THỦ PHẠM GIẾT SỐNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ! – Trị đảng – Sự lựa chọn của tôi: Cải cách – Thảm sát Côn Minh: Điềm báo không thể hạ cánh mềm


Nguyễn Trung – Sự lựa chọn của tôi: Cải cách

I – Bạn bè quở trách

Không thể nói tôi chai lỳ với những lời nhiếc mắng chân tình của bạn bè thân thiết nhất về những gì tôi viết ra. Lần này sự quở trách ấy dành cho bài Chữ tín, [1] trong đó tôi khuyên đại hội XII sắp tới của ĐCSVN – kể cả khâu chuẩn bị – nên bắt đầu từ việc tìm cách thực hiện chữ tín. Đó là những lời nhiếc mắng đã từng nhiều lần dành cho tôi: ngu trung, ảo tưởng, ngây thơ, nặng về tình cảm… vân vân… Những lời phê phán khác của người Việt khắp thế gian với nghĩa là quyền ăn quyền nói đương nhiên của mỗi người, thì dỏng tai nghe, cố hiểu người nói, không có gì đáng phải băn khoăn ở đây cả.

Thật ra tôi đã lường được tất cả, đã cân nhắc tất cả trước khi viết.

Đã quá xa cái tuổi cổ lai hy rồi, tôi ít nhiều hiểu được những điều phải hiểu liên quan đến quyền lực – sức mạnh và quyền năng của nó, những mặt nham hiểm hay bỉ ổi của nó… Song suy ngẫm mọi bề, cuối cùng tôi vẫn phải chọn lời khuyên ĐCSVN tìm cách thực hiện “chữ tín”, đơn giản vì đất nước đòi hỏi nhất thiết phải mở đường sống thông qua cải cách chính trị để thoát khỏi tình trạng bế tắc hiện nay, lý tưởng nhất là trong hòa bình. Xin nhấn mạnh, đấy là sự lựa chọn của tôi.

Tác giả Nguyễn Trung

Cuộc sống có nhiều lý do rất quan trọng khiến tôi phải cân nhắc kỹ cho sự lựa chọn này của mình. Đắn đo mãi, cuối cùng tôi rút ra kết luận cho chính mình: Dù sự tha hóa của quyền lực hiện tại có thể gây nên bất kể tội lỗi gì, nhưng nếu xót xa với từng hy sinh mất mát của cả dân tộc ta trong hơn một thế kỷ qua, nếu trân trọng từng sinh mạng, từng giọt mồ hôi nước mắt của nhân dân cả nước phải bỏ ra kể từ sau 30-04-1975 đến nay, nếu đặt lợi ích sống còn của đất nước lên trên hết, tôi lựa chọn:

(1) Cải cách hòa bình để chuyển đổi thể chế chính trị độc tài toàn trị hiện nay của đất nước sang một chính thể dân chủ của một nhà nước pháp quyền. Đấy là con đường duy nhất tránh cho đất nước một cuộc bể dâu mới nồi da xáo thịt, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng bế tắc trong khủng hoảng, mở ra một thời kỳ phát triển mới mà sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong bối cảnh quốc tế mới hiện nay đòi hỏi.

(2) Để có được một cuộc cải cách trọng đại như thế trong hòa bình, mọi việc phải bắt đầu từ ĐCSVN, với tính cách là lực lượng chính trị mạnh nhất và đang duy nhất nắm trọn vẹn trong tay quyền cai trị đất nước. Với tính cách như thế, ĐCSVN cần chủ động mở đường đi vào cuộc cải cách này. Nếu ĐCSVN không chịu chủ động như thế, nhân dân cả nước cần đồng lòng đòi hỏi bằng được ĐCSVN phải thực hiện nhiệm vụ cải cách chính trị này. Đơn giản vì nhiệm vụ này là lời hứa phải thực hiện mà ĐCSVN đã ghi trên lá cờ của mình khi hiệu triệu nhân dân đứng lên làm cách mạng. Nhiệm vụ chính trị này là món nợ chính trị số một với dân với nước, ĐCSVN từ khi đất nước độc lập thống nhất đến nay vẫn chưa thực hiện, bây giờ nhất thiết phải trang trải (đã nêu trong điểm 3, bài 1).

(3) Và trên hết cả, về nhiều mặt, nhiệm vụ cải cách duy tân đất nước hiện nay còn phải được coi là một nghĩa vụ thiêng liêng đối với từng người dân Việt Nam, có sự ràng buộc bằng hy sinh xương máu của biết bao nhiêu thế hệ Việt Nam kể từ khi mất nước vào tay chủ nghĩa thực dân Pháp cho đến hôm nay. Đây là nhiệm vụ từng thành viên của cộng đồng dân tộc Việt Nam ta. Từng người phải đứng lên thực hiện bằng được với tất cả tinh thần đoàn kết hòa giải dân tộc, với tất cả ý chí không gì quý hơn độc lập tự do. Không một người Việt Nam nào có thể vin vào bất kỳ lý do gì để thoái thác. Danh dự của dân tộc, sự sống còn và tương lai của đất nước đòi hỏi phải như thế.

II – Bàn thêm: Thay đổi bằng cải cách, hay là bằng bạo lực lật đổ?

Những vấn đề nóng bỏng do thực trạng đất nước gần 4 thập kỷ vừa qua tích tụ lại và những thách thức mới hiện nay dẫn đến đòi hỏi bất khả kháng, đó là phải thay đổi thể chế chính trị hiện hành.

Bằng cách nào?

Dù có những tình tiết pha trộn hay đan xen nhau như thế nào giữa những cách thực hiện khác nhau, song cuộc sống chỉ có 2 phương thức cơ bản để thay đổi thể chế chính trị hiện hành: (1) cải cách trong hòa bình; hay là (2) dùng bạo lực xóa bỏ chế độ hiện hành.

Trí tuệ của thế giới đến nay có được, cũng như thực tiễn của lịch sử các quốc gia trên thế giới đã xác nhận: cải cách trong hòa bình và cải cách thường xuyên để phát triển đất nước là con đường lý tưởng nhất làm nên ở mọi nơi quốc gia hưng thịnh, hạnh phúc, bền vững. Nhìn vào nước ta cũng phải nhận định như vậy.

Thực tiễn lịch sử vài ba thế kỷ nay của các quốc gia từ Đông sang Tây cũng cho thấy: Có nhiều cuộc cách mạng đã xẩy ra là tất yếu và bất khả kháng, để phá vỡ một trật tự xã hội đã bế tắc và không còn lý do để tồn tại. Song bất kể một cuộc cách mạng nào, sau khi phá vỡ được chế độ cũ, nhưng nếu không thành công tiếp theo trong quá trình cải cách và cải cách thường xuyên để phát triển đất nước sau đó, cuối cùng sự nghiệp cách mạng ở đó vẫn đổ vỡ, những lý tưởng tạo dựng nên cuộc cách mạng ấy trở thành không tưởng và cuối cùng là bị phản bội. Hệ quả thường là: Dần dà cách mạng tạo dựng nên một chế độ chính trị bất công mới. Quyền lực lại rơi vào nhóm thống trị mới chứ không phải vào tay nhân dân. Quá trình này tha hóa tiếp, cuối cùng dẫn tới hệ quả đất nước bị nhóm vô lại mới là chính con đẻ của cách mạng thống trị. Tất cả lại tích tụ thuốc nổ cho một cuộc cách mạng mới, bắt đầu một cái vòng luẩn quẩn mới của lịch sử…

Nguyên nhân cơ bản của sự vận động trên là: Bản chất của cách mạng là bạo lực, tự nó không thể mang lại dân chủ. Chính quyền cách mạng chỉ có thể tồn tại và bảo vệ được bằng chuyên chính. Trong khi đó dân chủ chỉ có thể là thành quả của một thể chế chính trị tiến bộ được từng bước xây dựng nên trong quá trình phát triển của quốc gia. Vì thế, sau cách mạng mà không có một thể chế chính trị có khả năng xây dựng nên dân chủ để phát triển, thì cuối cùng chỉ còn lại bạo lực; mà bạo lực vì sự tồn tại của chính nó thường xuyên đối kháng với dân chủ và phát triển. Chưa nói đến xây dựng dân chủ là một quá trình phấn đấu lâu dài, thường xuyên và gian khổ, nó là thành quả của phát triển; song đến lượt nó, chính dân chủ lại trở thành tiền đề của phát triển, – đây là cái biện chứng cần quan tâm.

Trên thế giới đến nay có không ít sách báo và công trình nghiên cứu chứng minh sự vận động nói trên của lịch sử. Sự vận động này không phải là đặc tính riêng của các cuộc cách mạng xã hội đã xảy ra trên thế giới. Thật ra, trước đó, sự vận động của các triều đại phong kiến trên thế giới cũng đều đi theo quy luật này: Quy luật sự tha hóa của quyền lực. [2]

Cái đấu tranh nay là trận cuối cùng (Quốc tế ca) hóa ra lại là cái câu hỏi mà chủ nghĩa cộng sản bỏ qua: Làm sao, sau khi cách mạng thành công trong việc xóa bỏ chế độ cũ, có thể luôn luôn chế ngự được và luôn luôn chiến thắng được quy luật tha hóa của quyền lực? Câu trả lời chỉ có thể tìm thấy trong quá trình cải cách và thường xuyên cải cách để phát triển đất nước. Tên của câu trả lời này là dân chủ, chứ không phải là chuyên chính vô sản.

Những lý lẽ xác đáng, cũng như thực trạng đất nước ta hiện nay đều dẫn tới một kết luận duy nhất: Cải cách thể chế chính trị là đòi hỏi tất yếu và là phương án tối ưu nhất đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Nói đến mức sát phạt là thế này: Giả định rằng không may đất nước ta bất khả kháng rơi vào một cuộc đấu tranh bạo lực đẫm máu mới, để thay đổi chế độ chính trị hiện nay của đất nước, thì ngay sau đó vẫn phải tìm đường thực hiện một sự nghiệp cải cách duy tân, và phải cải cách thường xuyên, để mang lại cho đất nước sức sống mới, sự phát triển mới. Đấy là chưa nói, nếu lựa chọn con đường bạo lực thì phải đấu tranh bạo lực trong bao nhiêu lâu? cái giá dân tộc ta phải trả? một hiệp đấu tranh bạo lực liệu có xong không? sẽ còn phải làm bao nhiêu hiệp tiếp theo nữa để cho thể chế mới ra đời?… Đã thế, bạo lực gọi bạo lực, cái chế độ mới sẽ được ra đời bằng đấu tranh bạo lực này là con đẻ của bạo lực thì làm sao mang lại hòa bình, trí tuệ và phát triển cho đất nước? v.v…

Chẳng lẽ đất nước ta gần một thế kỷ vừa qua chưa đủ kịch bản thay đổi chế độ hoặc xây dựng chế độ mới bằng bạo lực để suy ngẫm hay sao?..

Nhân đây cũng xin thưa, đấu tranh bạo lực ôn hòa nhất như ở Thái Lan (mà điều này không thể có ở Việt Nam) thì từ năm 1932 đến nay cứ vài năm lại một lần đảo chính, đổ máu không ít… Cho đến hôm nay con đường dân chủ của Thái Lan vẫn còn dài ở phía trước, mặc dù Thái Lan có những bước tiến xa hơn nước ta về dân chủ. Đã thế trên trái đất này không có sự chân không dành riêng cho Việt Nam. Làm gì, nước ta cũng phải tính đến những kẻ đánh hôi, những thế lực đục nước béo cò…

Tôi kết luận dứt khoát cho mình: Để nước ta trở thành một quốc gia phát triển, trước sau không có cách gì trốn được cải cách và cải cách thường xuyên. Nhật và Hàn Quốc hôm nay đều bắt đầu từ cải cách…

Xin lưu ý: Tấm gương xấu, tấm gương tốt của những biến động quốc gia trên toàn thế giới kể từ khi các nước Liên Xô – Đông Âu cũ sụp đổ cho đến hôm nay mang lại cho chúng ta không ít điều phải ngẫm nghĩ. Chỉ riêng hiện tượng Myanmar và hiện tượng Ukraina đang diễn ra cung cấp cho chúng ta nhiều bài học rất quý báu cho con đường cải cách của đất nước, miễn là dám nhìn thẳng vào sự thật, có trí tuệ nhìn đúng sự thật.

Còn như, nếu để cho đất nước ta bất khả kháng bị đẩy đến tình trạng xảy ra bạo loạn – giả định như vậy -, thiết nghĩ trước hết (xin nhấn mạnh trước hết) cần xem xét phẩm chất và năng lực của hệ thống chính trị hiện hành. Bởi vì so sánh tương quan lực lượng mọi mặt cho đến thời điểm hiện nay, có thể nhận xét: Tiềm năng và khả năng các lực lượng hay thế lực bên trong / bên ngoài muốn lật đổ chế độ chính trị hiện hành của Việt Nam bằng bạo lực vì bất kỳ lý do gì, đều rất yếu và hầu như không thể làm được, dù họ muốn. Nói như thế, để nhấn mạnh một vế khác quan trọng hơn nhiều: Việt Nam hôm nay có tất cả những điều kiện đủ cho cải cách và cải cách thành công; Việt Nam hôm nay chỉ còn thiếu điều kiện cần là: quyết tâm chính trị của đảng cầm quyền cho cải cách.

Mặt khác, cả nước phải cảnh giác với hệ lụy có thể của tình huống cái xảy nẩy cái ung. Đất nước gần đây xảy ra nhiều sự việc đau lòng, đó là các sự kiện như vụ Quỳnh Phụ – Thái Bình năm nào… Gần đây là vụ trấn áp Đoàn Văn Vươn, vụ trấn áp tại Văn Giang liên quan đến Eco Park, các vụ nạn nhân bị công an đánh chết trong khi giam giữ dẫn đến phản ứng quyết liệt của dân, các vụ người dân tự thiêu hay tự sát, các vụ bắt bớ đánh đập những người yêu nước biểu tình bầy tỏ ý chí bảo vệ biển đảo và chủ quyền quốc gia, vụ Nguyễn Phương Uyên, vân vân…

Vâng, giả định trong những vụ việc như vậy nếu lỡ tay để xảy ra sự cố không kiểm soát được – ví dụ như để xảy ra đổ máu lớn -, ai dám đoán trước những diễn biến tiếp theo, quy mô và hệ lụy của chúng? Chưa nói đến những sự cố không kiểm soát được kèm theo phản ứng bầy đàn nếu để xảy ra trong những khó khăn kinh tế của đất nước, trong thiên tai, dịch bệnh, trong một biến cố chính trị / kinh tế nào đó của khu vực hay trên thế giới, trong những thách thức mới phi truyền thống chưa ai lường được… vân vân.

Nêu lên những điều vừa nói trên, tôi muốn đặc biệt lưu ý: nguy cơ để xảy ra bạo loạn đang tiềm tàng nhiều hơn trong những hệ quả của những sai lầm, yếu kém và sự tha hóa phẩm chất của hệ thống chính trị – trong đó trước hết là của đảng nắm quyền gây nên. Nhìn sự việc với tin thần tiên trách kỷ, hậu trách nhân là thế.

