ chức tổng thống Nga với nhiều lý do: sức khỏe, tình trạng có thể bị truy tố vì những sai phạm trong việc điều hành… Theo hiến pháp, thủ tướng tạm thời thay thế, Putin đương nhiên trở thành tổng thống Liên Bang Nga mà không tốn một ngày tranh cử, tạo cơ hội thuận lợi cho việc ứng cử tổng thống nước Nga năm 2000.

Giáo sư Sobchak, thầy học cũ của Putin tại trường luật, đã hết lòng hỗ trợ Putin trong cuộc tranh cử tháng 3/2000, chẳng may ông qua đời ngay khi Putin vừa đắc cử. Putin cử ông Dmitry Anatolyevich Medvedev làm thủ tướng, là người từng công tác dưới quyền ông tại thành phố St Petersburg. Hai người thay phiên nhau kẻ tung người hứng nắm giữ quyền hành tổng thống và thủ tướng Liên Bang Nga.

Với sự sắp xếp với Medvedev, Putin quay lại làm thủ tướng sau hai nhiệm kỳ tổng thống, rồi trở lại nắm giữ tổng thống thêm hai nhiệm kỳ nữa. Quốc hội dưới ảnh hưởng của Putin đã thông qua nhiệm kỳ tổng thống là 6 năm. (10).

CHÙ TRƯƠNG CỦA PUTIN

Putin luôn luôn hoài tưởng chế độ Liên Sô, phục hồi những hình thức của Liên Sô, cho phép những biểu tượng Liên Sô tái xuất hiện: Cờ Đỏ của Hồng Quân, ngôi sao Sô Viết, Quốc Ca Liên Sô (sửa lời đôi chút)… Điều này cho thấy bài diễn văn của ông lúc nhận thủ tướng đã ứng nghiệm.

Putin dùng thủ đoạn nắm giữ quyền lực tuyệt đối xuyên qua hình thức dân chủ (có bầu cử, có đối lập, nhưng khống chế bằng thủ đoạn), Putin nắm giữ hai viện quốc hội, kiểm soát toàn bộ hành pháp và tư pháp, kiểm soát các cơ quan truyền thông, tập trung vào điện Kremlin, đánh bóng lãnh tụ, triệt hạ đối lập, khống chế tòa án, quốc hội, quân đội, cơ quan tình báo..

Với vây cánh cũ trong KGB, cộng với vốn liếng luật pháp học được tại trường luật, cùng với thủ thuật chính trị từ giáo sư Sobchak, Putin dễ dàng nắm giữ trọn quyền lực quốc gia trong tay, loại trừ những phần tử đối lập.

Lợi dụng biến có 11 tháng 9 tại Hoa Kỳ, Putin rất tàn bạo giải quyết vụ Chestnya, tạo được uy thế trong nước. Putin lôi kéo các nước thuộc Liên Sô cũ trở thành liên minh của Nga, tạo vòng đai bảo vệ Nga, dùng lá bài năng lượng (khí đốt) để bắt chẹt các nước láng giềng, các nước Liên Âu. Putin luôn luôn chống lại liên minh NATO mà ông cho là đang bao vây nước Nga. Chiến lược ngoại giao của ông tóm tắt vào câu: “Rào chặt tường rào, bảo vệ sân sau” (11).

CÁI GAI UKRAINE

Nước Ukraine độc lập tách khỏi Liên Bang Nga, đi gần với Âu Châu, là cái gai cần phải nhổ, ý định của Putin sáp nhập Ukraine vào Liên Bang Nga không sớm thì muộn.

Ukraine từng bị lệ thuộc Nga trên 300 năm. Bán đảo Crimea được chính quyền Liên Sô lúc đó là do Kruchev lãnh đạo cho sáp nhập vào Ukraine năm 1954, lúc đó Ukraine là một cộng hòa của Liên Sô.

Năm 1991: Ukraine tuyên bố độc lập thoát khỏi Liên Bang Nga sau khi Liên Sô tan rã.

Năm 2004, cách mạng Cam bùng nổ ở Ukraine lật đổ lãnh tụ thân Nga Viktor Yanukovych thắng cử tổng thống trong cuộc bầu cử bị tố cáo là gian lận. Ông Viktor Yushchenko, lãnh tụ đối lập đã dẫn đầu cuộc biểu tình vĩ đại.Tòa án tối cao hủy bỏ kết quả bầu cử, ra lệnh phải bầu lại. Cuối cùng Yanukovych chấp nhận thua, Yushchendo đắc cử tổng thống.

Năm 2010, Viktor Yanukovych (thân Nga) lại đắc cử tổng thống khi ứng cử viên đối nghịch là bà thủ tướng Yulia Tymoshenko bị bắt vì tội lạm dụng quyền lực, bị kết án tù tháng 10, 2011, mới được thả năm 2014 sau cuộc chính biến.

Người dân Ukraine không muốn lệ thuộc vào Nga, tìm cách gia nhập Liên Âu. Putin không chấp nhận, dùng mưu mẹo hứa sẽ viện trợ 15 tỉ mỹ kim cho Ukraine. Tổng thống thân Nga Viktor Yanukovych bất ngờ hủy bỏ ký kết gia nhập Liên Âu tháng 11, 2013 dẫn đến cuộc chính biến lật đổ ông này.

Thấy mọi kế hoạch không theo ý mình, Putin đã động binh xâm chiếm bán đảo Crimea, bất chấp hiến pháp của Ukraine, luật pháp quốc tế, và sự phản đối của thế giới. Hội Đồng Bảo An LHQ lên án việc sáp nhập này với 11 phiếu thuận, Nga bỏ phiếu chống, Trung Cộng bỏ phiếu trắng.

Với lý do bảo vệ kiều dân Nga, Putin đưa quân vào chiếm bán đảo Crimea, rồi “thể theo ý nguyện của người dân gốc Nga” tại Crimea Putin tuyên bố Crimea là lãnh thổ không thể tách rời của Nga (ngày 18-3-2014).

Các nước Tây Phương hụt hẫng không ngờ Putin lại hành động như một thế giới thời Trung Cổ, xem thường luật pháp quốc tế, bất kể hậu quả chính trị và kinh tế. G8 nay biến thành G7, Nga bị loại ngay ở thượng tầng thế giới, một sự nhục nhã. Kinh tế Nga bắt đầu suy sụp khi bộ máy kinh tế tài chánh toàn cầu bao vây cấm vận Nga, các chuyên viên kinh tế tài chánh Nga đã báo động. Ngày 27 tháng 3, 2014, Đại Hội Đồng Liên Hiệp bỏ phiếu chấp nhận một nghị quyết do Ukraine đệ trình lên án việc Nga sáp nhập Crimea vào Liên Bang Nga là bất hợp pháp với 100 phiếu thuận, 11 phiếu chống, 58 phiếu trắng cho thấy Nga đang ở thế hạ phong. (12)

Putin muốn đưa thế giới trở về chiến tranh lạnh (?), hoặc một thế chiến thứ ba (?). Trước đây Liên Sô ở thế mạnh với sự hậu thuẫn của khối Đông Âu, Trung Cộng.. Toàn khối Cộng sản chiếm phân nửa toàn cầu, trong lúc thế giới tự do còn nhiều yếu kém.

Putin tin rằng sở dĩ Liên Sô sụp đổ vì sự bao vây của Tây Phương, nên nếu cải tổ đúng cách có thể phục hồi Liên Bang Nga kiểu Sô Viết. Ông có nghĩ rằng chính chủ nghĩa cộng sản đã tự hủy hoại, bộ máy cai trị độc tài toàn trị khiến người dân chống lại cuối cùng lật đổ chế độ.

Nay thì bàn cờ đã thay đổi. Nga không còn một đồng minh nào dám sống chết, kinh tế suy yếu, chẳng có quốc gia nào muốn làm bạn với một nước ở thế yếu cả về chính trị lẫn kinh tế, bị cô lập toàn diện, trong một thế giới đang siết chặt tay nhau xây dựng hòa bình, thúc đẩy dân chủ, tự do, tạo phúc lợi cho người dân đang trên đà dâng cao.

Ván cờ mà Putin bày ra sẽ ngã ngũ. Putin dùng thủ thuật KGB để đạt đỉnh cao danh vọng chính trị, nhưng ông ta không ngờ bàn cờ chính trị quốc tế không phải là địa bàn nước Nga, không còn lệ thuộc vào thủ thuật của KGB mà ông là một biểu tượng gương mẫu. Putin không lừa dối được ai, tham vọng và tài năng của Putin chưa đủ tầm vóc như Lê Nin, Staline, Hitler hoặc Mao Trạch Đông là những nhà độc tài khét tiếng, có thể khuynh đảo và biến thế giới thành địa ngục trần gian.

Rồi đây nước Nga của Putin sẽ phải trả giá rất đắt.

BS Đỗ Văn Hội
Ngày 29 Tháng 3, 2014
Hiệu đính ngày 30-3-2014.


Tác giả gửi trực tiếp đến VAOL&TTHN

SÁCH BÁO THAM KHẢO:

1- Putin – sự trỗi dậy của một người – NXB Tự Điển Bách Khoa – Hà Nội – Tác giả Trương Dự, Hồng Phượng dịch – 2008.

2- Putin: Russia’s Choice – Richard Sakwa – NXB Routledge, NY, 2008 2nd Edition

3- Vladimir Putin: Wikipedia, the free encyclopedia http://en.wikipedia.org/wiki/Vladimir_Putin

4- Putin’s Career Rooted in Russia’s KGB – David Hoffman – Washington Post Jan 30, 2000:

5- Beyond Ukraine – Russia’s Imperial Mess, by Spiegel Staff – March 10, 2014

Chú thích:

(1) Viết tắt của chữ Komitet gosudarstvennoy bezopasnosti, là cơ quan tình báo của Liên Sô, thành lập năm 1954, giải tán năm 1991, là tiếp nối của các cơ quan tình báo Cheka, NKGB, and MGB của Liên Sô.

(2) Trước đây có tên là St. Petersburg, đổi thành St Petersburg sau khi Liên Sô sụp đổ.

(3) Putin: sự trỗi dậy của một con người (Sách tham khảo 1, tr 19)

(4) Sđd (3) tr. 39

(5) sđd (3) tr. 40

(6) Sđd (3) tr. 44

(7) Sđd (3) tr. 46.

(8) Theo Wikipedia: “Giáo sư luật khoa Anatoly Sobchak (1937-2000), một nhà hoạt động chính trị, đồng tác giả của Hiến pháp 1993 của Liên bang Nga, là thị trưởng do dân cử đầu tiên của thành phố Saint Petersburg, thành viên của Hội đồng Tổng thống Yeltsin, là cố vấn và thầy dạy của Vladimir Putin và Dmitry Medvedev.”

(9): Vladimir Putin: The rebuilding of “Soviet” Russia – Oliver Bullough – BBC Magazine, March 27, 2014.

(10) Nếu giáo sư Sobchak không qua đời sớm, cuộc đời và sự nghiệp của Putin có lẽ khác với hiện nay. Ông Sobchak có ý định biến Putin thành một người có tinh thần dân chủ. Ông hết lòng giúp Putin tranh cử tổng thống Nga năm 2000, chẳng may ông đã qua đời khi ông Putin vừa đắc cử Tổng Thống. Cái chết của vị giáo sư đã nêu nhiều nghi vấn có thể bị ám sát. Theo:

(11) Chiến Lược ngoại giao của PUTIN

Khi Liên Sô sụp đổ ngày 25/12/1991, Nga mất đi nhiều quốc gia chư hầu từng làm lá chắn bảo vệ Nga. Đó là những nước nằm trong Cộng Hòa Xã Hội Hội Liên Bang Nga năm 1922 do Lê nin thành lập, sau này được đổi thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Sô Viết, tăng cường thêm vào thế chiến thứ hai.

Khởi đầu Liên Sô bao gồm các nước được gọi là các Công Hòa XHCN:

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Sô viết Liên bang Nga, Azerbaijan, ArmeniaGruzia;

Năm 1940 – thêm Moldavia, Latvia, Litva (lithuania) và Estonia.

Trong thời kỳ 1940 – 1954 Karelia-Phần Lan, về sau là Tự trị Karelia, nằm trong Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Sô viết Liên bang Nga.

Sau khi Sô Viết sụp đổ, Liên Bang Nga chỉ còn lại 15 nước được gọi là Cộng Hòa Độc Lập, trong đó Liên Bang Nga là lớn nhất:

Loại 1: Cộng đồng các Quốc Gia độc lập bao gồm các quốc gia trước đây nằm trong Liên Sô, nay trở thành độc lập nhưng vẫn giữ quan hệ chặt chẽ với Nga được thành lập ngày 11/10/2000

Nga dùng khối này thay thế cho khối Liên Sô trước kia nhằm đối trọng với Tây Phương, làm lá chắn cho Nga. 1, Armenia – 3, Belarus – 6, Kazakhstan – 7, Kergyzstan – 12, Tajikistan.

Loại 2: Lừng khừng, muốn tách khỏi Nga hoặc chống Nga và theo Tây Phương: (GAM): 2, Azerbaijan – 5, Gruzia – 10, Moldova – 14, Ukraine.

(12) Xem nguồn New York Times:  Vote by U.N. General Assembly Isolates Russia

Xem bản đồ. (G​hi chú: đl = độc lập)

Các quốc gia từng thuộc Liên Xô theo thứ tự bảng chữ cái Latinh #1 Armenia #2 Azerbaijan #3 Belarus #4 Estonia #5 Gruzia #6 Kazakhstan #7 Kyrgyzstan #8 Latvia #9 Litva #10 Moldova #11 Nga #12 Tajikistan #13 Turkmenistan #14 Ukraina #15 Uzbekistan

Bản đố các quốc gia từng lệ thuộc Liên Sô theo thứ tự bảng chữ cái Latinh:

#1 Armenia; #2 Azerbaijan; #3 Belarus; #4 Estonia; #5 Gruzia; #6 Kazakhstan; #7 Kyrgyzstan; #8 Latvia;

#9 Litva (Lithuania); #10 Moldova; #11 Nga; #12 Tajikistan; #13 Turkmenistan; #14 Ukraine; #15 Uzbekistan.

(Nguồn bản đồ: Các Quốc Gia Hậu Sô Viết, Wikipedia)

Qua sự việc Nhã Thuyên nghĩ về tự do học thuật

Mấy hôm nay tôi theo dõi vụ Nhã Thuyên với sự quan tâm đặc biệt. Thật ra, phải nói là từ năm ngoái tôi đã chú ý đến vụ này và có dịp đề cập xa gần đến chuyện tự do học thuật (academic freedom) trong một bài phỏng vấn trên Sinh viên Việt Nam (1). Đúng vậy, vấn đề đặt ra ở đây là tự do học thuật bị thách thức và đe doạ bởi những người có quyền thế.


Các tin liên quan


Toàn văn luận văn của Nhã Thuyên đã được công bố. Có thể tải xuống từ đường link này
Nhã Thuyên – Không chấp nhận quyết định thu hồi bằng và quyết định huỷ luận văn thạc sĩ
Nhã Thuyên – Hồ sơ bảo vệ luận văn năm 2010
Luận văn, phê bình luận văn và…
Hận cá, chém thớt (về luận văn của Nhã Thuyên – Đỗ Thị Thoan)
Về hội đồng bí mật chấm lại luận văn thạc sĩ Nhã Thuyên
Tám câu hỏi về vụ luận văn thạc sĩ của Nhã Thuyên
Chính trị hóa Khoa Học & Văn Học để “đánh” luận án thạc sĩ của Nhã Thuyên là việc làm không chính danh…
Cuộc phê phán luận văn của Đỗ Thị Thoan hay là sự xung đột về khung tri thức và thế hệ?
Mỗi tác phẩm là một sự vong thân…?
“Giải thiêng”, thuật ngữ của sự phá hoại?

Việc rút lại bằng cấp của Nhã Thuyên là một việc làm bất bình thường. Một luận văn đã được duyệt xét bởi một hội đồng chuyên môn và được cho điểm tuyệt đối 10/10 ba năm trước. Cả hội đồng gồm những chuyên gia có kinh nghiệm mà cho điểm tuyệt đối thì đó có lẽ là tác phẩm đáng chú ý và ứng viên phải là người có tài. Vậy mà đùng một cái người ta rút lại bằng cấp! Do đó, việc rút lại bằng cấp của Nhã Thuyên là một việc làm bất bình thường trong thế giới đại học. Trong thế giới đại học, bằng cấp chỉ bị rút lại khi luận văn đó có dữ liệu được nguỵ tạo hay tác phẩm không phải của ứng viên (như đạo văn). Nhưng ở đây, lí do rút bằng cấp chẳng liên quan gì đến đạo văn hay nguỵ tạo dữ liệu, mà liên quan đến ý thức hệ và một nhóm văn học có thể nói là “bên lề” sinh hoạt văn học “chính thống”. Toàn bộ sự việc một lần nữa nói lên rằng tự do học thuật, đặc biệt trong khoa học xã hội và nhân văn, ở VN vẫn còn là cái gì đó thuộc vào loại xa xỉ.

Khái niệm tự do học thuật chẳng phải là mới. Thời thập niên 1950 bên Mỹ xuất hiện phong trào McCarthy chống cộng sản cực đoan (2). Những người theo phong trào này gieo rắc kinh hoàng và khủng bố các giáo sư đại học khi họ giảng và nghiên cứu về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Do đó, giới giáo sư đại học đề xướng khái niệm tự do học thuật như là một thành trì của đại học và khoa học. Khái niệm này cho đến nay vẫn còn tranh cãi về định nghĩa, nhưng ai cũng đồng ý về nguyên tắc, tự do học thuật là tự do nghiên cứu và giảng dạy những chủ đề mà giảng viên và sinh viên quan tâm và không chịu sự chi phối của các thế lực chính trị. Do đó, đối với giảng viên, tự do học thuật có nghĩa là giảng viên có quyền nghiên cứu bất cứ chủ đề nào mà họ quan tâm, có quyền trình bày những kết quả đó cho sinh viên và đồng nghiệp mà không chịu sự đàn áp hay kiểm duyệt của bất kì thế lực nào. Đối với sinh viên, tự do học thuật có nghĩa là tự do học các chủ đề mà họ quan tâm và có quyền đi đến kết luận, có quyền phát biểu ý kiến cá nhân của họ liên quan đến chủ đề học.

Qui chiếu tinh thần tự do học thuật trên với luận án của Nhã Thuyên, tôi thấy việc chị ấy và PGS Nguyễn Thị Bình chọn đề tài nhóm Mở Miệng là chuyện hết sức bình thường. Nếu những đề tài mang tính xã hội như vụ hôi bia ở Biên Hoà, vụ Bà Tưng, vụ biển đảo, v.v. được “đi” vào đề thi trung học phổ thông, thì một phong trào văn học nghiêm chỉnh do nhóm Mở Miệng khởi xướng trở thành đối tượng nghiên cứu cũng chẳng có gì là lạ. Tôi không đọc hết những tác phẩm của nhóm Mở Miệng, nhưng có đọc vài bài luận về văn học của họ và những cuốn sách họ phát hành, thì thấy rất ấn tượng với sự nghiêm cẩn của họ. Không hẳn là tôi đồng ý với cách nhìn của họ, nhưng tôi thấy họ có cái gì đó mới và thách thức suy nghĩ của mình. Thành ra, theo tôi thấy là cần nên khuyến khích những đề tài nghiên cứu như thế để cho nền văn học thoát ra khỏi tình trạng đơn điệu như hiện nay (và tình trạng “vô ra cũng thằng cha khi nãy”), và trở nên phong phú hơn.

Ấy thế mà đề tài văn học của Nhã Thuyên … lâm nạn. Theo Nhà phê bình Trần Mạnh Hảo thì giữa năm 2013 hai nhà phê bình văn học Chu Giang và Phong Lê tố cáo rằng luận án của Nhã Thuyên là “phản động chống đảng, muốn lật đổ chủ nghĩa xã hội và đảng cộng sản, rằng Khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội là một ổ phản động” (3). Nếu đúng thế thì kinh khủng thật! Tuy nhiên, tôi đọc bài đầu của ông Chu Giang (4) thì không thấy ông dùng ngôn từ đó. Có thể tôi đọc chưa hết. Riêng ông Phong Lê thì có giải thích về vị trí và vai trò của ông trong việc tấn công Nhã Thuyên:

“Sự thật là thế này: điều ấy tôi biết được qua thành viên chủ trì cuộc họp đó đó là anh Chu Giang. Anh này khảo rất sâu về luận văn đó và anh sâu ngược lên về nhiều chuyện khác nữa và anh viết trên tờ Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh anh đặt vấn đề phải kiềm tra lại Khoa Văn Đại học Sư phạm vì sao lại đào tạo ra cái luận văn như thế. Tôi chưa được đọc trong nội dung ấy tức nhiên là phức tạp, mỗi người một cách đánh giá nhưng tôi nói rằng nếu như nội dung ấy đúng như anh nói thì nó phạm phải một điều mà tôi cho là không thể giải thiêng được và xúc phạm đến Hồ Chí Minh, xúc phạm nhiều chân lý, nhiều điều đáng lẽ phải tôn trọng. Đối với tôi việc giải thiêng Hồ Chí Minh thì tôi không chấp nhận đựơc và tôi nói nếu sự thực như thế thì hội nhà văn nên kiến nghị với Bộ Giáo dục về việc phải xem lại cái nội dung của luận văn đó chứ tôi không bao giờ nói công an cả.”

Thì ra ông chưa đọc luận án của Nhã Thuyên! Điều khó hiểu là ông chưa đọc nhưng ông đã hăng hái viết bài đả kích Nhã Thuyên, thì có vấn đề academic honesty ở đây. (Nó chẳng khác gì tôi chưa đọc bài báo khoa học của BS Nguyễn Văn A, nhưng tôi nghe nói BS A viết thế, và tôi phê bình ông A. Nó chẳng mang tính học thuật chút nào). Nghe thật là vô lí, nhưng đó lại là sự thật. Càng ngạc nhiên hơn khi ông Phong Lê là một giáo sư! Thật ra, đoạn trả lời trên còn nói lên nhiều khía cạnh khác rất đáng nói về tinh thần khoa học và học thuật. Chẳng hạn như ông không chịu nổi “việc giải thiêng Hồ Chí Minh” và thế là tấn công người ta. Tôi nghĩ có thể thông cảm cho ông về cảm tình cá nhân và thần tượng một người nào đó, nhưng đem tình cảm cá nhân của mình áp đặt lên suy nghĩ và tâm tình của người khác thì tôi e rằng không công bằng. Nên tập tinh thần cởi mở và nghe ý kiến trái chiều chứ.

Hình như Voltaire (?) từng nói rằng “Tôi không đồng ý với những gì anh nói, nhưng tôi sẽ bảo vệ đến chết quyền anh được nói điều đó” (I do not agree with what you have to say, but I will defend to death your right to say it). Tôi có thể không đồng ý với những nhận định về nhóm Mở Miệng trong luận án của Nhã Thuyên, nhưng tôi ủng hộ quyền Nhã Thuyên được phát biểu. Tôi thiết nghĩ đó là một tinh thần tự do học thuật, vốn được xem như là một đền thiêng trong các đại học. Trong khi các đại học VN có ước vọng trở thành “đẳng cấp quốc tế” và trong khi nền khoa học xã hội và nhân văn VN còn trong tình trạng “èo uột” mà tự do học thuật bị xâm phạm thô bạo (qua vụ Nhã Thuyên) thì làm sao nói chuyện đẳng cấp quốc tế được?

Thật sự, tôi nghĩ VN cần một thế hệ nhà khoa học mới như Nhã Thuyên. Chị ấy xứng đáng được khen. Không có lí do gì, học thuật hay nhân danh thần tượng, để “ném đá” chị ấy theo phong cách thời Nhân văn Giai phẩm. Những người hăng hái “đánh” đồng nghiệp vào thời Nhân văn Giai phẩm đã sám hối, và nạn nhân đã được phục hồi danh dự. Sẽ rất ngạc nhiên nếu các vị đang tấn công Nhã Thuyên không học được bài học lịch sử, và quan trọng hơn là tinh thần tự do học thuật.
Nguyễn Văn Tuấn
Theo Bauxite Việt Nam


(1) “Tinh thần đại học”, Nguyễn văn Tuấn’s blog

(2) Joseph McCarthy (14/11/1908 – 2/5/1957) là một thượng nghị sĩ của Mĩ. Ông sinh ra ở vùng Trung Tây (Wisconsin) trong một gia đình gồm 9 người anh em theo đạo Công giáo. Có lẽ do nóng lòng gây ấn tượng trong chính trường, nên ông tìm cho mình một “ngọn cờ”, và đó là chống cộng, chống phe tả. Ngày 9/2/1950, ông tuyên bố rằng ông có trong tay 205 quan chức trong Bộ Ngoại giao là đảng viên Đảng Cộng sản Mĩ, gây náo động công chúng một thời gian. Ông này còn tố cáo rất nhiều người khác, kể cả giới giáo sư đại học, là cộng sản hay “thân cộng”. Đến năm 1953 thì ông đụng độ với giới quân đội khi ông điều tra sự “xâm nhập” của cộng sản vào quân đội Mĩ, và thế là giới quân đội phản công với những bài viết và thông tin về những hành động phi chính thống – nếu không muốn nói là dơ bẩn – của McCarthy trong mấy năm qua. Tổng thống Eisenhower lúc đó nghĩ “enough is enough” và tìm cách tống khứ McCarthy ra khỏi chính trường. Nhưng trong vòng vài năm mà McCarthy đã gây tác hại không biết cho bao nhiều người oan ức.

(3) Chính trị hóa khoa học và văn học để ‘đánh’ Nhã Thuyên là không chính danh – Trần Mạnh Hảo

(4) Bài của ông Chu Giang có ở đây: Tiểu luận của Nhã Thuyên – Chu Giang, Tuần báo Văn Nghệ blog

Venezuela, một trong những quốc gia đắt đỏ nhất thế giới

Venezuela, đất nước giàu tài nguyên dầu mỏ, nơi mà đồng đô la được đổi chác trên đường phố với giá cao gấp mười lần so với tỉ giá chính thức, có thể là một trong những nước đắt đỏ nhất thế giới. Hoặc là ngược lại, rẻ nhất thế giới, tùy theo khả năng sở hữu những đồng đô la Mỹ.
Tại thị trường chợ đen hôm qua 28/03/2014, đô la được trao đổi với giá 67 đồng bolivar ăn một đô la, so với giá chính thức là 6,3 bolivar một đô la. Mặc cho một loạt biện pháp linh hoạt hóa việc kiểm soát giao dịch ngoại hối, trong đất nước đang rung chuyển bởi phong trào biểu tình chống đối chính phủ – chủ yếu do nền kinh tế èo uột, hình ảnh dòng người dài bất tận xếp hàng trước các quầy hàng hầu như trống rỗng đã trở nên chuyện dài thường nhật.

Chẳng hạn, một lon nước ngọt có gaz bán trên đường phố giá 25 bolivar, tương đương 3,9 đô la theo hối suất chính thức, nhưng theo tỉ giá chợ đen thì tương đương 0,37 đô la. Một phần ăn đầy đủ bán ra ở McDonald’s giá 200 bolivar, tương đương 34 đô la hay 2,9 đô la tùy theo giá nhà nước hay chợ đen. Tương tự, giá trị một chiếc xe hơi cũ luôn luôn được tính theo giá chợ đen, khiến xe hơi trở thành mặt hàng không thể với tới nổi đối với những người chỉ trả bằng nội tệ.

Biểu tình, bạo động, một cảnh tượng diễn ra hầu như hàng ngày tại Caracas, thủ đô Venezuela, gần một tháng nay. Ảnh chụp ngày 07/03/2014.
Biểu tình, bạo động, một cảnh tượng diễn ra hầu như hàng ngày tại Caracas, thủ đô Venezuela, gần một tháng nay. Ảnh chụp ngày 07/03/2014.

Trong đất nước có trữ lượng dầu lửa hàng đầu thế giới, nền kinh tế chủ yếu là nhập khẩu, nạn khan hiếm hàng hóa ngày càng trầm trọng. Nhà nước kiểm soát chặt chẽ việc trao đổi ngoại tệ, nhưng gần đây đã mềm dẻo hơn đôi chút để tránh việc các nhà đầu tư thoái vốn.

Do các doanh nghiệp thiếu ngoại tệ, hàng hóa trở nên hiếm hoi trên các quầy hàng, khiến lạm phát lên đến 57,3% trong vòng một năm qua – một trong những tỉ lệ cao nhất thế giới.

Cùng với tình trạng mất an ninh tăng cao, tình hình này là một trong những nguyên nhân của các cuộc biểu tình diễn ra trên toàn quốc từ ngày 4/2 đến nay, mà theo con số chính thức đã làm cho 37 người chết và trên 550 người bị thương. Khởi đầu từ giới sinh viên, sau đó phong trào phản kháng được tiếp sức bởi phe đối lập với Tổng thống theo xu hướng xã hội chủ nghĩa Nicolas Maduro.

Các nhà nhập khẩu hàng thiết yếu như thực phẩm, thuốc men…có thể xin mua ngoại tệ từ Ngân hàng Trung ương theo tỉ giá 6,3 bolivar một đô la. Những người khác có thể tìm mua trên hai thị trường song hành khác, nơi đồng đô la được bán với giá từ 10 đến hơn 50 bolivar. Tại một trong hai thị trường phụ đặt dưới sự kiểm soát của Nhà nước mang tên « Sicad 2 », tỉ giá đồng nội tệ so với đô la khá sát với giá thương lượng ngoài thị trường chợ đen.

Với cơ chế thị trường song hành có hiệu lực từ tuần này, chính quyền Venezuela mong muốn « xóa bỏ thị trường đô la chợ đen ». Tuy nhiên 80% ngoại tệ vẫn được tính theo giá chính thức, và hệ thống mới này có vẻ chưa thể mang lại hiệu quả mong muốn.

Tình trạng hiếm hoi ngoại tệ là do chính phủ phải trả nợ nước ngoài, và sản xuất dầu lửa bị trì trệ do thiếu đầu tư. Trong khi đó dầu khí hầu như là nguồn thu nhập duy nhất của Nhà nước, và một phần trong sản lượng dầu được đem tặng cho các nước anh em hoặc bán rẻ, cho vay.

Nhà kinh tế José Guerra, cựu viên chức Ngân hàng Trung ương giải thích với AFP : « Sicad 2 không thể nào đáp ứng được nhu cầu, và những người không mua được đô la đành phải quay sang thị trường chợ đen ». Raul Huizzi, trưởng khoa kinh tế trường đại học Andes nhận xét : « Một số người cho rằng hệ thống này sẽ không bao giờ thỏa mãn hoàn toàn nhu cầu đô la, nhất là do chính phủ rất chậm chạp trong việc chuyển tiền cho nhiều khu vực ».

Nhưng có một yếu tố khác càng làm tăng thêm tính bất ổn : chính quyền vốn sử dụng một cách tùy tiện và không kiểm soát nhiều « quỹ ngoài kế hoạch » trong ngân sách Nhà nước được nuôi dưỡng bằng nguồn lợi từ trên trời rơi xuống là dầu lửa, không bao giờ thông tin về số lượng tiền mặt mình có, cũng như việc bơm vào bao nhiêu ngoại tệ cho thị trường Sicad.

Một người không muốn nói tên thổ lộ với AFP : « Chính phủ quản lý nền kinh tế một cách hết sức thiếu minh bạch, và với hệ thống này cũng sẽ không có gì khác. Hôm thứ Ba tôi xin mua 2.000 đô la, nhưng họ chẳng bán cho tôi đồng nào cả ».

Hệ thống ngoại hối song hành cho phép mua bán đô la tiền mặt hay chuyển khoản, thông qua hệ thống ngân hàng, các cơ sở đổi tiền hay các tư nhân buôn bán ngoại tệ, với giá cả do « quy luật cung cầu » ấn định, theo như quy định hiện hành.

Nhưng đối với những người làm công ăn lương thu nhập trung bình, không có được những đồng đô la do thân nhân từ nước ngoài gởi về, hay do xoay sở làm ăn, Venezuela vẫn là một trong những quốc gia đắt đỏ nhất thế giới. Trong khi đó Nhà nước vẫn hào phóng cấp học bổng và trợ cấp cho những người nghèo nhất, đảm bảo sự ủng hộ của giới bình dân cho đến nay đối với Tổng thống Maduro, người thừa kế của Hugo Chavez.

Thụy My
(RFI)

Chống diễn biến hòa bình : Hiểu đúng về xã hội dân sự ở Việt Nam-Người già và Em bé


Chống diễn biến hòa bình : Hiểu đúng về xã hội dân sự ở Việt Nam

QĐND – Chủ nhật, 30/03/2014 | 22:32 GMT+7

QĐND – Gần đây vấn đề xã hội dân sự (XHDS) được nhiều cá nhân, tổ chức, nhiều hãng thông tấn, báo chí nước ngoài quan tâm, bàn luận. XHDS được cộng đồng quốc tế xem như một nhân tố của xã hội hiện đại và trên thực tế XHDS cũng không phải xa lạ đối với xã hội ta.

 

Luật về quyền lập hội của người dân theo Hiến pháp 2013 tuy đến nay chưa có, song quyền đó cũng đã được bảo vệ bằng nhiều đạo luật và nhiều văn bản dưới luật. Theo thống kê chưa đầy đủ, ở nước ta hiện có 380 hội có phạm vi hoạt động toàn  quốc, liên tỉnh, thành phố (so với 115 hội vào năm 1990); 18 tổ chức công đoàn ngành, 6.020 tổ chức ở cấp địa phương và hàng nghìn hiệp hội, câu lạc bộ hoạt động trong mọi lĩnh vực xã hội.

Ảnh minh họa. Đại biểu Quốc hội ấn nút biểu quyết thông qua dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIII. Nguồn: QĐND Online.

Xã hội dân sự, nói chính xác là các tổ chức XHDS đóng vai trò xây dựng cộng đồng, trợ giúp Nhà nước. Tổ chức XHDS tồn tại không chỉ trong xã hội tư bản mà cả trong chủ nghĩa xã hội. Ở Việt Nam XHDS thấm nhuần về mặt văn hóa cộng đồng, tính đoàn kết, tương trợ và tính đồng thuận xã hội. Tổ chức XHDS có thể đóng vai trò tích cực, là người phản biện đối với chủ trương, chính sách của Nhà nước một cách ôn hòa và có trách nhiệm. Song, thực tế ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng cho thấy, tổ chức XHDS, bao gồm cả các đảng chính trị (không nằm trong hệ thống chính trị Nhà nước) cũng có thể trở thành lực lượng đối kháng với Nhà nước, là nòng cốt cho những cuộc bạo loạn, lật đổ chế độ xã hội, thậm chí có thể kết nối với các thế lực thù địch bên ngoài gây chiến tranh, làm tổn hại đến độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia.

Gần đây, trong các cuộc chính biến ở Trung Đông, Bắc Phi vào cuối năm 2010, mở đầu từ Tuy-ni-di, lan sang Ai Cập, Y-ê-men, Li-bi đến Xi-ry đã thấy rõ vai trò đòn bẩy của các tổ chức phi chính phủ (NGOs) Mỹ và phương Tây. Các đài phát thanh, các kênh truyền hình, cùng với các tổ chức chính trị xã hội đối lập trong nước đã kích động, dẫn dắt những cuộc biểu tình đường phố trở thành làn sóng bạo động, lật đổ chính phủ. Gần đây những sự kiện diễn ra ở U-crai-na, các đảng chính trị, thực chất là các tổ chức XHDS cũng giữ vai trò xung kích. Theo thống kê chưa đầy đủ, ở U-crai-na có tới 180 đảng chính trị. Khi những cuộc biểu tình dẫn đến bạo lực, ngay cả đối với những người phát động nó cũng không thể kiểm soát được tình hình. Những tổ chức phát-xít, tổ chức theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan, theo trào lưu này đã ra đời, dẫn dắt phong trào quần chúng.

Tất nhiên, như người ta thường nói: “Mọi sự so sánh đều khập khiễng”. Ở U-crai-na, có những điểm khác so với Trung Đông, Bắc Phi, thay vì các tổ chức XHDS là các đảng chính trị; thay vì đòi lật đổ chính phủ độc tài, tham nhũng, ở đây người ta đòi lật đổ Tổng thống và Chính phủ vì muốn tăng cường quan hệ với phương Tây. Tuy nhiên, ở các nước, tổ chức, thủ đoạn chính trị, khẩu hiệu và phương thức đấu tranh của các tổ chức XHDS gần như giống nhau: Về tổ chức, các tổ chức XHDS (về chính trị) thường được tạo dựng bởi những nhân vật có quan điểm chính trị đối lập, những người “bất đồng chính kiến” được gọi là “ngọn cờ”. Về thủ đoạn chính trị, các tổ chức XHDS thường dựa vào cơ sở pháp lý quốc gia và quốc tế. Về khẩu hiệu và phương thức hoạt động, các tổ chức XHDS thường tuyên bố mục tiêu của họ là vì quyền lợi của người dân, vì sự tiến bộ của xã hội và chỉ hoạt động “ôn hòa”, “bất bạo động”. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động của họ luôn hướng vào mục tiêu làm xói mòn uy tín, công kích vào chế độ xã hội và Đảng cầm quyền. Đồng thời họ tuyên truyền các quan điểm dân chủ nhân quyền của phương Tây, bất chấp các đặc thù về truyền thống lịch sử, văn hóa và hoàn cảnh chính trị và pháp luật quốc gia.

Những năm gần đây, các thế lực thù địch cũng tìm mọi cách thúc đẩy hình thành thể chế “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam, mà tiền đề là hình thành các tổ chức XHDS chính trị.

Về tổ chức, phương thức hoạt động của họ là lợi dụng không gian kỹ thuật số, dựa vào các tuyên bố, lấy chữ ký ủng hộ, như là một sự cam kết về mặt tinh thần để hình thành tổ chức XHDS ảo. Chẳng hạn tuyên bố về “Phong trào con đường Việt Nam”; “Tuyên bố 258” (tuyên bố của mạng lưới Blogger Việt Nam” nhằm phản đối để Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, đồng thời đòi Việt Nam phải xóa bỏ Điều 258, Bộ luật Hình sự, 1999); “Tuyên bố về thực thi quyền Dân sự, Chính trị”; Tuyên bố ra đời mạng “Diễn đàn xã hội dân sự”… Đáng chú ý gần đây có người đã kêu gọi thúc đẩy nhanh chóng các tổ chức phi chính phủ Việt Nam, kêu gọi móc nối giữa các tổ chức XHDS này với các NGOs quốc tế… Thậm chí họ còn kêu gọi phong trào dân sự cần “nhích thêm một bước”, không chỉ là diễn đàn trên mạng, mà phải hình thành các nhóm công khai trong đời sống theo phương châm ôn hòa, bất bạo động. Việc hình thành một số hội nhóm dân sự là bước đi đầu tiên. Đáng chú ý họ còn tìm cách chia rẽ lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Họ công khai công kích sự lãnh đạo của Đảng, coi Đảng lãnh đạo là chế độ “độc tài toàn trị”, tình trạng tham nhũng là do sự độc quyền lãnh đạo của Đảng… “chỉ có đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có thể chống được tham nhũng”… Thậm chí họ còn nói chỉ có thể chế đa nguyên mới có thể bảo vệ được sự toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc! Cũng có khi họ trắng trợn tuyên bố, mục tiêu của họ là “chuyển hóa hòa bình chế độ toàn trị sang chế độ dân chủ”.

Phương thức hoạt động trước hết họ là lợi dụng quy định của Hiến pháp, các công ước quốc tế về quyền con người thu hút người tham gia, đăng tải bài viết, cổ vũ, thành lập nhóm sáng lập hội, đoàn, đồng thời cổ vũ cho các hoạt động mạng tính “ôn hòa, bất bạo động”. Hiện nay, trên các diễn đàn mạng, họ tập trung đòi quyền tự do ngôn luận, báo chí, đặc biệt là tự do internet, nhằm phát triển tổ chức và phổ cập quan điểm dân chủ, nhân quyền phương Tây. Họ đã cường điệu những sai lầm, khuyết điểm của Đảng, Nhà nước; bôi nhọ, vu cáo nhiều cán bộ lãnh đạo cơ quan, tổ chức, nhất là các cơ quan bảo vệ pháp luật, hòng làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội XHCN.

Tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền lập hội, quyền tự do ngôn luận báo chí… thuộc bản chất của Đảng và Nhà nước ta. Điều này đã được ghi trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, thông qua Đại hội XI, ghi: “Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội” (1). Kế thừa các Hiến pháp trước đây, Hiến pháp 2013 đã Hiến định quyền lập hội tại Điều 2, Chương II: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Mặc dù luật về quyền lập hội theo Hiến pháp 2013 đang trong quá trình xây dựng, song trên thực tế quyền này đã được bảo đảm ở Việt Nam. Nhiều tổ chức XHDS tự nguyện, tự chủ về mọi mặt đã ra đời và có đóng góp tích cực trên các lĩnh vực xã hội, nhất là về nhân đạo, từ thiện, an sinh xã hội. Nhiều tổ chức phi chính phủ nước ngoài cũng đã có mặt tại Việt Nam. Những tổ chức này không chỉ được thừa nhận mà còn được Nhà nước tạo điều kiện giúp đỡ. Theo thống kê, công bố tại Hội nghị quốc tế về hợp tác giữa Việt Nam và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (trong 2 ngày 28 và 29-11-2013 tại Hà Nội) số lượng các tổ chức phi chính phủ quốc tế có quan hệ với Việt Nam lên đến 990 tổ chức vào năm 2013.

Cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta đối với các tổ chức XHDS là minh bạch, rõ ràng: Tôn trọng và trân trọng mọi tổ chức xã hội tự nguyện hướng vào mục tiêu xây dựng xã hội ta trở thành một xã hội văn minh, trong đó các quyền con người và quyền công dân được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Không phủ nhận rằng, Nhà nước ta, xã hội ta còn những khiyếm khuyết, song thực tế cũng cho thấy, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã nhận ra và quyết tâm khắc phục những sai lầm khuyết điểm đó. Bởi vậy, chúng ta không chấp nhận bất cứ ai-cá nhân hay nhóm xã hội nào, giai tầng nào mưu toan lợi dụng quyền được thành lập và hoạt động của cái gọi là XHDS để nhằm mục đích giành quyền lực hay vì quyền lực nhà nước, xóa bỏ chế độ chính trị, tước đoạt thành quả cơ bản của cách mạng Việt Nam gần một thế kỷ qua.

ĐỨC THÀNH

(1) – Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XI, NXB CTQG, HN, 2011, Tr 87

-Người già và Em bé

RFA

Nguyễn Xuân Lãm, sinh viên ở TP.HCM

 

“ Ghế đá công viên, dời ra đường phố
Người già co ro, chiều thiu thiu ngủ
Người già co ro, buồn nghe tiếng nổ
Em bé lõa lồ, khóc tuổi thơ đi
…….”

Đã 13 năm kể từ ngày nhạc sỹ Trịnh Công Sơn qua đời, một khoảng thời gian khá lớn trong tuổi đời đôi mươi của tôi, không  biết tại sao năm nay tôi lại có nhiều xúc cảm khi nhớ về Trịnh Công Sơn qua các tác phẩm của ông để viết lên những dòng suy nghĩ này.

Bài học nhân bản

 

Lúc còn nhỏ, mỗi sáng thức dậy, ba mẹ tôi thường mở băng Cassette  album “Khúc Ca Da Vàng” với giọng hát “Nữ Hoàng Nhạc Trịnh”  ca sỹ Khánh Ly. Trong album đó, với sự thưởng thức âm nhạc non nớt của mình, tôi thích nhất khi nghe bài “Người Già và Em Bé”. Bài hát đối với tôi là một bài học nhân bản nho nhỏ dạy cho mình về những hình ảnh con người đau thương của một đất nước đau thương bị dằn xéo bởi chiến tranh và lòng hận thù.

“Người Già và Em Bé” được nhạc sỹ Trịnh Công Sơn sáng tác năm 1965, khi đất nước còn chìm trong khói lửa. Có lẽ Trịnh Công Sơn đã khóc cho quê hương, cho dân tộc của mình. Hai nhân vật chính: “Người Già và Em Bé”,  hai lứa tuổi dễ tổn thương và đáng được hưởng cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc nhất trong cuộc sống của kiếp người. Khi chiến tranh còn gây đau thương, chết chóc, nghèo đói trên quê hương; số phận cũng như  mạng sống con người mỏng manh như chiếc lá úa trên cành, thì “Người Già và Em Bé” là người phải chịu tổn thương nhất trong cuộc chiến này.

Cứ mỗi lần ra ngoài đường, bệnh viện, công viên, quán ăn… có khi tôi và bạn sẽ gặp rất nhiều người bán vé số. Vào một sáng thứ hai trung tuần tháng ba này, tôi có dịp về quê nhà làm giấy tờ. Trong khi chờ đợi nhân viên công chứng làm việc, tôi ra công viên chờ đợi khoảng 30 phút, lúc đó có chính xác 6 người đến mời mua vé số. Con số đó có lẽ không ngạc nhiên mấy với một đất nước đang phát triển, thiếu việc làm tốt như Việt Nam mình. Nhưng đáng ngạc nhiên và đáng buồn khi trong số 6 người bán vé số đó, có 4 người là trẻ em, 2 người còn lại là một ông cụ và một bà cụ.

Bốn đứa bé bán vé số đó, độ tuổi tôi đoán chừng là học sinh cấp 2. Thiết nghĩ, tuổi của các em bây giờ đáng lẽ ra là đang ngồi trong một ngôi trường cấp 2 nào đó, đang được hưởng một nền giáo dục tốt để chuẩn bị cho cuộc sống tương lai, góp phần lo cho quê hương… Sao giờ này em lại nơi đây? Ba mẹ em đâu? Sau này xã hội sẽ ra sao với những người như các em? Con cái các em sau này sẽ ra sao?… Hạt loạt câu hỏi khó trả lời đối với tôi, thôi đành để cho những nhà chức trách trả lời giùm!

Hạnh phúc ảo tưởng?

Chiến tranh đã kết thúc lâu rồi, tiếng bom đã im, đạn đã nín, ghế đá đã dời vào công viên, đúng nơi của nó, nhưng sao “Người Già và Em Bé” vẫn còn thiệt thòi thế này… “Từng hạt cơm khô trong miếng hững hờ”. Đôi khi chúng ta ngước mặt lên mà quên nhìn xuống, có khi ta thấy cuộc sống, xã hội này, đất nước này quá hạnh phúc, quá êm đềm đến thế. Có một lần tôi hỏi một vị linh mục: Tại sao Việt Nam nằm trong Top 5 các nước hạnh phúc nhất thế giới, trong khi cuộc sống xã hội Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, còn nhiều những cảnh thương tâm, thiếu công bằng đây đó xung quanh chúng ta… Vị linh mục đó mới trả lời: Hạnh phúc ấy, có thể nó chỉ là hạnh phúc ảo tưởng, hạnh phúc của cá nhân… và khi cuộc sống của chúng ta đầy đủ, đầy đủ về vật chất, tinh thần… chúng ta cảm thấy “Hạnh Phúc”… Trong khi chung quanh ta còn nhiều người sống nghèo đói, bất công thì hạnh phúc của xã hội đó chỉ là “Hạnh Phúc của sự Ít Kỷ Cá Nhân” của một đất nước Ảo Tưởng.

Mỗi người điều có một cách cảm nhận về hạnh phúc. Và bạn ơi, niếu hiểu theo cách nói của vị Linh Mục đó, có phải hạnh phúc của chúng ta bao gồm hạnh phúc của người khác và trạng thái trong tâm hồn chúng ta được bình an khi chúng ta làm những việc tốt phải không? Khi công bằng xã hội và tình yêu thương đồng loại còn chưa ngự trị trên quê hương… liệu chúng ta có sống trong một quốc gia hạnh phúc? Liệu chúng ta là những người hạnh phúc thật sự?

Nhạc Trịnh đặc biệt ở chỗ: Càng đơn giản càng hay! Chỉ cần một cấy đàn Guitar hoặc một cây đàn Piano chúng ta có thể thưởng thức hết những tâm tình mà tác giả muốn gửi gấm cho người nghe! Còn khi nghe một bản nhạc Trịnh được hòa âm phối khí cầu kỳ, phước tạp… nghe có vẻ sang trọng và đẳng cấp đấy! Nhưng chính khi đó nó không còn là nhạc Trịnh nữa! Nhạc Trịnh đặc biệt và lạ là ở chỗ đó! Cũng thế! Khi cuộc sống chúng ta phủ đầy xa hoa, thõa mãn cho cho nhu cầu riêng của mình mà quên nhìn xung quanh chúng ta, khi đó có lẽ chúng ta đã chọn sai ý nghĩa cuộc sống của mình! Khi mất tất cả là khi đó cuộc sống không còn ý nghĩa nữa! Hãy nhìn những người trắng tay mà vẫn hạnh phúc, họ sẽ cho ta một bài học quý báu. Khi đất nước này còn những cảnh nghèo khổ, bất công xãy ra thì tôi tin chắc rằng, niếu Trịnh Công Sơn còn sống ngay hôm nay, năm 2014… thì ông sẽ còn sáng tác những bài hát những bài “Người Già và Em  Bé” khác nữa. Cầu chúc cho ông nghỉ ngơi yên hàn trong giấc ngủ nghìn thu!

Sài Gòn 29-3-2014
Nguyễn Xuân Lãm, hiện là sinh viên của một trường đại học tại TPHCM.

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA

NGUYỄN PHÚ ĐỨC, NGUYỄN XUÂN PHONG VÀ NGUYỄN TIẾN HƯNG VIẾT VỀ CÁI CHẾT CỦA ĐỆ NHỊ CỘNG HOÀ

Danquyen

Dân Quyền: Mail trao đổi dưới đây có thể giúp hiểu kỹ hơn về một giai đoạn lịch sử nước nhà.

Thưa các anh chị

Hôm nay, tôi vừa nhận đuọc email của anh Lâm Lễ Trinh, cựu Tổng Trưởng Nội Vụ cũa TT Ngô Đình Diệm viết về cái chết của Đệ Nhị Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.

Anh Lâm Lễ Trinh là một người đàn anh của tôi mà tôi hết sức kính nể vá quý mến.

 

Anh là đàn anh của tôi tại Chasseloup Laubat và anh cũng là đàn anh của tôi trên trường đời. Tôi đã học hỏi nơi anh rất nhiều.

Năm 1954 khi mới 30 tuổi, anh Trinh đã tham gia nội các đầu tiên của Miền Nam Việt Nam.

Cách đây ít tháng anh Lâm Lễ Trinh có ăn lễ sinh nhật 90 tuổi của anh và có mời rất nhiều bạn hữu, con cháu tham dự.

Lúc đó, tôi đang đi lang bang bên Pháp và anh Trinh có gửi qua enail cho tôi 1 số hình chụp trong lễ thượng thọ của anh.

Tôi nhớ trong hình có nhiều bạn của chúng ta như anh chị GS Nguyễn Xuân Vinh, anh chị BS Nông Thế Anh . …

Vợ chồng anh kỹ sư/nhạc sĩ Võ Tá Hân nữa cũng có mặt hôm đó,  trong rất nhiều khách tham dư.

Anh Lâm Lễ Trinh trong suốt 40 năm qua tại Hải Ngoại đã thu thập rất nhiều tài liệu về sự xụp đổ của Miền Nam Việt Nam.

Tính tình anh Trinh hết sức cởi mở và phóng khoáng nên anh Trinh giao thiệp hết sức nhiều người và thu thập dược nhiều tài liệu classified do lòng tin cậy của các nhân vật được phỏng vấn.

Bài này anh Lâm Lễ Trinh viết cách đây vài năm dựa trên những đàm thoại và những hồi ký của các ông Nguyễn Phú Đức, cựu Tổng Trưởng Ngoại Giao, ông Nguyễn Xuân Phong cựu Tổng Trưởng Dân Vận, Quốc Vụ Khanh và Trưởng Phái Đoàn Hòa Đàm Ba Lê và ông Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng Trưởng Kế Hoach của chính phủ 2 tuần lễ của Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn và của nhiều người khác nữa.

Trong bài viết này anh Lâm Lễ Trinh cũng nhắc đến vai trò của một người mà tôi quý mến là anh Hoàng Đức Nhã là người thân tín của TT Nguyễn Văn Thiệu, và sự đụng chạm giữa Hoàng Đức Nhã và Henry Kissinger cùng ĐS Bunker trong giờ phút 25 của Miền Nam Việt Nam.

Trong Hồi ký của Kissinger, ông ta cũng có nhắc đến việc anh Nhã xử thế “thiếu lịch sự và lễ nghi ngoại  giao”  với ngoại trưởng và người đại diện Tổng Thống Hoa Kỳ.

Thật tình ra, nếu tôi ở địa vị của Nhã , thì tôi cũng không thể nào giữ được lịch thiệp hay lễ phép với  một đồng minh đi đêm với phe bên kia mà ngoài mặt vẫn giả dối bảo vệ chúng ta.

Tôi nhớ cách đây gần 2 năm khi nói chuyện với anh Hoàng Đức Nhã về việc đụng dộ với Kissinger lúc đó, anh Nhã nói với tôi , “thú thật lúc đó chiều lái xe về nhà, lúc nào cũng lo sợ bị thủ tiêu dưới một hình thức tai nạn lưu thông ngụy trang hay ám sát khác ”.

Bài viết đính kèm phía dưới  email này, anh Lâm Lễ Trinh đã viết bài này cách đây ít lâu và có được bổ túc thêm.

Tuy chúng ta không tìm được hết tất cả những câu trả lời những ám ảnh trong óc chúng ta mấy chục năm nay, nhưng chúng ta cũng biết được ít nhiều về cái không khí chính trị ngột ngạt trong thời gian cuối của Đệ Nhị Cộng Hòa.

Tôi nghĩ học giả Lâm Lễ Trinh sẽ còn cho chúng ta những bài viết về lịch sử cận đại vô cùng giá trị trong môt tương lai gần.

Merci anh Trinh. Tu es très gentil. Mes meilleures pensées à chi Trinh

Nay Kính

Nguyễn Thượng Vũ

 

*****************************************************************************************************************************

 

NGUYỄN PHÚ ĐỨC, NGUYỄN XUÂN PHONG VÀ NGUYỄN TIẾN HƯNG
VIẾT VỀ CÁI CHẾT CỦA ĐỆ NHỊ CỘNG HOÀ

Lâm Lễ Trinh

“We betrayed you”
(W.Westmoreland)

Từ ba thập niên nay, không đợi đến ngày 30 tháng tư trở lại mới có thêm tài liệu giải mật được phổ biến từ ba phiá Mỹ, Cộng sản và Quốc gia liên hệ đến giai đọan hấp hối của chính phủ Nguyễn Văn Thiệu kết thúc bằng cuộc tháo chạy của Hoa kỳ năm 1975. Về cánh quốc gia, người viết bài này may mắn gặp lại và phỏng vấn một số nhân vật chính yếu trong cuộc như cố Tổng thống Thiệu, đại tướng Cao Văn Viên (tác giả của The Final Collapse và Những ngày cuối cùng của VNCH), ngọai trưởng Trần Văn Lắm trước khi ông qua đời tại Úc, bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, nguyên chủ tịch phái đoàn VN tại Hội nghị La Celle Saint Cloud và ông Nguyễn Xuân Phong, cựu Quốc vụ khanh phụ trách đàm phán tại Paris, thay thế đaị sứ Phạm Đăng Lâm sau tháng giêng 1973. Những bài phỏng vấn vưà kể được đưa lên internet và đăng trên báo.
Người viết cũng có dịp đọc qua và so sánh các dữ kiện trình bày trong năm quyển hồi ký của ba nhân chứng còn sống: Pourquoi les Eùtats-Unis ont-ils perdu la guerre? (nxb Godefroy De Bouillon, Paris 1996) và The VN Peace Negotiations, Saigon’s Side of the Story (nxb Arthur J Dommen,VA, 2005) của Nguyễn Phú Đức; Hope and Vanquished Reality (nxb Xlibris Corp., NY, 2001) của Nguyễn Xuân Phong; Hồ sơ Mật Dinh Độc lập (viết chung với Jerrold Schecter, nxb The C &KissingerPromotions Inc., LA , 1986) và Khi Đồng minh tháo chạy (nxb Hưá Chấn Minh, 2005) của Nguyễn Tiến Hưng. Gs Đức hiện đã về hưu sau khi dạy luật năm 1975 taị ESSEC, École Supérieure des Sciences Économiques et Commerciales, Paris, còn hai ông Phong và Hưng thì định cư ở Hoa kỳ, người đầu là chuyên viên nghiên cứu ở Trung tâm VN Center, Lubbock, Texas Tech University, và người sau dạy tại Đại học Howard, Washington.
Phạm vi hạn hẹp của bài này không cho phép đi sâu vào chi tiết diễn tiến của những cuộc đàm phán mật và công khai của các phái đoàn tham nghị, đặc biệt giữa Kissinger và đại diện Bắc Việt, kéo dài từ 25.3.1965 (là ngày Tổng thống Lyndon Johnson tuyên bố sẳn sàng nói chuyện hoà bình với CS ) cho đến 27.1.1973 là ngày ký Hiệp định Paris. Người viết sẽ phân tích vai trò thật sự của ba tác giả nêu trên, các đặc điểm trong những hồi ức của họ và bối cảnh hỗn loạn ở Miền Nam VN vào tháng tư 1975.