Trong đời sống hàng ngày hiện nay, sự hoạt động đang diễn ra của đội ngũ dư luận viên đang từng giờ từng phút bóp méo sự thật, làm tha hóa hệ thống chính trị, làm tê liệt nghiêm trọng khả năng của đất nước đề kháng nguy cơ bạo loạn… Mọi dối trá như thế rõ ràng chỉ gây thêm những khó khăn mới cho đất nước và đều có cái giá phải trả. Mọi sự trấn áp khác theo khuynh hướng này cũng vậy. Có thể xem đây là một trong nhiều ví dụ về nhân – quả đòi hỏi phải được nhìn nhận với tinh thần tiên trách kỷ hậu trách nhân.

Còn một lẽ nữa, muốn kiên định con đường cải cách chính trị, cần phải tăng cường khả năng của nhân dân cả nước chủ động đề kháng đối với nguy cơ để xảy ra bạo loạn – nhưng không phải bằng kìm kẹp, trấn áp hay nói dối dân nhân danh giữ vững ổn định, mà phải bằng cách nói thật, tin vào dân, dựa vào dân trong mọi tình huống, nghe dân nói, trang bị cho dân mọi thông tin, hiểu biết và khả năng bảo vệ lẽ phải, làm cho dân tự giác chủ động loại bỏ nguy cơ này. Để làm được như thế, chung quy chế độ phải phấn đấu để thực sự là của dân, dám dựa vào dân.

Nói một cách trần trụi, chừng nào còn nói dối dân và không đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, chừng đó không có cải cách. Cải cách phải bắt đầu từ nói thật và yêu mước. Không có điều kiện tiên quyết này đừng nghĩ đến cải cách. Đương nhiên, cải cách còn đòi hỏi nhiều điều kiện khác nữa.

III – Vị thế của ĐCSVN trong cải cách

Sự lựa chọn của tôi: Dành cho ĐCSVN giữ vai trò quyết định, ngoại trừ trường hợp những người nắm quyền lực trong ĐCSVN hiện nay chủ trương chống lại cải cách và đối kháng lại lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc.

Sự lựa chọn này của tôi trước hết căn cứ vào nghĩa vụ và món nợ lịch sử ĐCSVN đã cam kết với nhân dân, với tổ quốc và bây giờ nhất thiết phải trang trải.

Sự lựa chọn này của tôi xuất phát từ lòng tin trong ĐCSVN vẫn còn nhiều đảng viên có lương tri, có trí tuệ và tâm huyết với đất nước, mặc dù họ đang bị hệ thống bộ máy đảng kìm kẹp, đang bị nhiều áp lực khác trong thể chế chính trị cũng như trong đời sống hàng ngày làm cho vô hiệu hóa, hay làm cho câm lặng. Khi có điều kiện, những đảng viên này chắc chắn sẽ xả mình vì nước. Hơn nữa, về mặt nào đó mà xét, số đảng viên tha hóa biến chất, ngoan cố chống lại lợi ích của đất nước cũng như lợi ích chính đáng của chính bản thân ĐCSVN chỉ là thiểu số, cho dù họ là những người chi phối quyền lực. Nếu có thảo luận dân chủ và công khai trong đảng, chắc chắn chính nghĩa và sự thật sẽ thắng ngay trong nội bộ ĐCSVN.

Sự lựa chọn này của tôi dựa trên nhận định: Nếu những người có thực quyền trong đảng chủ trương thảo luận dân chủ và thẳng thắn trong nội bộ đảng như thời đại hội VI về thực trạng đất nước hiện nay và tìm lối ra, hoặc là nhiều đảng viên lên tiếng yêu cầu lãnh đạo và các tổ chức của đảng phải tổ chức cuộc thảo luận này, tôi tin rằng sự thật sẽ được nhận diện, hầu như chắc chắn sẽ có tiếng nói quyết định phải tiến hành cải cách chính trị để cứu nguy đất nước.

Nhận định như vậy, bởi vì tôi đã được nói chuyện với nhiều đảng viên tâm huyết như thế, kẻ đã về hưu, người đang tại chức. Chúng tôi hầu như thống nhất với nhau cách suy nghĩ này. Thậm chí có một đảng viên tại chức, thuộc loại rất cao cấp, nói với tôi: “Anh Trung ạ, để cải cách, cái đảng ta cần nhất bây giờ là thực hiện dân chủ ngay trong đảng!..” Tôi thừa nhận đảng viên ấy đúng. Phần nào hiểu được sự vận động của đảng trong cuộc sống, trong lòng tôi ước ao lúc nào đó bàn về đổi mới ĐCSVN, sẽ có ai đó đưa ra đề nghị nhìn nhận lại lịch sử mất dân chủ trầm trọng diễn ra trong nội bộ đảng. Việc này cần làm để lấy lại sức chiến đấu của đảng.

Sự lựa chọn này của tôi dựa trên tinh thần khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, không hồi tố, thực hiện dân chủ để đoàn kết và hòa giải dân tộc; mọi người và mọi lực lượng chính trị của đất nước đều phải mang hết sức mình cống hiến cho sự nghiệp cải cách để phát triển đất nước. Có thể nói đây là nguyện vọng cháy bỏng của hầu hết những người Việt Nam có hiểu biết và quan tâm đến vận mệnh của đất nước, dù là sống trong nước hay ở nước ngoài. Gặp gỡ những người này, ai cũng nói rằng tối ưu với đất nước ta là từ chỗ đứng hiện nay, chắt chiu tất cả những gì đã làm được, thông qua cải cách chính trị để tìm đường cho đất nước đi tiếp, sẵn sàng khép lại quá khứ để đi tiếp. Đừng xóa đi làm lại từ đầu. Đừng phải đổ thêm máu nữa, bốn cuộc chiến tranh trong một nửa thế kỷ đối với đất nước ta là quá nhiều rồi!…

Quan trọng hơn nữa, tìm được mục tiêu của cải cách sao cho trong cải cách cũng như trong thành quả đạt được từng người dân yêu nước ai cũng thấy được mình. Một sự nghiệp cải cách như thế chẳng lẽ là không đáng? Một sự nghiệp cải cách như thế lý gì không thể thành công? Vì thế, dân chủ, đoàn kết, hòa giải dân tộc… không phải là những khái niệm trừu tượng, mà phải là những gì thấy được, cảm nhận được ngay trong quá trình tiến hành cải cách và trong mục tiêu đạt được.

Tóm lại, tình thế đất nước lựa chọn đảng cần chủ động đứng ra vận động cả nước tiến hành cải cách, giữ vai trò quyết định trong cuộc vận động này, dù rằng đảng phải phấn đấu rất quyết liệt mới có thể có được phẩm chất đảm nhận trách nhiệm này. Tôi lựa chọn như thế cho đảng.

Vâng, sự lựa chọn như vậy có thể là cuộc mạo hiểm cuối cùng của tôi. Vì ở tuổi tôi, ai mà biết được trò chơi của tạo hóa? Tôi không còn nhiều thời gian cho những hoài bão khác. Bây giờ làm được việc nào, biết chắc việc nấy.

Coi sự lựa chọn này là một mạo hiểm, vì đây là một lựa chọn rất khó đối với tôi: Cải cách sẽ phải đương đầu quyết liệt với quyền lực và đối mặt với không biết bao nhiêu vấn đề nan giải, đòi hỏi trí tuệ và nghị lực nhiều hơn là đấu tranh bằng bạo lực. Rồi còn những diễn biến không dễ chế ngự… Tôi không dám nói mình đã lường được mọi sự… Song có thể nói, tôi đang dành tất cả những gì mình nghĩ được cho cuộc mạo hiểm này. Vì đấy là ý nghĩ nung nấu trong tôi mấy thập kỷ nay: Phải đi theo con đường cải cách, còn nước còn tát!

Còn một lý do nữa, có lẽ là quan trọng nhất: Tôi lựa chọn cải cách, vì cái thiện trong cuộc sống, dù bị băm vằm như thế nào, vẫn là bất diệt, vẫn là bất khả kháng.

Hàng ngày, đi đâu hoặc lật trang báo, không ít thì nhiều tôi đụng phải những chuyện tím ruột tím gan. Vài tháng trước đây là những chuyện đại loại như dư luận viên dọa mất sổ hưu. Cách đây vài ngày là chuyện tổ chức nhảy đầm tại vườn hoa Lý Thái Tổ để phá rối những người biểu tình tưởng nhớ những hy sinh mất mát trong cuộc chiến tranh Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc, trong khi đó dư luận viên xa xả mắng những người đi biểu tình: Các người kích động chống Trung Quốc, sẽ không có hàng nhập khẩu, để kinh tế nước ta chóng sụp đổ, để các người dễ bề lật đổ chế độ có phải không?!.. Mới hôm qua thôi, một bạn già lão thành cách mạng của tôi có giấy của cơ quan đảng cấp trên đòi phải làm kiểm điểm về tội viết những bài được cho là chống đảng, và phải tự định mức kỷ luật trước đảng. Bạn của tôi bác lại, nói thẳng đảng này không phải là đảng ông giơ tay tuyên thệ khi gia nhập cách đây hơn một nửa thế kỷ!.. Cuộc sống còn vô vàn chuyện đau lòng khác nữa, những vụ tham nhũng động trời, những tội ác hình sự man rợ trong xã hội ngày càng nhiều…

Nhưng đi đến đâu tôi đồng thời cũng gặp không ít cái thiện đang lặng lẽ, bền bỉ dung dưỡng cuộc sống này, duy trì sự tồn tại của đất nước này – những nỗ lực im hơi lặng tiếng không cần ai biết đến của người dân, của người cán bộ, của đảng viên… Họ là số đông trong cuộc sống này. Tôi có cảm tưởng cuộc sống ác nghiệt này chẳng làm gì được họ!.. Trong tôi càng khao khát mong sao cái thiện âm thầm này phải sớm trở thành dòng chảy chính xoay chuyển cục diện đất nước, đưa đất nước sang trang mới.

Song đặt hy vọng bao nhiêu vào cải cách chính trị, tôi vẫn phải cảnh báo quyết liệt bấy nhiêu về cái mặt cố hữu cực kỳ nham hiểm và phản động của quyền lực. Cảnh báo chính mình và mọi người. Cải cách không dễ như chúng ta muốn. Quyền lực thường vô cảm với lẽ phải và không dễ nhường bước, mà thường là không tự giác nhường bước cho cải cách như chúng ta mong đợi. Thậm chí cải cách cũng phải đứng lên mà giành lấy, mà thực hiện. Dẫn chứng là gần ba thập kỷ đã qua kể từ khi tiến hành đổi mới kinh tế năm 1986, nhưng đến nay cải cách chính trị vẫn bị trì hoãn; đời sống chính trị trong nước cũng như của đảng nhiệm kỳ khóa đại hội XI hiện nay có nhiều bước thụt lùi hay xuống cấp nghiêm trọng so với khóa đại hội X, đại hội IX… Chưa nói đến, mọi vấn đề trong cuộc sống hiện nay của đất nước phải giải quyết đều vô cùng khó khăn phức tạp. Có những việc trong tình hình bình thường phải thận trọng một, trong khi tiến hành cải cách thì phải thận trọng hai, ba… Chúng ta không được lựa chọn, mà cuộc sống đưa ra đòi hỏi như thế.

Có câu hỏi: Đã thế, tại sao lại cứ phải dành cho ĐCSVN vai trò quyết định trong cuộc cải cách này?

Xin thưa:

Trước hết, đó là sự lựa chọn của tôi. Sau nữa, suy nghĩ nhiều mặt, tôi thấy cũng nên như vậy.

Trí tuệ thế giới đã tổng kết từ lâu rồi: Cải cách chính trị duy tân đất nước tiến hành từ trên xuống – nghĩa là từ giới cầm quyền, thậm chí từ cấp cao nhất của giới cầm quyền – thường là phương án tối ưu nhất.

Ngay ở nước ta, áp lực của đổi mới để xóa bỏ kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu và bao cấp đến từ nhân dân, từ cuộc sống. Quá trình này lên bờ xuống ruộng hàng chục năm, với nhiều tổn thất cay đắng. Song chỉ một khi đổi mới trở thành quyết định của đại hội VI, bởi vì áp lực này không thể cưỡng lại được nữa, đổi mới đã thành công ngoạn mục.

Ai được gì, ai mất gì trong đổi mới vừa qua, đó là điều cả nước nên suy ngẫm, trước hết là ĐCSVN và các đảng viên. Có lẽ cũng nên đặt ra câu hỏi: Nếu không có đổi mới vừa qua, ĐCSVN hôm nay có còn không?..

Bây giờ, với tính cách là đảng duy nhất nắm quyền, nếu ĐCSVN chủ động đứng ra đảm nhận vai trò quyết định trong cải cách chính trị, xin hỏi còn gì đáng mong muốn hơn cho đất nước chúng ta trong điều kiện hiện nay?

Trong một kịch bản như thế, cải cách hầu như chắc chắn thành công. Thử hỏi, qua đó vị thế của ĐCSVN trong xã hội Việt Nam cũng như trong cộng đồng thế giới rồi đây sẽ như thế nào? Một Việt Nam thông qua cải cách để phát triển và đứng vững được trên đôi chân của mình sẽ được thiên hạ rồi đây đối xử ra sao? Có phải quỵ lụy và leo dây như hiện nay không?..

Song chẳng lẽ chỉ vì quyền lực trong đảng muốn ĐCSVN độc quyền nắm quyền, nhân danh bảo vệ chế độ của đảng và con đường định hướng xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng biến ĐCSVN thành trở lực số một của cải cách, thế là toàn thể đảng viên đành cam chịu, và cả đất nước này cũng đành cam chịu?.. Rồi tình trạng cam chịu như thế sẽ trụ được bao lâu?.. Tất cả các đảng viên cần thẳng thắn với câu hỏi này và có ý kiến của mình.

Như đã nói trên, trách nhiệm lịch sử, và cũng là nghĩa vụ ràng buộc phải trang trải nữa, đặt ĐCSVN vào vị thế phải chủ động nắm lấy vai trò quyết định trong sự nghiệp cải cách duy tân đất nước hiện nay. ĐCSVN hoàn toàn có thể làm được như vậy và thành công. Bởi vì ĐCSVN có bề dầy lịch sử và có lịch sử là người thầy luôn luôn cho đảng những bài học trung thực đáng học, lịch sử chứ không phải bất kỳ thứ chủ nghĩa nào. Cái gì chưa biết, lịch sử sẽ dậy. Cái gì quên, lịch sử nhắc nhở – mà lịch sử chẳng bao giờ quên điều gì. Nhưng trốn tránh lịch sử, sẽ phải trả giá. Nếu phản lại lịch sử, sớm muộn không tránh khỏi bị trừng phạt.

Nếu yêu nước, yêu dân, ĐCSVN nên coi việc nắm lấy vai trò quyết định này trong cải cách là cơ hội trả nợ ơn nghĩa sâu nặng của nhân dân, và qua đó tự đổi đời được chính mình.

Chữ tín các thế hệ tiền bối của đảng đã xây dựng nên nhưng thế hệ hiện nay hủy hoại, nắm lấy cơ hội này ĐCSVN hôm nay sẽ lấy lại được, sẽ làm lại được tất cả và tự mở ra cho mình con đường mãi mãi cùng đi với nhân dân.