Chính sách tóm thu quyền bính và bố trí nhân sự của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Từ ngày đảo chính 1.11.1963 lật đổ Đệ nhứt Cộng hòa cho đến 1967 là năm ban hành Hiến pháp Đệ nhị Cộng hòa, Chính phủ Quân nhân cai trị thiếu căn bản pháp lý nên Miền Nam VN biến lọan liên tiếp. Tháng 5.1967, Hoa kỳ thúc Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia và Ủy ban Hành pháp Trung ương tổ chức bầu cử hai ngành Hành pháp và Lập pháp. Mười liên danh tranh chức Tổng thống và Phó Tổng thống. Liên danh Quân đội Thiệu-Kỳ đắc cử. Trong vòng hai năm, TT Thiệu củng cố địa vị, vô hiệu hoá Hội đồng Giám sát của Tướng lãnh, cắt lông cắt cánh Phó Tổng thống Kỳ và ngày 1.9.1969, thay thế con gà yểu số của Kỳ là Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc bằng Nội các Trần Văn Hương do Thiệu kiểm soát hoàn toàn. Năm 1971, Thiệu độc diễn và đắc cử dễ dàng nhiệm kỳ hai với “chính sách 4 không” : không liên hiệp, không hoà giải hoà hợp với CS, không nhượng đất và không trung lập.
Qua trung gian hai Pháp kiều Raymond Aubrac (bạn thân của Hồ Chí Minh) và Herbert Marcovich (một khoa học gia), giáo sư Kissinger (K) tổ chức cho Averell Harriman, đại diện Hoa kỳ, gặp ngày 10.5.1968 ngoại trưởng Xuân Thủy, có Hà Văn Lâu dự kiến và Lê Đức Thọ cố vấn. Khi chính thức trở nên Phụ tá an ninh cho Nixon,Kissinger nhờ Jean Sainteny, nguyên đại diện cho Pháp taị Bắc Việt (1945-1947), sắp xếp cho y gặp riêng ngày 4.8.1969 Xuân Thủy taị tư thất của Sainteny, đường Rivoli, Paris. Năm 1971, cuộc thương thuyết công khai bắt đầu. Hoa Thịnh Đốn ép Chính phủ Sàigòn chấp nhận sự tham gia của Mặt trận Giải phóng Miền Nam, (MTGPMN). Hoa đàm dẩm chân khá lâu vì bốn phe nghị hội: Mỹ, VNCH. Bắc Việt và MTGPMN tranh luận về thủ tục và kèn cựa mặc cả. Bắc Việt áp dụng chiến thuật vưà đánh vừa đàm vì biết người khổng lồ Hoa kỳ với đôi chân đất sét thiếu kiên nhẩn và bị cánh phản chiến trong nước khoá tay. Chiến cuộc trở nên khốc liệt với biến cố Tết Mậu thân (1968). Ngày 2.3.1971, Việt cộng pháo kích Sàigon, Đà nẳng, Biên Hoà và 115 chổ. Ngày 9.7.1971, để gây áp lực với Bắc Việt, Kissinger qua Bắc kinh viếng Chu Ân Lai và chuẩn bị cuộc gặp mặt đầu năm 1972 giữa Nixon và Mao Trạch Đông. CS tổng tấn công vào lễ Phục sinh, lối năm tuần sau chuyến công du của Nixon taị Bắc kinh. Ngày 8.5.1972, Nixon ra lệnh gài mìn Hải phòng và dội bom Bắc Việt.
Để đối phó với tình hình bên trong và bên ngoài, Tổng thống Thiệu cẩn thận sắp xếp một Bộ tham mưu quân chính gồm những thành phần tin cẩn, dựa vào sự trung thành cá nhân hay huyết thống gia đình, bất chấp dư luận dèm pha. Về quân sự, Tổng tư lệnh Quân đội N V Thiệu nắm hết quyền bính trong tay, Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên chỉ đóng vai trò tuân hành và thị chứng. Bộ Quốc phòng là “hộp thơ” giữa Tổng thống và Bộ Tổng tham mưu. Thiệu chọn trung tướng Đặng Văn Quang, cựu Tư lệnh Quân đoàn 4, làm Phụ tá an ninh. Ông bổ nhiệm vào chức Tư lệnh vùng hay sư đoàn trưởng Nguyễn Văn Toàn, Phạm Văn Phú, Ngô Dzu, Đổ Kiến Nhiểu, Hoàng Đức Ninh.. Với một hệ thống máy truyền tin đặt taị Dinh Độc lập, Tổng thống liên lạc thẳng với cấp chỉ huy Quân khu và theo dõi sít sao việc điều động các đơn vị tác chiến hầu ngăn chận mọi mưu toan đảo chánh. Nhiều thân nhân của ông Thiệu nắm giữ các cơ cấu chính quyền như hai anh ruột là Nguyễn Văn Kiểu (đại sứ ở Đài loan) và Nguyễn Văn Hiếu (đại sứ taị La mã); xui gia Nguyễn Tấn Trung (TGĐ Air VN), Ngô Xuân Tích (chủ tịch Giám sát viện), Ngô Khắc Tỉnh (Tổng trưởng,Thông tin rồi Giáo dục và Thanh niên), Ngô Khắc Tịnh (Tổng trưởng Tư pháp), cháu Hoàng Đức Nhã (Bí thơ đăc biệt rồi Tổng ủy Dân vận và Chiêu Hồi), em cột chèo Nguyễn Xuân Nguyên (bí thơ,), Nguyễn Khắc Bình (Tổng giám đốc Cảnh sát kiêm đặc ủy trưởng Trung ương tình báo)..v..v..Là đảng viên Cần lao thời Đệ nhứt Cộng hòa và Đại Việt, TT Thiệu trọng dụng một số nhân vật chế độ củ hay đảng phái trong Thượng viện hoặc bộ máy chính trị như các ông Nguyễn Văn Hướng (tự Mười Hướng), Nguyễn Văn Ngải, Trần Trung Dung, Trần Chánh Thành, Trần Văn Lắm, Lê Văn Đồng, Phạm Như Phiên, Trần Hữu Phương.. (hai ông Lắm và Thành có lúc được bổ nhiệm Tổng trưởng Ngoại giao). Tại Quốc hội, các phe nhóm chống Chính phủ lần hồi bị vô hiệu hoá bằng sự chia rẻ nội bộ, đàn áp, mua chuộc, không kể việc xâm nhập của Cộng sản. Đa số thẩm phán Tối cao Pháp viện bị Phủ Đầu Rồng chi phối nghiêm trọng.
Vì biết khả năng của mình giới hạn, ông Thiệu – theo Ngô Khắc Tỉnh nói với người viết – chiụ khó hỏi ý kiến của nhiều chuyên viên, phân tích kín đáo và đúc kết lại thành ý kiến riêng để lấy quyết định cuối cùng. Với bẩm tánh đa nghi, kiên nhẩn chiụ đựng, và khi cần, chấp nhận khổ nhục kế, ông Thiệu đã gở nhiều thế bí trong cuộc tranh quyền với Kỳ. Cuối cùng, Kỳ bị loại vì ba hoa hơn mưu lược. “Làm chính trị, phải lì,” ông Thiệu nói.
Trong lúc đàm đạo thân tình, người viết có dịp hỏi đại tướng Cao Văn Viên: “Nếu
sánh hai ông Diệm và Thiệu thì người nào độc tài hơn ?”. Suy nghĩ một phút, tướng Viên đáp: “Ông Thiệu độc tài trong dân chủ, ” ngụ ý TT Thiệu khôn ngoan che lấp độc tài dưới võ ngoài dân chủ. Khác với TT Diệm, ông chấp nhận sự chỉ trích khi cần thiết. Nhờ thế, ông Thiệu tồn tại lâu hơn ông Diệm.
Dư luận thắc mắc vì sao, từ 1972, Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên buông xuôi và Thủ tướng Trần Thiện Khiêm giữ thái độ bất động? Nghị sĩ Trần Văn Đôn ghi như sau nơi trang 430-431 của hồi ký Việt Nam Nhân chứng (1989): “…Ông Thiệu nghĩ rằng hai tướng Viên và Khiêm không có can đảm phiêu lưu làm đảo chánh, nhất là không có lịnh của Mỹ…..Năm 1971, TT Thiệu nhờ tôi nói với đại tướng Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, về việc ông này cứ ở mãi trong văn phòng, không chiụ đi ra ngoài. Ông Viên trả lời: Tôi đã xin từ chức mấy lần mà ông Thiệu không chấp thuận nên tôi cứ ở văn phòng làm việc mà thôi!” Nơi trang 429, Đôn ghi thêm: “ Tôi hỏi ông Thiệu: Nếu Tổng thống không bằng lòng về hai ông Viên và Khiêm thì sao không đổi người khác để làm việc hữu hiệu hơn? Ông Thiệu đáp: Hai người này của Mỹ, nếu tôi đổi hai người này thì Mỹ sẽ phản đối, tôi sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc lãnh đạo Miền Nam. Cái khó khăn của tôi ai cũng nghĩ là đối đầu với Cộng sản. Thật ra trở ngại và khó khăn cho tôi là Mỹ.”
Điều mà Ns Đôn quên nêu ra là cả hai tướng Khiêm và Viên từng tuyên bố “không ham thích chính trị.” TT Thiệu tìm đâu ra những nhân vật “lý tưởng hơn” để tránh sự cạnh tranh về quyền lực?

Nguyễn Phú Đức, Nguyễn Xuân Phong và Nguyễn Tiến Hưng: Ba nhân chứng, ba giai đọan, ba trách vụ.
Như đã ghi trên, cuộc đàm phán tại Paris gồm có ba giai đọan liên tiếp: mật đàm (từ 25.3.1965 cho đến đầu 1968), đàm phán công khai (từ 1968 cho đến 27.1.1973 là ngày Hiệp ước hoà bình được ký tại Paris) và giai đọan thi hành Hiệp ước, (từ 27.1.1973 cho đến 30.4.1975, kết thúc bằng sự vi phạm của Bắc Việt) .
Chính phủ VNCH không liên hệ đến giai đọan mật đàm. Năm 1965 và 1966, Kissinger qua Sàigòn với tư cách chuyên gia tư vấn của Thống đốc Nelson Rockefeller (Dân chủ) tìm hiểu vấn đề VN. Y tiếp xúc với vài nhân vật đối lập như Trần Văn Tuyên, Phan Huy Quát,và thẩm lượng (bi quan) khả năng lãnh đạo của các tướng trẻ Jeunes turcs. Năm 1968, Nixon đắc cử Tổng thống. Kissinger mau lẹ xoay qua cố vấn chủ mới Cộng hòa. Kissinger say mê ánh đèn sân khấu và thích thú đi đêm với Hà nội. Từ tháng 8.1969 cho đến cuối tháng giêng 1973, Kissinger gặp riêng Lê Đức Thọ, Cố vấn phái đoàn Bắc việt, lối 15 lần ở Choisy- Le -Roi hay Gif -sur –Yvette (taị tư thất khoa học gia Trần Thanh Vân, em cùa linh mục Trần Thanh Giản)
Khi đàm phán tiến vào giai đọan công khai, TT Thiệu giao cho Ngoai trưởng Trần Chánh Thành phụ trách. Trần Văn Lắm thay thế Thành sau cuộc hội kiến Johnson-Thiệu ở Honululu ngày 18.7.1968. Tại Paris, đại sứ Phạm Đăng Lâm hướng dẫn phái đoàn VNCH, gồm có Nguyễn Xuân Phong, (Phó trưởng đoàn), Trần văn Ân, Trẩn Văn Đổ, Nguyễn Quốc Định, Nguyễn Đắc Khê, Nguyễn Ngọc Huy, Nguyễn Ngọc An, Nguyễn Thị Vui, và Nguyễn Triệu Đan (phát ngôn viên). Cố vấn Kỳ và vợ gây nhiều tai tiếng taị Thủ đô Ánh sáng. Tiến sĩ Nguyễn Phú Đức, phụ tá ngoại giao cho TT Thiệu, đóng một vai trò kín đáo, khiêm nhường bên sau hậu trường còn Gs Nguyễn Tiến Hưng thì chưa tham chính lúc đó.
Hiệp định Paris được thi hành ra sao? Sau ngày 27.1.1973 ký xong Hiệp định Paris, Trần Văn Lắm trở về Thượng viện để giữ chức Chủ tịch, nhường ghế Ngoại trưởng cho Phụ tá Nguyễn Phú Đức. Phó thủ tướng Nguyễn Lưu Viên được chỉ định làm trưởng đoàn VNCH taị Hội nghị La Celle Saint Cloud để chuẩn bị cuộc bầu cử tại Miền Nam VN với chính phủ MTGPMN. Bs Viên, về sau, tiết lộ với người viết: “Chúng tôi biết trước Hội nghị La Celle Saint Cloud không đi đến đâu, chỉ có tác dụng câu giờ, mọi vấn đề sẽ giải quyết trên chiến trường.” Hai ông Nguyễn Xuân Phong và Nguyễn Tiến Hưng tham gia Nội các vắn số Nguyễn Bá Cẩn, thành lập ngày 14.4.1975, vào lúc Chính Phủ Sàigòn sập tiệm, người đầu trong chức Quốc vụ khanh đặc trách Hoà đàm (thay thế đại sứ Phạm Đăng Lâm) và người sau, trong chức Tổng trưởng Kế hoạch. Dưới danh xưng này, Hưng được TT Thiệu động viên (tuyệt vọng) vào giờ thứ 25 sang Hoa kỳ van xin cứu viện. Nhiệm vụ của bs Nguyễn Lưu Viên và Đs Nguyễn Xuân Phong chỉ có trên giấy tờ vì Bắc Việt từ chối nhóm họp và ào ạt xua quân thôn tính Miền Nam, bất chấp các điều ký kết.

Vai trò đặc biệt của hai cố vấn Huỳnh Văn Trọng và Hoàng Đức Nhã
Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu từng gây xôn xao trong quần chúng bởi xử dụng một số nhân vật tai tiếng như Nguyễn Cao Thăng, Vũ Ngọc Nhạ, Nguyễn Văn Ngân, Huỳnh Văn Trọng, Hoàng Đức Nhã…Ba cố vấn của Thiệu bị điều tra, cách chức hay đưa ra Toà: Trọng, Nhạ (tình báo CS) và Ngân (xây dựng uy thế riêng). Bài này chỉ đề cập đến Trọng và Nhạ vì cả hai liên hệ đến hoà đàm Ba Lê.
A- HÙYNH VĂN TRỌNG.
Năm 1958, khi người viết phụ trách Bộ Nội vụ thời Đệ nhứt Cộng hòa, Bernard
Hùynh Văn Trọng (Pháp tich và công giáo) bị Đoàn công tác đặc biệt Miền Trung lùng bắt trong vụ mệnh danh Gián điệp Tây ở Nhà hàng Morin, Huế. Y thoát được qua Nam Vang và tại đây, móc nối với Ca Văn Thỉnh, trưởng đoàn đại diện thương mại CS Bắc Việt. Trọng có bằng cử nhân luật, thông thạo Pháp – Anh ngữ, từng làm thẩm phán ở Huế và năm 1950 giử chức Tổng thơ ký Chính phủ và Bộ trưởng Nội vụ trong Nội các Nguyễn Phan Long. Sau chính biến 1963, D V Minh thả bưà bải tù nhân chính trị. Trọng trở về Sàigòn và tham gia cụm tình báo chiến lược A22 do Vũ Ngọc Nhạ phụ trách. Để sinh sống, Trọng dạy tiếng Pháp cho nhân viên ngoại giao Mỹ và nhờ cha Trần Ngọc Nhuận giới thiệu với TT Thiệu. Y được Thiệu tin dùng và bổ nhiệm phụ tá Tổng thống về chính trị, ngoại giao. Đầu 1969, vợ Trọng đến Văn phòng luật sư của người viết, đường Hàn Thuyên, nhờ biện hộ trước Toà Nhà phố trong vụ bị đuổi ra khỏi một khách sạn đường Lê Lợi Sàigòn vì thiếu tiền thuê nhiều tháng. Trọng nói không dư dã tiền bạc tuy có chức vụ cao.
Tháng 11.1969, vụ án Điệp báo Cố vấn TT Thiệu gây chấn động dư luận. Trọng nhờ tác giả bài này bênh vực trước Toà án Quân sự vùng 3 Chiến thuật. Trọng tiết lộ với người viết rằng y và cụm trưởng Vũ Ngọc Nhạ muốn giúp TT Thiệu tìm ra với MTGPMN một giải pháp cho cuộc chiến, không ngờ CIA theo dõi và phá vỡ mọi việc. Trọng còn cho biết năm 1968, để chuẫn bị hoà đàm taị Ba Lê, TT Thiệu đã gởi Trọng cùng đi với linh mục gốc Bỉ Raymond de Jeagher (cựu cố vấn của TT Diệm và một thành viên năng động trong Liên Minh Á châu chống Cộng) qua Hoa kỳ vận động với Quốc hội, báo giới và nghiệp đoàn. Chuyến công du này không gặt nhiều kết quả vì, theo Trọng, dư luận Mỹ chán ngán chiến tranh.
Vụ án kết thúc ngày 29.11.1969. H V Trọng rất sợ bị tử hình. Người viết khuyên y bình tỉnh vì bên trong sân khấu chính trị, những dàn xếp bât ngờ có thể xảy ra, Hoa kỳ còn một số phi công tù binh tại Hà nội Hilton; hơn nửa, trong vụ này, Trọng chỉ đóng vai trò “Lê Lai cứu chúa.” Vị Chánh thẩm cho phép các bị can nói lời chót trước khi tuyên án. Vũ Ngọc Nhạ cường điệu tuyên bố nhóm của y hành động vì quyền lợi quốc gia, họ tin sẽ thắng và hẹn có ngày trở về vinh quang. Trọng lên tinh thần, ngổ ngáo lập lại trước Toà câu nói của người viết: “Tôi chỉ đóng vai trò Lê Lai cứu Chúa, tôi không có tội.” Các sự kiện này được kể lại trong quyển hồi ký Ông Cố vấn do CS xuất bản năm 1984 tại VN, với nhiều khoản thêu dệt. Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thuý và Nguyễn Xuân Hoè bị chung thân khổ sai, đày đi Côn Đảo. Sau 1975, chúng dược CS giải thoát. Nhạ thăng Thiếu tướng, ngành tình báo.

B- HOÀNG ĐỨC NHÃ.
Tuy không phải là thành viên của phái đoàn VNCH dự hoà đàm tại Ba Lê, Nhã là người gây bực bội nhứt cho Kissingertrong nhiều lần chạm trán. Trần Văn Đôn (trong hồi ức VN Nhân chứng, trang 406- 415), Nguyễn Phú Đức (trong quyển sách The VN Peace Negotiations, trang 400-403) và Kissinger (trong Ending the VN War, trang 310) đề cập nhiều đến Nhã. N P Đức cho biết Nhã là cháu kêu ông Thiệu bằng cậu, tốt nghiệp đại học Oklahoma, trở về VN trong Khối chuyên viên, tiến thân rất mau trong các chức vụ liên tiếp: thông dịch viên, Bí thơ tin cẩn của Tổng thống và cuối cùng, Tổng ủy Dân vận/Chiêu hồi, phụ trách sau Hiệp ước Ba Lê mạng lưới Thông tin Quốc ngoại có nhiều quyền lực. Ảnh hưởng của Nhã gia tăng từ tháng 8.1972 (khi Kissinger đề nghị Thiệu từ chức hai tháng trước ngày bầu cử với CS) và tăng cao hơn sau ngày Hiệp ước được ký cuối tháng giêng 1973. Nhã luôn luôn có mặt trong các buổi họp riêng giữa Thiệu và Kissinger, Haig và Bunker cũng như trong những phiên nhóm Hội đồng An ninh Quốc gia để thông dịch vì Phó Tổng thống Nguyễn Văn Hương, Chủ tịch Thượng viện Nguyễn Văn Huyền và Hạ viện Nguyễn Bá Lương không rành Anh ngữ. Theo N P Đức, Nhã thiếu kinh nghiệm và sự già giặn để thảo những công văn ngoại giao trao đổi giữa hai chính phủ Mỹ-Việt. Nhã nuôi nhiều cao vọng chính trị và trong những ngày tháng chót của TT Thiệu, Nhã tìm cách gài phe cánh vào Nội các tuy họ thiếu khả năng. Điều này làm cho chính gia quyến ông Thiệu cũng lo ngại, đặc biệt Ngô Khắc Tỉnh và đại sứ Nguyễn Văn Kiểu (trang 403).
Trong Ending the VN War, Kissinger viết như sau: “Nhã là cháu tâm phúc của Thiệu, lối 30 tuổi, phụ tá báo chí, từng du học taị Hoa kỳ, tiêm nhiểm gương thành công của các chàng trẻ lanh lợi trong phim xi-nê, ăn bận đúng mốt Hollywood, tướng mạo hao hao giống Alan Ladd thời thanh xuân, nói tiếng Anh trôi chảy và vẫn giữ lại từ bản gốc Việt Nam một khả năng mưu loạn vô biên, an infinite capacity for conspiracy… Bunker và tôi đều đồng ý rằng Nhã đã gây nhiều rắc rối bằng cách thổi phồng mổi sự hiểu lầm” (trang 310).
Kissinger hậm hực kể lại trong hồi ký thái độ “bất nhã” của Nhã: ngày 19.10.1973, theo lệnh của Nixon, Kissinger qua Sàigòn trình TT Thiệu taị Dinh Độc lập toàn bản dự thảo Thoả hiệp. Sau khi bắt đợi 15 phút, Nhã ra đón Kissinger và Bunker vào, Thiệu không có một lời xã giao, thản nhiên đọc và không phê bình bức thơ riêng của Nixon do Kissingertrao lại, xong Thiệu mời hai vị khách bước sang phòng kế bên để gặp Hội đồng An ninh Quốc gia. Giữa bầu không khí nặng nề, Thiệu giao cho Nhã thông dịch mặc dù phiá VN nói được tiếng Anh. Kissinger viết: Nhã “bắt đầu chế diễu vai trò của mình” bằng cách chỉ tóm lược gần phân nửa lời thuyết trình của Kissinger. Khi Kissinger lưu ý về điểm này, Nhả đáp ngáo ngổ: “ I am a master of contraction, Tôi là bậc sư về khoa cắt ngắn!” Ngày 21 tháng 10, theo chương trình, Kissinger và Bunker gặp lại Hội đồng An ninh lúc 2 giờ 30 trưa. Đợi đến 3 giờ, Nhã điện thoại để thông báo – không cho biết lý do, không xin lổi – phiên nhóm hoãn đến 5 giờ chiều. “Y hịch theo kiểu cách của Humphrey Bogart mà có lẽ Nhã đã học đòi đâu đó trên màn ảnh.” 5 giờ 30, vẫn không tin tức. Bunker bực mình gọi Dinh Độc lập, đòi nói chuyện với Nhã, Văn phòng đáp Nhã vưà bước ra ngoài. Một giờ sau – tức là trể gần 5 giờ theo ước hẹn – Nhã điện thoại báo tin TT Thiệu sẽ tiếp Kissinger và Bunker hôm sau lúc 8 giờ sáng. Bunker bắt bẻ: “Có sự chậm trể ít nửa 24 giờ, giờ Hoa Thịnh Đốn!” Nhã gát điên thoại. Kissingervà Bunker hỏi nhau: “Những hành vi xấc xược này phải chăng báo hiệu một vụ chạm trán sắp đến? Về vấn đề gì? “Hoàng Đức Nhã hiện ở Chicago. Đến nay, ông chưa kể lại đầy đủ những kỷ niệm cá nhân. Mong được nghe thêm tiếng chuông chân thực của một nhân chứng về giai đọan lịch sử này.

Những đặc điểm trong hồi ký của ba tác giả
1- Về Ts Nguyễn Phú Đức, hiện định cư ở Paris, tốt nghiệp trường luật Hànội và
Harvard, cựu Phụ tá Tổng thống về quốc ngoại và Tổng trưởng ngoại giao VNCH sau Hiệp ước Ba Lê, Kissinger phê bình châm biếm: “Ông Đức là một sản phẩm mỹ lệ của hệ thống giáo dục Pháp, chuyên định nghĩa trừu tượng, kết luận lạc đề và có tài cãi bướng.” Trong lời tựa của VN, Pourquoi les Eùtats-Unis ont perdu la guerre xuất bản 21 năm sau ngày Sàigòn thất thủ, ông Đức thanh minh rằng ông cần đợi thời gian lắng đọng để phân tích thanh thản cuộc chiến VN. Quyển sách này dày 410 trang, viết bằng tiếng Pháp, chia thành năm phần mổ xẻ chính sách Hoa kỳ tại Đông Dương sau Đệ nhị thế chiến, sự can thiệp của Mỹ vào VN, việc Mỹ chuẫn bị rút quân, kế hoạch Nixon và những ngày cuối của Miền Nam. Phần chót dài 66 trang, không đi sâu vào chi tiết cuộc hoà đàm Ba Lê. Đầu năm 2005, Ts Đức cho phát hành tại Virginia, Hoa kỳ, quyển hồi ký thứ hai, The VN Peace Negotiations, Saigon’s Side of the Story, nxb Dalley, dày 463 trang, gồm có ba phần: mở đầu hoà đàm 1968-1969, những khúc quanh thương thuyết và chiến tranh chấm dứt 1973-1975.
Cố vấn Nguyễn Phú Đức tháp tùng Tổng thống Thiệu ngày 18.7.1968 hội kiến với Lyndon Johnson tại Honululu (Mỹ hứa không áp đặt một chính phủ liên hiệp taị Miền Nam VN) và ngày 8.6.1969 gặp Richard Nixon tại Midway (Mỹ tuyên bố rút 25,000 quân). Mỗi lần, phái đoàn VNCH gồm có vài chuyên viên khác. Ngày 29.11.1972, Ts Đức được phái qua Hoa Thịnh Đốn trình với Nixon quan điểm của TT Thiệu hầu tránh hoà đàm Ba Lê bế tắc. Ông không có trách nhiệm trực tiếp thương thuyết taị bàn hội nghị. Nói cách khác, ông là một luật gia phụ trách phần “đấm bóp thời cuộc” hơn là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Tuy nhiên, một số nhận xét của ông vẫn có giá trị. Đặc biệt, thay vì dùng danh từ vietnamization, Việt nam hóa chiến tranh, Ts Đức đề nghị chữ de-americanization, kế hoạch giải kết vai trò chiến đấu của Hoa kỳ, nhằm mục tiêu võ trang một quân đội quốc gia VN đủ mạnh để giúp Mỹ rút quân tuần tự. Ngoài ra, về mối liên hệ giữa Kissinger và Nixon, Ts Đức nhận xét rằng Nixon không tin dùng Bộ Ngoại giao, nhưng đồng thời cũng bực bội không ít về cách tự đề cao ba hoa của Kissinger với báo giới, tự cho mình là một “phù thủy hoà bình, a peace magician,” đặc biệt sau chuyến công du bí mật của y qua Bắc kinh, làm lu mờ vai trò của Nixon về mặt đối ngoại. Tại sao Nixon không hãm bớt Kissinger? Nixon không quên Kissinger đã phản Rockefeller và Đảng Dân chủ để giúp Nixon (Cộng hòa) thắng cử năm 1968. Bởi thế, Nixon ngán Kissinger có thể trở cờ một lần nữa vì quyền lợi cá nhân (trang 337-338). Sau hết, Ts Đức lưu ý: Khác với Eisenhower từng mời thượng khách Ngô Đình Diệm đọc diễn văn tháng năm 1957 trước lưỡng viện Quốc hội Hoa kỳ, hai Tổng thống Johnson và Nixon đều tránh tiếp chính thức ông Thiệu taị thủ đô Washington, viện lẽ sợ phe phản chiến biểu tình. Sau Hiệp định Ba Lê, Nixon miễn cưởng mời vợ chồng TT Thiệu qua San Clemente, tiếp taị tư thất La Pacifica, để an ủi xã giao. Nixon và Thiệu gặp nhau ba lần. Nixon đã gởi Thiệu trên 20 mật thơ hứa hưu, hưá vượn.

2- Ông Nguyễn Xuân Phong, tốt nghiệp đaị học Oxford, nguyên Tổng trưởng
Xã hội và Chiêu hồi, thay thế đại sứ Phạm Đăng Lâm sau 3.2.1973 trong chức vụ Trưởng đoàn VNCH tại hoà đàm Ba Lê. Ông cho phổ biến “Hope and Vanquished Reality, Hy vọng và Khắc phục Thực tại” năm 2001 tại New York, nhà xuất bản là Center for A Science of Hope trực thuộc ICIS (International Center for Integrative Studies), một tổ chức truyền giáo Thụy điển ở Hoa kỳ đấu tranh cho nhân quyền và chuyên nghiên cứu về vai trò của Hy Vọng trong tín ngưỡng. Ông Phong cộng tác trong Hội đồng Cố vấn ICIS từ 1988. Quyển hồi ký Hope dày 374 trang, chia thành 11 chương kể lại việc tác giả từ Paris trở về Sàigòn năm ngày trước khi Sàigòn sụp đổ vào tháng tư 1975, 5 năm cải tạo trong trại học tập Cộng sản, đời sống cơ cực ở VN khi được phóng thích năm 1980, những tang tóc liên tiếp trong gia đình và thủ tục phiền toái để xuất ngoại. Ông Phong được phép nhập cảnh Hoa kỳ năm 2000.
Hope & Vanquished Reality là cuốn sổ tay của một nhà ngoại giao chấm phá ghi lại những âm vang gây trên đức tin của mình bởi sự phá sản của chế độ mà y phục vụ nhiều năm. Người đọc có cảm tưởng tác giả muốn chứng minh Hy vọng là ngọn hải đăng dắc dẫn ông vượt qua mọi thử thách gian nguy cá nhân, mọi cảnh tan nát của Quê hương. Bởi thế N X Phong không đi sâu vào chi tiết của Hoà đàm Bá Lê, không đề cập nhiều đến giai đoạn đấu khẩu gay go giữa hai phái doàn Bắc-Nam tại bàn hội nghị.
Sau khi Phạm Đăng Lâm qua Luân đôn nhận chức đại sứ tháng giêng 1973 và bs Nguyễn Lưu Viên rời vĩnh viễn La Celle Saint Cloud để trở về VN, ông Phong phải một mình đảm trách tại Paris các công tác tồn đọng và tẻ nhạt: gặp báo chí, dự các cuộc thảo luận không đi đến đâu và tiếp xúc với các phái đoàn. Nhờ sự giao thiệp cởi mở và khả năng ngoại ngữ, ông Phong là nhân vật VNCH thường có dịp trao đổi ý kiến ngoài bàn hội nghị với phiá Mỹ như Harriman, Cyrus Vance, Negroponte và đặc biệt, Kissinger. Sự kiện đáng lưu ý là chương 11 trong hồi ký “ The Longest Road: The Communicative Hope, Con đường dài nhất: Hy vọng truyền nhiểm”, trang 290-392, kể lại việc Phong tiếp xúc và giữ liên lạc với Nguyễn Cơ Thạch, thứ trưởng Ngoại giao, phụ tá cho Lê Đức Thọ, vai trò chính trong phái đoàn Bắc Việt. Chính Kissinger đã giới thiệu Phong với Thọ và Thạch trong một đêm tiếp tân của Ngoại trưởng Pháp Maurice Schumann, sau đó Thạch và Phong gặp nhau lại nhiều lần ngoài phòng hội nghị, trao đổi ý kiến cởi mở và trở nên “đôi anh em đối nghịch thành thực, true brother-enemies” tuy dị biệt về một số quan điểm. Phong đánh giá Thạch “thông minh, hiểu biết, có văn hoá, không quá khích và chủ trương thỏa hiệp hơn là hận thù.” Thạch và Phong đồng ý với nhau ít nữa về một điểm: “Hatred and bitterness have never generated anything really good in the end, Cuối cùng Hận thù và Đắng cay không bao giờ sinh sản điều gì tốt thật sự.”
Sau 1980, Phong ra khỏi trại cải tạo, phải đi dạy Anh văn để sanh sống với số lương năm chục đô hằng tháng, Thạch trở nên một nhân vật của Chính trị Bộ, Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng. Thạch có mời Phong đến Văn phòng để hỏi ý kiến, đối xử lịch sự như trước, Phong thẳng thắn đề nghị cần đổi mới kinh tế và bình thường hoá ngoại giao với Mỹ. Một thời gian sau, Nguyễn Cơ Thạch mất ghế trong Chính trị bộ và Chính phủ vì bị xem như thành phần quá cấp tiến.

3. Ts Nguyễn Tiến Hưng cho ra mắt tại Little Saigon, Californie, tháng tư năm nay, quyển hồi ký thứ hai “Khi Đồng Minh Tháo chạy” (KĐMTC) vào lúc George Bush tiếp Phan Văn Khải taị Hoa Thịnh Đốn, cộng đồng người Việt hải ngoại sôi sục chống đối. Việc giới thiệu sách thành công về thương mại. Giòng tít lớn (và củng là lời nguyền rủa của Kissinger) “Sao chúng không chết phứt cho rồi” mà tác giả khôn ngoan cho in trên bià làm cho đồng bào ta muốn biết thêm, mua sách. Hồi ức KĐMTC dày 705 trang, chia thành bốn phần: Làm sao thoát khỏi vùng lầy, Thân phận tiểu quốc, Khi Đồng minh tháo chạy và Rước của nợ hay được của có. Quyển sách in lại nhiều đoạn và tài liệu – như các bức thơ và mật điện trao đổi giữa Nixon, Ford và Thiệu từ 1972 đến 1975, luôn cả lời nguyền rủa của Kissinger – đã đăng trong Hồ sơ mật Dinh Độc lập (HSMDĐL), bản dịch ra tiếng Việt của The Palace File xuất bản năm 1986, dày 908 trang.
Về cách bố cục nội dung, phương pháp sưu tầm, trình bày các chứng liệu và ngay cả văn phong, HSMDĐL súc tích và có trọng lượng hơn KĐMTC, có lẽ vì nhờ sự hợp tác khoa học của đồng tác giả Jerrold L Schecter, nguyên chủ bút của tạp chí Time, và khả năng chuyển dịch của Cung Thúc Tiến và Nguyễn Cao Đàm
Trong Lời Nói Đầu của KĐMTC, Ts Hưng xác nhận ông chỉ làm việc trực tiếp với tướng Thiệu trong những ngày tháng hấp hối của chế độ sau khi Hiệp định Ba Lê được ký. Bởi vậy các ông Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm, Trần Văn Lắm, Nguyễn Lưu Viên, Nguyễn Phú Đức và Nguyễn Xuân Phong xác nhận với người viết không có dịp tiếp xúc với Hưng. Ts Hưng than: “Trong cương vị điều hợp viên viện trợ kinh tế cho VNCH, nhiều lúc tôi phải dẹp bỏ tự ái, lui tới Quốc Hội Hoa kỳ như một người đi cầu xin” (trang21). Khi tình hình an ninh trở nên bi đát, quân đội cạn đạn dược / xăng nhớt, ngân sách hết tiền trả lương cho lính và cảnh sát, ông Thiệu mới nghĩ đến việc sai đại tá Đức trao cho Ts Hưng đầu tháng 4.1975 một hồ sơ bià đen đựng các thơ mật nói trên để ông Hưng gắp đi lobby (?!) chính khách và báo giới Mỹ. Ngày 15.4.1975, một tuần trước khi Thiệu từ chức (21 tháng 4), Hưng đáp máy bay Panam qua Washington. Đây là một sứ mạng biết trước vô vọng vì quá trể. Không còn nước để mà tát. Hoa kỳ đang xoá sổ đồng minh. VNCH hết được coi như “tiền đồn của thế giới tự do” trấn giữ làn sóng đỏ. Để sớm dứt điểm, Mỹ vận dụng mọi thủ đoạn: đi đêm với Bắc Việt, dành quyền thương thuyết thế cho chính phủ Sàigòn, trấn an, tránh né, đe dọa ký riêng, hăm cắt viện trợ, cam kết đầu môi và bảo đảm suông. Hoa Thịnh đốn – và Ngoại trưởng Kissinger, gốc Do Thái – dồn viện trợ vào Israel, “tiền đồn bảo vệ dầu lửa ở Trung Đông.” Chính sách đối ngoại của Mỹ thực tế, realpolitik, không nặng về luân lý, ý thức hệ hay lòng chung thủy. Căn cứ vào quyền lợi mà thôi. Quyền lợi thô bạo. “Who pays, commands, Ai chi tiền thì người đó chỉ huy” là câu châm ngôn gối đầu ở nước này.
Vì nhận thấy Quốc hội Hoa kỳ phủi sạch tay về VN, Ts Hưng quyết tổ chức cho kỳ được một cuộc họp báo kiểu nhà nghèo ngày 30.4.1975 tại khách sạn Mayflower, đường Connecticut, Hoa Thịnh Đốn, với 3.000 đô vay của gia đình. Ông không lấy ra được ngân khoản 20.000 mỹ kim mà TT Thiệu hưá miệng để trang trải chi phí. Thầy củ của Hưng là Giáo sư Warren Nutter, cựu Phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng thời Nixon, hết lòng ủng hộ nhưng không giúp được gì nhiều. Ts Hưng làm công việc của một người chửa lửa không có dụng cụ trong tay khi nhà cháy sắp tan thành tro. Trong phiên họp báo, ông không đề cập đến những mật điện do Ford gởi cho Thiệu và chỉ dùng vài bức thơ cam kết của Nixon để xin cứu vớt đoàn người đang đổ xô ra Biển Đông. Kết quả là – cộng với áp lực của dư luận thế giới và đặc biệt nhờ sự can thiệp mạnh của Tổng thống Jimmy Carter – Quốc hội HK chấp nhận trợ cấp 455 triệu đô và mở cưả đón làn sóng tị nạn VN trên con số 50.000 người dự trù lúc đầu. Tại Sàigòn lúc đó, ba chiến xa T54 của Bắc Việt phá cổng xông vào Dinh Độc lập, trương cờ Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Cố TT Thiệu cho người viết biết: sau 1975, Ts Hưng có trở về VN làm việc trong lãnh vực tài chính. Mặt khác, nơi trang 18 của quyển hồi ký “Câu chuyện một di dân tỵ nạn Việt” vừa xuất bản năm nay tại San José, cựu trung tá không quân Trần Đổ Cung, trước kia từng giữ chức Cục trưởng Tổng Cục Tiếp tế thời Nguyễn Cao Kỳ, hiện ở Monterey, Californie, có ghi rằng năm 1988 Nguyễn Tiến Hưng từ Hànôi có nhờ một người bà con của Cung là vợ của Tôn Quang Phiệt, một cán bộ cao cấp CS, nhắn Cung “trở về giúp nước” nhưng Cung không nhận lời.

Kết luận.
Về cái chết của Miền Nam VN, TT Thiệu tuyên bố: “Tôi có trách nhiệm nhưng tôi không có lổi”. Mặt khác, trong hồi ký Ending the VN War, Kissinger viết: “Nếu không có sự sụp đổ của quyền hành pháp vì vụ Watergate, tôi tin rằng chúng ta có thể thành công”. Một ngày sau Hiệp định Bá Lê, Phụ tá Nixon là John Ehrlichmann hỏi VNCH tồn tại được bao lâu, Kissinger đáp: “Nếu may mắn thì họ có thể cầm cự được một năm rưởi”. Chính phủ Sàigòn sống lâu hơn decent interval ấy, khiến Kissinger mất kiên nhẫn, buông lời nguyền rủa thô bỉ.
Trong thất bại, thay vì trách người, ta phải tự trách mình trước, Tiên trách kỷ, hậu trách nhân. Watergate và Quốc hội Mỹ cắt viện trợ là hai yếu tố làm Đệ nhị Cộng hoà tan rã nhưng chủ trương bỏ Miền Nam đã có trước cả Watergate. Cá nhân TT Thiệu gánh chiụ trách nhiệm vì một số sai lầm tai hại:
1 – Quá tin vào sự ủng hộ của Hoa kỳ, nghĩ rằng Hoa kỳ sẽ không bỏ rơi vì VN
có nhiều dầu lửa (!) Thiệu không thông hiểu và không đánh giá đứng đắn vai trò của Lập pháp và Truyền thông ở xứ này, coi thường công cuộc hoạt động hành lang, lobby, và nhất quyết bám víu vào 30 bức thơ và mật điện trao đổi với Nixon mà ông giữ kín như bảo vật đến giờ chót theo lời cam kết riêng tư. Thiệu không dám tiết lộ vì sợ chính quyền Mỷ “tố cáo là bội ước“ (KĐMTC, trang 258). Cuối cùng, TT Thiệu nhận thấy – nhưng quá trể! – mình bị gạt vì chủ tâm của Nixon và Kissinger là dấu không cho Quốc hội HK biết những hứa hẹn thiếu thành thật.
2- TT Thiệu không có kế hoạch thiết thực cứu nguy Đất nước và đã để xứ sở tuỳ
thuộc Hoa kỳ quá sâu về chính trị, quân sự và kinh tài. Ông áp dụng muộn màng những biện pháp hốt hoảng vào những ngày cuối cùng như tiết lộ các bức thơ mật của Nixon, chạy vay tiền của quốc vương Saudi Arabia, thế chấp 16 tấn vàng của Quốc gia Ngân hàng, thế chấp tiềm năng dầu hỏa, xuất cảng gạo..v..v..để mượn tiền Mỹ. Đầu năm 1975, TT Thiệu làm chính trị như đánh bạc thử thời vận. Chơi đòn thấu cáy, ông cho rút quân khỏi Cao Nguyên và Miền Trung trong một kế hoạch “tái phối trí” mệnh danh “đầu bé, đít to” để trắc nghiệm lời cam kết can thiệp của Nixon. Hoa kỳ dửng dưng trước hành vi của Bắc Việt xé bỏ thô bạo Hiệp định Paris. Ông Thiệu hố lớn, cụt vốn lẫn lời, tàm tan rã Quân đội. Trung tướng Ngô Quang Trưởng xác nhận với người viết rằng không có nhu cầu gắp rút bỏ Huế và Đà nẳng. Thay vì nêu gương ở lại chiến đấu với đồng đội sau ngày từ chức, ông Thiệu bỏ xứ ra đi.
3- TT Thiệu nắm trọn trong tay vận mạng của quốc gia, coi thường hai ngành
Lập pháp và Tư pháp, quyết định một mình việc bỏ rơi hỗn loạn Cao nguyên và Miền Trung và ngang nhiên hành động vi hiến. Điều 39 Hiến pháp buộc các hiệp ước về hoà bình (Hiến pháp dùng danh từ “nghị hoà”) phải được Quốc hội chuẫn phê. Thiệu phạm một sai lầm căn bản khi ông chọn không tuân hành điều này vào tháng 10.1968 để tránh chạm trán với Johnson. Ông mời chủ tịch Thượng viện và Hạ viện tham gia thảo luận trong Hội đồng An ninh Quốc gia để tạo cảm tưởng Quốc hội chính thức chấp thuận các quyết định của Hội đồng. Trên thực tế, Thiệu truất quyền của Lập pháp kiểm soát đường lối thương thuyết của Hành pháp. Đồng lúc, TT Thiệu vô hiệu hoá luôn khả năng của Hành pháp (mà ông đại diện) chống lại áp lực của Johnson và Nixon, để Hoa kỳ tự ý rút quân. Ông Thiệu có dịp tâm tình với người viết rằng ông bị ám ảnh bởi vụ đảo chính và hạ sát TT Diệm do Mỹ sắp xếp khi TT Diệm chống đối.
Ngày nay, ôn cố tri tân, nhắc lại chuyện đau buồn đã qua, không phải là để quy
trách tiêu cực mà là để rút tỉa những bài học từ những thiếu sót trong dĩ vãng hầu giúp cho thế hệ cầm quyền sắp tới đừng tái phạm. Mỗi lãnh tụ đều gặp những khó khăn và khổ tâm riêng, đặc biệt khi hoàn cảnh bắt buộc, cùng một lúc, đương đầu với một đồng minh đanh thép như siêu cường Hoa kỳ và một kẻ thù gian ngoan như Cộng sản. Sau buổi phỏng vấn dài tại Dinh Độc Lập đầu tháng giêng 1973, trước ngày ký Hiệp định Paris, nữ ký giả Ý Oriana Fallaci, (người đã từng phỏng vấn Kissinger, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp), nhận xét: “Có ít nhiều nhân cách trong TT Thiệu và thảm kịch của ông. Chúng ta có thật hiểu ông hay không? Ít nửa, trong giờ phút đặc biệt này, ông không còn là con múa rối lố bịch của người Mỹ như chúng ta tưởng..Tôi hoan hỉ tỏ lòng thương xót và kính trọng đối với ông.” (Interview with History , Oriana Fallaci, trang 48). Với cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, lời an ủi cuối cùng này – một Requiescat in pace! – có đủ hay không?
Dân tộc là sức mạnh vạn năng, vạn thắng. Lảnh tụ thất bại vì đánh mất lòng tin và sự ủng hộ của Dân tộc. Khi lảnh tụ thất bại và gục mặt ra đi, chỉ còn lại Dân tộc. Dân tộc trơ trọi, dân tộc cô đơn, dân tộc đau khổ. Dân tộc gánh chịu hết mọi oan khiêng và tủi nhục. Nhiều thế hệ trẻ vô tội phải trả một cái giá rất đắt cho sự sai lầm của cha ông.

LÂM LỄ TRINH
Thủy Hoa Trang
Ngày 9.8.2005
Californie

THƯ TỊCH:
1 – “Điểm sách Ending the VN War của Kissinger, TT Thiệu và Hoà đàm Paris” by Lâm Lễ Trinh 17.8.2001, trong tạp chí VN Forum , Đức quốc
2 – “Mạn đàm với Bs Nguyễn Lưu Viên, Từ Hội nghị La Celle Saint Cloud đến những ngày VNCH hấp hối” by Lâm Lễ Trinh, 1.9.2001 trong Thời Luận, Los Angeles.
3 – “Kissinger nhận định trong hồi ký Ending the VN War: Kinh nghiệm VN và thế trận hiện đại” by Lâm Lễ Trinh, 9.10.2002 trong tạp chí Dân chủ & Phát triển, Đức quốc.
4 – “Mạn đàm với cựu Ngoại trưởng Trần Văn Lắm: Bề trái trong Hoà đàm tại Bá Lê” by Lâm Lễ Trinh, 9.8. 1999, trong tạp chí Hải Ngoại Nhân Văn, Boston
5 – “Điểm sách: Nguyễn Thị Bình tiết lộ về Hoà đàm Bá Lê trong “Chung một Bóng Cờ” by Lâm Lễ Trinh, 6.12. 2000, trong tạp chí Cánh Én, Đức quốc
6 – “Our Endless War, Inside VN” (Presidio Press, CA, 1978) và VN Nhân Chứng, nxb Xuân Thu, CA, 1989, by Trần Văn Đôn
7 – Interview with History, by Oriana Fallaci, Houghton Mifflin Co, Boston, 1976

Tháng 3.2005, Ts Đức cho phát hành taị Virginia quyển hồi ký thứ hai, bằng Anh ngữ, dày 463 trang, với tựa “The VN Peace Negotiations, Saigon’s side of the story, nxb Dalley, gồm có ba phần: mở đầu đàm phán 1968-1969, những khúc quanh của cuộc thương thuyết và chiến cuộc chấm dứt 1973-1975.

 

Nhã Thuyên – Hồ sơ bảo vệ luận văn năm 2010

1. Tôi thấy cần thiết công bố những biên bản liên quan tới việc bảo vệ luận văn của tôi năm 2010. Hiện tại, tôi rất tiếc vì chưa tìm lại được biên bản nhận xét của một trong hai phản biện là T.S Chu Văn Sơn, bản nhận xét của chủ tịch Hội đồng PGS Nguyễn Văn Long. Tất cả các bản nhận xét đó, theo thủ tục, đều được đọc công khai trước hội đồng bảo vệ và sau đó đính kèm với luận văn khi nộp lưu trữ cho thư viện khoa và trường.

Tôi đính kèm đây các ảnh chụp những văn bản tôi còn giữ lại được ở thời điểm này gồm: quyết định về việc thành lập Hội đồng chấm luận văn, Nhận xét của người hướng dẫn cô Nguyễn Thị Bình và nhận xét của Uỷ viên hội đồng Nguyễn Đăng Điệp, nhận xét phản biện của T.S Ngô Văn Giá.

2. Sự công bố này liên quan tới việc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cần minh bạch cho bản thân tôi, tác giả luận văn, về thông tin thành lập hội đồng thẩm định luận văn năm 2014 (quyết định thành lập hội đồng này) và các biên bản nhận xét của các thành viên hội đồng thẩm định đó.

3. Tôi hi vọng các thành viên trong hội đồng chấm luận văn cũ sẽ có đơn kiến nghị chính thức lên trường Đại học sư phạm Hà Nội về tính hợp pháp cũng như sự công khai đối thoại của hội đồng thẩm định luận văn với hội đồng cũ. Ở đây, tôi không đặt vấn đề hội đồng cũ phải bảo vệ kết quả luận văn mà tôi đã trình bày thành công trước hội đồng năm 2010. Tôi hình dung rằng, đơn kiến nghị này (nếu có) là một minh chứng rằng luận văn là văn bản có thực, tác giả luận văn, người hướng dẫn, người phản biện, các thành viên hội đồng là những con người có thực, việc bảo vệ luận văn là sự kiện có thực và dựa trên giả định rằng cái có thực đó không thể bị xoá trắng.

Tập tin đính kèm Kích thước
Nhận xét luận văn của PGS TS Đỗ Đăng Điệp 257.59 KB
Nhận xét phản biện luận văn của PGS TS Ngô Văn Giá 233.37 KB

(Blog Nhã Thuyên)

Hai dân oan Dương Nội cắn lưỡi « tự tử » trong trại tạm giam? – Việt Nam sa lầy vì vay nợ ODA


Việt Nam sa lầy vì vay nợ ODA

HÀ NỘI (NV) .- Các chuyên gia kinh tế Việt Nam tiếp tục lặp lại cảnh báo về những tác hại khi nhà cầm quyền CSVN để các dự án có tầm vóc quốc gia lệ thuộc gần như hoàn toàn vào ODA.

Phối cảnh đường xe điện trên cao ở Hà Nội, một dự án vận chuyển công cộng nội thị thực hiện từ vốn vay ODA của Nhật đang bị điều tra về tham nhũng. (Hình: kienthuc.net)

ODA là ba chữ viết tắt của Official Development Assistance (hỗ trợ phát triển chính thức). ODA có thể là các khoản cho vay không tính lãi hoặc tính lãi thấp với thời gian cho vay dài hạn, nói chung là theo các điều kiện ưu đãi. Đôi khi ODA là viện trợ. Mục tiêu của ODA là trợ giúp để phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở quốc gia nào đó còn kém phát triển.

 

Những cảnh báo về ODA được lặp lại sau khi scandal các viên chức ngành đường sắt nhận 80 triệu Yen (khoảng 800 ngàn USD, tương đương 16 tỷ đồng Việt Nam) của Công ty Tư vấn Giao thông Nhật Bản (Japan Transport Consultants – JTC) để chọn công ty này làm nhà thầu, tư vấn cho các dự án được thực hiện bằng viện trợ của Nhật ở Việt Nam.

Nhật hiện là quốc gia dẫn đầu trong việc cấp ODA cho Việt Nam. Đến nay, đã xảy ra hai scandal về nhận hối lộ của các công ty Nhật để chọn họ là nhà thầu Nhật thực hiện những dự án bằng ODA do Nhật cung cấp. Scandal đầu tiên xảy ra vào năm 2010, liên quan tới PCI – một công ty tư vấn khác của Nhật về dự án đại lộ Đông Tây ở Sài Gòn.

Trên tờ Sài Gòn Tiếp Thị, ông Nguyễn Lương Hải Khôi, một người chuyên nghiên cứu về Nhật cho biết, trong thập niên vừa qua, JICA (Cơ quan Hợp tác Quốc tế của chính phủ Nhật Bản) xây dựng chiến lược giao thông toàn quốc cho Việt Nam. Sau đó, chính JICA đề nghị cho Việt Nam vay ODA để thực hiện chiến lược giao thông mà họ xây dựng. JICA kiểm soát từ A đến Z: vốn vay, tiền lãi, kỹ thuật, thị phần xây dựng, thậm chí kiểm soát cả hiểu biết về thực tiễn của Việt Nam. Việt Nam gần như chẳng phải làm gì. Chỉ cần ký vay nợ và cầu đường cứ thế mọc lên. JICA nếu có vạch ra một “hệ thống” thì “hệ thống” đó chỉ là bản đồ những dự án mà các công ty Nhật đã sẵn sàng giành hợp đồng xây dựng.

Trò chuyện với tờ Đất Việt, ông Trần Đình Bá, một chuyên gia kinh tế cho rằng, với phương thức vừa cho vay, vừa thực hiện dự án theo kiểu kiểm soát từ A tới Z: Đưa ra ra ý tưởng, tự lập dự án tiền khả thi, khả thi, thiết kế, tổ chức thi công, ép người vay làm theo ý mình như kiểu các dự án ODA của Nhật tại Việt Nam thì đấu thầu chỉ còn là hình thức.

Theo tờ Thời Báo Kinh tế Sài Gòn, sau khi kiểm tra những nôi dung liên quan đến scandal JTC, Bộ trưởng Giao thông Vận tải Việt Nam tiết lộ, gói thầu (Tư vấn Dự án Tuyến đường sắt số 1 đoạn Ngọc Hồi – Yên Viên) liên quan đến JTC là một gói thầu bất thường vì chỉ có hai nhà thầu mua hồ sơ và sau đó chỉ còn một nhà thầu là JTC tham gia đấu thầu. Về nguyên tắc, nếu có dưới ba nhà thầu thì có thể hủy cuộc đấu thầu song vì gói thầu vừa kể sử dụng vốn ODA của Nhật nên phải chọn nhà thầu Nhật và JTC nghiễm nhiên trở thành nhà thầu.

Tờ Thời Báo Kinh tế Sài Gòn cho biết, trong 20 năm vừa qua, Nhật là quốc gia cấp ODA lớn nhất (hơn 20 tỉ Mỹ kim) và 41% khoản ODA này dành cho các dự án phát triển hạ tầng giao thông. Do vậy, trong bối cảnh ngân sách èo uột, trái phiếu chính phủ yếu ớt, những dự án giao thông lớn thường nhắm vào ODA của Nhật và giá của vốn ODA không hề rẻ.

Khi tham dự Hội đồng Thẩm định quốc gia về Dự án phi trường Long Thành cả Bộ trưởng Giao thông Vận tải  lẫn Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư của Việt Nam đều cùng cảnh báo về sự “đắt đỏ” của vốn ODA bởi những ràng buộc từ nguồn vốn này. Bộ trưởng Giao thông Vận tải thú nhận, nếu chỉ nhắm vào vốn vay ODA mà không tính đến hiệu quả sử dụng vốn thì sẽ còn tạo ra nhiều kẽ hở cho tham nhũng.

Ông Trần Đình Bá thì cho rằng thực trạng lệ thuộc là giá phải trả cho cơ chế hiện hữu. Đổi mới đã ba thập niên nhưng Bộ Giao thông Vận tải vẫn không xây dựng nổi “chiến lược giao thông” mà khoán trắng cho tư vấn Nhật. Các scandal PCI, JTC lột tả bản chất thực trạng lãng phí đầu tư công trong lĩnh vực giao thông – vận tải, khiến nợ công tăng vọt. Ông Bá khẳng định, nếu không cải cách thể chế thì không thể giải quyết các vấn nạn này. (G.Đ)

Hai dân oan Dương Nội cắn lưỡi « tự tử » trong trại tạm giam?


Các chòi canh giữ đất của người dân Dương Nội, Hà Đông, Hà Nội. Facebook

Tối qua 29/03/2014, gia đình hai ông Trần Văn Miên và Trần Văn Sang, dân oan đấu tranh đòi đất ở phường Dương Nội quận Hà Đông, Hà Nội, bị bắt cách đây ba ngày lúc đang đi trên đường, đã được công an thông báo là hai người này đã cắn lưỡi tự tử trong trại tạm giam. Hàng trăm người dân Dương Nội đến công an quận Hà Đông yêu cầu cho biết sự việc thì lại có thêm ba người bị bắt đi.

Điều đáng chú ý là cả hai ông Trần Văn Miên (sinh 1959, ở tổ dân phố Trung Bình) và ông Trần Văn Sang (sinh 1975, tổ dân phố Quyết Tiến) hồi đầu năm khi bị triệu tập lên công an đã viết giấy ủy quyền cho thân nhân, ghi rõ là trước khi đi họ vẫn khỏe mạnh, minh mẫn và không có ý định tự tử.

Trả lời RFI Việt ngữ vào lúc 19 giờ tối qua, tức 1 giờ sáng Việt Nam ngày 30/03/2014, bà Cấn Thị Thêu, ở tổ dân phố Trung Bình phường Dương Nội kể lại sơ qua tình hình:

Chúng tôi là những người nông dân không chuyển được nghề nghiệp, họ thu hồi hết đất của chúng tôi. Họ ủi phá tất cả lúa má, mồ mả của nhân dân chúng tôi cách đây bốn năm, từ năm 2010. Trong thời gian này chúng tôi cứ đi gửi đơn để kêu cứu các nơi giải quyết trả lại quyền lợi cho chúng tôi.

Ngày 26/3 họ bắt hai người dân của chúng tôi là ông Trần Văn Miên và ông Trần Văn Sang. Họ không đọc lệnh mà họ lại bắt ở đâu ấy. Cả nhà cứ nháo nhác lên đi tìm, đi mò sông mò ao, đi đến các bệnh viện để tìm, sợ là bị tai nạn. Xong đến lúc 9, 10 giờ đêm thì họ thông báo là đã bắt hai người đấy, vu cho hai người tội gây rối trật tự công cộng.

Đến chập tối hôm nay, nghe người nhà nói lại thì công an điện về cho gia đình bảo là hai ông đấy đã cắn lưỡi tự tử ở trong trại rồi. Bà con rất là bức xúc, đi ra công an quận Hà Đông để hỏi thực hư ra sao. Khi bà con ra thì người ta lại bắt thêm ba người nữa, và đánh một người phải đi cấp cứu!