Nếu ĐCSVN hôm nay không chủ động tiến hành cải cách, hoặc nếu không bằng mọi cách vận động được ĐCSVN hôm nay tham gia cải cách, khả năng cải cách trong hòa bình và ổn định hầu như không hiện thực. Đơn giản là quyền lực nếu không lựa chọn tự hành động trên con đường cải cách, nó chỉ còn lại khuynh hướng luôn luôn huy động bạo lực để tự vệ. Như thế xung đột xã hội chắc chắn xảy ra. Nếu kịch bản này xảy ra, sẽ rất nhiều đau khổ cho đất nước, nghĩa là cái gì phải đến sẽ đến. Điều này càng làm rõ: Chủ động tiến hành cải cách là phương án tối ưu nhất cho đất nước và cho mọi bên hữu quan, trong đó thực hiện dân chủ để khép lại quá khứ theo tinh thần đoàn kết hòa giải dân tộc là chìa khóa.

Thảo luận công khai trong đảng và trong cả nước, chắc chắn lẽ phải sẽ thắng, làm nên cái được chung rất lớn cho cải cách, đồng thời giảm thiểu được cái giá phải trả của tất cả các bên hữu quan.

Vai trò quyết định ở đây dành cho ĐCSVN trước hết được hiểu là: Đảng dựa vào ý chí và nguyện vọng của nhân dân chủ xướng cải cách, huy động mọi trí tuệ và thúc đẩy mọi nỗ lực của nhân dân cả nước cho tiến hành cải cách, giữ gìn cho cải cách được tiến hành trong hòa bình, trật tự và ổn định. Thật ra nội dung này chính là những việc chính quyền của tổng thống Thein Sein – Myanmar kể từ khi lên cầm quyền đã và đang thực hiện trong một kế hoạch tổng thể, với các thời gian biểu được tính toán cẩn trọng cho từng bước đi nhỏ trong những lĩnh vực khác nhau.[3] Cũng phải nói thêm, dân trí và chất lượng áp lực đòi hỏi cải cách đến đâu, thành quả đạt được đến đấy, chẳng có cái gì được thiện chí cho không hoặc tự rụng xuống từ trên trời. Sự chủ động tiến hành cải cách của chính quyền Thein Sein đã kết thúc được trong hòa bình chế độ quân phiệt 20 năm đẫm máu ở Myanmar, đột phá được những bước cải cách đầu tiên ngoạn mục trên con đường trường chinh vạn dặm vì dân chủ và phát triển.

Một khi ĐCSVN dứt khoát khước từ vai trò quyết định lẽ ra cần nắm lấy này, đương nhiên đảng sẽ tự diễn biến mình từ đảng tiền phong chiến đấu (như ghi trong cương lĩnh) trở thành một lực lượng chính trị lớn nhất hiện nay độc quyền cai trị đất nước. Một khi đảng chỉ còn là một lực lượng chính trị như thế, hiện tượng này tự nó sẽ dấy lên trong xã hội những lực lượng đối kháng. Đảng đã chẳng từng dậy cho đảng viên của mình “có áp bức thì có đấu tranh chống áp bức” là gì!?

Thực tiễn cuộc sống hàng ngày cũng đang cho thấy: Vai trò lãnh đạo của đảng càng bị diễn biến và thay thế bằng cai trị bao nhiêu, thì quá trình phân hóa xã hội nước ta thành các lực lượng đối kháng khác nhau càng trở nên quyết liệt bấy nhiêu. Con đường dẫn tới các cuộc bể dâu vừa qua ở các nước Bắc Phi và một số nước khác chính là con đường đi qua cuộc sống hàng ngày như vậy đó. Cho nên, cải cách chính trị thật sự là con đường sống của đảng. Cứ đem ra thảo luận thẳng thắn trong đảng điều này, đúng sai sẽ vỡ nhẽ.

Hỏi: Đảng muốn cải cách lắm, nhưng vì sinh sôi nhiều dây mơ rễ má quá, đa mang đèo bòng nhiều quá, bây giờ có muốn cũng không làm nổi thì sao?

Đáp: Thì dân giúp đảng, giúp được đấy. Giúp cho đến khi thành công mới thôi. Kể từ khi thành lập năm 1930 dân đã chẳng bao phen cứu sống đảng là gì?! Chẳng những cứu, mà không dưới một lần còn đem xương máu mình ra bảo vệ nữa!.. Lần gần đây nhất dân cứu sống đảng là công cuộc đổi mới thời đại hội VI. Ngày nay, đảng còn muốn đi với dân, thì dân còn cứu được. Dựa vào dân, đảng cũng sẽ tự cải tạo được chính mình.

Hỏi: Giả định rằng dành cho vai trò quan trọng có ý nghĩa quyết định như thế trong tiến hành cải cách, nhưng nếu ĐCSVN hôm nay trước sau không muốn nhận, lần này quyết không nhận và chống lại thì làm sao?

Đáp: Hỏi như thế, cũng có nghĩa câu trả lời đã rõ ràng. Người Việt nào không thuộc câu nói của Nguyễn Trãi?

Lời kết: Công dã tràng?

Đã bao nhiêu lần tôi nói, viết góp ý cho các đại hội đảng, nhưng công cốc, không bao giờ có hồi âm. Các bài viết khác, các thư riêng về vấn đề này vấn đề nọ cũng vậy.

Nhưng không sao. Nước Việt Nam chúng ta là của tất cả mọi người Việt Nam chúng ta, lo gì. Ai đó trong đảng không muốn nghe, không muốn đọc, thì người Việt Nam khác nghe, người Việt Nam khác đọc, trong đảng hoặc ngoài đảng. Lẽ phải cần phải được chia sẻ, kiểm định. Sự lựa chọn của tôi như đã trình bày trong bài này có thể đúng, có thể sai, có những điểm đúng, có những điểm sai…Thiết nghĩ trao đổi với nhau như thế, sẽ càng nhiều người quan tâm, suy nghĩ về vận mệnh của đất nước, chúng ta sẽ càng rộng đường dư luận… Như thế, các ý kiến sẽ ngày càng được gạn đục khơi trong, và càng trở nên đúng đắn hơn. Thời gian quý vô giá, mỗi ngày chúng ta cố trao đổi với nhau một thông tin, một ý kiến, chí ít là góp vào thôi thúc sự quan tâm đến vận mệnh đất nước… Được như thế, âu cũng là sự chuẩn bị thiết thực cho thái độ của chúng ta đối với những gì xảy ra, sẽ xảy ra. Nghĩ như vậy tôi không nản lòng, mà chỉ lo ý kiến của mình còn nghèo nàn.

Tôi cố không nuối tiếc công dạ tràng.

Hà Nội ngày 25-02-2014

Nguyễn Trung

Bài 3 (kế tiếp): “Vượt qua khúc quanh của lịch sử
______________________
[1] viet-studies.info 12-02-2014, được bổ sung ngày 17-02-2014: http://viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_ChuTin.htmhttp://nguyentrung-vt.blogspot.com
[2] Cuốn sách đã dịch sang tiếng Việt rất đáng tham khảo gần đây cho chủ đề này là cuốn “Vì sao các quốc gia thất bại – nguồn gốc của quyền lực, sự thịnh vượng và nghèo khó” của Daron Acemoglu và James A. Robinson, NXB TRẺ, TPHCM 2013.
[3] Tham khảo: Nguyễn Trung, “Câu chuyện Myanmar”, http://viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_CauChuyenMyanmar.htmhttp://nguyentrung-vt.blogspot.com
Tác giả gửi cho viet-studies ngày 5-4-14

THỦ PHẠM GIẾT SỐNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM !

Danquyen

Nguyễn Đăng Quang

Cách đây 23 năm ( tháng 2-1991), trên đường công tác, ghé vào nghỉ tại Nhà khách của Sứ quán ta, tôi được các đồng chí ở Sứ quán đưa cho đọc một phụ bản của nguyệt san ĐOÀN KẾT, tờ báo của Hội người Việt Nam (Việt kiều) tại Cộng hòa Pháp, số 420 ra tháng 1-1991. Tôi rất chú ý đến một bài viết của tác giả Thái Như có tựa đề bằng phiên âm Hán-Việt. Đầu đề bài viết nguyên văn như sau : ” Sư tử thân trung trùng thực sư tử nhục”. Tác giả Thái Như giải thích câu đó có nghĩa là “Chỉ có loài sâu trong thân con sư tử mới ăn được thịt của con sư tử !”  Sau đó tác giả dẫn giải sư tử là chúa tể rừng xanh ,một tiếng gầm của nó làm muôn thú run sợ, nói chi đến việc dám lại gần nó, dám mó đến người nó hay dám…ăn thịt nó ! Đó là những con sư tử khỏe mạnh và như thế nó là vô địch! Ngược lại nếu có loài sâu bọ (trùng) ẩn nấp trong người nó,đục khoét dần xương tủy nó thì sao ?  Tác giả liền đi đến kết luận :”Đương nhiên, điều không thể tránh khỏi là con sư tử đó sẽ ngã quỵ một khi những con sâu trong người nó ngày một nhiều và lớn mạnh!”

Rồi tác giả liên hệ, về thăm quê nhà,đi bất cứ đâu,vào bất kể một hội trường nào,mọi người đều thấy có những khẩu hiệu: “Chủ nghĩa Marx-Lenine vô địch muôn năm!”, “Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!” v.v… làm mọi người liên tưởng đến sự vô địch của con sư tử! Vâng,nó vô địch thật nếu nó không bị sâu bọ đục khoét !

Sau đó tác giả đưa ra nhận xét: “Tình hình Việt Nam ta khó có thể xảy ra những sự kiện như ở Liên Sô cũ hoặc các nước XHCN Đông Âu,song có những vấn đề thì nguy hiểm không kém! Đó là những con sâu vô cùng khủng khiếp đang đục khoét con sư tử!”.  Để chứng minh, tác giả liệt kê :

– Chúng ta đã thấy một con sâu thật lớn : Đại tá Giám đốc Công an Đồng Nai bị tử hình vì bán bãi, tham ô cả ngàn lạng vàng.

– Chúng ta thấy cả một “nhóm sâu có tổ chức”: Cả một băng cán bộ đảng viên cao cấp toa rập, ăn cắp một cách quy mô vật tư cảng Sài gòn.

– Chúng ta đã thấy những con sâu thật khủng khiếp : Đốt kho cảng Hải Phòng để phi tang sự đục khoét của chúng.

– Và nay những con sâu “không có tên gì để gọi” đã ngang nhiên đốt cả Imexco Sài gòn !

Rồi còn biết bao con sâu bự khác như kiểu Hà Trọng Hòa đang lúc nhúc ?

Phần cuối bài viết, tác giả thốt lên : “Sư tử thân trung trùng thực sư tử nhục” là như thế và những con sâu ấy hiện đã quá to, quá mạnh ! Kết thúc bài viết, tác giả gióng lên câu hỏi cảnh báo : Liệu có thuốc chữa không và có chịu chữa hay không ? Hay là con sư tử luôn luôn ngạo nghễ gào lên “Ta là vô địch!”, “Ta là bất tử!”, “Ta là đỉnh cao trí tuệ!” trong lúc sâu nhặng đã tràn đầy cơ thể nó ??.

Bài viết trên của nhà báo Thái Như rất sâu sắc và chí lý ! Và cho đến nay sau hơn 23 năm nó vẫn còn nguyên tính thời sự nóng hổi ! Thiện ý của bài viết thì rất rõ và đầy tính xây dựng: Tác giả Thái Như muốn gửi đến Lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta một thông điệp rõ ràng cùng mong ước thiết tha của một người con đất Việt là “Đảng hãy tự chỉnh đốn mình,làm trong sạch đội ngũ lãnh đạo và đảng viên của mình,loại bỏ những ung nhọt trong cơ thể Đảng để đồng hành cùng toàn dân tộc đưa đất nước đi lên !”

Vâng, kể từ khi nhà báo Thái Như gửi đến Lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta thông điệp nói trên đến nay đã trên 23 năm, và trong 23 năm đó Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua 5 kỳ Đại hội Đảng toàn quốc. Tại mỗi kỳ Đại hội, Đảng Cộng sản Việt nam đều nêu lên những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, trong đó có nguy cơ tham nhũng, và đều nêu quyết tâm diệt trừ tận gốc tệ nạn này! Song quái lạ, nguy cơ này không những không bị  trừ diệt mà ngược lại, cứ qua mỗi kỳ Đại hội, nó càng ngày càng phát triển, càng mạnh thêm lên, cả về quy mô cũng như về số lượng ! Và nguy hiểm hơn, nó không chỉ xảy ra trong lĩnh vực vật chất mà nó lan sang cả nhiều lĩnh vực khác, như đạo đức, lối sống, tư tưởng, quyền lực,v.v… nữa ! Bây giờ không chỉ là những con sâu đơn lẻ hoặc một nhóm vài ba con sâu như thời kỳ cuối những năm 1980′s hay đầu 1990′s mà nay  nó đã phát triển và lớn mạnh thành những đàn sâu,bầy sâu, thậm chí cả “tập đoàn” sâu rồi !

Có thể khẳng định gần như100% bọn sâu mọt tham nhũng đều là những cán bộ,đảng viên có chức, có quyền. Người dân thường không thể tham nhũng và nếu có ai đó muốn làm điều đó cũng đâu có dễ? Và tuyệt đại đa số những vụ tham nhũng bị lôi ra ánh sáng là do người dân và báo chí  phát hiện, phanh phui và tố cáo. Còn những vụ do các cơ quan chức năng như kiểm tra,thanh tra và điều tra khui ra thì rất it, có thể đếm trên đầu ngón tay. Nhiều người khẳng định rằng những con sâu bị lộ so với những con sâu chưa bị lộ cũng giống như mẩu băng nổi của tảng băng chìm ! (Có lẽ,vì thế mà có câu nói: “Kính thưa đồng chí đã bị lộ! Kính thưa các đồng chí chưa bị lộ!”.)

Khó có thể thống kê đầy đủ những con sâu to nhỏ đã được “ bạch hóa” từ trước cho đến nay. Người viết bài này chỉ xin điểm qua một số con sâu”tiêu biểu” đã bị lộ diện trong vòng hơn 10 năm vừa rồi qua một vụ án sau đây:

–  Trương Văn Cam (Năm Cam) -một tên mafia cộm cán,đứng đầu một băng xã hội đen khét tiếng ở đất Sài thành, tung hoành trong nhiều năm dài,gây bao kinh hoàng cho người dân và chính quyền TP HCM- bị bắt và kết án tử hình tháng 9-2003. Năm Cam có một câu nói nổi tiếng mà hắn coi là kim chỉ nam hành động mỗi khi bọn chúng giao dịch với quan chức các cơ quan công quyền,đó là “Cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất,rất nhiều tiền !” Trong vụ án này hàng loạt cán bộ, đảng viên cao cấp bị bắt giam và lĩnh án ,trong đó có Trần Mai Hạnh,nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài phát thanh TNVN, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam bị 9 năm tù giam; Phạm Sỹ Chiến,nguyên Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao bị 6 năm tù giam;  Bùi Quốc Huy,nguyên Ủy viên Trung ương Đảng,Trung tướng,Thứ trưởng Bộ Công an bị 4 năm tù giam về các tội nhận hối lộ, bao che,bảo kê… cho Năm Cam và đồng bọn.