Bây giờ họ lại khủng bố bà con. Chẳng biết ai khủng bố, nhưng mà cứ ném những bọc nước mắm hay bọc phân vào bà con. Trời ở Hà Nội đang mưa, nhưng bà con vẫn trải bạt để nằm trước cổng đồn công an quận Hà Đông.

Hôm nay người dân Dương Nội lại tiếp tục đến công an yêu cầu cung cấp tình hình sức khỏe của hai người bị bắt. bà Cấn Thị Thêu cho biết thêm:

Bà con kéo nhau ra công an quận Hà Đông, yêu cầu cho gặp hai ông Trần Văn Sang và Trần Văn Miên, để xem thực hư thế nào, sống chết ra sao. Ông trưởng công an quận và phó công an quận cũng đã tiếp bà con. Nhưng họ lại bảo hôm nay Chủ nhật, các bộ phận nghỉ hết rồi, không thể cho gặp được.

Họ bảo hai ông ấy vẫn bình thường. Bà con nói nếu mà bình thường thì cho chúng tôi gặp, chúng tôi nhìn từ đằng xa thôi cũng được, nhưng họ lại bảo hôm nay là Chủ nhật.

Thế nên bà con rất là lo, nhất là gia đình rất lo lắng, không biết thân nhân của người ta sống hay chết. Họ nói là đến sáng mai sẽ cho gặp lại thân nhân, nhưng không biết sáng mai họ có cho gặp lại hay không. Mai họ mà không đưa người ra gặp thì có khả năng là hai ông ấy đã bị chết rồi!

Xin cảm ơn bà Cấn Thị Thêu.

Thụy My
(RFI)

* * *

Trần Quang Thành – Dân oan Trần Văn Sang và Trần Văn Miên cắn lưỡi tự tử hay bị công an Hà Nội dùng nhục hình tra tấn trong trại tạm giam?
Hồi 21 giờ đêm thứ Bảy 29/3/2014, gia đình nhận được tin báo qua điên thoại từ trai giam cho biết ông Trần Văn Sang và ông Trần Văn Miên đã căn lưỡi tự tử trong trại tạm giam. Lâp tức vợ con, người thân và ba con ở phường Dương Nội đã đên công an quận Hà Đôn, Hà Nội yêu cầu cho biết rỗ sự việc xảy ra như thế nào.

Thay vì, giải thích cho mọi người hiểu rõ thực hư ra sao, công an quận Hà Đông đã dùng thái độ thô bạo xô đẩy xua đuổi mọi người ra khỏỉ trụ sở. Ho trả lới mọi người bây giờ không phải là giờ làm việc, không tiếp, không trả lời ai cả. Xô xát giữa công an và người dân dã xảy ra. Công an đã đánh đạp dã man khiến cho môt sô người trong đó có phụ nữ và người già bị trong thương phải đưa đi bệnh viện cấp cứu. 3 người đã bị bắt đưa đi mất tich.

Không chỉ đánh dập người dân, công an còn cho bọn côn đô đi xe máy hắt mắm tôm, nước mắm và các đồ dơ bẩn váo người dân đang có măt trước trụ sở công an quân Hà Đông để hỏi tin tức về hai dân oan Trần Văn Sang và Trấn Văn Miên.

Vào chiều 26/3 vừa qua 2 dân oan Trần Văn Sag và Trần Văn Miên, cư trú tại phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội bị băt cóc khi đang đi trên đường không có một lênh bắt giữ nào cả.

Cảm nhận mạng sống của mình đang bị đe dọa, trước khi bị bắt, hai ông đều có giấy ủy quyền lại cho 356 hộ dân mất đất. Giấy ủy quyền này viết sẵn từ trước Tết Giáp Ngọ, khi 2 ông bị công an Hà Nội triệu tập làm rõ về cái gọi là hành vi “gây rối trật tư nơi công cộng”. Nội dung giấy ủy quyền khẳng định trước khi bị bắt, các ông đều khỏe mạnh, không có thương tích gì, đầu óc tỉnh táo và không có ý định tự tử. Hai ông dặn lại những việc cần làm trong trường hợp bị tra tấn đến chết.

Một nhà nước tự coi là do dân, của dân và vì dân sao lại hành xử một cách mờ ám, theo kiểu xã hội đen: lén lút, bắt cóc dân, nay lại tung tin người bị bắt căn lưỡi tự tử trong trại giam.

Đâu là sự thật: Ông Trần Văn Sang và ông Trần Văn Miên cắn lưỡi tự tử hay họ đã bị công an Hà Nội dùng nhục hình tra tấn, đánh đập dã man trong trại tạm giam đên trọng thương phải đi bệnh viện cấp cứu?

Theo Dân Quyền

Hơn 100.000 người biểu tình tại Đài Bắc đòi hủy hiệp định với Bắc Kinh

Một trong nhiều khẩu hiệu của người biểu tình trước Phủ Tổng thống Đài Loan ngày 30/03/2014 : "Chúng tôi không có một Đài Loan khác để bán".

Một trong nhiều khẩu hiệu của người biểu tình trước Phủ Tổng thống Đài Loan ngày 30/03/2014 : “Chúng tôi không có một Đài Loan khác để bán”. REUTERS/Patrick Lin

Trọng Thành -RFI

Tại Đài Bắc, cả trăm nghìn người lại xuống đường vào hôm nay 30/03/2014 để gây áp lực buộc Tổng thống Mã Anh Cửu phải rút hiệp định thương mại với Trung Quốc. Biểu tình đã tiếp diễn gần hai tuần sau cuộc tấn công chiếm lĩnh nhà Quốc hội của sinh viên.

Những người biểu tình giương cao các biểu ngữ chính : « Bảo vệ nền dân chủ » và « Rút lại hiệp định thương mại về các dịch vụ ». Đoàn biểu tình hướng về Phủ Tổng thống, dưới sự canh chừng của 3.500 cảnh sát. Theo con số ước tính của cảnh sát, khoảng 116.000 người tham gia biểu tình. Ban tổ chức đưa ra con số 500.000 người xuống đường hôm nay.

 

Lực lượng biểu tình yêu cầu chính quyền đình lại hiệp định thương mại về các dịch vụ và mọi thỏa thuận khác hay các đàm phán với Trung Quốc đang diễn ra, cho đến khi thông qua được một luật riêng về vấn đề này.

Hiệp định thương mại dự kiến với Trung Quốc, đối tác thương mại số một của Đài Loan, nằm trong khuôn khổ của một thỏa thuận khung về hợp tác Đài Bắc – Bắc Kinh, được ký vào năm 2010. Hiệp định này dự kiến sẽ mở cửa 80 lĩnh vực dịch vụ tại Trung Quốc cho các doanh nghiệp Đài Loan, ngược lại, phía Đài Loan phải mở 64 lĩnh vực.

Theo phe đối lập, hiệp định này sẽ xâm hại đến nền kinh tế Đài Loan, khiến hòn đảo này dễ tổn thương hơn trước các áp lực chính trị của Bắc Kinh. Tổng thống Mã Anh Cửu phản đối quan điểm này và cảnh báo là một thất bại trong việc phê chuẩn hiệp định sẽ làm hỏng các nỗ lực của Đài Loan trong việc ký kết các thỏa thuận thương mại mới.

Tổng thống Mã Anh Cửu, kể từ khi lên cầm quyền năm 2008, hướng đến việc làm dịu căng thẳng với Bắc Kinh và tăng cường các quan hệ kinh tế với Hoa lục. Bác bỏ đòi hỏi rút lại hiệp định của đối lập, nhưng hôm qua 29/03, Tổng thống Đài Loan đã chấp nhận việc ra một luật mới nhằm kiểm tra, xem xét tất cả các thỏa thuận với Trung Quốc.

Những Thách Thức Kinh Tế Trung Quốc Phải Đối Mặt Năm 2014

In this file photo a worker stokes a giant burning cauldron at a steel mill in Hefei, in eastern China's Anhui province, on June 25, 2011. Overcapacity in steel and other industries is one of the major challenges facing China's economy in 2014. (STR/AFP/Getty Images)

Trong ảnh: một công nhân đang một đang đốt lò với một cái vạc đốt khổng lồ tại một nhà máy thép ở Hợp Phì, tỉnh An Huy, phía đông Trung Quốc, vào ngày 25 tháng Sáu, 2011. Dư thừa thép và các ngành công nghiệp khác là một trong những thách thức lớn phải đối mặt với nền kinh tế của Trung Quốc trong năm 2014. (STR / AFP / Getty Images)

Khi năm 2014 sắp đến, các công ty và ngân hàng tại Trung Quốc đều hối hả bận rộn thu hồi nợ và trả nợ tồn đọng. Nền kinh tế Trung Quốc đang đối mặt với vô vàn những vấn đề còn vướng mắc, gồm có thiếu hụt tiền tệ và tăng vọt các khoản nợ địa phương. Theo các chuyên gia, điều này có thể dẫn tới một làn sóng phá sản trong số các doanh nghiệp tư nhân.

Gần 98% các công ty tư nhân tại thành phố Ôn Châu, một trung tâm các doanh nghiệp tư phía đông Trung Quốc, đều có “hubao”, hay là các khoản đảm bảo. Cho vay tương hỗ – là một hình thức cho vay có trách nhiệm liên đới mà có thể giúp giảm hàng rào cho các doanh nghiệp tư vay tiền từ ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác. Tuy nhiên, khi nguồn cung tiền bị thắt chặt, thì một chiếc tàu chìm sẽ kéo theo nhiều cái khác nữa.

Chen Yixin, người đứng đầu chính quyền Đảng tại thành phố Ôn Châu bình luận rằng “hubao” là một vấn đề rất nan giải đối với phát triển kinh tế địa phương, và khả năng vận hành của khối tài chính địa phương trong tháng 12 cũng là một chỉ số trọng yếu.

Ông Chen nói thêm: “Nếu khối tài chính có thể cầm cự tiếp, thì kinh tế của Ôn Châu trong năm 2014 sẽ ổn định; ngược lại, nếu có vấn đề phát sinh, thì sẽ có một phản ứng dây chuyền”
Li Chengwen, chủ tịch tập đoàn Fato Trung Quốc, được trích dẫn trong báo cáo của tờ National Business Daily rằng sẽ không loại trừ khả năng một làn sóng phá sản như đã xảy ra tại Trung Quốc năm 2011.

5 Thách Thức Lớn:

Vào ngày 25 tháng Mười hai, trang Chinanews.com đã công bố bản đánh giá kinh tế với tiêu đề “Quan Sát Kinh Tế Cuối Năm: Nền Kinh Tế Trung Quốc Đối Mặt Với 5 Thách Thức”

Bản báo cáo đã trích dẫn lời ông Lu Zhengwei, nhà kinh tế hàng đầu của Ngân hàng Công Nghiệp Trung Quốc, cho rằng chướng ngại đầu tiên chính là suy giảm kinh tế, đó là rơi vào trạng thái “hơi lùi lại, có khả năng sẽ trượt trở lại vào tình trạng suy thoái”. Làm thế nào để duy trì sự ổn định và cải tổ kinh tế chính là một thách thức lớn của Trung Quốc trong năm 2014 này, ông Lu nói.

Thách thức thứ hai là sự xung đột giữa tăng trưởng dân số và nông nghiệp yếu kém. Theo dự báo, dân số Trung Quốc sẽ tăng lên 1,4 tỉ người vào năm 2020. Do đó, nhu cầu thực phẩm và nông sản sẽ tiếp tục tăng cao. Tuy nhiên, nền tảng để hỗ trợ cho phát triển sản xuất ổn định lại vô cùng yếu ớt. Hơn 50% phương tiện tưới tiêu quy mô vừa và nhỏ hoặc các dự án thủy lợi tại Trung Quốc lại rơi vào tình trạng hoặc là không phù hợp với nhu cầu, hoặc là cần thay thế, và hơn 1/3 máy móc nông nghiệp cần sửa chữa hay tái tạo lại.

Thách thức thứ ba là cung ứng tiền tệ M2 cao và thâm hụt tiền tệ lại xảy ra đồng thời. Mặc dù cung ứng M2 của Trung Quốc đã vượt qua 10 nghìn tỉ nhân dân tệ (1.65 nghìn tỉ đô la Mỹ), tình trạng thiếu tiền tệ vẫn thường xảy ra, và điều này có thể dẫn tới một đợt khủng hoảng tín dụng với lãi suất cho vay liên ngân hàng liên tục tăng cao.

Thách thức thứ tư là làm thế nào để quản lý rủi ro nợ xấu trong suốt tiến độ dự án xây dựng thành phố ở quy mô vừa và hỏ.

Thách thức thứ năm là xung đột giữa việc sản xuất thừa và nhu cầu việc làm. Vấn đề sản xuất thừa đối với thép chất lượng thấp, nhôm, xi măng, kính phẳng, và đóng tàu đang trở nên tệ hơn.

Cho đến khi các ngành công nghiệp lỗi thời này được loại bỏ, nó làm giảm triển vọng tăng trưởng việc làm. Đây là một vấn đề lớn vì năm 2014 có thể sẽ chứng kiến số lượng lớn nhất các sinh viên tốt nghiệp đại học đi tìm việc làm.

Hà Văn Thịnh – Có thể cười sau khi tra tấn đến chết người dân sao?

Một bị cáo cười tươi ngay tại phiên xử vụ án ông Ngô Thanh Kiều bị công an Phú Yên đánh chết
Nền “dân chủ” của ta hiện nay có không ít những phiên tòa diễn ra như những vở kịch rẻ hề! Trắng trợn và tàn nhẫn đến mức người dân chỉ còn biết cúi mặt khóc ròng trong đớn đau, nhục nhã.

Một trong những phiên tòa đó vừa được… diễn ở thành phố Tuy Hòa, Phú Yên. 5 bị cáo – là 5 sĩ quan công an, hành hạ, tra tấn người dân từ sáng đến tối, gây nên cái chết tức tưởi của nạn nhân Ngô Thanh Kiều, chỉ “bị” Viện KSND TP Tuy Hòa đề nghị “hình phạt” một án tù, còn lại là… án treo(!)?

Mạng người dân nhỏ hơn con sâu, cái kiến, thậm chí bị coi như cỏ rác đã là chuyện thường ngày. Nhìn bức ảnh (BBC, 19:27 GMT, 29.3.2014) một trong những bị cáo NHĂN NHỞ cười như trêu ngươi, thách thức dư luận, công lý, không một lương tri nào có thể chấp nhận được. Đó là kiểu cười của kẻ dám ngang nhiên ngồi xổm trên luật pháp. Kiểu cười đó như muốn thông báo cho cả xã hội hiểu rằng, chúng ông cứ thế, đã thế, thách chúng mày làm gì được(!) Dư luận không thể không đặt câu hỏi phải chăng kẻ có cái toét miệng ngạo nghễ đó đã được bảo kê dưới danh nghĩa bảo vệ cán bộ, bảo vệ sự… chưa đen kịt lắm(!) của bộ máy công quyền? Câu hỏi này càng có cơ sở hơn nữa khi ta biết rõ rằng chỉ một bị cáo có cấp bậc thấp nhất (thiếu úy) là bị tù giam, các bị cáo còn lại (một trung úy, một thượng úy, hai thiếu tá), đều được hưởng án treo. Rõ ràng, luật pháp đã bị bẻ cong một cách sỗ sàng bởi từ cổ chí kim, chưa ở đâu, ở bất kỳ khi nào, những kẻ có chức vụ cao nhất, am hiểu pháp luật nhiều nhất (về nguyên tắc) lại chỉ phải chịu hình phạt nhẹ nhất. Ai không biết trong thang bậc của bộ máy công quyền, thiếu úy chỉ là kẻ thừa hành ở chót cùng của quyền lực trong nhóm bị cáo. Ai dám tin là chỉ có tên thiếu úy này là dám phạm thượng khi phang vào đầu bị cáo trong khi các cấp chỉ huy chưa cho phép?

Dư luận cũng buộc phải suy ngẫm một cách cay đắng rằng, việc cùng một lúc, 5 sĩ quan công an hè nhau đánh đập một người dân đang bị còng, bị bỏ đói, là sự tận cùng của tội ác, sự trắng trợn của của cách “chơi” hội đồng – thường chỉ có trong giới giang hồ. Chẳng lẽ có thể “cho qua” sự thật hiển nhiên khủng khiếp ấy? Có một nhà bình luận nói rằng mấy ông quan to không biết đâu, chỉ tại cấp dưới thôi(!?) Xin thưa là đừng có bé cái nhầm: Bức ảnh trên BBC và hàng trăm bài viết khác của cả trong nước và quốc tế không thể có chuyện không biết. Đó là chưa nói chuyện không thể không biết khi mở một phiên tòa để xét xử một lúc 5 sĩ quan công an Nếu không biết thì chẳng hóa ra lãnh đạo cao cấp bị bịt mắt, bị lừa gạt sao? Làm sao có thể lãnh đạo, chỉ đạo khi lúc nào cũng bị lừa gạt đến đui mù?

Câu hỏi nữa được đặt ra (và buộc những người có trách nhiệm phải trả lời) là, nếu cứ bảo kê, bảo vệ tù mù, ù xọe như thế làm sao để dân tin vào sự công chính của luật pháp? Làm sao có thể dung túng cho cái kiểu cười quái đản, vô luân ấy? Chẳng lẽ người ta đang cố tình đẩy cho cỗ xe chở đầy phẫn uất, cay đắng của lòng người trượt nhanh hơn đến cái tầng nấc cuối cùng của sự chịu đựng? Ngày 3.4 Tòa sẽ tuyên án. Xin các vị đừng vòng vo, đừng hội ý, đừng xin ý kiến chỉ đạo… để lừa gạt nữa. Công lý đòi hỏi phải trừng phạt NẶNG đối với bất kỳ ai, nếu những kẻ đó phạm tội GIẾT NGƯỜI! Tội càng nặng hơn khi thừa hành luật pháp mà tra tấn dã man, giết người một cách dã man!
Huế, 30.3.2014

Hà Văn Thịnh
  (Quê choa)

Ngày 31/3/2014 – Hạn chế ‘con ông cháu cha’ trong lịch sử


  • Vì sao người dân không thiện cảm với công an? (RFA) – Tại Việt Nam, trong mắt của người dân hiện nay, hình ảnh công an nhân dân là những người hách dịch, tham nhũng, quan liêu, vô văn hóa, vô đạo đức, ưa gây khó khăn phiền hà, làm cho đất nước không phát triển. Sự thật ra sao?
  • Việt Nam : Hai dân oan Dương Nội cắn lưỡi « tự tử » trong trại tạm giam ? (RFI) – Tối qua 29/03/2014, gia đình haiông Trần Văn Miên và Trần Văn Sang, dân oan đấu tranh đòi đất ở phường Dương Nội quận Hà Đông, Hà Nội, bị bắt cách đây ba ngày lúc đang đi trên đường, đã được công an thông báo là hai người này đã cắn lưỡi tự tử trong trại tạm giam. Hàng trăm người dân Dương Nội đến công an quận Hà Đông yêu cầu cho biết sự việc thì lại có thêm ba người bị bắt đi.
  • Biển Đông: Hồ sơ Manila cáo buộc Bắc Kinh dày 4000 trang (RFI) – Đúng như dự kiến, vào hôm nay, 30/03/2014, chính quyền Manila đã chính thức chuyển đến tòaán của Liên Hiệp Quốc bản luận chứng cáo buộc rằng các yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh tại Biển Đông không phù hợp với luật pháp quốc tế. Theo yêu cầu của Tòaán trọng tài Liên Hiệp Quốc về Luật Biển ITLOS, được giao trách nhiệm xem xét vụ kiện này, bên nguyên đơn là Philippines phải nộp tài liệu này chậm nhất là vào hôm nay.
  • Trường Sa : Tàu Philippines phá vòng vây Trung Quốc, đổ bộ lên Bãi Cỏ Mây (RFI) – Tại khu vực Bãi Second Thomas Shoal (tên Việt Nam : Bãi Cỏ Mây ; tên Philippines : Ayungin; tên Trung Quốc : NhânÁi) hiện do Manila kiểm soát, nhưng đang bị tuần duyên Trung Quốc phong tỏa, vào hôm qua 29/03/2014, một chiếc tàu tiếp tế Philippines đã vượt qua được vòng vây của tuần duyên Trung Quốc để đổ bộ lên bãi. Ngoài ra, thất bại của tàu Trung Quốc trong việc ngăn chặn diễn ra dưới sự chứng kiến tận mắt của truyền thông quốc tế.
  • Châu Âu cấm nhập cá từ Cam Bốt, vì đánh bắt sai luật quốc tế (RFI) – Đầu tuần này, ngày 24/03/2014, Liên Hiệp ChâuÂu thông báo : Cá của Cam Bốt và hai nước – Belize ở Trung Phi và Gunée ở Tây Phi không được phép nhập vào thị trường Liên Hiệp ChâuÂu vì đánh bắt cá sai quy định luật quốc tế. Theo ChâuÂu, nhiều tàu cá nước ngoài được Phnom Penh cho treo cờ quốc gia Cam Bốt dễ dàng, tiếp tay cho hoạt động đánh bắt cá trái phép.
  • Những chuyến xe cây giống từ miền Nam (RFA) – Gần đây, ở các tỉnh miền Trung thường xuất hiện những chiếc xe tải chở đầy cây giống có bản số từ các tỉnh miền Tây Nam Bộ, sự luân chuyển cây giống này cũng giúp cho người làm vườn miền Tây tránh bớt thua lỗ và người nông dân miền Trung có thêm niềm hy vọng mới.
  • Âu Bảo Ngân – The Voice và tương lai nhạc kịch Việt Nam (RFA) – Cuộc thi The Voice (Giọng hát Việt) 2013 đã khép lại khá lâu, dù không đạt giải cao nhưng Âu Bảo Ngân – cô gái trẻ đến từ Sóc Trăng có lẽ là thí sinh gây được ấn tượng mạnh nhất kể từ vòng dấu mặt và kể cả đến giờ, sau một năm thì cái tên Âu Bảo Ngân vẫn được nhiều người nhắc đến.
  • MH370: Người thân TQ giận dữ (BBC) – Người thân của hành khách Trung Quốc trên máy bay Malaysia mất tích đã bày tỏ giận dữ sau khi đến Kuala Lumpur.
  • Trung Quốc tịch thu 14,5 tỉ đô la tài sản liên quan đến Chu Vĩnh Khang (RFI) – Chính quyền Trung Quốc đã tịch thu số tài sản trị giá 90 tỉ nhân dân tệ (14,5 tỉ đô la) từ những người thân cận của cựu Bộ trưởng Công an Chu Vĩnh Khang, nhân vật đang là trung tâm của một xì-căng-đan tham nhũng chưa từng thấy tại Trung Quốc từ hơn 60 năm qua. Hãng Reuters hôm nay 30/03/2014 dẫn hai nguồn tin thân cận chính quyền Bắc Kinh cho biết như trên.
  • Bầu cử địa phương vòng 2 tại Pháp : Cánh tả sợ thảm bại (RFI) – Nhân vòng hai cuộc bầu cử cấp địa phương tại Pháp hôm nay, 30/03/2014, trong số 36700 công xã, quận, thành phố bầu lại thị trưởng, đại biểu địa phương, chỉ có 6455 nơi tổ chức cuộc bỏ phiếu, các nơi khác đã có kết quả ngã ngũ ngay sau vòng một cách nay một tuần. Theo giới quan sát, có bốn thách thức chính trong cuộc bỏ phiếu vòng hai; trong đó có quy mô thất bại của cánh tả.
  • Bắc Triều Tiên lại đe dọa thử hạt nhân (RFI) – Chính quyền Bình Nhưỡng hôm nay, 30/03/2014, tuyên bố không loại trừ tiến hành vụ thử hạt nhân lần thứ tư, nhằm đáp trả những mối đe dọa do Hàn Quốc và Hoa Kỳ tập trận, cũng như việc Liên Hiệp Quốc lênán Bắc Triều Tiên bắn thử tên lửa tầm trung.
  • TT Yingluck sẽ trình diện Ủy ban Quốc gia Chống tham nhũng (RFA) – Thủ Tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra sẽ ra trước Ủy Ban Quốc Gia Chống Tham Nhũng để trả lời những câu hỏi liên quan đến các cáo buộc cho rằng bà sử dụng công quỹ cho chương trình trợ giá gạo với mục đích tìm thuận lợi chính trị, và không kiểm soát chặt chẽ để tham nhũng chia chác tiền của nhà nước.
  • Thái Lan bầu Thượng viện trong bối cảnh khủng hoảng chính trị (RFI) – Hôm nay, 30/03/2014, cử tri Thái Lan được kêu gọi đi bầu lại một nửa trong tổng số 150 Thượng nghị sĩ. Trong bối cảnh khủng hoảng chính trị, cuộc bầu cử Quốc hội, tức Hạ viện, hồi đầu tháng Hai vừa qua bị Tòaán Bảo Hiến bác bỏ, Thượng viện đứng ra đảm nhiệm vai trò lập pháp.
  • Ống nghe của bác sĩ chứa nhiều vi khuẩn hơn bàn tay (RFI) – Ống nghe, một dụng cụ không thể thiếu được của bác sĩ để nghe phổi, nghe nhịp tim, để chẩn đoán bệnh, hóa ra còn bẩn hơn cả bàn tay của bác sĩ, đó là báo động được đưa ra trong một công trình nghiên cứu của Thụy Sĩ được công bố ngày 28/02/2014.
  • Bầu cử địa phương Thổ Nhĩ Kỳ : Tương lai Thủ tướng Erdogan bị đe dọa (RFI) – Hôm nay 30/03/2014, cử tri Thổ Nhĩ Kỳ bỏ phiếu bầu chính quyền địa phương. Kết quả cuộc bỏ phiếu hôm nay sẽ quyết định số phận của Thủ tướng Recep Tayyip Erdogan, đang bị lênán mạnh mẽ vì phong cách lãnh đạo độc đoán,ông Erdogan cũng bị hàng loạt cáo buộc tham nhũng nghiêm trọng.
  • Quân Taliban tấn công trụ sở ủy ban bầu cử tại thủ đô Afghanistan (RFI) – Chủ Nhật tuần tới, 06/04/2014, Afghanistan tổ chức vòng một cuộc bầu cử Tổng thống. Thế nhưng, bạo động vẫn liên tiếp xẩy ra. Hôm qua, một nhóm quân Taliban đã tấn công và chiếm giữ trụ sở ủy ban bầu cử tại Kabul trong vòng nhiều tiếng đồng hồ, trước khi bị lực lượng an ninh Afghanistan vô hiệu hóa. Đây là lần thứ hai trong vòng 5 ngày, cơ quan phụ trách bầu cử Afghanistan bị tấn công.
  • Ngoại trưởng Mỹ-Nga bàn về Ukraina tại Paris (RFI) – Trong cuộc điện đàm hôm thứ Sáu, 28/03/2014, Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng thống Nga Vladimir Putin đã quyết định giao cho các Ngoại trưởng của mình thảo luận, tìm kiếm một giải pháp ngoại giao cho cuộc khủng hoảng Ukraina. Do vậy, chiều nay, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và đồng nhiệm Nga Serguei Lavrov gặp nhau tại Paris.
  • Điều tra dân số Miến Điện : Dân Rohingya dưới sức ép của Phật tử cực đoan (RFI) – Cuộc thống kê dân số đầu tiên của Miến Điện kể từ 30 năm nay, khởi sự từ hôm nay 30/03/2014 và sẽ kéo dài trong 12 ngày. Được tiến hành với mục tiêu giúp chính quyền dân sự cải thiện chính sách trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, đô thị hóa…, tuy nhiên, cuộc điều tra dân số đã gây ra nhiều căng thẳng xã hội, đặc biệt liên quan đến các mâu thuẫn sắc tộc tôn giáo tại bang Rakhine, cũng như tiến trình lập lại hòa bình giữa chính phủ với các nhóm thiểu số ở miền Bắc và Đông bắc.
  • Người già và Em bé (RFA) – Chiến tranh đã kết thúc lâu rồi, tiếng bom đã im, đạn đã nín, ghế đá đã dời vào công viên, đúng nơi của nó, nhưng sao “Người Già và Em Bé” vẫn còn thiệt thòi thế này…
  • Giờ Trái đất Xanh 2014 (RFA) – Giờ Trái Đất lần thứ tám vừa diễn ra hôm tối thứ bảy 29 tháng 3 vừa qua. Việt Nam trong mấy năm rồi cũng tham gia tắt đèn một giờ cùng với các nơi khác tham gia Giờ Trái Đất. Ngoài hoạt động đó, còn có hoạt động gì đáng chú ý trong chiến dịch Giờ Trái Đất năm nay tại VN?
  • Ai Cập loan báo ngày bầu cử tổng thống (VOA) – Ủy ban bầu cử Ai Cập nói rằng cuộc đầu phiều sẽ được tổ chức vào ngày 26 tháng 5 và 27 tháng 5, với kết quả theo dự tính sẽ có được vào đầu tháng 6
  • Thái Lan bầu cử Thượng viện (VOA) – Cuộc bầu cử diễn ra một ngày sau khi hàng chục ngàn người biểu tình Thái Lan chiếm đường phố ở thủ đô Bangkok đòi thủ tướng Yingluck từ chức.
  • Philippines kiện Trung Quốc (BaoMoi) – Theo Hãng thông tấn GMA, ngày 30-3, Philippines đã nộp hồ sơ lên Tòa án trọng tài Liên hiệp quốc về Luật Biển, chính thức khởi động vụ kiện Trung Quốc liên quan đến “đường chín đoạn” ở biển Đông, bất chấp vụ việc có thể khiến quan hệ Manila – Bắc Kinh trở nên căng thẳng.
  • Philippines trình 4.000 trang tài liệu kiện Trung Quốc (BaoMoi) – TTO – Philippines đã trình 4.000 trang tài liệu lên Tòa án quốc tế ở The Hague, Hà Lan kiện Trung Quốc liên quan tới các tuyên bố lãnh thổ ở biển Đông, bất chấp những cảnh báo từ Bắc Kinh rằng vụ kiện sẽ làm phương hại tới quan hệ song phương.
  • Philippines tiếp tục thách thức Trung Quốc (BaoMoi) – Hôm 30-3, Philippines đã gửi biên bản ghi nhớ các luận chứng lên Tòa án Trọng tài Thường trực Quốc tế ở The Hague – Hà Lan nhằm chống lại đòi hỏi chủ quyền vô lý của Trung Quốc ở biển Đông.
  • Philippines gửi tài liệu kiện Trung Quốc lên Tòa án quốc tế (BaoMoi) – Ngày 30/3, Philippines đã đệ trình bằng chứng chống lại các tuyên bố chủ quyền rộng lớn của Trung Quốc đối với vùng biển Đông lên một tòa án quốc tế bất chấp việc Bắc Kinh cảnh báo vụ kiện sẽ hủy hoại quan hệ giữa hai nước.

-Hạn chế ‘con ông cháu cha’ trong lịch sử

BBC

Kinh thành Huế

Quan chế trong truyền thống có nhiều điều đáng học hỏi, theo một nhà nghiên cứu.

Tìm kiếm, tuyển chọn, bồi dưỡng đúng được người có tài, đức để ra làm quan phò dân, giúp nước, luôn là một ưu tiên trong lịch sử truyền thống Việt Nam, theo nhà nghiên cứu văn hóa từ Việt Nam.

Tệ nạn lạm dụng quan hệ quyền lực ‘con ông cháu cha’ gây lũng đoạn hệ thống nhà nước, giúp tư lợi cá nhân, trên thực tế đã luôn được nhiều triều đại trong quá khứ của Việt Nam tìm cách hạn chế, như ở thời kỳ của Triều đình nhà Nguyễn kéo dài suốt 143 năm, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân.

Hôm 30/3/2014, nhà nghiên cứu điểm lại một số quan chế trong quá khứ từ hình thức ‘tập ấm’, ‘hội trị’ cho tới ‘hậu bổ’ sau này ở cuối thời Nguyễn, để chỉ ra những gì mà theo ông Việt Nam hiện nay có thể tham khảo.

Theo ông Xuân, không phải cứ được một xuất xứ thuận lợi nào đó về mặt quan quyền từ gia đình, dòng họ, mà một người nào đó theo dạng vẫn được gọi là ‘con ông cháu cha’ có thể dễ dàng ra làm quan khi thiếu các phẩm chất được yêu cầu, kỳ vọng.

Ông Xuân nói: “Không phải có chuyện do tập ấm mà các con ông quan lớn ra làm quan, cái đó trong Triều Nguyễn không có, không có cái đó.

“Còn trường hợp con mà giỏi, thi cử đậu, đạt, thì họ ra làm quan thì chuyện đó bình thường, không phải vì do tập ấm mà họ ra làm quan. Còn mấy ông phò mã, con của Vua cũng không có ra làm quan, phần lớn họ được lương hưởng, không có ra làm quan,

So sánh với chế độ tuyển chọn, bồi dưỡng, bổ nhiệm quan chức cao cấp lớp kế cận ngày nay, nhà nghiên cứu nói:

“Bây giờ Việt Nam cũng có chế độ đưa mấy con mấy ông lớn vô để kế nghiệp mình, để xây dựng, đào tạo lên để kế nghiệm mình, thì cái đó giữa cái này và cái thời xưa Triều Nguyễn thì hoàn toàn khác nhau, chứ không có giống nhau.”

‘Phải đi chỗ khác’

Theo nhà nghiên cứu, riêng trong Triều Nguyễn (1802-1945), trong phần lớn thời gian, nhiều quy định nghiêm ngặt đã được áp dụng để kiểm soát, ngăn cấm việc lợi dụng quan hệ cá nhân, huyết thống, thân thuộc để các nhóm cầm quyền thao túng quyền lực.

Ông Xuân nói: “Anh làm quan, anh không được đứng đầu tỉnh của anh, ở huyện của anh, mà anh phải đi chỗ khác.

“Thứ hai là anh tới chỗ đó anh làm mà có một người bà con nội ngoại của anh rồi, thì nếu người đó không quan trọng thì đổi người đó đi và anh được làm quan.

 

Bây giờ Việt Nam cũng có chế độ đưa mấy con mấy ông lớn vô để kế nghiệp mình, để xây dựng, đào tạo lên để kế nghiệm mình, thì cái đó giữa cái này và cái thời xưa Triều Nguyễn thì hoàn toàn khác nhau, chứ không có giống nhau

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân

“Còn nếu người đó quan trọng không thay đổi được thì anh phải đi chỗ khác, chứ anh không được về địa phương đó.

Nhà nghiên cứu còn cho hay có những quy định mà Vua cũng phải tuân thủ.

Ông nói: “Đó là những cấm kỵ, hay là họ ngoại, họ ngoại của Vua, con cháu họ hàng của mấy bà vợ, không được ra làm quan, không được làm quan.

“Và cái đó ghi rất rõ ở trên Văn Thánh, là một cái bia ghi rõ là họ ngoại không được làm quan.

“Thí dụ con cháu bà Từ Dũ giỏi cỡ mấy, không ai được làm quan, cho tiền rồi về nhà ở nhà thôi, chứ không ra làm quan.

“Tập ấm là lương và vinh dự thôi, chứ không hoàn toàn tập ấp là ra làm quan.”

‘Đổi trác quyền lực’

Theo nhà nghiên cứu, Triều Nguyễn cũng đã có những quy định nghiêm nhằm răn đe, nghiêm cấm việc quan lại đổi trác quyền lực với nhau, chẳng hạn như người này nhờ người khác giúp đỡ, bao bọc quyền lực, tạo điều kiện biệt đãi cho con cháu mình được làm quan ở nơi người quen của mình.

Và ngược lại, để đổi lại, quan chức nhờ vả đó sẽ bao bọc, biệt đãi con cái của quan chức khác để con cháu hai bên cùng được làm quan lại ở các vị trí, vị thế cao trọng, với điều kiện thuận lợi, dễ dàng.

Ông Xuân nói:

“Cái đó Triều Đình không biết thì thôi, chứ Triều Đình biết là chết, nói chung là rất sòng phẳng, không có cái chuyện đổi trác lẫn nhau, không có cái đó, hồi xưa không có cái đó.

“Nhưng vào cuối Triều Nguyễn, không còn có (mạnh) nữa, thì cũng có thể xảy ra một vài trường hợp họ hàng, chứ không có nhiều đâu.

“Triều Đình biết là coi như kỷ luật ngay lập tức, đuổi anh về liền, là cách chức anh liền lập tức chứ không có chuyện gia đình trị, hay họ hàng, con ông cháu cha như bây giờ là không có, hoàn toàn không có.”

‘Phễu lọc khoa cử’

Theo nhà nghiên cứu, chế độ khoa cử ngặt nghèo cũng giúp bảo đảm người chân tài, thực học, có đạo đức và các phẩm chất theo yêu cầu có thể được tuyển vào bồi dưỡng, học tập để sau ra làm quan, trong khi những ai dù là ‘con ông, cháu cha’ nhưng không có tài, đức, cũng có thể bị gạt ra ngoài.

Năm 1911, trong thời Pháp thuộc, người Pháp đã mở hệ thống trường đào tạo giới chức hành chính ở Việt Nam, về Trường hậu bổ, ông Nguyễn Đắc Xuân bình luận:

Nặng là người giới thiệu có thể mất chức, chứ không phải là anh giới thiệu lên thì muốn làm gì thì làm. Bây giờ người ta kết nạp Đảng có hai người giới thiệu Đảng, sau cái anh Đảng viên này anh làm tào lao, mà hai người giới thiệu lại không có trách nhiệm gì cả

Nguyễn Đắc Xuân

“Trường hậu bổ là anh đã học hành rồi, anh đã đỗ đạt rồi, nhưng anh không trực tiếp ra làm quan được, mà anh phải học. Anh học hành chánh, anh học đạo đức, anh học về nguyên tắc làm quan…

“Rồi sau anh đi ra làm quan, anh không phải từ Hậu Bổ ra đi làm quan liền đâu, mà anh phải về thực tập ở những nơi mà người ta sẽ cử anh tới. Cho nên anh phải thực tập mấy năm đó, một thời gian ngắn hay dài rồi anh mới được bổ, anh mới được chính thức ra làm quan, chứ không được ra làm quan.

Về việc tiến cử quan lại, theo nhà nghiên cứu, có những quy định mà tới nhà Vua cũng phải tuân thủ.

Ông Xuân nói: “Theo tôi cho đến thời gian độc lập của Triều Nguyễn, có hai loại là ông Vua cũng không có quyền cử người, mà nó phải qua khoa cử. Anh thi đỗ rồi, anh ra, người ta chọn anh, rồi anh mới ra làm quan.

“Cái thứ hai những người tài ở các địa phương, rồi địa phương đó đưa từ xã lên huyện, rồi lên tỉnh, rồi Triều đình mới biết giỏi, thì kêu vào thử lại.”

‘Phải chịu trách nhiệm’

Triều đình phong kiến cũng có quy định nghiêm ngặt nhằm nâng cao chất lượng của việc tiến cử quan lại, mà theo ông Xuân, trong trường hợp người nào tiến cử quan lại sai, người đó sẽ phải chịu trách nhiệm liên đới.

Ông Xuân nói: “Anh làm quan, anh giới thiệu một người ra làm quan, sau đó người đó tỏ ra là quan lại không tốt, thì người giới thiệu phải chịu trách nhiệm.

“Nặng là người giới thiệu có thể mất chức, chứ không phải là anh giới thiệu lên thì muốn làm gì thì làm.

“Bây giờ người ta kết nạp Đảng có hai người giới thiệu Đảng, sau cái anh Đảng viên này anh làm tào lao, mà hai người giới thiệu lại không có trách nhiệm gì cả.

“Cũng như bây giờ một ông Ủy viên Trung ương giới thiệu một ông Trung ương, ông Trung ương sau tham nhũng này kia, mà người giới thiệu ông lên Trung ương không có trách nhiệm.

“Hoàn toàn bây giờ người ta không có hiểu những cái hay của Triều Nguyễn ngày xưa, hiện nay không có thực hiện bất cứ một thứ gì cả.

“Mà bởi vậy Triều Nguyễn khó khăn vô cùng, nó nghèo nàn, nó bị Trung Quốc, nó bị các nước, đặc biệt là Pháp áp lực, mà vẫn giữ cho được 143 năm là vì nó nhờ luật lệ rất nghiêm, mà nghiêm nhất là trong vấn đề dùng người.”

‘Luân chuyển ngày nay’

Gần đây, Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành đợt một luân chuyển cán bộ cao cấp, kế cận, với 44 quan chức thế hệ trẻ được cử về các địa phương, ban ngành khác nhau ở nhiều tỉnh ngành tham gia lãnh đạo.

Trong số này, khoảng 50% được giới thiệu là nằm trong diện sẽ trở thành các Ủy viên Trung ương Đảng và nắm các chức vụ cao cấp trong chính quyền từ Đại hội Đảng lần thứ 12, dự kiến tổ chức trong năm năm 2016.

Tôi nghiên cứu Triều Nguyễn, anh không đời nào được làm đứng đầu, làm quan chức trong tỉnh của anh, mà anh phải đi tỉnh khác. Ngay cả tôn thất ngày xưa ở Huế không được làm Phủ Doãn Thừa Thiên, mà phải ra Thanh Hóa hoặc là các tỉnh khác, chứ không được ở Thừa Thiên Huế

Nguyễn Đắc Xuân

 

Bình luận về điều này, ông Nguyễn Đắc Xuân nói: “Tôi nghiên cứu Triều Nguyễn, anh không đời nào được làm đứng đầu, làm quan chức trong tỉnh của anh, mà anh phải đi tỉnh khác.

“Ngay cả tôn thất ngày xưa ở Huế không được làm Phủ Doãn Thừa Thiên, mà phải ra Thanh Hóa hoặc là các tỉnh khác, chứ không được ở Thừa Thiên Huế. Toàn bộ Triều Nguyễn không có một người tôn thất nào ở tại Thừa Thiên Huế, đứng đầu Thừa Thiên Huế hết.

“Cho nên chuyện này là một ‎ý kiến, một chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì cái đó tôi chưa hiểu hiệu quả sẽ như thế nào. Tôi chưa biết là nó hay, hay nó dở, nên tôi chưa dám nói, nhưng mà triều Nguyễn thì họ cấm việc đó.”

Việt Nam chưa bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình!

TBKTSG

Phan Minh Ngọc

Sản xuất lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh TL-TBKTSG

(TBKTSG Online) – Việt Nam đã rơi vào bẫy thu nhập trung bình hay chưa là đề tài thu hút sự chú ý của người đọc và nhiều ý kiến tranh luận trên TBKTSG Online. Tòa soạn xin giới thiệu ý kiến dưới đây của chuyên gia kinh tế Phan Minh Ngọc để bạn đọc tham khảo.

>>> “Việt Nam đã rơi vào bẫy thu nhập trung bình” – (Nhận định của GS Kenichi Ohno

>>> Thất vọng! – (ý kiến phản biện của TS Lê Hồng Giang)

Mới đây, GS Kenichi Ohno thuộc Viện Nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật Bản cho rằng: “Ngày nay, sau một vài năm đạt mức thu nhập trung bình thấp, bẫy thu nhập trung bình không còn là một nguy cơ xa xôi, mà đã trở thành thực tế ở Việt Nam”. Có năm triệu chứng để kết luận như vậy, đó là: tăng trưởng chậm lại, năng suất sản xuất mờ nhạt, thiếu hụt dịch chuyển cơ cấu, năng lực cạnh tranh trong bảng xếp hạng không có dấu hiệu tăng và xuất hiện các vấn đề do tăng trưởng gây ra.

Tuy vậy, qua những gì mà GS Ohno trình bày, có thể thấy nhận định trên chủ yếu là định tính, và, quan trọng hơn, chưa dựa vào những khái niệm được chấp nhận phổ biến và chuẩn mực so sánh nhằm đi đến kết luận. Trong bài này người viết sẽ tìm câu trả lời cho vấn đề từ việc dùng một số khái niệm và so sánh quốc tế.

Trước tiên, hãy bắt đầu với khái niệm về bẫy thu nhập trung bình. Có một số khái niệm khác nhau đã được đưa ra, nhưng bản thân người viết thấy khái niệm trong một nghiên cứu của IMF là đầy đủ và ngắn gọn (xem: http:// http://www.imf.org/external/pubs/ft/wp/2013/wp1371.pdf).  Theo đó, bẫy thu nhập trung bình là hiện tượng các nền kinh tế vốn tăng trưởng nhanh nay đang bị “mắc kẹt” ở mức thu nhập trung bình và không thể dần dần tiệm cận được mức của nhóm các nền kinh tế có thu nhập cao.

Theo khái niệm này, có thể hiểu rằng Việt Nam đã bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình nếu tốc độ tăng trưởng thu nhập đầu người của Việt Nam tăng chậm hơn mức trung bình của nhóm nước thu nhập cao trong một giai đoạn nào đó. Kiểu lý giải này là hợp lý vì khi tăng trưởng chậm hơn có nghĩa là khoảng cách tụt hậu của Việt Nam với các nước thuộc nhóm thu nhập cao không được rút ngắn mà thậm chí còn bị kéo dài ra. Từ đó, theo đúng khái niệm trên, Việt Nam không thể có cơ hội để bứt phá và lọt vào nhóm nước có thu nhập cao, kể cả trong dài hạn, và, do đó, có thể rút ra kết luận như của GS Ohno.

Tiếp theo, thử làm cuộc khảo sát mức thu nhập của Việt Nam trong tương quan với của các nước có thu nhập trung bình và cao. Sử dụng số liệu GDP tính bằng đô la Mỹ theo giá cố định năm 2005 của Ngân hàng Thế giới (WB) cho giai đoạn 2005-2012 (năm 2012 là năm cập nhật mới nhất của WB), ta có được bảng dưới đây so sánh về tốc độ tăng trưởng GDP trên đầu người giữa các nhóm nước có thu nhập khác nhau trong giai đoạn này.

 

Đv: USD (theo giá cốđịnh 2005)

 GDP trên đầu người

2005

2012

Tăng (%/năm)

Việt Nam

699

986

5,0

Nhómthunhậpthấp

329

423

3,6

Nhómthunhậptrungbình

1.932

2.731

5,1

Nhómthunhậptrungbìnhthấp

904

1.221

4,4

Nhómthunhậptrungbìnhcao

2.955

4.315

5,6

Nhómthunhậpcao

29.978

31.373

0,7

Thếgiới

7.138

7.732

1,1

 

Từ bảng trên có thể thấy trong giai đoạn 2005-2012 thực chất tăng trưởng GDP trên đầu người trung bình hàng năm của Việt Nam (5 %/năm) lớn hơn nhiều so với của nhóm thu nhập cao (0,7 %/năm). Kể cả có so sánh với các nhóm khác, như trong bảng, Việt Nam vẫn là nước có tốc độ tăng trưởng GDP trên đầu người thuộc dạng cao, chỉ thua nhóm nước thu nhập trung bình cao ở mức 5,6 %/năm. Nhưng điều này là dễ hiểu và tất yếu vì nhờ sự có mặt của Trung Quốc trong nhóm thu nhập trung bình cao. Nếu gạt bỏ Trung Quốc thì có thể nói Việt Nam có tốc độ tăng trưởng GDP đầu người khá ngoạn mục, hoàn toàn chưa đáng phải lo ngại ít nhất là về mặt tăng trưởng.

Như vậy, kết luận của GS Ohno nói trên là không xác đáng khi ta sử dụng các khái niệm và so sánh quốc tế. Nói cách khác, đứng về mặt tốc độ tăng trưởng (của GDP hoặc GDP trên đầu người) thì Việt Nam chưa có dấu hiệu đã bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình như ông nhận định.

Tuy vậy, có hai điều cần thừa nhận trong bài này. Thứ nhất, tuy Việt Nam có tốc độ tăng trưởng GDP trên đầu người thuộc dạng cao và đã lọt vào nhóm nước thu nhập trung bình, nhưng thực tế là Việt Nam chỉ lọt vào nhóm nước thu nhập trung bình thấp (thậm chí ở thứ hạng cuối của nhóm này), và vẫn còn một khoảng cách lớn để vươn lên nhóm thu nhập trung bình cao, như trong bảng trên.

Điều cần thừa nhận thứ hai ở đây là, nếu tốc độ tăng trưởng hiện tại được duy trì thì vẫn phải cần đến vài chục năm nữa Việt Nam mới có thể đuổi kịp và lọt vào được nhóm có thu nhập trung bình cao, chứ chưa dám nói đến nhóm có thu nhập cao.

Bởi thế, tuy có thể nói chắc chắn rằng Việt Nam chưa rơi vào bẫy thu nhập trung bình, nhưng cứ với cái đà tăng trưởng này thì Việt Nam còn lâu mới thoát ly được ra khỏi nhóm nước thu nhập trung bình. (Lưu ý sự khác biệt giữa bẫy thu nhập trung bình và (nhóm nước) thu nhập trung bình).

Vì sao người dân không thiện cảm với công an?

000_Hkg7588590-305.jpg
Công an ngăn chặn người dân biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội hôm 22/7/2012.

AFP PHOTO
Tại Việt Nam, trong mắt của người dân hiện nay, hình ảnh công an nhân dân là những người hách dịch, tham nhũng, quan liêu, vô văn hóa, vô đạo đức, ưa gây  khó khăn phiền hà, làm cho đất  nước không phát triển. Sự thật ra sao?

Người dân có cái nhìn tiêu cực?

Chức năng của Công an nhân dân là đại diện cho người dân để bảo vệ an ninh – trị an, phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời giúp dân khi cần đến họ. Tại Việt Nam có hai loại công an mà người dân phải thường xuyên gặp hằng ngày đó là công an khu vực và công an giao thông. Người dân nói rằng chạy xe ra đường gặp công an giao thông, về nhà thì gặp công an khu vực, với những phiền hà mà công an nói chung gây ra.

Tuy nhiên, hầu như đa số công an luôn cho mình là đúng khi làm bất cứ việc gì với người dân, mặc dù trong lúc tiếp dân họ không thèm quan tâm đến người dân đang cần gì? Thái độ của những người công an như ban phát, xem dân là những người phải cần đến họ chứ không phải đó là công việc và trách nhiệm phải phục vụ nhân dân của họ, dù rằng người dân phải đóng thuế để trả lương cho những người mặc áo ngành này.

Khi được hỏi tại sao người dân có cái nhìn không thiện cảm với công an nhân dân, hầu như những người đang làm công an đều trả lời rằng người dân có cái nhìn tiêu cực về họ, không nói đúng và khách quan. Họ làm việc vất vả lắm, chứ có phải chơi đâu. Anh công an tên Kha đang công tác tại quận 5, Sài Gòn nói rằng:

Ở đâu cũng thế thôi, theo tôi thấy có một số điều tiêu cực và tích cực, giống như đi họp Anh thấy rồi đó, ở đâu cũng có khuyết điểm, ưu điểm.  -Anh Kha

“Ở đâu cũng thế thôi, theo tôi thấy có một số điều tiêu cực và tích cực, giống như đi họp Anh thấy rồi đó, ở đâu cũng có khuyết điểm, ưu điểm. Họ (công an) đảm bảo an ninh trật tự rất là tốt, bên đó có nhiều khi đòi hỏi cũng chưa thật tốt. Nhưng nếu mà so ra giữa công việc của họ, công việc của mình là hai cái khác. Ví dụ trong thời gian này, Anh đi chơi, đi nhậu, ăn uống thoải mái, thì họ phải trực chờ, phải đi vòng vòng, xem coi có ai giựt đồ, hay làm hại an ninh không, hay làm gì đó? Thì họ làm việc xử lý là công việc họ vậy.”

Nhân viên hành chánh hay công an nhân dân đều nhận lương từ tiền thuế của người dân thì phải hoàn thành làm tròn trách nhiệm của mình, Anh Quân Anh – một viên chức nhà nước –  đang công tác tại Hà Nội cho biết cái nhìn của anh về công an mà anh cho là bao biện:

“Về quan điểm cá nhân thì mình không ủng hộ cách nghĩ như thế, họ phải là người có trách nhiệm làm nhiệm vụ, phải hoàn thành nhiệm vụ mình và phải có văn hóa phải hoàn thành công việc, không phải có lý do A,B,C để biện minh cho những hành động của mình được, đấy là những lý do bao biện thôi, đấy là một lý do không chính đáng.”

Một người dân cư ngụ tại Quận Tân Bình, chủ một doanh nghiệp nhỏ ngành vận chuyển tên Hùng cũng không đồng ý với những gì anh công an tên Kha nói:

000_Hkg8090526-250.jpg
Công an ngăn cản người biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội hôm 09/12/2012. AFP photo
Nó như vậy là nó sai rồi. Bởi vì đơn giản thôi, mấy ông đi làm, cái công việc của mấy ông là gì? Công việc chính của mấy ông là giao thông đi, các anh là lo là điều tiết giao thông, cái thứ hai – cái quan trọng nhất của mấy anh là giảm tai nạn, cái thứ ba của anh nữa là phòng ngừa tai nạn, chứ không phải… còn nó nói kiểu đó thì nó coi người dân là cái thứ gì, người dân chỉ được làm những gì nó muốn hay sao ?”

Anh Hùng cho biết tiếp, chính bản thân anh rất bức xúc, mỗi lần nói đến công an là chỉ muốn chửi thề, đặc biệt là công an giao thông:

Mấy cái thằng giao thông đó mà, cái việc của nó là nó lượm tiền mình mà. Nói chung, là đi ngoài đường, cái vấn đề ở chỗ đây là nói thiệt chứ con nhỏ bây giờ mình chở một đứa – hai đứa, nó có vấn đề gì đâu, nhưng mà cái tụi giao thông, thực tế của nó là giống như là cái kiểu được có cái luật pháp ủng hộ để mà phạt người dân thôi, còn giấy tờ giao thông ra ngoài đường thì nó; cái vấn đề bây giờ – cái chính – cái mấu chốt vấn đề là cái tai nạn giao thông. Cho nên cái vấn đề ở đây rất bức xúc cái chuyện đó, nhưng mà cái vấn đề này theo tôi biết cũng chả có giải quyết được đâu, bởi vì ngay cái vấn đề – cái quan điềm nó đã được hậu thuẫn từ pháp luật rồi.

Những người không thiện chí?

Hầu như người dân Việt Nam đều ngán ngẫm mỗi lần đến công an để xác nhận bất cứ loại giấy tờ nào. Họ phải thật kiên nhẫn mới không thể nóng giận tại nơi làm việc công quyền bởi hầu như tất cả mọi người đều bị công an nhìn với ánh mắt khinh miệt vì cho rằng họ đang xin xỏ. Anh Hùng chia sẻ những lần đi làm giấy tờ tại trụ sở công an:

Người ta coi giống như là mình tới người ta đang xin xỏ vậy đó; chẳng hạn như mình đang nói chuyện với người ta, họ có thể nó bỏ đi bất cứ lúc nào. -Anh Hùng

Người ta coi giống như là mình tới người ta đang xin xỏ vậy đó; chẳng hạn như mình đang nói chuyện với người ta, họ có thể nó bỏ đi bất cứ lúc nào, giống như là nó không coi lời nói của người dân là cái thứ gì hết đó, nó không coi người dân là cái người mà nó phải phục vụ mà nó coi người dân như là tới đó để xin xỏ nó. Chẳng hạn như là, nhiều lần mình đi mình gọi là khai báo luật gọi là tạm trú tạm vắng đi, đang trình bày với nó, nó đứng lên nó đi à, còn không nó mở ra nó nói “ừ, cái này không được, này nọ nọ kia, làm sai rồi – phải làm này làm kia”, trong khi đó nói thiệt nha, mình đi tới đây mình là trình độ đại học hết nha, chưa chắc gì mấy cái người gọi là kêu mình sai này sai kia là được trình độ như mình. Cái vấn đề ở đây là để cho một cái thằng dốt, cái tầng lớp dốt mà nó đi quản lý cái tầng lớp trên trình độ hơn, thì đương nhiên là nó rất là nhiều cái gọi là không có tôn trọng người dân.”

Viên công an tên Kha cho biết ngành công an rất quan tâm đến người dân, chăm lo cho đời sống người dân, tôn trọng người dân, chỉ khó khăn đối với những người thiếu thiện chí với chính quyền Việt Nam:

“Khó với dạng những người không có thiện chí, còn đối với dân, những người xung quanh họ hàng đó, những người bà con thân thuộc trong lối xóm, thậm chí những người xa lạ ở trong Việt Nam có thiện chí chúng tôi vẫn phải đi coi, đối với những người không có thiện cảm và những ý đồ mà chiếm lợi dụng lấy tư lợi riêng cho mình đó thì những người đó tôi không có thiện cảm.”

Lực lượng phục vụ nhân dân của chính quyền không riêng ngành công an mà các ngành phục vụ xã hội khác đều chưa được chuyên nghiệp trong cách hành xử đối với người dân. Do không có văn hóa, đạo đức nghề nghiệp họ vẫn coi họ là người có quyền ban phát mà không nghĩ đó là nghĩa vụ phục vụ người dân. Đây là những bất cập mà hệ thống chính quyền Việt Nam hiện nay không thể khắc phục trong một sớm một chiều khi cả hệ thống đã quen sinh hoạt như vậy từ nhiều chục năm về trước.