– Lương Quốc Dũng: Tại phiên tòa ngày 29-10-2004 Dũng bị kết án 8 năm tù về “tội

hiếp dâm trẻ em”. Khi phạm tội Lương Quốc Dũng đang là Phó Chủ nhiệm Ủy ban TD-TT

Trung ương. Dũng có nhờ một phụ nữ môi giới,tìm một bé gái 13 tuổi đưa đến khách sạn cho y quan hệ tình dục để “phá trinh giải đen”. Tuy sau đó Dũng đã tự nguyện bỏ ra 68.000 đô la Mỹ để gia đình người bị hại xin bãi nại, nhưng Tòa không chấp nhận.

– Lã Thị Kim Oanh:  Tại phiên phúc thẩm ngày 5-4-2004 tại Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội ,Lã Thị Kim Oanh ,nguyên Giám đốc Công ty Tiếp thị và Thương mại của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bị tuyên án tử hình (sau được Chủ tịch nước ân giảm xuống chung thân) vì đã cùng đồng bọn tham ô và làm thất thoát gần 150 tỷ đồng của nhà nước. Trong vụ án này còn có 2 Vụ trưởng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bị tuyên án 3 và 4 năm tù giam, cùng 2 vị Thứ trưởng của Bộ này(trong đó có 1 vị là Thứ trưởng thường trực) bị tuyên phạt 2 và 4 năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Vụ PMU 18: Đầu tháng 1-2006, Bùi Tiến Dũng,Tổng Giám đốc Ban Quản lý các Dự

án 18 (PMU18) bị bắt và bị cáo buộc đã đem hàng chục tỷ đồng mà y tham ô từ công quỹ

để đi bao gái,hối lộ và đánh bạc.Riêng số tiền mà Dũng cá độ bóng đá lên tới 1,8 triệu

Đô la Mỹ. Liên quan đến vụ án này,Thứ trưởng thường trực Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Việt Tiến bị bắt giam và Bộ trưởng Đào Đình Bình buộc phải từ chức. Ngày 21-8-2007,Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội tuyên phạt Bùi Tiến Dũng 13 năm tù giam. Bảy cán bộ liên quan khác bị kết án từ 3 đến 9 năm tù giam. Vụ này không chỉ gây xôn xao dư luận tại Việt Nam mà khiến cho các quốc gia và các Tổ chức quốc tế cung cấp viện trợ chính thức(ODA) cho Việt Nam nghi ngại.

-Vụ Mai Văn Dâu:  Ngày 18-11-2004,Thứ trưởng thường trực Bộ Thương mại (nay là

Bộ Công thương) Mai Văn Dâu bị bắt giam .Trước đó con trai ông là Mai Thanh Hải,

chuyên viên Vụ Xuất Nhập khẩu và 2 cán bộ cấp Vụ khác của Bộ Thương mại…cũng bị bắt.Sau đó,nguyên Thứ trưởng Mai Văn Dâu và đồng bọn bị truy tố về các tội nhận hối lộ, đưa hối lộ ,môi giới hối lộ ;lợi dung chức vụ,quyền hạn trong khi thi hành công vụ;lừa đảo chiếm đoạt tài sản;làm giả tài liệu của cơ quan,tổ chức. Ngày 20-6-2007,Tòa án Nhân dân Tối cao tại TP Hồ Chí Minh tuyên phạt Mai Văn Dâu 12 năm tù giam, Mai Thanh Hải 5 năm tù giam,Lê Văn Thắng(nguyên Vụ phó Vụ Xuất Nhập khẩu)17 năm tù giam.Các bị cáo còn lại bị tuyên từ 3 cho đến 12 năm tù giam.

-Vụ Đề án 112

Vụ PCI-Huỳnh Ngọc Sỹ

-Vụ Vinashins

-Vụ Vinalines

-Vụ Tiên Lãng

-Vụ Văn Giang

-Vụ quan đánh cờ bạc tỷ ở Sóc Trăng

-Vụ nhân bản xét nghiệm ở Hoài Đức

-Vụ lương khùng 2,6 tỷ

-Vụ Sầm Đức Xương-Nguyễn Trường Tô

– Hồ Xuân Mãn:  Ngày 21-8-2010, Hồ Xuân Mãn (lúc đó đang là đương kim Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên- Huế) do khai man ,mạo nhận, gian dối và “chạy” thành tích nên được phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân”. Ngày 2-1-2014 vừa qua, Ban Bí thư Trung ương Đảng, sau gần một năm thẩm tra,xem xét các tố cáo của người dân và của các CCB, đã ra quyết định đề nghị Nhà nước tước bỏ danh hiệu trên và thu hồi hiện vật,tiền thưởng đối với Hồ Xuân Mân,nhưng chưa đưa ra bất cứ hình thức kỷ luật đảng nào vì đương sự đang ốm đau,bệnh tật! Trước đó,năm 2009, Hồ Xuân Mãn còn được tuyên dương là 1 trong 3 Bí thư Tỉnh ủy tiêu biểu của toàn quốc đã gương mẫu trong phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Ấy là chưa nói đến một “thành tích” nữa là trong 2 nhiệm kỳ tại vị ở chức “Vua đất cố đô”,ông ta còn được người dân quê hương phong tặng thêm một danh hiệu nữa là “vua dê gái”!

(Không rõ trong hàng ngũ của Đảng ta hiện nay có bao nhiêu cán bộ lãnh đạo có chức vụ bằng hoặc cao hơn ông Hồ Xuân Mãn mà ”thành tích” không thua kém gì ông này nhưng chưa bị lộ không? Hẳn là không ít ! Không rõ các quý vị này- sau khi nghiêm túc nghiên cứu,quán triệt NQ4 của Trung ương Khóa XI- có vị nào dám dũng cảm và tự giác giơ cao tay thú nhận không ?)

Trước khi bị bắt và bị truy tố theo Điều 258 Bộ Luật Hình sự, nhà báo Trương Duy Nhất có một bài báo góp ý với Lãnh đạo Đảng về công tác “xây dựng,chỉnh đốn đảng”,sau khi Đảng ban hành Nghị quyết Trung ương 4.Bài báo lấy đầu đề là “ Trị Đảng” có nội dung phê phán mạnh mẽ,sắc sảo và kịp thời,nói “trúng phóc” nhiều căn bệnh của Đảng nhưng không phải là không có tinh thần xây dựng,càng không phải là chống Đảng,chỉ có điều tác giả tỏ ra bi quan,không nhìn thấy hy vọng nào vào Đảng .( Bài này không thấy Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao liệt kê trong Cáo trạng ngày 17-12-2013 để truy tố nhà báo-blogger nổi tiếng nói trên về tội ”Lợi dung các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền,lợi ích hợp pháp của tổ chức,cá nhân”. Cũng như đa số những người theo dõi và hiểu biết về vụ này, cá nhân tôi tin rằng blogger Trương Duy Nhất không vi phạm luật pháp và không có tội !). Trở lại bài  báo “Trị Đảng”, sau khi trích dẫn câu nói của Giang Trạch Dân khi còn đương chức “muốn trị quốc phải trị đảng”, nhà báo Trương Duy Nhất viết : “Hồi Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã nghe nói ”nhà dột từ nóc”.Đến giờ,hình như “cái nhà” ấy không những dột từ nóc mà “dột nhiều chỗ khác nữa”.”Dột nhiều chỗ khác”là cách nói của cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu,chứ thực ra không phải dột mà nhiều chỗ đã thực sự…mục nát rôi !”

Học giả LÊ QUÝ ĐÔN (1726-1784)-nhà thơ đồng thời là nhà bác học nổi tiếng của Việt Nam thời kỳ Hậu Lê, người sống cách chúng ta gần 3 thế kỷ – đã nêu lên 5 hiện tượng xã hội là nguyên nhân dẫn đến đất nước lụn bại và làm chế độ suy vong.  Đó là:

– Trẻ không kính già

-Trò không trọng thày

-Binh kiêu,tướng thoái

-Tham nhũng tràn lan

-Sỹ phu ngoảnh mặt

Đối chiếu vào tình hình xã hội và đất nước ta hiện nay,chúng ta có thể thấy tất cả 5 hiện tượng trên đều hiện diện một cách phổ biến ở khắp nơi (có thể nói ở hầu hết các bộ,ngành trung ương cho đến tất cả 63 tỉnh,thành trên trên toàn quốc) tuy rằng ở mức độ mỗi nơi có khác nhau,song trong số 5 hiện tượng này thì hiện tượng tham nhũng là rõ ràng nhất,cấp bách nhất và nguy hiểm nhất !. Vâng, tham nhũng đã tràn lan,tham nhũng đã rất trầm trọng ! Lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng đã ý thức được nguy cơ này, đã nêu quyết tâm và cũng đã đã đề ra nhiều biện pháp diệt bọn sâu tham nhũng này,song chưa đi đến kết quả như người dân mong đợi!

Người viết bài này trong thời gian 25 năm qua đã rất hy vọng và tin tưởng Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực sự thấy vấn đề và cũng thật sự muốn diệt trừ tham nhũng,nhưng thực tiễn và kết quả lại chứng minh điều ngược lại. Từ năm 1989 đến nay, Đảng đã qua 5 kỳ Đại hội Đảng toàn quốc (1991,1996,2001,2006 và 2011),nhưng tệ nạn tham nhũng ngày càng trầm trọng,và đặc biệt từ sau Đại hội IX cho tới nay căn bệnh này mỗi ngày mỗi nghiêm trọng và nó đã trở thành quốc nạn !

Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã cảnh báo : “Tham nhũng đang đe dọa chế độ!”

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bức súc: “Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh,nay thì nhiều con sâu lắm.Nghe mà thấy xấu hổ,không nhẽ cứ để hoài như vậy.Mai kia người ta nói một bầy sâu,tất cả là sâu hết thì đâu có được.Một con sâu đã nguy hiểm rồi,một bầy sâu là “chết” cái đất nước này!”

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thật thà: “Không tham nhũng lấy đâu tiền chạy chức”.

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan thổ lộ: “Bây giờ người ta ăn của dân không từ một cái gì.”

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng quyết liệt: “Đảng và Nhà nước không hề chùn tay mà đã kiên quyết xử lý tham nhũng…”

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng than thở: “Cái gì cũng phải tiền,không tiền không trôi,như ngứa ghẻ phải gãi rất khó chụi” và “Còn quyền lực là còn tham nhũng”…

Tháng1-2012, Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành NQTW4 về ” Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”

đã nhận định:” Một bộ phận không nhỏ cán bộ,đảng viên-trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo,quản lý,kể cả một số cán bộ cao cấp-suy thoái về chính trị,đạo đức,lối sống…”

Về vấn nạn bằng giả và tệ nạn chạy chức,chạy quyền,Bộ trưởng Bộ Giáo dục Phạm Vũ Luận thừa nhận: bằng giả hoặc bằng thật nhưng học giả chỉ có thể chui vào được các cơ quan nhà nước chứ không thể chui được vào các công ty tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài.)

Kết:  Trong vòng 25-30 năm qua,vấn nạn tham ô,tham nhũng ngày càng trầm trọng trong xã hội ta và nó đã trở thành quốc nạn. Bọn sâu bọ ngày một đông,ngày một mạnh và đã trở thành bầy đàn! Nó như căn bệnh ung thư đã di căn  tới nhiều bộ phận của cơ thể con sư tử. Nếu Đảng ta không quyết tâm chữa trị, không dũng cảm cắt bỏ những bộ phận cơ thể đã thối muỗng thì quốc nạn tham nhũng này,đến một lúc nào đó sẽ là kết cục- như nhà báo Thái Như đã cảnh báo-”Đương nhiên điều không tránh khỏi là con sư tử đó sẽ ngã quỵ một khi những con sâu trong cơ thể nó ngày một nhiều và lớn mạnh” !  Vâng, nếu Đảng ta không quyết tâm diệt trừ (giết chết) bọn sâu bọ tham nhũng thì chính bọn này,một ngày nào đó, sẽ là thủ phạm “giết sống” Đảng Cộng sảnViêt Nam!

Mong Đảng hãy quyết liệt và nhanh chóng hành động trước khi quá muộn !

Lật ngược vụ án Trương Duy Nhất

 

Blogger Trương Duy Nhất tại phiên tòa ở Tòa án Nhân dân thành phố Đà Nẵng số 374 đường Núi Thành Quận Hải Châu Đà Nẵng sáng hôm 4 tháng 3 năm 2014.  -AFP photo

Ngày 04/3/2014, trong phiên sơ thẩm, ông Trương Duy Nhất bị Tòa án nhân dân Đà Nẵng tuyên mức án 24 tháng tù giam với tội danh “xâm phạm lợi ích nhà nước” theo điều 258 Luật hình sự. Nếu việc kháng cáo không thành công, ông Nhất còn tiếp tục ngồi tù thêm 14 tháng. Việc kết tội ông Nhất trong phiên tòa vừa qua thiếu tính ngay thẳng – tính chất tối quan trọng của luật pháp, nơi lẽ ra phải biểu thị cao nhất sự minh bạch, công khai và quyền được xét xử công bằng. Do đó, cần tiếp tục vạch rõ những hiểu lầm và khuất tất từ vụ án này để nói tiếng công bằng cho ông Trương Duy Nhất.

Dư luận lạc lối?

Tòa Đà Nẵng – Việt Nam kết tội Trương Duy Nhất theo nội dung cáo trạng nêu ra, xuất phát từ 11 bài do ông Nhất viết cùng 1 bài do tác giả khác gởi đăng. Tựu trung, ông Nhất bị cho rằng: [1]  ”đã làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, chính quyền và làm mất uy tín cá nhân các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam”.

Bào chữa cho ông Nhất là luật sư Trần Vũ Hải. Luật sư Hải với bài bào chữa đúng mực và trọn vẹn, không đi ra ngoài cáo trạng kết tội, chứng tỏ là một luật sư chuyên nghiệp hoàn hảo. Trả lời đài BBC, luật sư Hải cho biết những ý chính, do ông Nhất tự thân phát ngôn công khai trước tòa [1]:

– Chỉ ra những khuyết điểm, sai lầm, những hiện tượng chưa đúng với hy vọng lãnh đạo Đảng và Nhà nước sẽ thấy ra, khắc phục, sửa chữa và rút kinh nghiệm.

– Có công đã chỉ ra những điểm ấy để cho các lãnh đạo và Nhà nước Việt Nam tốt hơn.

– Góp phần cho không khí dân chủ ở Việt Nam, góp phần giúp các nhà lãnh đạo Việt Nam nhận thức được những vấn đề của đất nước, những suy nghĩ của người dân.

Trong các ý chính trên, người đọc thấy, “dân chủ” chỉ xuất hiện một lần bằng chữ khiêm tốn: “góp phần cho không khí…”. Do đó, những kêu gọi và bênh vực cho Trương Duy Nhất phải được cân nhắc kỹ lưỡng, cũng như nên tuân theo tư tưởng và nguyện vọng của cá nhân ông, thay vì như trang Quê Mẹ cho ông là [2]  ”bị cầm tù vì tố cáo vi phạm Nhân quyền” , hay trang Dân Luận bày tỏ [3]  “Nếu Trương Duy Nhất “đóng góp rất lớn cho phong trào” đấu tranh dân chủ bằng cách sử dụng ngòi bút của mình, thì anh xứng đáng được gọi là một nhà đấu tranh cho dân chủ, dù mục đích của anh thực sự là gì…” , những quan điểm này tỏ ra lợi bất cập hại cho chính Trương Duy Nhất. Nói cách khác, một hình thức  “nâng quan điểm”  tai hại.

Những lập luận của Quê Mẹ, Dân Luận và những người quý mến Trương Duy Nhất có vẻ, vừa đi ngược tư tưởng của ông vừa làm sai lệch ý chí cá nhân ông? Không những thế, dư luận như vậy vô tình bóp méo tâm nguyện và phủ nhận tuyệt đối những bộc bạch mà Trương Duy Nhất trực tiếp bày tỏ trước tòa, đối với nhà cầm quyền? Nó vô hình chung đẩy ông Nhất về phía càng đối nghịch với nhà cầm quyền Việt Nam mà (qua phát biểu cá nhân Trương Duy Nhất như trên) chưa chắc ông đã hàm ơn?.

“Thương mà hóa ra hại”  là như vậy. Dư luận như thế, có thể là những cảm xúc mang đầy chất cảm tính, cũng như dễ bị nhà cầm quyền cho rằng có một chút hàm ý lợi dụng để  “lôi kéo”  Trương Duy Nhất  “chống lại”  chế độ mà chưa chắc ông Nhất nghĩ tới? Vì thế, những lời bênh vực như thế  dễ rơi vào bẫy mà người cộng sản sử dụng hàng chục năm qua với cụm từ  ”kích động”, “xúi giục” . Đó càng tỏ rõ tác hại từ việc yêu mến mà chưa chắc ông Nhất cần?

Khi đề cập đến ĐCSVN, người ta hay nói về chữ  “yêu đảng” . Hãy thử hình dung một hoàn cảnh: Một người vợ dù bị đối xử tệ bạc, nhưng vẫn một mực thủy chung với chồng. Người vợ đó vẫn tha thiết mong chồng nhận ra tâm ý của mình bằng những lời nói thẳng thắn và thật tâm mang tính xây dựng, nhằm giúp cho chồng mình tốt lên, bỗng nhiên dư luận bên ngoài, vì quá bức xúc trước lòng thành và hoàn cảnh của người vợ, nên một mực cho rằng cô vợ ấy không còn yêu chồng nữa, đồng thời lên án, tố cáo rùm beng với thiên hạ rằng: người chồng ngược đãi cô ta. Đó có vẻ trở thành “sự phá hoại gia cang”? Nếu độc giả thích dùng từ “chính trị” hơn có thể dùng ý nghĩa: Can thiệp vào chuyện nội bộ người khác mà không chắc người đó đồng ý?

Phải chăng dư luận đang làm suy giảm và hiểu sai một trong các Quyền Con Người được quy định trong ICCPR – Điều 19, khoản 1 nói rằng: “Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp”?

Dư luận có vẻ đang lầm lẫn và càng tạo “hiệu ứng nghịch”, “ép phê ngược” cho hoàn cảnh Trương Duy Nhất hiện nay?

Dường như trường hợp Trương Duy Nhất (thông qua phát biểu trực tiếp tại tòa) đang giúp cho nhà cầm quyền Việt Nam có đủ căn cứ để bác bỏ lời phản đối của Hoa Kỳ?

Phải chăng Trương Duy Nhất là một nạn nhân mà nguồn gốc xuất phát từ việc kết tội không ngay thẳng của tòa Đà Nẵng?

Kết tội không ngay thẳng

Trước khi ông Nhất bị bắt khẩn cấp ngày 26/5/2013, ông là một trong vài nguồn thông tin (không chính thức) sớm nhất [*] với bài  ”Hai tân ủy viên Bộ chính trị”  [4] vào hôm 04/5/2013, trong khi tin chính thức cho biết 11/5/2013 Hội nghị TW7 mới kết thúc. Bài viết này cho hay, hai người được kỳ vọng (Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ) trúng cử, nhưng ngược dự đoán, ông Nguyễn Thiện Nhân và bà Nguyễn Thị Kim Ngân trúng cử chính thức. Dư luận vào lúc bấy giờ đều nhìn nhận bài viết này gây xôn xao, đồn đoán nhiều nhất và không khí bán tín bán nghi bao trùm toàn bộ các diễn đàn về “hậu trường chính trị” nội bộ ĐCSVN chia rẽ và phân hóa sâu sắc với nhiều bài bình luận, phân tích [5].

Nguồn tin mật báo cho ông Trương Duy Nhất đã bị tòa án hoàn toàn phớt lờ và tránh né. Nếu coi ông Nhất “xâm phạm lợi ích nhà nước” thông qua 11 bài viết bị làm chứng cứ trước tòa, có vẻ bài “Hai tân ủy viên Bộ chính trị” xứng đáng nhiều hơn hẳn so với cả 11 bài kia.

Tòa đã quy tội ông Nhất “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước”.

Ai cũng biết nhà nước CHXHCNVN do ĐCSVN lãnh đạo toàn diện. Trong khi đó, ĐCSVN lãnh đạo thông qua nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” (khoản 1 điều 9 Điều lệ ĐCSVN). Đó là điều không ai có thể chối cãi với chế độ độc đảng toàn trị hiện nay. Trên cơ sở đó, nhà nước CHXHCNVN lãnh đạo theo nguyên tắc này.

Mất uy tín thì không thể lãnh đạo. Vậy, làm mất uy tín các ông cộng sản cao cấp nghĩa là làm mất uy tín tập thể lãnh đạo cấp cao ĐCSVN. Làm mất uy tín tập thể lãnh đạo cấp cao ĐCSVN đồng nghĩa xâm phạm vào nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Xâm phạm nguyên tắc tối quan trọng này đồng nghĩa xâm phạm “lợi ích đảng”. Xâm phạm “lợi ích đảng” nghĩa là “xâm phạm lợi ích nhà nước”, ở đây là Nhà nước CHXHCNVN.

Như thế, có thể nói: ông Trương Duy Nhất bị tòa án Đà Nẵng kết tội rất lòng vòng. Nói thẳng ra: kết tội không ngay thẳng!

“Thông tin” chỉ có ý nghĩa khi đảm bảo hai điều kiện: “đầu vào” và “đầu ra”. Ông Trương Duy Nhất là “đầu ra” trong bài viết “Hai tân ủy viên Bộ chính trị”. “Đầu vào” là ai hay những ai?

Câu hỏi đặt ra: tại sao công an, viện kiểm sát và tòa án không tra xét đến nơi đến chốn, ai đã rò rỉ thông tin tối mật như thế cho ông Nhất, làm ảnh hưởng nặng nề “uy tín” của các ông cộng sản cấp cao? Uy tín của các ông cộng sản cấp cao tức là uy tín của ĐCSVN. Uy tín của ĐCSVN nghĩa là uy tín nhà nước CHXHCNVN.

Một câu hỏi cần đặt ra nữa: giả sử ông Nguyễn Bá Thanh không thất cử trong kỳ bầu bổ sung ủy viên bộ chính trị, ai dám khẳng định ông Nhất bị bắt khẩn cấp và buộc phải đứng trước vành móng ngựa vào ngày 04/3/2014?

Kết

Ông Trương Duy Nhất được biết là người khảng khái và nghĩa khí. Tuy nhiên, chỉ có bản thân ông mới có thể đòi công bằng cho chính mình thông qua thuật ngữ “tình tiết mới”, được công nhận chính thức. Có lẽ, ông Nhất cùng người thân và luật sư cần suy nghĩ tương tự như việc Dương Chí Dũng khai về tướng Phạm Quý Ngọ.

Người miền Trung có thơ:

Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm

Rượu Hồng Đào chưa nhấm đã say

Bạn về đừng ngủ gác tay

Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo

Tính “hiệp nghĩa” theo phong cách các bộ phim kiếm hiệp không còn phù hợp với thời buổi hiện tại. Sống “nghĩa khí” với những kẻ chỉ biết “ngủ gác tay” không phải là tính tiết tháo cần có, trong bối cảnh đạo đức xã hội Việt Nam suy đồi cùng cực và an ninh quốc phòng đang bị đe dọa nghiêm trọng hiện nay. Chỉ có hy sinh vì dân vì nước mới xứng gọi là “tráng sĩ”.

Cuối cùng, những ai có ý định ở tù cùng ông Trương Duy Nhất nên cân nhắc lại câu ngạn ngữ thời hiện đại: “Ở tù vì đảng là ở tù rất lãng”.

Nguyễn Ngọc Già, Việt Nam 05/03/2014

*Nội dung bài viết không nhất thiết phản ảnh quan điểm của RFA

_______________

[1]  http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/03/140304_truongduynhat_trial.shtml

[2]  http://www.queme.net/vie/news_detail.php?numb=2246

[3]  http://danluan.org/tin-tuc/20140304/nguyen-tran-sam-truong-duy-nhat-co-toi-gi

[*] Chủ bút Dân Luận – ông Nguyễn Công Huân cho biết: “… Thứ nhất, nó xuất phát từ ít nhất hai nguồn tin độc lập là Tư Sang Nham Hiểm và Cầu Nhật Tân. Thứ nhì, theo tôi đoán thì Trương Duy Nhất không lấy nguồn từ Tin tức hàng ngày mà ngược lại…”

[4]  http://danluan.org/tin-tuc/20130504/truong-duy-nhat-hai-tan-uy-vien-bo-chinh-tri

[5]  http://danluan.org/tin-tuc/20130506/nguyen-ba-thanh-rot

Trị đảng

…cc: Bài này của Trương duy Nhất viết từ 2012, không có tên trong danh sách “cáo trạng”

Trên mạng vào bài này “có ma”- Mối lần thao tác trên bài naỳ nó nhaỷ ra liên tục như sau Bà con lưu ý

Yêu cầu xác minh  :Tên đăng nhập và mật khẩu đang được yêu cầu bởi http://truongduynhat.vn. Trang web báo: “Password” => Tốt nhất là bà con đừng vào kẻo dính bug vì trang này h chắc chắn đã bị hack từ lâu rồi!

Quảng Ngãi Nghĩa thục

Viết bởi truongduynhat Đăng lúc 0:00 am03 January 2012

tridang4 Tôi muốn dùng chữ “trị”, trị đảng chứ không phải “xây dựng chỉnh đốn”. Ông Giang Trạch Dân khi đương chức Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Trung Quốc cũng đã nói “muốn trị quốc phải trị đảng”.

          Hội nghị 4 vừa kết thúc. Chuyện nóng của hội nghị này là… bàn lại vấn đề “xây dựng chỉnh đốn” đảng. Nói “bàn lại” bởi việc “xây dựng chỉnh đốn” trong đảng đã được bàn từ rất lâu, mấy nhiệm kỳ rồi nhưng vẫn chưa vào đâu, thậm chí càng chỉnh càng xộc xệch thêm.

          Hồi Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã nghe nói “nhà dột từ nóc”. Đến giờ, hình như “cái nhà” ấy không những dột từ nóc mà “dột nhiều chỗ khác nữa”. “Dột nhiều chỗ khác” là cách nói của cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, chứ thật ra không phải dột mà nhiều chỗ đã thật sự… mục nát rồi. Đến như Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng phải thốt lên “Trước chỉ có một con sâu làm rầu nồi canh. Nay thì nhiều sâu lắm!”. Còn ông Trọng Tổng Bí thư thì phải thừa nhận rằng “chỉnh đốn đảng vì sự tồn vong của chế độ”.

          Đảng bây giờ không chỉ xộc xệch, ông Phiêu nói thẳng: đảng có những cái đang hư hỏng và “bản thân đang có bệnh”. Trọng bệnh. Bởi thế ông Phiêu muốn đợt “chỉnh đốn” đảng lần này phải như “không khí chuẩn bị ra trận, tổ chức một chiến dịch như là tổng tiến công”.

          Hư hỏng thì chỉnh đốn, nhưng đã bệnh rồi thì phải trị. Ông Giang Trạch Dân khi đương chức Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Trung Quốc đã dõng dạc rằng “muốn trị quốc phải trị đảng”. Tôi muốn dùng chữ “trị” này, trị đảng chứ không phải “xây dựng chỉnh đốn”.

          Ở những quốc gia có chế độ đa đảng, sức ép cạnh tranh từ các đảng phái đối lập luôn buộc họ phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Việt Nam độc đảng, không cạnh tranh, không có thế đối trọng, thì việc “trị” đảng, chữa bệnh cho đảng phải dựa vào dân.

          Bài trả lời của cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu trên báo Tuổi Trẻ về “xây dựng chỉnh đốn đảng” được dư luận quan tâm. Tuy nhiên, ông cũng chỉ nói đúng thực trạng, bắt đúng con bệnh của đảng (mà cũng chỉ nhìn ra và nói đúng khi đã nghỉ hưu), còn cách “trị” vẫn đưa phương thuốc cũ. Cách tự kiểm điểm, “tự soi mình” của ông Phiêu thì rồi cũng luẩn quẩn như kiểu đánh trống phong trào, chứ không mong có sự thay chuyển nào.

          Bản thân mình thì khó nhìn thấy mình, nhất là những khuyết điểm, bệnh tật, đặc biệt là những khuyết tật đó lại nằm phía… sau lưng. Muốn nhìn thấy, muốn trị bệnh thì phải nhờ vào người khác chứ tự thân đảng không thể chữa trị cho mình được.

          Ai là bác sĩ cho đảng? Không ai khác đó chính là dân. Dựa vào dân, nhờ dân chỉnh đốn đảng chứ bản thân đảng không thể tự chỉnh đốn mình được, nhất là với thể chế độc đảng như Việt Nam hiện nay.

          Cũng đã có lý do đưa ra: sợ làm mạnh quá sẽ đi đến tình trạng đấu tố như hồi cải cách, sợ “kè thù” lợi dụng, sợ có bộ phận “ngoài đảng” làm bậy… Thực tế, sai lầm thời cải cách ruộng đất là lỗi ở đảng chứ đâu phải kẻ thù, đâu phải ở dân. Hơn nữa, nếu đảng thật sự công minh chính trực, đảng trong sáng thì sợ gì chuyện “đấu tố”? “Dân sinh thành ra đảng, dân là cha mẹ của đảng”. Vì thế tôi tin dân không bao giờ hại đảng, phản đảng.

         Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nghe nhiều người khen. Nhưng tôi không nhìn thấy hi vọng nào.

          “Trung ương đặc biệt nhấn mạnh, muốn có được sức mạnh và uy tín thì đảng phải tự rèn luyện, tự củng cố, đổi mới, chỉnh đốn; không ai có thể làm thay được” (lời ông Trọng). Tôi nghĩ khác, đảng khó (thậm chí là không thể) tự “chỉnh đốn” được mình. Thực tế bao nhiệm kỳ rồi vẫn thế, có chỉnh đốn được gì đâu, nếu không muốn nói là càng chỉnh càng xộc xệch. Ngay chính câu chuyện về cụ Hồ mà ông Trọng nhắc cũng nói lên điều này: “Có lần Bác nói: “Tôi làm điều xấu, các đồng chí trông thấy, phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay. Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần, mà không nói cho người ta sửa, tức là hại người ta“.

          Vết nhọ trong đảng không nhờ dân phát hiện thì không thể chùi được. Nói như cụ Hồ, nhọ trên trán đã khó chùi, huống chi nhọ trong óc.

          Khẳng định công tác xây dựng chỉnh đốn đảng là cấp bách, là vấn đề sống còn của đảng và chế độ, nhưng lại không hoạch định được thời gian nào, đến nhiệm kỳ nào, 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa… sẽ chùi sạch nhọ, chữa khỏi bệnh cho đảng? Bao giờ thì thực hiện xong cái “nhiệm vụ cấp bách, sống còn” này? Tại sao đảng không dám đặt ra một mục tiêu cụ thể về thời gian cho mình?

          Chữa bệnh khác với việc đánh răng vệ sinh thường nhật. Trọng bệnh mà vẫn thủng thẳng “kiên trì, bền bỉ; làm thường xuyên, liên tục; làm đi làm lại nhiều lần như đánh răng, rửa mặt, quét nhà, rửa bát hằng ngày”? Khối u ác tính cần lập tức cắt bỏ, cho thuốc xạ trị, hóa trị mạnh, chứ không thể chỉ chà cọ đánh răng, chùi rửa hết ngày này sang tháng nọ. Thủng thẳng “chùi rửa” thế thì nó di căn đến hủy hoại đảng mất!

          Muốn trị quốc phải trị đảng. Muốn trị đảng phải dựa vào dân! Đã trọng bệnh, không thể nằm đó mà tự “chùi rửa” cho mình được. Chỉ có dân mới có thể làm sạch đảng. Chỉ có “bác sĩ” dân mới trị được căn bệnh trầm kha trong đảng. Còn nếu đảng cứ tự “xây dựng chỉnh đốn” mãi, tự “đánh răng chùi rửa” mãi, thì không mong gì khỏi bệnh để… vững mạnh được!

Cầu Long Biên – bản đàn trong yên lặng

Với những người sinh ra và lớn lên ở Hà Nội như tôi, cầu Long Biên là một bản đàn trong yên lặng nhưng luôn réo rắt trong tâm hồn. Nó là ký ức tập thể của cộng đồng người Hà Nội. Không có gì khắc sâu trong tâm trí người Hà Nội suốt 100 năm qua bằng hình ảnh cây cầu dài nhấp nhô như con rồng thép khổng lồ bay qua song Hồng suốt bốn mùa xuân hạ thu đông…

Hỏi một người Hà Nội đi xa: Anh nhớ nhất cái gì ở Hà Nội? Trả lời: Hình ảnh cây cầu Long Biên. Hỏi một nhà nghiên cứu lịch sử: “Vật chứng” các biến cố của Hà Nội suốt trăm năm qua? Trả lời: Cây cầu Long Biên. Hỏi một anh cán bộ miền Nam, nói đúng hơn là cậu học sinh miền Nam theo cha mẹ đi tập kết ra Bắc sau năm 1954, bây giờ đã là một ông già ngoài 70 tuổi sống ở Sài Gòn: Ông nhớ nhất cái gì ở Hà Nội? Trả lời: Cầu Long Biên! Ông đã kể: Tháng ngày đi học cuốc bộ từ Gia Lâm qua cầu Long Biên sang Hà Nội rồi lại về, ông đã đếm được mấy vạn cái đinh bù-loong trên cây cầu sắt này. Đếm để quên quãng cầu dài, quên bụng đói… Con số mấy vạn cái đinh bù-loong ấy theo ông suốt cả đời (!).

Chỉ sau hai tháng nhận chức (tháng 02/1897) toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã đặt bút phê chuẩn dự án cầu Doumer tức cầu Long Biên ngày nay.

Ngày 13-09-1898 hãng thiết kế thi công Daydé – Pillé khởi công xây cầu. Theo thiết kế, cầu có chiều dài 3500 m, trừ hai trụ cầu bờ Bắc và Nam, cầu có 17 trụ cầu chôn sâu dưới lòng sông 30 mét, móng nổi từ mặt nước đến mặt cầu là 44 m đảm bảo tàu bè qua lại khi nước sông lên đến 13,5 m . Chín khung dầm sắt khổng lồ nối 19 nhịp lớn với nhau, mỗi khung dài 61 m. Cầu rộng 30,6 mét, có một đường tàu hỏa ở giữa và hai đường bộ hai bên. Đến năm 1921 cầu được mở rộng thêm 2,6 m cho các loại ô tô và 0,8 m cho người đi bộ hai bên.

Sau 4 năm thi công, 8 giờ 35 phút ngày 28/2/1902 cầu được khánh thành. Sáng hôm đó, chuyến tàu hỏa khởi hành từ ga Hàng Cỏ với 8 toa, có hai toa dành riêng cho vua Thành Thái và toàn quyền Doumer, 6 toa còn lại chở các quan khách, trong đó có cả vua Malayxia, đại diện triều đình Mãn Thanh… từ từ vượt sông Hồng. Thời điểm đó, Long Biên là một trong những cây cầu đẹp nhất thế giới.

Từ thời khắc đó cầu Long Biên trở thành “vật chứng” lịch sử của Hà Nội.

Ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, ở chân cầu Long Biên tự vệ bãi Phúc Xá đã cho nổ bom chặn đường tiếp tế của địch từ phía Gia Lâm. Dưới chân cầu, trong đêm tối những đoàn quân cuối cùng đã rút khỏi Hà Nội để bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ. Người Hà Nội không bao giờ quên câu chuyện đau thương về một người mẹ trẻ, để bảo vệ Trung đoàn Thủ đô vượt sông trong đêm đã phải bịt mồm đứa con của mình. Em bé đã hy sinh để đoàn quân trong đêm vượt sông an toàn ngay dưới chân cầu trước mũi súng của giặc…

Ngày 9/10/1954 cầu Long Biên chứng kiến những người lính Pháp bại trận cuối cùng rút khỏi Hà Nội. Nó còn chứng kiến những phi công tù binh Mỹ qua cầu năm 1973 để sang sân bay Gia Lâm trao trả về Mỹ.

Cả một thời gian dài cầu Long Biên là mục tiêu quan trọng trong chiến tranh phá hoại của Mỹ với Hà Nội. 14 lần cầu bị ném bom. Ngày 11/08/1967 cầu bị phá hỏng nặng ở 5 nhịp, riêng nhịp 15 rơi hẳn xuống sông. Sau hai tháng sửa chữa cầu được khôi phục. Ngày 25/10/1967 cầu lại bị “chém” ngang thân tại nhịp số 10, một nửa nhịp rơi xuống sông, nửa còn lại ghếch lên trời. Phải đánh mìn định hướng mới cắt bỏ được phần hỏng. Sau hai lần chỉ trong bốn ngày vào tháng 12/1967 máy bay Mỹ lại đã dội bom trúng cầu và lần này cầu bị thiệt hại nặng nề, 6 trụ bị tiện đứt, 7 nhịp bị phá hủy. Nửa năm sau cầu hư hại 6 nhịp, phải 6 tháng sau cầu mới được phục hồi. Chưa có cây cầu nào trên trái đất này mang nhiều thương tích trên mình như thế. Và cũng chưa có cây cầu nào chuyên chở trên mình nó nhiều trọng trách, mang vác trên mình nó nhiều hàng hóa, vật tư hữu dụng cho con người như thế. Nó đã mang vác lịch sử đau thương và anh dũng của người Hà Nội trên lưng mình cả 100 năm từ lúc nó chào đời.

Những năm chiến tranh phá hoại của Mỹ với Hà Nội, những người lính trực chiến trên nóc cầu Long Biên đã biên thư, gọi điện đề nghị với Đài tiếng nói Việt Nam phải sửa lại nội dung, sửa lại trật tự các cụm từ trong thông báo “Báo động có máy bay xâm phạm bầu trời Hà Nội”. Số là, khi nhận được lệnh báo động, đài phát: “Đồng bào chú ý,… đồng bào chú ý!!! Có một tốp máy bay địch xuất hiện ở phía (Tây Nam hoặc Đông Nam) thành phố…”. Các chiến sỹ cao xạ pháo trực chiến trên các ụ súng bố trí trên các nóc cầu Long Biên đã rất sốt ruột khi phải nghe các âm thanh “Đồng bào chú ý… đồng bào chú ý… có một tốp…” mà nóng lòng muốn nghe từ hướng nào máy bay xâm phạm vùng trời Hà Nội để quay mũi súng về hướng đố đón chờ chúng đến. Một giây với người lính canh gác trên nóc cầu lúc đó là sinh mệnh của chính mình và sinh mệnh của cây cầu. Vì thế các chiến sỹ trực chiến đã đề nghị đài sẽ phát “Từ hướng (Tây Nam hay Đông Nam ) có một tốp máy bay… đang xâm phạm bầu trời Hà Nội… Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý…’’.

Cầu Long Biên đã sống những giây phút sinh tử với Hà Nội như thế. Kẻ viết bài này có lần đã sang bãi Giữa tức bãi Phúc Xá ngay sau khi khói bom đánh cầu Long Biên vừa tan để thăm một người trong dòng tộc và chứng kiến tận mắt một thanh đường ray xe lửa dài đến hai mét đã bay hơn một cây số vì sức ép của đạn rốc-két lao cắm xuống sân một gia đình nông dân trên bãi Phúc Xá.

Những hình ảnh như thế không bao giờ phai lạt trong lòng một người sinh ra và lớn lên ở Hà Nội như tôi.

Cầu Long Biên được làm cùng thời với tháp Eiffel ở Paris.

Eiffel được khánh thành năm 1889 để kỷ niệm 100 năm cách mạng Pháp (1789 – 1889). Eiffel nặng 9700 tấn, trong đó có 7000 tấn kim khí, nhiều hơn 1000 tấn so với cầu Long Biên. 225 công nhân làm việc cật lực trong 3 năm thì tháp được hoàn thành, cao 300 m, đó là cái tháp cao nhất thế giới thời đó. Nhưng không một công nhân nào chết trong khi dựng tháp. Còn cầu Long Biên thì hầu như ngày nào cũng có người Việt Nam chết vì tai nạn lao động, do chết ngạt khi phải làm việc dưới hố móng sâu, do té ngã từ trên cao… Chỉ riêng sự việc này cũng cho thấy tính chất hai mặt của công cuộc “khai hóa” của thực dân Pháp ở nước ta. Doumer làm cầu Long Biên nhằm khai thác, vận chuyển hàng hóa cướp bóc của dân ta, nhưng khách quan nó lại tạo ra nền tảng cơ sở hạ tầng cho Hà Nội vào thời đó, chỉ có một cường quốc như Pháp mới làm nổi. Hơn nữa Long Biên còn là một cây cầu đẹp trong những cây cầu trên thế gian này. Cầu Long Biên hùng tráng mà thanh tú, đến bây giờ nó vẫn đẹp, không hề tàn phai sắc đẹp với thời gian.

Nhân nói về vẻ đẹp của cây cầu, tôi lại nhớ đến cầu Hàm Rồng, cũng do Pháp xây dựng ở Thanh Hóa. Sau khi cầu bị bom Mỹ đánh sập, ta xây lại. Ngày khánh thành cầu mới, các nhà văn, nhà báo được mời đi dự. Nghe nói trong đoàn còn có nhà văn Nguyễn Tuân cùng đi nên ai cũng phấn khởi. Nhưng khi đến đón cụ Nguyễn thì cụ lắc đầu không đi. Gặng hỏi mãi cụ nói: Cái cầu Hàm Rồng xưa có nhịp trông nó đẹp lắm. Nay cầu mới thẳng đuỗn như cái con c… chán lắm, không đi!!!

Những nhịp cầu lên xuống nhấp nhô của Long Biên như con rồng đang bay qua sông Hồng đã in bóng vào chân trời Hà Nội những chiều hè, những đêm sao, những bình minh… bất tận.

Vì lẽ đó mà người Pháp muốn “giữ gìn những ký ức của mình” ở Việt Nam trong đó có cây cầu Long Biên đã hơn 100 tuổi, như họ đã tuyên bố. Còn người Hà Nội thì xem Long Biên là một “mảng” tâm hồn mình, một “vật chứng” của lịch sử, văn hóa.

Vậy có nên gỡ bỏ cầu Long Biên đi như mấy ông quan ở Hà Nội đã bàn?

Và nếu xây một cây cầu mới qua sông Hồng chỉ cách Long Biên có 30 m thì khác nào… khác nào… xếp một hoa hậu đứng cạnh một anh lính dù Lê Dương để chụp hình lưu niệm!!!
3/2014

  Lê Phú Khải
  (BVN)

Đặng Huy Văn – Qua Đèo Ngang Nhớ Bà Huyện Thanh Quan

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Đặng Huy Văn: Hôm nay đây, đứng trước Đèo Ngang hùng vĩ trên quê hương Hà Tĩnh, tôi bỗng rơi nước mắt khi nhớ lại hai câu thơ cùa bà Huyện Thanh Quan cách đây đã gần hai thế kỷ: “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc! Thương nhà mỏi miệng cái gia gia!”. Lời thơ xé lòng đã khiến tôi nghĩ tới cái “dự án Cảng Sơn Dương” ở Vũng Áng tại huyện Kỳ Anh này, một cảng biển trọng yếu hướng ra đảo Hải Nam Trung Quốc đã bị vị phó thủ tướng chính phủ người Việt gốc Hoa Hoàng Trung Hải dâng trọn cho tổ quốc đại Hán của mình tại Phương Bắc! Chính tại Sơn Dương hôm nay, hàng ngàn người Tàu đã tràn sang và đang gây rắc rối cho nhiều gia đình của đồng bào Việt Nam tại địa phương quê hương tôi! Không biết ông TBT có biết việc này không mà chưa bao giờ thấy ông ấy lên tiếng?
Hay là, ông TBT và các báo lề đảng hôm nay đang mãi bận tâm tới mấy toà biệt thự khủng của ông Trần Văn Truyền, nguyên tổng thanh tra chính phủ đã nghỉ hưu mà cố tình làm ngơ việc một số vùng duyên hải và biển đảo Việt Nam ta đang từng ngày, từng giờ rơi vào móng vuốt của bọn cộng sản Trung Quốc xâm lược! Theo tôi, cái giá phải trả cho hành động bán nước này phải lớn hơn gấp nhiều tỷ lần cái biệt thự khủng của ông Trần Văn Truyền ấy chứ!
Qua Đèo Ngang Nhớ Bà Huyện Thanh Quan

Lên tới Đèo Ngang vừa dừng bước
Bồi hồi bà Huyện ngắm trời Nam(1)
“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc”
Thuở nước Việt còn sao khóc than?

Hay bà linh cảm ngày Trung cộng
Sẽ tới Đèo Ngang lập cảng Tàu(2)
Làm căn cứ địa mưu chiếm đóng
Xâm lăng nước Việt mãi dài lâu?

Hay là thuở đó bà biết trước
Sẽ đến thời Tàu cộng kéo sang
Dùng lũ Việt gian thờ Mao, Mác
Dâng hiến non sông giữ ngai vàng?

Nên bà thương xót con cháu Việt
Bị người cộng sản rước Tàu vô
Không chống lại Tàu thì dân thiệt
Mà chống Tàu ư? Đảng bắt tù!

Nên bà thương xót nông dân Việt
Bị ép nhường đất hiến cộng Tàu
Mất ruộng mất nhà mất cơ nghiệp
Không còn cơm cháo để nuôi nhau!

Nghèo đói đi tìm con đường sống
Làm điếm, làm thuê cho chủ Tàu
Lại bị chúng lừa dùng ma tuý
Nhằm triệt giống nòi Việt mai sau!

Nhói lòng “quốc” kêu, “gia gia” khóc
Bởi cháu con nay hỏng hết rồi!
Chúng đón vào khu Tàu trác táng
Rượu bia, ma tuý thoả sức xơi!

Nên trước khi vào là người Việt
Ra khỏi khu Tàu đã tàn ma
Trách chi bà Huyện ngày đó viết
“Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”!

Bà Huyện Thanh Quân ơi có thấu?
Nỗi đau dân Việt Bắc Trung Nam
Đi đâu cũng gặp Tàu cộng sản
Bỏ tiền hối lộ bọn quan tham!

Để được giao đất, giao bờ biển
Một dải Miền Trung tới Khánh Hoà…
Lấy cớ đầu tư khu công nghiệp
Lại xây cứ điểm lính Trung Hoa!

Quảng Trị chúng mua luôn Cửa Việt(3)
Để làm căn cứ hải không quân
Kết nối Sơn Dương và Tam Á(4)
Triển khai cả hải đội tàu ngầm…

Trên bờ “dân quân” Tàu đợi sẵn
Ngoài khơi “hải tặc” đã nghênh ngang
Chẳng lẽ vua quan ta không biết?
Mất nước rày mai đã rõ ràng!

Vua, quan tiền bạc vơ vét đủ
Nước mất vẫn phè phỡn ăn chơi
Mặc dân lam lũ làm đầy tớ
Cho bọn xâm lăng khổ nối đời!

Bà Huyện Thanh Quan ơi hãy cứu
Đồng bào nước Việt khổ trùng lai!
Cộng sản nước nhà chưa thoả ác?
Còn rước thêm quân cộng sản ngoài!

Hà Nội, 5/2/2014
Đặng Huy Văn


(4). Tam Á là một quân cảng tàu ngầm ở cực nam đảo Hải Nam, Trung Quốc, có cùng vĩ độ với cảng Sơn Dương tại Vũng Áng, Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Tại đây, ông phó thủ tướng gốc Tàu Hoàng Trung Hải của chính phủ Việt Nam đã giao cho Trung Quốc đầu tư khu cảng công nghiệp Sơn Dương, Formosa. Nếu nối Tam Á, Sơn Dương và Cửa Việt lại với nhau thì tam giác cảng biển này sẽ trở thành một tấm lá chắn cắt đứt Vịnh Bắc Bộ nối với Biển Đông và giặc Tàu sẽ dễ dàng khống chế và xâm chiếm Việt Nam khi có chiến sự xẩy ra.

LTS: Đặng Huy Văn – Một Tiến sỹ Toán học, một nhà giáo đã về hưu đang sinh sống tại Hà Nội “Ông là một giảng viên đại học tại Hà Nội, thích làm thơ yêu nước” Thơ của ông dù viết về đề tài nào cũng đau đáu trong lòng một tình yêu nước, yêu đời, đều hướng đến giá trị Chân – Thiện – Mỹ vĩnh hằng mà nhân loại cần hướng đến.

Thảm sát Côn Minh: Điềm báo không thể hạ cánh mềm

Boxitvn

Phạm Chí Dũng

Điềm báo vĩnh biệt

Không một chế độ chính trị nào có thể tồn tại vĩnh viễn, nhất là với những thể chế không muốn vĩnh biệt khúc quanh độc tài. Quy luật đó chắc chắn sẽ ứng với đảng cầm quyền Trung Quốc, bằng vào những câu chuyện tang thương mà chế độ này phải gánh chịu trong vài năm gần đây và trong kiếp nạn phân rã vào những năm đang tới.

Vụ nổ bom xe jeep ở Bắc Kinh tháng 12 năm 2013 và vụ thảm sát bằng dao ở Côn Minh vào tháng 3 năm 2014 đã kích hoạt bầu không khí hoảng loạn chưa từng thấy ngay trong lòng Nội Hán. Hai cuộc tấn công bị xem là của người Duy Ngô Nhĩ, dù đậm đặc màu sắc khủng bố, đã trở nên một chỉ dấu cho thấy chính thể Bắc Kinh cùng cơ chế bảo vệ an ninh của nó không ghê gớm như người ta tưởng, cùng lúc biến thành một điềm dấu tiên đoán về vận mệnh khó có thể hạ cánh mềm của chính thể này trong tương lai không quá xa.

Đặc tính tâm lý học của vụ tấn công bừa bãi bằng dao của nhóm người cực đoan vào đám đông hành khách vô tội ở Côn Minh còn là cú phát nổ đầu đời cho mối thâm thù thâm căn cố đế giữa sắc tộc ly khai với chế độ cầm quyền – một hệ nạn mà có thể kéo dài rất nhiều năm sau, ngay cả khi tổ chức Bộ Chính trị ở Bắc Kinh biến mất.

Như một quy luật, nếu nội trị không khởi xướng trào lưu rối loạn bởi các phong trào dân chủ mà lại bằng hành động bạo lực, cái kết thúc của nội tình xã hội và những đấu tranh nội bộ hầu như sẽ chìm trong máu lửa và nạn cát cứ – điều đã xảy ra không biết bao nhiêu lần trong lịch sử đẫm máu Trung Hoa.

Bất kể tiếng hô độc đoán vẫn thét lên dưới ảnh Mao Trạch Đông tại quảng trường Thiên An Môn, tiếng nổ và những vụ chém giết cứ lan dần và lan nhanh trong lòng Nội Hán. Hệt như khuôn mặt dị dạng trong bức tranh “Tiếng thét” của Edvard Munch, tiếng nổ Nội Hán khởi nguồn từ tiếng lòng bị xét nát của người dân và kết thúc bằng tia xé rách khối không gian u thẫm giữa bốn bức tường tăm tối.

Tiếng nổ đó được kích phát bởi chính tiếng kêu thét của quá khứ.

Văn Cầm Hải – một nhà văn và cũng là nhà nghiên cứu lịch sử ở nước ngoài – đã có cơ hội để đo đếm sự thất bại của chính sách ngoại giao lòng dân của Trung Quốc ở các vùng dân tộc thiểu số. Trong một chuyến đến vùng Nội Mông, ông đã viết lại những ghi nhận của mình: “Tôi đã biết về sự nhẫn nhịn của người sa mạc qua một người bạn Mông Cổ mời tôi ăn thịt nướng trong đêm mưa ở Lan Châu – thủ phủ tỉnh Cam Túc. Anh ta khuyên tôi rằng, nếu muốn giết sói, hãy cho nó chạy và hú đến lúc nào nó quỵ xuống vì sức lực mà chúng bỏ ra!… Trung Quốc cần có một sự thay đổi tận gốc quan điểm lịch sử và thời đại về sức mạnh và sự tồn tại hài hòa của mình với thế giới. Nếu không thay đổi, dù có bỏ ra hàng tỷ đô la, dù có hào nhoáng kết nối với chính quyền bản địa bằng những thỏa thuận hay kiềm chế chính trị nhưng không thể nào mua được lòng dân, Trung Quốc sẽ quỵ ngã bởi chính sức mạnh hung hãn của mình, như hình ảnh con sói mà người Mông Cổ từng nói với tôi trong đêm mưa ở Lan Châu”.

Con sói

Dù hãng tin Tân Hoa xã của Trung Quốc luôn áp đặt những vụ việc xảy ra ở Tân Cương là hành vi của một nhóm khủng bố, nhưng chỉ có những người ngơ ngác về thời cuộc mới không cảm nhận được những nguyên cớ thâm sâu về lịch sử trong quan hệ của người Hán với vùng tự trị này. Không chỉ là mâu thuẫn đơn thuần về địa giới hành chính, đó còn là khoảng cách biệt đáng kể về chính sách mà người Hán được hưởng so với các sắc tộc thiểu số, tâm thế lấn át về văn hóa và tôn giáo mà người Hán đã tạo ra đối với người Duy Ngô Nhĩ, để cuối cùng tạo nên một hình ảnh phân hóa toàn diện và không thể chấp nhận được giữa kẻ mập phì và người thiếu ăn.

Không khác gì khu tự trị Tân Cương ở Tây Bắc, các khu tự trị Tây Tạng ở Tây Nam và Nội Mông ở phía Bắc cũng đang trở thành những hiểm họa ngấm ngầm đối với tình trạng an ninh của người Hán sống tại những khu vực này, và cả với thể chế chính trị mà Bắc Kinh đang cố gắng duy trì đến chừng nào có thể. Từ năm 2008 đến nay, những hiểm họa này luôn có chiều hướng bùng phát và trở thành nguy cơ không hề nhỏ đối với một dân tộc có truyền thống tự tôn cực đoan như người Hán, làm nên một cảnh sắc cực đoan mà người ta đã từng thấy không ít lần trong chiều dài lịch sử không khoan nhượng của dân tộc Trung Hoa.

Nguy cơ đó lại đang được cộng hưởng một cách có tổ chức và quy mô bởi những hành động bài bản và có kỷ luật trong lòng Trung Quốc. Với vụ nổ bom ở thủ phủ Thiên An Môn và vụ thảm sát ở Côn Minh, hẳn nhiên đó là một sự thách thức trực tiếp với người quá cố Mao Trạch Đông và bề dày gần bảy chục năm “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung quốc”.

Sâu xa hơn, cho dù bị xem là “khủng bố Tân Cương” thì cũng không thể phủ nhận rằng mối mâu thuẫn sắc tộc giữa dân tộc Duy Ngô Nhĩ với người Hán, và trên hết là với chế độ cầm quyền độc đoán, đã công nhiên vọt thành mối xung đột đối kháng đến mức sẵn lòng lấy mạng đổi mạng.

Đó cũng là nguồn gốc mà có thể sản sinh ra vô số cuộc bạo động, bạo loạn của hoàng hôn lịch sử chưa bao giờ ngưng máu đổ trong lòng dân tộc Trung Hoa.

Máu người

Giờ đây, chính thể cầm quyền chuyên chế và độc đoán ở quốc gia bị xem chỉ còn vỏ cộng sản này đã không còn có thể nói đến chuyện an toàn trong bất kỳ căn phòng trú ẩn nào.

Bắc Kinh không chỉ ngập ngụa ô nhiễm, mà đang và sẽ không còn là nơi yên tĩnh cho giới quan chức chức chính trị cao cấp nghỉ dưỡng và quyết định về tương lai của thế giới. Khái niệm bất an có lẽ sẽ trở thành từ ngữ cửa miệng của chính giới tương lai ngay tại thủ đô Cộng hòa nhân dân Trung Hoa hay tại bất cứ một địa điểm nào có trưng diện ảnh Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và phơi bày bức tranh nhân viên thành quản đánh hội đồng đến chết người dân bán dạo.

Với những gì đã và đang xảy ra, không thiếu cơ sở để cho rằng nhà cầm quyền Trung Quốc đang phải trả một cái giá không hề rẻ cho những gì mà họ đã siết bức đối với tộc người Duy Ngô Nhĩ và vùng Tây Tạng.

Duy có điều, tình cảnh “kiêu ngạo cộng sản” của giới quan chức cao cấp Kinh Bắc đã đến mức bĩ cực. Vẫn hầu như chưa có gì được ngộ ra từ giá cả quá đắt đỏ, một thứ giá đang phải tính bằng máu người. Dàn đồng ca tuyên giáo mới đây của Bắc Kinh vẫn không bớt hung hăng đe dọa sẽ “dập tắt tiếng nói của Đạt Lai Lạt Ma”.

Nhưng ở vùng đất xa xôi huyền thoại, sau hơn 120 vụ tự thiêu của tu sĩ Tây Tạng để phản kháng chính sách đàn áp của Bắc Kinh, mọi chuyện vẫn đang tự cháy bỏng. Ngọn lửa phản kháng vẫn rừng rực và còn lâu mới bị dập tắt.

Tây Tạng, Tân Cương và Nội Mông đã làm nên một vành đai sắt Tây – Bắc siết lấy cơ thể phù thũng của Nội Hán. Còn lâu mới tái lập được sự ổn định chính trị trong lòng Đại Hán. Thậm chí ngược lại, Tập Cận Bình và thế hệ lãnh đạo mới của ông đang phải đối diện với định đề số phận của lịch sử: nhà nước độc đảng Trung Hoa đã tồn tại gần bảy chục năm, và chừng đó là quá đủ để thu xếp cho một sự thay thế khác – nhiều khả năng là một cuộc tắm máu mang tính sở trường – di chứng không quá hiếm hoi trong lịch sử nối đuôi toàn trị của các triều đại Trung Quốc.

P.C.D.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Advertisements

Phát triển trước, dân chủ sau – Chiến dịch “đánh lên” bất động sản: Thây ma biết đi và tầng cuối địa ngục


Chiến dịch “đánh lên” bất động sản: Thây ma biết đi và tầng cuối địa ngục

Hồi sinh xác chết

Từ tháng Giêng năm 2014, một chiến dịch “đánh lên” bất động sản lại được khởi động đồng loạt ở ba thủ phủ lớn trên phạm vi quốc gia là Hà Nội, Đà Nẵng và Sài Gòn, sau vài lần phải nhận lấy thất bại chua chát trong hai năm 2012 và 2013.

Một trong những phương cách hết sức cổ điển mà các nhóm đầu cơ bất động sản và ngân hàng sử dụng lần này vẫn là truyền thông. Không quá khó khăn để công luận nhận ra số lượng bài viết theo cách “thị trường bất động sản có nhiều dấu hiệu phục hồi”, “giá nhà đất bắt đầu tăng”… xuất hiện tràn lan và không cần giấu vẻ trơ trẽn trên nhiều tờ báo in và trang mạng.

Hà Nội – một trung tâm không chỉ về kinh tế mà ngày càng dồn dập biến động về xã hội và chính trị – trở nên sôi động và trơ trẽn hơn cả. Chiếm gần phân nửa số hàng tồn kho của cả nước về căn hộ cao cấp và trung cấp, thủ đô này có thể cảm nhận tâm trạng của các đại gia nơi đây đang bén ngọt đến thế nào nếu năm con Ngựa không thể phi mã tống táng hàng tồn và do vậy không thể thanh lý nợ xấu cho giới chủ ngân hàng luôn cầm dao đằng chuôi.

Như một đặc trưng thời thượng của làng báo chí Việt Nam, một đội ngũ viết thuê đã hình thành từ Bắc vào Nam. Nếu trước đây giới PR bất động sản này sinh sống chủ yếu trên các tờ báo thương mại, kinh tế, thì nay đã chen chân vào cả những tờ báo đảng loại 1 nhưng rất khó bán như Nhân Dân, Hà Nội Mới, Đại Đoàn Kết…

Thây ma biết đi

Tình thế nền tài chính và tín dụng quốc gia đang trở nên xấu chưa từng thấy vào đầu năm 2014, đặc biệt khi Moody’s – một hãng xếp hạng tín nhiệm có uy tín trên thế giới – lần đầu tiên tung ra số liệu đến 15% nợ xấu trên tổng tài sản của nền kinh tế Việt Nam. Bất chấp hành động của Ngân hàng nhà nước cải chính “báo cáo của Moody’s chỉ có ý nghĩa tham khảo”, một tỷ lệ mới vể nợ xấu cũng lần đầu tiên phải được thừa nhận bởi cơ quan Việt Nam quá nhiều tai tiếng này: 9%.

Quy luật biện chứng lịch sử cực kỳ thời thượng là không thể giải quyết được nợ và nợ xấu nếu không xử lý được núi tồn kho khổng lồ bất động sản, và ngược lại như một định lý đảo. Cặp bài trùng này đã hiện hình từ giữa năm 2011, khi một hãng xếp hạng tín nhiệm lớn trên thế giới là Fitch Ratings tuyên bố tỷ lệ nợ xấu trong các ngân hàng thương mại Việt Nam là 13%, tức gấp đến 4 lần con số chỉ hơn 3% do Ngân hàng nhà nước công bố vào cùng thời điểm.

Đến kỳ họp quốc hội gần giữa năm 2012, Ngân hàng nhà nước bất ngờ thừa nhận tỷ lệ nợ xấu lên đến 10%, tức chỉ số này đã tăng đến 3 lần chỉ trong vòng chưa đầy một năm. Ngay vào lúc đó, thị trường bất động sản đã trở nên nguy ngập với độ trơ lì đầy kiên định của nó là vô phương cứu chữa.

Không ai có thể hiểu được cơ quan điều hành tài chính – tín dụng và tiền tệ cao nhất quốc gia, nếu bản thân họ cũng không ý thức được những gì đã và đang làm. Trong tâm thế luẩn quẩn đối phó với sức ép của công luận, chỉ một thời gian ngắn sau tỷ lệ nợ xấu lại được Ngân hàng nhà nước kéo xuống 8%, rồi còn 6%. Nhưng với tất cả các đại biểu Quốc hội nặng thói quen đọc báo cáo do người khác cung cấp, vẫn không có gì đáng ngạc nhiên khi toàn bộ số liệu của Ngân hàng nhà nước đã không cần kèm thuyết minh hoặc một cơ sở tối thiểu nào cho hai chiều lên – xuống về tỷ lệ nợ xấu. Hiểu ẩn ý hơn, có lẽ đây là một trong những cơ quan có biệt tài giấu diếm đến tận cùng hoạt động số liệu, cùng lúc đẩy Việt Nam vào một trong những vị trí tồi tệ nhất trong bảng xếp hạng của Tổ chức Minh bạch quốc tế.

Ngay cả con số đầy bất ngờ về tỷ lệ nợ xấu lên đến 35-37% do Ủy ban giám sát tài chính quốc gia – một trong những cơ quan tư vấn của Chính phủ – đột ngột công bố vào giữa năm 2013, cũng không thể làm tình trạng minh bạch sáng sủa hơn. Nhưng đến lúc này, hiện thực nguy hiểm đã tỏ rõ thế nan nguy cận kề của nó: với độ chênh đến 6 lần giữa báo cáo của hai cơ quan cùng hệ thống nhà nước, người ta có thể mường tượng một cuộc khủng hoảng tài chính – tín dụng và cả mối xung đột phe nhóm có thể nổ ra ở Việt Nam trong những ngày tháng không quá xa xôi, tái hiện hình ảnh cuộc khủng hoảng tương tự ở Thái Lan vào năm 1997.

Cần nhắc lại, nếu trước cuộc khủng hoảng tài chính 1997, tỷ lệ nợ xấu chỉ được người Thái báo cáo có 5%, thì sau khi khủng hoảng bùng phát, giới quan sát đã kinh ngạc trước tỷ lệ nợ xấu thực ở quốc gia này lên đến 50%, tức gấp chẵn 10 lần!

Với trường hợp Việt Nam, mặc dù vẫn còn trong giai đoạn cố gắng che giấu sự thật, nhưng một sự thật khác không thể phủ nhận là trong suốt ba năm qua đã không thể giải quyết khúc xương lớn nhất thuộc về thị trường nhà đất. Gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng là một ví dụ rất tiêu biểu, khi qua 9 tháng khuyến dụ mới giải ngân được vỏn vẹn 3%.

Trong khi đó, dấu hiệu sức mua cạn kiệt vào tết nguyên đán 2014 lại như một điềm báo rất xấu đối với sức tiêu thụ nhà đất. Giảm đến 40-50% so với tết năm ngoái, lực cầu thị trường tiêu dùng đang làm nên một cơn chấn động về thiểu phát và có thể cả giảm phát. Tình hình đó chắc chắn đang phản ánh trạng thái “trơ” của không chỉ thị trường hàng hóa nói chung mà còn với cả thị trường bất động sản đang quá thiểu năng trí tuệ này.

Làm thế nào có thể tiêu thụ ít nhất 100.000 căn hộ trung cấp và cao cấp đang oằn mình trong nắng gió ở Hà Nội và Sài Gòn? Làm thế nào để vào giữa năm 2014 hoặc cùng lắm đến đầu năm 2015, các con nợ đại gia bất động sản có thể đẩy được hàng, dù chỉ một phần, để trả nợ cho các ngân hàng chủ nợ, để các ngân hàng mới có thể “phân loại nợ xấu và trích lập dự phòng rủi ro” như một đòi hỏi theo tinh thần “sống chết mặc bay” của Ngân hàng nhà nước?

Tầng cuối địa ngục

Trong thế tuyệt vọng, nhóm lợi ích ngân hàng ôm tài sản thế chấp bất động sản đang cố tung ra con bài cuối cùng vào năm nay. Chiến dịch “đánh lên” bất động sản thậm chí còn được khoa trương bởi một thông tin sốt dẻo úp mở mới được tung ra vào những ngày gần đây: sẽ có gói kích cầu lên đến 100.000 tỷ đồng dành cho thị trường này!

100.000 tỷ nào? Và tiền ở đâu ra? Hẳn giới đầu tư luôn bị thất vọng ở Việt Nam vẫn không quên sự kiện là vào cuối năm 2012 và sang nửa đầu năm 2013, những quan chức có tầm cỡ của Bộ Xây dựng như Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam, cùng một dàn “chuyên gia lợi ích” đã liên tục “tiết lộ” về gói kích cầu lên đến 180.000 – 200.000 tỷ đồng cho bất động sản. Tuy thế cuối cùng thị trường khốn quẫn này vẫn không nhận ra bóng dáng của bất kỳ gói kích thích nào. Thậm chí, ngay cả vốn lưu động mà Ngân hàng nhà nước thường rót cho các ngân hàng thương mại vào dịp tết cũng gần như biến mất vào tết nguyên đán năm 2014.

Cô kiệt về nguồn vốn mới đang là tình thế thảm thương mà nhóm lợi ích ngân hàng không làm cách nào lay động được độ trơ của thị trường bất động sản. Núi tiền mặt vẫn dày ngộn trong két sắt Ngân hàng nhà nước và một số ngân hàng thương mại cổ phần, nhưng dấu chấm bi đát cùng tắc biến là nó lại không thể biến hóa vào thị trường lưu thông theo bất kỳ ý nghĩa sinh lợi nào. Tình hình đó càng lộ rõ triển vọng tắc nghẹn khi một chuyên gia PR tiết lộ một cách trần trụi: toàn bộ con số 100.000 tỷ đồng của “gói kích cầu” bất động sản không hề là “tiền tươi thóc thật” như giới đầu tư và tiêu dùng mong ngóng, mà chỉ là tiền được tạo ra bởi trái phiếu đặc biệt của Chính phủ.

Sẽ không có gì để bàn cãi về tính tác dụng của trào lưu phát hành trái phiếu, nếu tự thân nó không hàm chứa những thất bại hiển nhiên đã được thực chứng. Vào giữa năm 2013, kế hoạch phát hành 600 triệu USD trái phiếu chính phủ để cứu tập đoàn Vinashin đã không thể chứng nhận được bất cứ một nguồn tiêu thụ nào. Vậy với một thị trường bất động sản và cả hệ thống ngân hàng đã quá suy mòn niềm tin chính sách và cả niềm tin chính thể, làm sao có thể tống táng trái phiếu để lấy tiền cứu giới tồn kho?

2014. Kịch bản “phục hồi kinh tế” đang cố gắng được lặp lại những gì của năm 2009, tức cho thị trường chứng khoán sôi trào và kích thích tâm lý phục hồi giả dối đối với người dân và các nhà đầu tư. Tuy nhiên, khác hẳn với năm 2009 là lúc mà ngân sách nhà nước còn đủ 8,5 tỷ USD đổ ra cho một gói kích thích, trong hai năm 2012 và 2013 đã hoàn toàn chẳng có một định dạng nào cho gói kích cầu. Cũng bởi thế và cùng với độ trơ hiện hữu của thị trường bất động sản, cho dù chỉ số chứng khoán Việt Nam đang cố tình được đẩy lên gấp đôi độ tăng của thị trường chứng khoán Mỹ, vẫn quá khó có hy vọng là thị trường này sẽ tạo ra được hiệu ứng “bình thông nhau” với lực cầu trên thị trường bất động sản.

Thậm chí với thị trường chứng khoán Việt Nam, đặc tính vô cùng không minh bạch của nó cộng với thói quen “cờ bạc quen tay” của không ít kẻ chỉ muốn móc tiền từ túi người khác càng biến thị trường này thành một cơn chao đảo nóng lạnh cực kỳ bất thường. Không còn là tâm điểm để giải quyết hàng tồn kho, chứng khoán và cổ phiếu chỉ là liệu pháp cuối cùng để các nhóm lợi ích ngân hàng và bất động sản dùng để kích động tâm lý và sức mua đối với thị trường nhà đất. Bởi vậy nhiều khả năng là nếu độ trơ của thị trường bất động sản vẫn hoàn toàn lì lợm trong nửa đầu năm 2014, người ta sẽ chứng kiến một cú bổ nhào cay đắng của các chỉ số chứng khoán.

Dùng thị trường đầu cơ để tạo ra những ảo ảnh về phục hồi nền kinh tế – đó là cơn bĩ cực khôn nguôi của một nền kinh tế bị nạn cờ bạc và tham nhũng ăn vào tận xương tủy trong suốt hơn hai chục năm qua.

Toàn thể cơn bĩ cực như thế thuộc về “thành tích điều hành” của Chính phủ. Nhưng đáng phẫn nộ hơn, nó đổ lên đầu người dân toàn bộ đống rác thải của một thứ chủ nghĩa tư bản dã man trong nền kinh tế thị trường độc quyền “định hướng xã hội chủ nghĩa” theo ngôn ngữ và sở thích độc trị của Đảng.
Phạm Chí Dũng
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

BỤT ĂN BA MA ĂN BẢY!

http://ttxcc6.files.wordpress.com/2014/02/00e06-thamnhung1.jpgBuivanbong

*  MINH DIỆN

               Một giọng hát dân ca nỉ non của chương trình “Ngày mai tươi sáng” hoặc “Lá rách, lá lành ” đưa  tới một làng quê hẻo lánh nào đó ở miền Nam, miền Trung, miền Bắc, và ống kính Camera chĩa vào những mái nhà lụp xụp, những xó bếp lạnh tanh, những mâm cơm không một mẩu thịt, cá , những cảnh đời lam lũ làm thuê làm mướn, bắt ốc mò cua sống lay lắt , phiêu dạt ngay  trên chính nơi chôn rau cắt rốn của mình. Cảnh nghèo đói như một bức tranh toàn những gam màu  xám xịt gây xúc động  lòng người ngày nào cũng hiện lên trên  màn ảnh nhỏ.
Rồi như một kịch bản viết sẵn, những cuộc vận động hướng về người nghèo được phát động, nhân danh  hội này, hội nọ đứng ra  tổ chức  quyên góp tiền bạc. Người ta  sục vào  trụ sở doang nghiệp,  nhả riêng doanh nhân  vận động đóng góp.  Với lợi thế của mình, nhiều  nhà báo trở thành cộng tác  viên tiếp thị  hiệu quả.  Những trang báo  lăng-xê nhà tài trợ , đặc  biệt TV trở thành một sân chơi hấp dẫn mời gọi  các đại gia mở  “tấm lòng vàng”. Những buổi truyền hình trực tiếp với sự  xuất hiện của các vị  lãnh đạo cấp cao , đại gia nối gót nhau lên sân khấu rót tiền vào “Qũy xóa đói giảm nghèo” như nước.  Có những vị chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc doanh nghiệp nhà nước  trương tấm bảng ủng hộ cả chục tỷ, trăm tỷ dù   đang làm ăn thua lỗ, có những công ty tư nhân  ủng hộ vài trăm triệu trong khi  nợ đầm đìa .  Mỗi lần  thiên tai bão lụt sảy ra  không biết bao nhiêu cuộc quyên góp  mang chủ đề “lá lành đùm lá rách” xoáy vào lòng trắc ẩn của mọi người.  Theo số liệu đăng tải trên báo chí, chỉ riêng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam , từ  năm 2006-2012  đã thu được hàng chục ngàn tỷ đồng cho quỹ xóa đói giảm nghèo.
                 Nhưng số  tiền đó so với tiền  Nhà nước đã bỏ ra để  thực hiện chính sách nhân đạo  ấy thì chẳng thấm vào đâu.    Nhân ngày  “ Thế giới chống đói nghèo”  Bộ trưởng Bộ lao động thương binh và xã hội Phạm Thị Hải Chuyền  phát  biểu trên TV : “ Dù kinh tế khó khăn, nhiều chính sách phải cắt giảm , nhưng riêng nguồn lực cho xóa đói , giảm nghèo không giảm mà còn tăng.  Cụ thể nếu tính bình quân giai đoạn 2008-2012 nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước khoảng 90.000 tỷ đồng/năm ,  thì  sau Đại hội XI của Đảng , tức từ năm 2011-2013,  nguồn lực dành cho hộ nghèo tăng lên  120.000 tỷ đồng /năm” .  Cụ thể hơn, theo  số liệu của   Bộ tài chính ,  từ năm 2005 đến 2012, chi  từ ngân sách  cho xóa đói giảm nghèo  là 734.000 tỷ đồng.   Nếu   tính cả  nguồn vốn  cho vay ưu đãi lãi suất bằng 0, mỗi năm 20.000 tỷ,  thì trong vòng 7 năm kể trên,  Nhà nước còn phải bủ lỗ  thêm 50.000 tỷ đồng,  tổng cộng  784.000 tỷ đồng , chiếm  hơn 12% tổng ngân sách .    Ứơc tính cả hai khoản tiền  từ ngân sách nhà nước và   “ xã hội hóa” dành cho  xóa đói giảm nghèo  lên tới  gần 6 tỷ đô la mỗi năm.
                Nhẽ ra với  khoản kinh phí  khổng lồ đó,Việt Nam   xóa  sạch đói nghèo lâu rồi, nhưng  oái oăn thay,  nghèo vẫn hoàn nghèo.  Trong bài “ Chính sách xóa đói giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số :Thực trạng và giải pháp”,  đăng trên Tạp chí cộng sản ngày 27-11-2013, tác giả  Minh Nhật thừa nhận :  38 %  người dân tộc thiểu số vẫn thuộc diện đói nghèo.  Còn cả nước , theo báo TuầnVietnam net ,  hiện có từ  500 ngàn đến 3 triệu hộ nghèo đói.
                 Vậy tiền xóa đói giảm nghèo đi đâu ?  Hỏi ai, hỏi chỗ nào trong   hàng chục nhóm chính sách , hàng trăm  chương trình  xóa đói giảm nghèo , như  “Nhóm  chính sách giảm nghèo toàn diện”, “Nhóm  chính sách nâng  cao đời sống nhân dân mang tầm quốc gia”, “Nhóm  chính sách theo vùng” , “Chương trình 135”, “ Chương trình giảm nghèo nhanh”, “Chương trình giảm nghèo bền vững” v.v . Hỏi  ai, hỏi chỗ nào   khi  mỗi  nhóm chính sách, mỗi chương trình  ấy lại đẻ ra những  nhóm đề tài nghiên cứu và mỗi  