An Nhiên, thông tín viên RFA
2014-03-30

 

Hệ lụy ODA – Trật tự thế giới mới – ASEAN vô tích sự


The Economist – Trật tự thế giới mới

Trật tự thế giới hậu Xô-viết hẳn là không hoàn hảo, nhưng thứ trật tự Vladimir Putin đang muốn áp đặt rõ là tệ hơn nhiều.
Tuần rồi, Vladimir Putin bảo Quốc hội Nga rằng: “Trong tâm tư người dân, Krym mãi là một phần không thể tách rời Nga.” Và thế là Putin đã sáp nhập bán đảo Krym vào Nga với tốc độ và cách làm hiệu quả đến chóng mặt, với sự hậu thuẫn của đa số áp đảo qua trưng cầu dân ý. Putin gọi đó là thắng lợi của trật tự, của chính danh, và là một đòn đau đánh vào bàn tay thập thò can thiệp từ phương Tây.
Nhưng, coi vậy mà không phải vậy, Putin không đại diện cho trật tự mà đại diện cho bất ổn và đấu đá. Việc đầu tiên Putin làm để đặt nền móng cho trật tự mới là vẽ lại đường biên giới dựa trên những lý lẽ tuỳ tiện, những lý lẽ rất dễ bị lợi dụng để thổi bùng ngọn lửa tranh chấp lãnh thổ tại hàng chục nơi khác trên thế giới. Thêm nữa, dù hầu hết người Krym muốn theo Nga, cuộc trưng cầu dân ý vừa rồi cũng chỉ là một trò hề. Hành xử của Nga gần đây thường được dư luận gán cho một cách phiến diện rằng đó là khởi đầu cho một cuộc chiến tranh lạnh mới giữa Nga và Mỹ. Thực ra, hành xử đó đặt ra một đe doạ rộng lớn hơn, và là đe doạ cho bất cứ quốc gia nào ở bất cứ đâu, vì Putin vừa ngang nhiên lái xe tăng, cán bừa rồi ngồi chồm hổm trên trật tự thế giới hiện có.
Đất mẹ xiết vào lòng
Chính sách đối ngoại thường đi theo chu kỳ. Chế độ Xô-viết sụp đổ mở đường cho một thập niên thống trị vô đối của Mỹ và sự khẳng định rình rang những giá trị Mỹ. Nhưng thế giới “duy ngã độc tôn” này, được thổi phồng lên bằng sự ngạo mạn vô lối của George Bush, đã phải hụt hơi ngạt thở trong khói bụi từ cuộc chiến Iraq. Từ đó, Barack Obama đã tìm cách đưa ra một đường lối đa phương hơn, có người có ta hơn, xây dựng trên niềm tin rằng Mỹ có thể đứng chung chiến tuyến với các nước khác để đương đầu với những vấn nạn chung và để cùng nhau cô lập kẻ ác. Đường lối này thất bại thảm hại tại Syria, nhưng vẫn có dấu hiệu cho thấy hiệu quả khi áp dụng tại Iran. Tuy ảnh hưởng đã giảm nhưng phải nói rằng chính uy thế của Mỹ đã giúp cho đường hàng hải thế giới vẫn còn thông thoáng, các biên giới còn được tôn trọng và luật pháp quốc tế hầu hết được tuân thủ. Xét ở mức độ đó thì trật tự hậu Xô-viết rõ là có ý nghĩa của nó.
Nhưng Putin đang phá huỷ trật tự này. Ông cố khoác cho việc sáp nhập Krym chiếc áo luật pháp quốc tế, chẳng hạn như lập luận rằng việc loại bỏ chính quyền ở Kiev vừa qua khiến ông không còn bị trói buộc bởi thoả ước đảm bảo sự vẹn toàn lãnh thổ Ukraine, một thoả ước Nga đã ký năm 1994 khi Ukraine từ bỏ vũ khí hạt nhân. Nhưng luật pháp quốc tế chỉ có nghĩa khi chính quyền đến sau thực thi những quyền hạn và trách nhiệm được chính quyền trước trao lại. Chưa hết, Putin còn viện dẫn nguyên lý rằng phải bảo vệ “đồng bào” mình – tức tất cả những ai ông tự tiện gọi là người Nga – bất chấp họ đang ở đâu. Chưa hết, chứng cớ một đường miệng lưỡi một nẻo, Putin còn chối bay chối biến rằng binh lính mang quân phục không phù hiệu nắm quyền kiểm soát tại Krym không phải là lính Nga. Sự kết hợp quái gở của hai vế, một bảo vệ và một dối trá, quả là thứ công thức phù thủy dễ dùng để can thiệp vào bất cứ quốc gia nào có sắc dân thiểu số cư ngụ, không cứ là người Nga.
Khi rêu rao những chuyện ngụy tạo trắng trợn về bọn phát xít ở Ukraine đe doạ Krym, Putin đã xem thường nguyên tắc rằng: sự can thiệp ở nước ngoài chỉ nên dùng như biện pháp cuối cùng trong trường hợp có đại họa. Putin biện minh bằng cách viện dẫn vụ NATO đánh bom Kosovo năm 1999 như tiền lệ. Nhưng cần biết rằng vụ NATO can thiệp vào Kosovo chỉ diễn ra sau khi có bạo động dữ dội và Liên Hiệp Quốc đã phải bó tay sau bao nhiêu nỗ lực bất thành – và bất thành cũng vì Nga cản trở. Ngay cả trong trường hợp này, Kosovo cũng không như Krym bị sáp nhập lập tức, Kosovo chín năm sau đó mới ly khai.
Trật tự mới kiểu Putin, tóm lại, được xây dựng trên chính sách thôn tính phục thù, sự trắng trợn xem thường sự thật, và việc bẻ cong luật pháp cho vừa vặn với những gì kẻ nắm quyền lực mong muốn. Trật tự kiểu đó có cũng như không.
Buồn thay, quá ít người hiểu điều này. Rất nhiều quốc gia bực bội với vị thế kẻ cả của Mỹ và với Châu Âu thích lên lớp dạy đời. Nhưng rồi họ sẽ thấy trật tự mới kiểu Putin còn tệ hại hơn nhiều. Các quốc gia nhỏ chỉ có thể phát triển tốt trong hệ thống luật lệ công khai minh bạch dù chưa hoàn hảo. Nếu giờ đây nguyên lý mạnh được yếu thua lên ngôi thì họ sẽ có rất nhiều điều phải sợ, nhất là khi phải đối phó với một cường quốc khu vực hay gây hấn bắt nạt. Trong khi đó, các quốc gia lớn hơn, đặc biệt là các cường quốc đang lên trong thế giới mới, tuy có ít nguy cơ bị bắt nạt, nhưng không phải vì thế mà một thế giới vô chính phủ trong đó không ai tin ai sẽ không có tác động xấu với họ. Vì nếu ý nghĩa của các thỏa ước quốc tế bị chà đạp, thì Ấn Độ chẳng hạn sẽ rất dễ bị cuốn vào cuộc xung đột vũ trang với Trung Quốc vì vùng đất tranh chấp Arunachal Pradesh hoặc Ladakh. Cũng vậy, nếu việc đơn phương ly khai được chấp nhận dễ dàng, thì Thổ Nhĩ Kỳ chẳng hạn sẽ rất khó thuyết phục sắc dân Kurds trong nước mình rằng tương lai của họ sẽ tốt hơn khi họ chung tay xây dựng hòa bình. Tương tự, Ai Cập và Ả Rập Saudi cũng muốn tham vọng khu vực của Iran bị kiềm chế, chứ không phải được thổi bùng lên nhờ nguyên lý cho rằng người ngoài có thể can thiệp để cứu giúp sắc dân thiểu số Hồi giáo Shia sống khắp vùng Trung Đông.
Ngay Trung Quốc cũng cần nghĩ lại. Về mặt chiến thuật, có thể nói Krym đã đưa Trung Quốc vào tình thế khó ăn khó nói. Vì một tiền lệ về ly khai sẽ là lời nguyền rủa đen đủi, trong khi Trung Quốc hiện có Tây Tạng đang muốn ly khai; ngược lại, nguyên lý thống nhất đất nước lại là bất khả xâm phạm, trong khi Trung Quốc hiện có Đài Loan chưa thể thống nhất. Tuy vậy, về mặt chiến lược, quyền lợi của Trung Quốc rất rõ ràng. Nhiều thập niên qua, Trung Quốc tìm cách trỗi dậy trong hòa bình và lặng lẽ, tránh né một cuộc xung đột như nước Đức hung hăng đã kích hoạt chống lại nước Anh vào thế kỷ 19 để cuối cùng kết thúc trong chiến tranh. Nhưng, hoà bình trong thế giới của Putin lại là điều khó thành, vì bất cứ thứ gì cũng có thể trở thành cái cớ để động thủ, và bất cứ sự gây hấn tưởng tượng nào cũng có thể dẫn đến một màn phản công.
Hành động trước hay trả giá sau
Đối với Obama, đây là giờ phút quyết định: Obama phải thực sự lãnh đạo, thay vì chỉ hợp tác. Nhưng Krym không chỉ là việc của Mỹ, mà còn là của cả thế giới. Với những tai họa nhãn tiền, phản ứng của các nước đến nay nói chung đều yếu và manh mún. Trung Quốc và Ấn Độ hầu như chỉ đứng bên lề. Phương Tây thì áp đặt cấm vận visa và phong tỏa tài sản của một số phần tử Nga. Nhưng những phần tử bị nhắm tới thì lại coi đó là huy hiệu của danh dự.
Ít nhất, việc trừng phạt cũng cần bắt đầu cứng rắn hơn, vượt ngoài dự kiến hơn. Phong tỏa tài sản có thể tác động mạnh, vì như vụ cấm vận Iran trước đây cho thấy, giới tài chánh quốc tế rất sợ dính líu tới guồng máy luật lệ của Mỹ. Cũng vậy, các quan tham của Putin sẽ la lối ầm lên nếu nước Anh không cho London nhận đồng tiền có liên hệ với chế độ tại Nga. Pháp nên hoãn việc bán vũ khí cho Nga; và trong trường hợp phía đông Ukraine là nạn nhân kế tiếp của Nga, thì nước Đức nên sẵn sàng cấm vận xăng dầu và khí đốt Nga. Cần lên kế hoạch ngay bây giờ để giảm mức lệ thuộc của Châu Âu vào nguồn cung cấp năng lượng từ Nga và để NATO mạnh hơn.
Trong ngắn hạn, Ukraine cần nhiều tiền để cứu vãn kinh tế khỏi sụp đổ, và cần nhiều cải cách dài hạn với giúp đỡ của IMF, cùng những tư vấn từ nước ngoài mà Ukraine có thể chấp nhận được. Để đi bước đầu tiên theo hướng này, Mỹ cần lập tức thanh toán các khoản nợ cho IMF, khoản thanh toán đã bị Quốc hội ngăn chặn nhiều tháng nay.
Tuy nhiên, dù cho phương Tây có sẵn sàng dùng những biện pháp cứng rắn chống Putin chăng nữa thì những cường quốc đang trỗi dậy vẫn có thể không mấy hứng thú trong việc lên án Putin. Nhưng, thay vì im hơi lặng tiếng trước vụ sáp nhập phi pháp Krym, những cường quốc đang trỗi dậy kia rất nên suy nghĩ xem họ đang muốn sống trong một trật tự thế giới như thế nào. Họ muốn một trật tự trong đó hầu hết các quốc gia tôn trọng những thỏa ước quốc tế và biên giới đã vạch? Hay là họ thích một trật tự trong đó cam kết bị bẻ cong, biên giới bị xâm phạm và thỏa ước cứ thích là xé?
Phan Trinh dịch
Theo pro&contra

Nguồn: “The new world order”, The Economist, số ra ngày 22/3/2014

”Tàu cá Việt Nam kêu cứu, mất tích gần Trường Sa”

Đây không phải trường hợp đầu tiên tàu cá của ngư dân Việt Nam bị khống chế, đe dọa, uy hiếp trên vùng biển chủ quyền khi đang khai thác.

Gần đây nhất, tàu cá KH 90746 của ông Phan Quang (SN 1965, phường Ninh Thủy, thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa) đã bị một tàu “lạ” khống chế trên vùng biển Hoàng Sa và phải kết thúc chuyển đánh bắt và cập bến gấp hôm 8/3/2014.

Được biết, khi tàu Việt Nam đang câu cá nhám thì tàu lạ đã áp sát và nhiều người đã nhảy lên tàu của Việt Nam khống chế, cướp nhiều tài sản. Bảo gồm: 2 máy bộ đàm, 1 máy định vị, 4 bộc câu cá nhám, 8 điện thoại di động, 7 bộ vi cá nhám cùng các giấy tờ quan trọng khác.

Đatviet

(Tin tức thời sự) – Theo phản ánh, tàu cá KH96365, hoạt động tại Trường Sa đã phát tin kêu cứu về việc bị hai người lạ cầm súng nhảy lên tàu khống chế.

Sáng 30/3/2014, ông Trần Quang Minh, Phó Giám đốc Đài Thông tin duyên hải Nha Trang cho biết hiện đã nhận được tin báo về vụ việc tàu cá của ngư dân bị khống chế, mất tích và bước đầu triển khai tìm kiếm.

Ông Trần Quang Minh khẳng định thông tin Đài nhận được là từ phòng phối hợp tìm kiếm cứu nạn của Bộ đội Biên phòng tỉnh Khánh Hòa.

Hiện tại, một mặt Đài tiếp tục theo dõi thông tin về tàu KH 96365 và hỗ trợ việc tìm kiếm.

Trao đổi với báo Đất Việt, lãnh đạo của Trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn Hàng hải Khu vực IV cũng xác nhận:

“Sau khi nhận được thông tin, chúng tôi đã phối hợp với nhiều cơ quan liên quan để phối hợp xử lý vụ việc. Nhưng hiện tại toàn bộ hệ thống thông tin của tàu KH 96365 không cách nào liên lạc được. Chúng tôi cũng chỉ nhận được chỉ đạo là tiếp tục liên lạc và theo dõi tình hình”

Tàu cá ngư dân Việt Nam đánh bắt ngoài khơi (Ảnh minh họa)
Tàu cá ngư dân Việt Nam đánh bắt ngoài khơi (Ảnh minh họa)

Trả lời về vấn đề vì sao không tổ chức tìm kiếm trên mặt biển, lãnh đạo này cho biết: “Tìm kiếm hiện tại không thể biết được chỗ nào để tìm kiếm, vì trên biển khác với trên bộ, ít nhất phải nắm được cái thông tin để nắm được vị trí của họ.

Dù có biết được thông tin ban đầu, trước khi bị mất tích nhưng con tàu này không bị sự cố, họ chỉ bị khống chế, tức là khả năng điều động, di chuyển vẫn bình thường. Vì thế nếu chúng tôi có chạy ra khu vực này cũng không có gì.”

“Chúng tôi chỉ là đơn vị trực thuộc, nếu muốn tìm kiếm thì phải báo cáo lên cấp trên và trung tâm tìm kiếm cứu nạn quốc gia để nhận chỉ đạo. Hiện tại chưa có chỉ đạo gì, chỉ biết tiếp tục cố gắng liên lạc và tìm kiếm thêm thông tin” – đại diện của Trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn Hàng hải khu vực IV cho biết.

Trước đó, theo phản ánh, tàu cá KH 94969 đang hoạt động tại vùng biển thuộc một bãi cạn nằm trong quần đảo Trường Sa, vị trí có tọa độ 10,50 độ vĩ bắc, 117 độ kinh đông. Đến khoảng 14h ngày 26/3/2014, thuyền trưởng của tàu cá này là ông Phan Hoan nhận được tin báo từ tàu cá KH 96365 qua máy Icom về việc tàu này bị tấn công.

Tàu cá KH 96365 đã báo bị hai người lạ nhảy lên tàu dùng súng khống chế. Ngay sau tin báo, ông Phan Hoan đã thử liên lạc lại với tàu cá 96365 nhưng hoàn toàn mất liên lạc.

Khi xảy ra vụ việc, tàu KH 96365 cách tàu KH 94969 của ông Phan Hoan khoảng 34 hải lý, tọa độ cuối cùng xác định được tàu cá KH 96365 trước khi mất liên lạc là 11 độ vĩ bắc, 118 độ kinh đông.

Được biết, tàu cá KH 96365 do ông Trần Canh làm thuyển trưởng, trên tàu có tất cả 11 người.

Hiện tại, tàu KH 94969 của ông Phan Hoan – tàu nhận được thông báo của tàu bị khống chế cũng đã kết thúc chuyến hải hành của mình sớm hơn dự kiến bởi trên thuyền có một thuyền viên bị ốm nặng. Hiện tại tàu đã cập đảo Song Tử Tây thuộc quần đảo Trường Sa để chăm sóc sức khỏe cho ngư dân này.

Không phải trường hợp đầu tiên

Đây không phải trường hợp đầu tiên tàu cá của ngư dân Việt Nam bị khống chế, đe dọa, uy hiếp trên vùng biển chủ quyền khi đang khai thác.

Gần đây nhất, tàu cá KH 90746 của ông Phan Quang (SN 1965, phường Ninh Thủy, thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa) đã bị một tàu “lạ” khống chế trên vùng biển Hoàng Sa và phải kết thúc chuyển đánh bắt và cập bến gấp hôm 8/3/2014.

Được biết, khi tàu Việt Nam đang câu cá nhám thì tàu lạ đã áp sát và nhiều người đã nhảy lên tàu của Việt Nam khống chế, cướp nhiều tài sản. Bảo gồm: 2 máy bộ đàm, 1 máy định vị, 4 bộc câu cá nhám, 8 điện thoại di động, 7 bộ vi cá nhám cùng các giấy tờ quan trọng khác.

Minh Tuệ

Facebook sẽ dùng vệ tinh, máy bay không người lái để phủ Internet toàn cầu

(TNO) Facebook sẽ sử dụng vệ tinh, máy bay không người lái và các công nghệ khác như một phần cho kế hoạch đầy tham vọng và tốn kém để đẩy mạnh việc kết nối tới người dùng tại các vùng kém phát triển trên thế giới.

Tập đoàn cung cấp dịch vụ mạng xã hội hàng đầu thế giới vào hôm 28.3 thông báo đã thuê các chuyên gia hàng không và truyền thông từ NASA để phục vụ cho dự án “Phòng thí nghiệm kết nối”, theo Reuters.

Hôm nay, 28.3, chúng tôi sẽ chia sẻ một số chi tiết về Phòng thí nghiệm kết nối của Facebook. Dự án này có liên quan đến việc xây dựng máy bay không người lái, vệ tinh và tia laser để mang internet đến mọi người”, Tổng giám đốc kiêm nhà sáng lập Facebook Mark Zuckerberg phát biểu trên Facebook.

Tuy nhiên, Mark Zuckerberg chỉ nói sơ lược và không cho biết thời gian cụ thể về dự án nói trên.

Dự án mới của Facebook được tiến hành với mục đích nhằm kết nối hàng tỉ người hiện không có internet để dùng tại những nơi như châu Phi và châu Á.

Facebook cũng đang làm việc với nhiều hãng cung cấp dịch vụ truyền thông trên thế giới để giúp việc truy cập internet trở nên dễ dàng và rẻ hơn, theo Reuters.

“Chúng tôi sẽ tiếp tục thiết lập các mối quan hệ (với các hãng cung cấp dịch vụ internet), nhưng để kết nối toàn cầu đòi hỏi cần phải phát minh ra công nghệ mới”, Zuckerberg phát biểu trong bình luận đăng trên tài khoản Facebook của mình.

Dự định của Facebook là sẽ triển khai một phi đội máy bay không người lái chạy bằng năng lượng mặt trời, cùng các vệ tinh địa tĩnh bay ở quỹ đạo gần Trái đất, truyền internet cho các khu vực khác nhau trên toàn thế giới.

Các tia laser hồng ngoại vô hình có thể cho phép Facebook đẩy mạnh đáng kể tốc độ truy cập Internet do các máy bay không người lái truyền xuống, theo giải thích của Facebook về dự án Phòng thí nghiệm kết nối.

Giới quan sát nhận định dự án mới của Facebook thể hiện tham vọng ngày càng lớn về việc tăng ảnh hưởng vượt khỏi số người dùng 12 tỉ và tạo ra một công nghệ mới của tập đoàn này.
Hoàng Uy

(Thanh niên)

 

Hệ lụy ODA

http://tuoitre.vn/Ban-doc/135096/he-luy-oda.html

Võ văn Tạo

TTCT – Đến 2005, nợ nước ngoài của VN lên đến khoảng 20 tỉ USD. Vừa trả nợ, vừa vay thêm, đến 2010 con số này sẽ vượt ngưỡng 30 tỉ USD. Hiện nay, mỗi năm phải trả nợ khoảng 2 tỉ USD, mức trả nợ mỗi năm lại tăng cao hơn.

Và nợ nước ngoài có xu hướng đạt tỉ trọng ngày càng cao so với GDP. Theo lý thuyết kinh tế, khi tỉ trọng này lên đến 50%, nguy cơ đổ vỡ tài chính xuất hiện. Trong khi đó tỉ lệ thất thoát trong đầu tư từ ngân sách là khoảng 30%. Một con số ở mức báo động đỏ!

 

Sau hàng loạt sai lầm, tiêu cực như phong trào ximăng lò đứng, các chương trình mía đường, đánh bắt xa bờ, trồng rừng 327 của Chính phủ, hiện tượng nở rộ cả trăm cảng biển đủ cỡ, nước sâu nước nông, chương trình vùng cà phê tập trung ở Tây nguyên, hàng loạt công trình nhà máy hạ tầng, tuyến đường, cây cầu giao thông chưa khánh thành đã trục trặc…, với gần 1.000 cái PMU trên cả nước, chúng ta không thể không có thái độ hết sức thận trọng và nghiêm túc trong huy động, quản lý và sử dụng ODA.

Vì vậy, những biện pháp như tăng cường thuê, nhờ các cơ quan chuyên môn, chuyên gia nước ngoài, huy động các cá nhân có chuyên môn cao (chú trọng Việt kiều tâm huyết), có đạo đức và uy tín trong các hiệp hội chuyên ngành, các cá nhân có trình độ, tâm huyết do cộng đồng dân cư chọn lựa một cách thật sự tự do, dân chủ tham gia hoạch định phương hướng, tư vấn, giám sát, quản lý, kiểm toán là những gợi mở để cải thiện tình hình. Nếu chỉ chú trọng thanh tra, điều tra xử lý sau khi việc đã rồi thì chẳng khác nào hốt lại chén nước đã lỡ làm đổ xuống đất.

Từ thực trạng quản lý, sử dụng ODA hiện nay, có thể điều chỉnh phương hướng sắp tới theo trật tự ưu tiên như sau:

1. Tiếp tục duy trì gia tốc dương trong vay ODA, với điều kiện quản lý, sử dụng thật tốt.

2. Tiếp tục vay thêm có chừng mực ODA, với điều kiện quản lý sử dụng khá tốt.

3. Không chủ trương vay thêm ODA, nếu việc quản lý, sử dụng nhìn chung như đã xảy ra ở PMU18.

VÕ VĂN TẠO (Khánh Hòa)

Hiệu Minh – Mái tóc Kim Jong-un và thời quần loe tóc dài

Mái tóc kiểu buôn lậu Trung Quốc. Ảnh: BBC VN
Du học Ba Lan về nước (1977), có công ăn việc làm, tôi bắt đầu để ý các em. Tìm mãi mới được một cô ưng ý trên phố vì người đẹp thích mái tóc dài hippie dài quá vai của tôi.

Dẫn về nhà giới thiệu, bà mẹ, một cán bộ tổ chức ở bộ, thở dài, thằng này hư hỏng, theo tư bản, đầu tóc thế kia không thể nên người được.

Tôi nghiến răng cắt cho ngắn, cô người yêu lại chê, không có tóc dài trông anh quê lắm.

Ăn mặc tóc tai, mốt sành điệu hay không, luôn là đề tài tranh cãi của các thế hệ mọi thời đại. Nhưng qui định mái tóc ngắn dài ở tầm quốc gia thì thật kinh hoàng.

Mới đây, báo chí nhạo báng tin từ Bắc Triều Tiên, nam sinh viên trong các trường đại học Bắc Hàn phải cắt kiểu đầu giống như nhà lãnh đạo Kim Jong-un.

Đầu của Kim Jong-un là kiểu tóc dùng loại tông đơ có số 1-2-3-4. Dưới cùng cạo trắng hếu, lên một chút là số 1 hơi lơ thơ, và trên đỉnh đầu tóc dài hơn chút. Xem lại những tấm ảnh thời 1930-1940 sẽ thấy kiểu tóc tương tự.

BBC VN cho hay, một người Bắc Hàn nay sống tại Trung Quốc nói rằng kiểu đầu này thực ra rất không được ưa chuộng tại nước ông vì đó là “kiểu đầu buôn lậu Trung Quốc.”

Theo đồn đoán, người dân Bắc Triều Tiên được phép chọn trong 18 kiểu tóc cho phụ nữ và 10 cho nam giới. Truyền thông mở chiến dịch chống tóc dài và kêu gọi “Hãy để cho chúng tôi cắt cho bạn kiểu tóc phù hợp với lối sống xã hội chủ nghĩa.”

Nghe thật khôi hài. Nhưng thật ra, nước mình cũng qua thời kỳ như Kim Jong-un. Ai thuộc thế hệ U50-60, từng sống ở Hà Nội những năm 1975-1990, chứng kiến đảng và nhà nước can thiệp từng sợi tóc và vào từng ống quần của dân như thế nào.

Những năm 1960-1970, thế giới có phong trào hippie. Đó là những thanh niên tóc dài, râu không cạo, quần loe, ăn mặc bất cẩn, nghiện ngập ma túy, và bất cần đời. Lứa tuổi baby boomer (trẻ em sinh bùng nổ sau chiến tranh thế giới thứ 2 từ 1946-1964) tham gia vào phong trào này rất nhiều.

Phương châm của họ là đấu tranh bất bạo động, yêu hòa bình, sống cho tình yêu. Theo Timoty Leary “Hippie khởi đầu phong trào sinh thái học. Họ chiến đấu nạn kì thị chủng tộc. Họ giải phóng những thành kiến kì thị giới tính, khuyến khích sự thay đổi, tự tin vào bản thân. Họ chất vấn chủ nghĩa vật chất máy móc. Trong bốn năm, họ đã thành công trong việc chặn đứng cuộc chiến Việt Nam.”

Nhiều người không hiểu nên đã cho rằng hippie là loại bỏ đi. Họ không biết rằng, chính hippie đã đóng vai trò rất lớn trong việc phản đối Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

Sinh viên VN (khóa 1971) ở Ba Lan. Ảnh: Khóa 1971
Những năm 1970-1975 sinh viên Việt Nam du học Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Nam Tư… thường bắc chước kiểu hippie trong trường hay ký túc xá. Sau này lây lan sang đám sinh viên Việt học ở Liên Xô, Rumani, CHDC Đức và cả Cuba. Ai để tóc ngắn sẽ bị chê là cổ hủ, nhà quê. Quần càng loe càng tốt, áo chim cò, tô vẽ càng ngố, càng sành điệu.

Mỗi lần có họp với sứ quán, bọn sinh viên chúng tôi ở Warsaw rủ nhau cắt tóc, để không bị khiển trách. Vì tiếc của, nhiều bạn cắt qua loa, thế là bị kiểm điểm, nhắc tên ngay trên hội trường.

Tuy nhiên có bạn hỏi, cắt ngắn như thế nào là vừa. Vị cán bộ già phụ trách lưu học sinh bí quá, chống chế “Cắt như tôi là tạm ổn.” Cả hội trường cười ồ, vì đầu ông ấy giống củ su hào, gáy trắng, mái xanh, đúng kiểu nông dân lúa nước sông Hồng.

Những năm 1973-1975, đoàn tầu chở sinh viên và công nhân về nước, người nhà ra đón choáng với kiểu tóc dài quá vai, quần loe nửa mét, áo hoa xanh đỏ, mặt mũi xanh rờn. Bố mẹ than trời, gửi con đi học, chúng theo lối sống tư bản đế quốc, ăn chơi trác tang, hư hỏng hết rồi.

Những năm 1960, mốt ở Hà Nội là quần côn, bó chẽn, ống tuýp và nhẩy đầm. Cờ đỏ được lệnh,  ai mặc quần bó sẽ bị rạch, dù thời đó vải simili rất đắt, mua theo phiếu vải, cả năm chỉ được hai mét theo tiêu chuẩn.

Đang đi xe đạp, bỗng còi toét, đám băng đỏ cùng công an lôi thanh niên mặc quần chật vào đồn. Họ lấy cái chai bia Hà Nội, đút từ dưới cổ chân lên, nếu chai không chui vào được, nghĩa là ống quần quá bé so với qui đinh. Cho bốn nhát kéo bốn góc, cái quần thành phấp phới, người mặc thành trò cười cho cả phố.

Mốt ống côn cũng chỉ được một thời gian, khi hippie bên Ba Lan và nước ngoài về, đã đổi thành ống loe, tóc dài.

Cờ đỏ phát động cắt quần loe, thấy ai đi xe đạp, ống quần bay phấp phới, liền bị gọi vào đồn. Vì cái chai, họ lấy thước đo, theo quy định, ống không thể rộng quá 20-22 cm, bất kể già trẻ, cao to, thấp lùn. Nếu quá qui định, lấy kéo cắt phăng ống quần, chẳng cần biết hậu quả ra sao.

Tóc dài không được che kín tai, trùm quá cổ áo. Ai vi phạm bị lôi vào đồn, một ông thợ cắt tóc đeo băng đỏ, với tông đơ, cho vài nhát nham nhở, thế là xong cái đầu mất cả năm nuôi tóc.

Những năm đó, dân chơi đợi tối nhá nhem, đi đường tránh né công an, đầu đội mũ che kín tóc, tới chỗ ăn chơi, dự sinh nhật mới bỏ ra khoe. Nhưng rồi cũng không thoát. Cờ đỏ, công an chặn ở cửa Nam, bờ Hồ, Nhà Hát lớn, những nơi thanh niên hay tụ tập.

Thỉnh thoảng một cu cậu bị cắt nham nhở cả tóc lẫn quần, xấu hổ không có đường chui. Ở văn phòng, thủ trưởng cũng phải nhắc thanh niên không được diện kiểu hippie.

Sau 1975, quần loe tóc dài ở Sài Gòn còn kinh hoàng hơn Hà Nội. Để đảm bảo HN có CNXH tươi đẹp, quần loe tóc dài vẫn bị cấm, nhưng ở Sài Gòn thì đỡ hơn vì cấm sao cho xuể.

Thời trang Sài Gòn xưa. Ảnh: Internet
Mãi tới năm giữa1980 trở đi, kinh tế đi xuống, nghèo quá, họ chẳng còn vải mà may quần loe nữa, tiền ít nên cắt tóc cũng bớt đi. Miền Nam chạy loạn ra biển. Dần dần, chẳng còn ai quan tâm đến cái mốt hippie.

Nhân chuyện anh Kim Jong-un bắt thanh niên cả nước theo kiểu đầu của anh ấy, tôi ghi lại vài chuyện. Mong các bạn đóng góp cho vui về một thời kỳ mà người câm cân nẩy mực chỉ đạo cả cái ống quần hay mái tóc, thay vì ngồi nghĩ chiến lược phát triển.

VN từng qua giai đoạn đó. Kết quả là dân đói rã họng, phải nhập bo bo cho gia súc từ nước ngoài về cho dân ăn thay gạo.

Một khi lãnh đạo quốc gia phải đo tóc, đo quần, nghĩa là sự độc tài đã tới hạn, báo hiệu sư suy vong của một thể chế.

Ở phương tây chẳng cấm đoán hippie thì đất nước vẫn phát triển, phong trào này sau tự tan rã. Bill Clinton, John Kerry, Tony Blair và nhiều chính khách quốc tế từng mặc quần loe tóc dài, hát nhạc rock, nằm vạ vật biểu tình, trốn lính, phản đối chiến tranh. Nay họ thành những người nổi tiếng, được trân trọng.

HM. 29-3-2014
Hiệu Minh
(Blog Hiệu Minh)

Chu Vĩnh Khang và người thân vơ vét 16 tỷ USD

TP – Khi khám xét nhà của Chu Vĩnh Khang, nguyên Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Ủy ban Chính trị – Pháp luật trung ương (UBCP), người ta mới phát hiện ông ta và người thân sở hữu số tiền, vàng, cùng các tài khoản nội ngoại tệ, tổng cộng lên tới 16 tỷ USD.

Tịch thu vô số tiền, vàng và nhà

Tờ “Đông phương Nhật báo” và một số báo điện tử ngày 29/3 đã đăng tải thông tin cho biết: các phóng viên đã có được bản “Thông báo nội bộ” của “Tổ chuyên án Chu Vĩnh Khang và gia đình” thuộc Ủy ban Chính trị – Pháp luật trung ương về “Danh mục kiểm kê khám nhà” đối với Chu Vĩnh Khang.

Bản Thông báo nội bộ cho biết: Trong các ngày 2/12/2012, 10 và 22/1/2014, Viện Kiểm sát 7 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là Bắc Kinh, Liêu Ninh, Giang Tô, Sơn Đông, Thượng Hải, Quảng Đông đã ra lệnh khám xét 3 đợt đối với 29 khu nhà ở của gia tộc Chu Vĩnh Khang tại đây.

Kết quả: Chu Vĩnh Khang và những người thân (vợ con, anh em) có tổng cộng 326 căn nhà với tổng trị giá 1 tỷ 760 triệu tệ ở 12 thành phố: Bắc Kinh, Thẩm Dương, Đại Liên, Tế Nam, Yên Đài, Thành Đô, Nam Kinh, Vô Tích, Tô Châu, Thượng Hải, Quảng Châu, Thâm Quyến.

Qua khám xét đã thu giữ 47,850 kg vàng, bạc; số lượng rất lớn tiền mặt gồm hơn 150 triệu tệ, hơn 2 triệu 700 ngàn USD, hơn 660 ngàn Euro, 110 ngàn Bảng Anh, 550 ngàn Fran Thụy Sĩ.

Ngoài số tiền, vàng, các nhân viên điều tra còn thu giữ số lượng lớn đồ cổ, 55 tranh, thư pháp quý tổng trị giá ước tính từ 800 triệu đến 1 tỷ tệ; 62 xe ô tô các loại trong đó có cả xe quân sự và nhiều siêu xe đắt tiền.

Nghiêm trọng hơn, đã phát hiện Chu Vĩnh Khang và người thân đã tàng trữ trái phép cả “kho vũ khí” 27 khẩu súng, gồm 15 khẩu súng ngắn K76, K96, K99 do Trung Quốc sản xuất, 12 khẩu súng ngắn của Đức, Nga, Anh, Bỉ và hơn 11 ngàn viên đạn các cỡ.

Chu Vĩnh Khang Các nhân viên điều tra còn phong tỏa 947 tài khoản nội tệ, 117 tài khoản ngoại tệ đặt tại 133 ngân hàng với tổng trị giá hơn 37,7 tỷ tệ. Người ta còn thu giữ số cổ phiếu các ngành dầu khí, hàng không, ngân hàng, sản xuất rượu trị giá 51,3 tỷ tệ và cổ phiếu nước ngoài trị giá 170 triệu tệ.
 Các nhân viên điều tra còn phong tỏa 947 tài khoản nội tệ, 117 tài khoản ngoại tệ đặt tại 133 ngân hàng với tổng trị giá hơn 37,7 tỷ tệ. Người ta còn thu giữ số cổ phiếu các ngành dầu khí, hàng không, ngân hàng, sản xuất rượu trị giá 51,3 tỷ tệ và cổ phiếu nước ngoài trị giá 170 triệu tệ.

Theo thống kê bước đầu, tổng số của cải mà Chu Vĩnh Khang và gia tộc vơ vét được đã lên tới 100 tỷ tệ (16 tỷ USD).

Kẻ cầm đầu tập đoàn thế lực đen lớn nhất Trung Quốc

Thông báo này cho rằng, Chu Vĩnh Khang là kẻ cầm đầu Tập đoàn thế lực đen lớn nhất kể từ khi thành lập nước CHND Trung Hoa (1949) đến nay. Vụ án Chu Vĩnh Khang đã được chuyển sang cơ quan tư pháp xử lý từ tháng 2/2014.

Tuy vụ án chưa được chính thức công bố, nhưng các nhà phân tích cho rằng với phạm vi ảnh hưởng, những tội gây nguy hại cho xã hội, Chu Vĩnh Khang sẽ phải đối mặt với án tử hình.

Tính đến nay, đã có tổng cộng 313 người có liên quan đến Chu Vĩnh Khang gồm người thân trong gia tộc, quan chức trong hệ thống Dầu khí, hệ thống Chính Pháp, quan chức ở Tứ Xuyên bị bắt.

Cụ thể: 11 quan chức cấp Thứ trưởng, 56 quan chức cấp Sở, Vụ, 14 người thân trong gia đình, 28 nhân viên công tác và cảnh vệ, ngoài ra còn 11 người đang bỏ trốn chưa bắt được (trong đó có em gái vợ là Giả Hiểu Hà, Thư ký Lương X. và một cô nhân tình họ Lâm).

Báo chí phân tích, Chu Vĩnh Khang đã cài cắm người thân vào cả 3 hệ thống trên, biến 3 hệ thống thành nơi để Chu gia trục lợi, thành nguồn cung của cải. Nhiều thư ký các thời kỳ của Chu trong thời gian ông ta công tác trong ngành Dầu khí, ở Tứ Xuyên và Bộ Công an sau khi được bố trí giữ các chức vụ quan trọng như Phó TGĐ Tập đoàn Dầu khí Lý Hoa Lâm, Phó Tỉnh trưởng Tứ Xuyên Quách Vĩnh Tường, Phó Tỉnh trưởng Hải Nam Ký Văn Lâm… đều lần lượt bị cách chức, bị điều tra.

Theo “Đông Phương nhật báo”, việc Trung Quốc trì hoãn công khai vụ án nghiêm trọng Chu Vĩnh Khang là có một số lý do: Thứ nhất, đang nghiên cứu xem có đưa từ “Tập đoàn” vào tên vụ án này hay không. Có ý kiến nên đặt tên là “Vụ án tập đoàn tham nhũng Chu Vĩnh Khang” và định tính là “Tập đoàn tham nhũng lớn nhất kể từ khi thành lập nước (1949) đến nay”. Thứ hai, Chu Vĩnh Khang kiên quyết chống lại công tác điều tra của Ủy ban KTKL trung ương.

Hiện Chu Vĩnh Khang đang bị giam ở Thiên Tân, trong thời gian bị điều tra đã kiên quyết không hợp tác, thậm chí đã uống thuốc độc định tự sát, may mà nhân viên quản lý phòng giam phát hiện được, kịp thời đưa đến bệnh viện rửa ruột nên mới thoát chết.

Riêng ở Tứ Xuyên, nơi Chu Vĩnh Khang làm Bí thư tỉnh ủy từ 1999 đến 2002 đã hình thành nên hệ thống thế lực rất mạnh. Theo trang web của Ủy ban Kiểm tra kỷ luật trung ương, chỉ riêng năm 2013, Ủy ban KTKL tỉnh ủy đã lập hơn 9.900 hồ sơ, điều tra gần 10 ngàn đảng viên, gây nên “trận động đất quan trường”, qua đó loại bỏ nhiều tay chân của Chu Vĩnh Khang ở đây, trong đó có một số quan chức cấp tỉnh.

(Tiền phong)

Xuất hiện sách “cao thủ” hơn cả sát thủ mưng mủ

Những câu hỏi và trả lời gây sốc trong cuốn sách khiến không ít phụ huynh phải tá hỏa.
Chị Thanh (Thanh Xuân – HN)  mua cuốn sách “Hỏi đáp nhanh trí” để cho con đọc giải trí vừa rèn luyện kĩ năng hỏi đáp. Tuy nhiên khi chị Thanh đọc kiểm duyệt trước, nội dung trong cuốn sách này khiến chị phát sốc.
Mang đến cơ quan đọc to cho mọi người cùng nghe, nhiều người đã liên tưởng ngay đến cuốn sách “Sát thủ đầu mưng mủ” vừa bị dừng xuất bản mới đây. Hầu như không một ai trong cơ quan chị Thanh có thể trả lời đúng các câu hỏi trong sách.
Thậm chí, có mẹ còn nhận xét, cuốn “Sát thủ đầu mưng mủ” phải gọi cuốn “Hỏi đáp nhanh trí” này bằng “sư phụ”.
Nội dung cuốn sách với những câu hỏi – đáp được đánh giá là trên tài cuốn “Sát thủ đầu mưng mủ”
Cuốn “Hỏi đáp nhanh trí” được in làm 1.000 bản, dày khoảng 176 trang với 170 câu đố, đáp án, đi kèm cùng hình vẽ minh hoạ hoàn toàn màu đen trắng, giá bìa là 10.000 đồng. Tác giả cuốn sách này được ghi là Đức Trí (sưu tầm biên soạn).Dưới đây là một vài câu hỏi và đáp án gây “choáng váng” cho các bậc phụ huynh:
– Một người không may bị bệnh chó dại, nhưng anh ta không đến bệnh viện điều trị mà chỉ đi khắp nơi tìm giấy và bút. Vì sao?
Đáp án: Để liệt kê danh sách những người muốn cắn.
– Hoa gì không có cây, không có lá?
Đáp án: Hoa mắt chóng mặt
– Nước gì mà lấy không hết, dùng không cạn
Đáp án: Nước miếng (nước bọt).
Bên cạnh những câu trả lời được cho là rất “nhảm”, lại có những câu hỏi/ tình huống vô vị, không có ý nghĩa gì. Chẳng hạn như:
– Trong tình huống nào thì 3+1=5?
Đáp án: Khi làm toán sai.
Nội dung trang sách.
– Ông Trung vừa qua đời, Thiên sứ thấy ông hiền lành tốt bụng, ăn ở biết điều liền mời lên thiên đàng, nhưng ông Trung kiên quyết không đi. Vì sao?
Đáp án: Vì ông Trung mắc bệnh sợ độ cao.
– Cây cau và cây dừa có điểm gì khác biệt?
Đáp án: Rung thử thì biết.
– Trung lái xe tắc-xi ra đường đón khách, nhưng trên đường không hề có khách vẫy xe. Vì sao?
Đáp án: Vì Trung đang lái xe trên đường cao tốc.
– Ai sợ nghe thấy quốc ca nhất?
Đáp án: Người hói đầu, vì anh ta sợ bỏ mũ.
….
Theo Đức Bảo

Vietnamnet

ASEAN vô tích sự

http://www.phamdoantrang.com/2014/03/asean-vo-tich-su-vi-lanh-ao-kem.html

 Phạm đoan Trang

”Ông Lê Lương Minh, người đảm nhiệm chức vụ Tổng Thư ký ASEAN từ năm ngoái, chẳng làm được gì hơn là gây thất vọng, bởi vì từ rất nhiều góc độ, ông đã bộc lộ rõ những bất cập của ASEAN hiện nay… Campuchia, Lào, Việt Nam và Myanmar ít có quan chức nào có khả năng tham gia đầy đủ vào các cuộc hội nghị tổ chức bằng tiếng Anh. Nước khá nhất trong số này, Việt Nam, dùng tiền ngân sách để đào tạo ra một thế hệ các nhà ngoại giao như ông Minh” (trích bài viết trên một tờ báo trong khu vực).
Căn cứ vào quy mô dân số, ASEAN là một khu vực lớn và có khả năng gây ảnh hưởng trên thế giới. Chẳng hạn, Indonesia với 237 triệu người, đang đứng thứ tư thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ. Philippines khoảng 100 triệu, Việt Nam 92 triệu, cũng là hạng cao (12 và 14). Nhìn tổng thể, hơn 600 triệu dân ASEAN chiếm 8,8% dân số toàn cầu. Tỷ lệ này không cao, nhưng so với các khu vực khác là đáng kể. (Để bạn so sánh: Trung Quốc, với 1,3 tỷ người, chiếm khoảng 20-25% dân số cả hành tinh).
Nếu ASEAN ”nhất thể hóa” để trở thành một nền kinh tế thì đó sẽ là nền kinh tế lớn thứ 8.

 

Phần lớn các nước ASEAN nằm trong hoặc tiếp giáp với Biển Đông, một khu vực có tầm quan trọng đặc biệt về địa chính trị, địa chiến lược. Ví dụ, mỗi năm, một phần ba lượng dầu thô và hơn một nửa lượng khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) được vận chuyển qua nơi đây.
 
Dù vậy, khối ASEAN chưa bao giờ thể hiện được vai trò, sức mạnh nào đáng kể trong các vấn đề quốc tế, thậm chí kể cả vấn đề của chính khu vực. Dưới đây là bài viết của Maria A. Ressa, nhà báo, nhà phân tích người Philippines, nhận xét về Tổng Thư ký ASEAN Lê Lương Minh và sự yếu kém về lãnh đạo của tổ chức này. Bài viết được thực hiện tại Canberra, đăng ngày 24/3/2014 trên trang mạng Rappler.com (Philippines).
Lượng dầu thô chuyên chở qua Biển Đông mỗi năm.
Nguồn: U.S. Energy Information Administration
Lượng khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) vận chuyển qua Biển Đông mỗi năm. 
Nguồn: U.S. Energy Administration 
ASEAN: LÃNH ĐẠO KÉM?
 
– Maria A. Ressa – 
Thủ đô Canberra của Úc. Một hội trường kín người – những cử tọa ham hiểu biết, dịu dàng một cách đáng ngạc nhiên, ở Đại học Quốc gia Australia. Họ đang tìm một lý do để có thể thấy phấn khởi về Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), một tổ chức 10 thành viên với dân số hơn 630 triệu, là đối tác thương mại lớn thứ hai của Úc.
Tuy nhiên, nhà ngoại giao chuyên nghiệp của Việt Nam, ông Lê Lương Minh, người đảm nhiệm chức vụ Tổng Thư ký ASEAN từ năm ngoái, chẳng làm được gì hơn là gây thất vọng, bởi vì từ rất nhiều góc độ, ông đã bộc lộ rõ những bất cập của ASEAN hiện nay.
Tổng Thư ký ASEAN mở đầu bằng một bài diễn văn hầu như không làm người đọc thấy hứng thú. Ông tập trung nói về 6 cột trụ của ASEAN kể từ khi Hiệp hội được thành lập (năm 1967) và dự án đầy tham vọng của nó – tạo ra một liên kết kinh tế khu vực, gọi là Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), dự kiến hình thành trước thời điểm tháng 12/2015.
Có ai đó hỏi ông Minh về căng thẳng giữa Úc và Indonesia – nước thành viên lớn nhất ASEAN – về vấn đề người tị nạn và về vụ Úc bị cáo buộc nghe lén điện thoại của Indonesia, theo như tài liệu rò rỉ từ Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA).
”Tôi hy vọng các vấn đề song phương này có thể được giải quyết một cách thân ái” – ông Lê Lương Minh cho biết. ”Chúng tôi chưa thấy mối quan hệ song phương đó có ảnh hưởng tiêu cực nào đối với quan hệ đối tác ASEAN-Australia”.
Về vấn đề gây tranh cãi nhất của ASEAN, là xung đột giữa Trung Quốc và nhiều quốc gia ASEAN trên Biển Đông, ông Minh nói: ”ASEAN giữ quan điểm cho rằng việc này cần được giải quyết, nhưng chỉ có thể được giải quyết, và chỉ nên được giải quyết, giữa các bên có liên quan”.
(Bài phát biểu của) Ông Minh an toàn, chán ngắt và quan liêu. Những người trong cuộc nói rằng đó là chuyện may rủi, khi mà chiếc ghế lãnh đạo luân phiên của ASEAN chuyển từ một chính trị gia như cựu Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan Surin Pitsuwan – người có khả năng thu hút sự quan tâm của bên ngoài – sang một công chức sắp xếp ngôi nhà ASEAN cho trật tự như ông Minh – nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam. Từ năm 2004 đến năm 2011, ông Minh là Trưởng Phái đoàn Đại diện Thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc.
Thật không may, ông lại cũng là nhà lãnh đạo ít có khả năng làm lợi cho ASEAN nhất.
Thời năng động
Thế mà bây giờ lại đang là một thời kỳ thú vị và năng động, khi một ASEAN tự do, nhất thể hóa có thể làm đầu tư gia tăng đáng kể. Cũng có cơ hội để cho ASEAN thể hiện năng lực lãnh đạo vốn rất cần thiết vào cái thời quyền lực địa chính trị đang thay đổi như thế này.
ASEAN đang ở thời điểm bước ngoặt. Nó được hình thành vào giai đoạn Mỹ đang thống trị toàn cầu, nhưng nay thời thế đã khác, với quyền lực kinh tế chuyển về Trung Quốc. Thay vì giữ một vai trò dẫn đạo, ASEAN có nguy cơ trở thành chiến trường cho một cuộc chiến tranh ủy nhiệm. (1)
Các quốc gia như Philippines, Malaysia và Indonesia đều không chuẩn bị tinh thần cho xung đột trực diện với Trung Quốc, thậm chí không sẵn sàng cả cho việc đàm phán với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông. Nhiều nước ASEAN quay qua Mỹ để tìm sự hỗ trợ về quốc phòng. Cùng lúc đó, các nước nghèo hơn ở ASEAN như Campuchia, Lào và Myanmar, đều đã trở nên phụ thuộc vào Trung Quốc đến mức các nhà phân tích gọi họ là các ”nhà nước khách hàng của Bắc Kinh”.
Điều đó mở ra một cơ hội cho Úc – đối tác đàm phán đầu tiên của ASEAN.
”ASEAN có một vị trí đặc thù trong ngoại giao của Australia, và đó là một vị thế tích cực” – Thượng nghị sĩ Brett Mason, Quốc vụ khanh phụ trách ngoại giao Australia, nói. Ông thừa nhận, cấu trúc quyền lực của thế giới toàn cầu hóa đang thay đổi, và Australia đang chuyển hướng chú ý sang châu Á. ”Là một diễn đàn, ASEAN lẽ ra đã có thể được tận dụng một cách sáng tạo hơn và đầy đủ hơn. Nhưng tôi không nghĩ là nó (đến mức) chẳng có hiệu quả gì”.
Tôi đã viết về ASEAN từ năm 1987. Vào cuối những năm 1990, tôi đã có mặt khi Campuchia, Lào, Việt Nam và Myanmar được gia nhập hiệp hội này, tạo ra một tổ chức ba thứ bậc, bởi vì mấy quốc gia đó tụt hậu rất xa so với các thành viên ban đầu của ASEAN gồm Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philippines, và hai quốc gia còn thịnh vượng hơn thế nữa, là Brunei và Singapore. 
 
Như nhiều người châu Á khác, tôi đã từng hy vọng đối thoại xây dựng sẽ là một cách khác để thúc đẩy cải cách, và nó hiệu quả hơn cách đối đầu của phương Tây. Nhưng nhiều thập kỷ trôi qua, đối thoại xây dựng vẫn cứ là cái lý lẽ biện hộ cho sự yếu kém của ASEAN.
 
Cải cách ở Myanmar – trọng tâm của đối thoại xây dựng – đã được thúc đẩy nhờ những nỗ lực từ bên trong chứ hầu như chẳng có sự giúp đỡ nào từ ASEAN. 
 
Trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 – bắt đầu từ Thái Lan rồi lan sang Indonesia – các nước đã tìm đến Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) chứ không phải ASEAN. 
 
Cũng năm đó, khi khói bụi do cháy rừng ở Indonesia tràn ngập các đô thị Malaysia và Singapore, ASEAN lại chứng tỏ là họ không có khả năng hợp tác cùng nhau để ngăn chặn sự cố xảy ra gần như thường niên đó, và sự cố ấy cho đến nay vẫn là nỗi ám ảnh đối với khu vực. 
 
Năm 1999, ASEAN bị chỉ trích vì đã không buộc được Indonesia phải chịu trách nhiệm về chính sách tàn phá Đông Timor. Khi đó, vai trò lãnh đạo rơi vào tay Australia, họ đã làm nhiệm vụ dẫn đầu INTERFET, lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế ngoài Liên Hợp Quốc. 
 
Cuối những năm 2000, dưới sức ép từ một số nước thành viên, ASEAN xây dựng một cơ chế nhân quyền (2). Cơ quan này đã gần như hoàn toàn im lặng trước tình hình vi phạm nhân quyền ngay trong ASEAN, chẳng hạn như tại Việt Nam hay tình cảnh người thiểu số Rohingyas ở Myanmar.
 
Nguồn ảnh: Sống Mới (songmoi.vn)
 
Rạn nứt về vấn đề Trung Quốc
Mối quan hệ với Trung Quốc càng cho thấy rõ ràng những rạn nứt bên trong ASEAN. Tại hội nghị thượng đỉnh hồi tháng 7/2012 tại Campuchia, mâu thuẫn nổ ra công khai. Lần đầu tiên trong lịch sử, các vị bộ trưởng ngoại giao không thống nhất được với nhau về một tuyên bố chung. Quan chức Philippines rời hội nghị. Các nước ASEAN khác chỉ trích chủ nhà Campuchia chống lại lợi ích ASEAN mà bênh vực Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Campuchia. Hai tháng sau, Campuchia tuyên bố nhận thêm viện trợ 500 triệu USD từ Trung Quốc.
Quốc gia lớn nhất kiêm thành viên sáng lập ASEAN là Indonesia cố gắng dùng ngoại giao con thoi để vận động cho một thỏa thuận chấp nhận được. Trong khi đó, ASEAN một lần nữa thể hiện sự yếu kém về năng lực lãnh đạo.
Tuy thế, giới chức Australia có vẻ vẫn lạc quan.
Ngày 19/3, Ngoại trưởng Úc tiếp Tổng Thư ký ASEAN Lê Lương Minh nhân dịp kỷ niệm quan hệ đối tác 40 năm, mối quan hệ mà theo bà, hiện đang đặt ưu tiên vào thương mại, đầu tư, an ninh khu vực, giáo dục.
”Bang giao giữa các chính phủ trên phương diện kinh tế, tài chính thật sự thân thiết hơn nhiều so với cách đây một thập kỷ” – một quan chức ngoại giao cấp cao nói với tôi. ”10 năm qua, việc xây dựng quan hệ ở cấp độ thấp hơn chính trị, thấp hơn mức quan hệ chính thức cao cấp, đã giúp cho mối bang giao của chúng ta chín chắn hơn bất kỳ lúc nào trước đây”.
Vấn đề nằm ở hai lĩnh vực: Thứ nhất, ASEAN ra quyết định trên cơ sở đồng thuận, là điều rất khó đạt được trong thế giới biến đổi quá nhanh ngày nay và trong một tổ chức có chênh lệch rất lớn về phát triển, từ Singapore tới Lào; thứ hai, khoảng cách đó dẫn đến những khác biệt về kinh nghiệm và phong cách lãnh đạo.
Campuchia, Lào, Việt Nam và Myanmar ít có quan chức nào có khả năng tham gia đầy đủ vào các cuộc hội nghị tổ chức bằng tiếng Anh. Nước khá nhất trong số này, Việt Nam, dùng tiền ngân sách để đào tạo ra một thế hệ các nhà ngoại giao như ông Minh.
Đồng thuận không đủ
Dù vậy, các kỹ năng cần thiết để đạt được sự đồng thuân cũng không đủ để tạo niềm tin theo cách của ASEAN, và các quan chức lãnh đạo cấp cao của ASEAN – trừ một số rất ít ngoại lệ – đều không có được sự thu hút hay vị thế để tổ chức những cuộc họp cần thiết với nguyên thủ các quốc gia khác.
Để xúc tiến có hiệu quả một nghị trình đầy tham vọng là thiết lập thị trường chung, ASEAN phải đi nhanh hơn, và lãnh đạo của nó phải nắm vai trò dẫn đầu – không chỉ trong ASEAN mà còn giữa các đối tác đối thoại và giới đầu tư tiềm năng.
”Mặc dù có rất nhiều lời chỉ trích về ASEAN, xét trên phương diện năng lực lãnh đạo, nhưng ASEAN là tất cả những gì chúng ta phải hợp tác cùng” – Tiến sĩ Sally Wood, Đại học Deakin – nhận định. ”Tôi không biết liệu ASEAN có bao giờ thật sự nghĩ rằng họ có thể đạt được mức độ tập trung hóa đó. Có quá nhiều lợi ích quốc gia mâu thuẫn trong khu vực, cho nên cực kỳ khó để ASEAN có chung một tiếng nói”.
Tổng Thư ký Lê Lương Minh đang cố gắng hoàn thành một đơn đặt hàng khó khăn, và những người trong cuộc cho rằng với kinh nghiệm của mình, ông Minh đang góp phần xây dựng tổ chức từ trong hậu trường. Tại Đại học Quốc gia Australia, ông Minh phát biểu, ông lạc quan nhận thấy hội nhập kinh tế ASEAN – hứa hẹn tạo ra một thị trường chung và một khu vực có tính cạnh tranh cao – sẽ diễn ra theo đúng kế hoạch vào tháng 12/2015.
”ASEAN đã thực hiện khoảng 80% các giải pháp” – ông nói với cử tọa ở Đại học Quốc gia Australia.
Không phải ai cũng tán thành.
”Chúng ta phải thực tế. Tôi không thể nghĩ điều đó sẽ diễn ra” – Giáo sư Andrew Walker, quyền Hiệu trưởng Đại học Châu Á Thái Bình Dương, trực thuộc Đại học Quốc gia Australia, cho biết.
”Ít có khả năng AEC 2015 sẽ thành hiện thực” – TS. Wood nói thêm. ”Có lẽ điều đó không quan trọng, mà quan trọng là ASEAN đang phấn đấu thực hiện mục tiêu ấy”.
—————
(1) Nguyên văn: low-intensity proxy battlefield, nghĩa là chiến trường cho một cuộc chiến tranh ủy nhiệm với cường độ thấp, quy mô nhỏ hơn chiến tranh thông thường.
(2) Năm 2008, Hiến chương ASEAN có hiệu lực. Điều 14 Hiến chương xác định ASEAN sẽ thành lập một cơ quan nhân quyền. Năm 2009, ASEAN thành lập Ủy ban Liên Chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR).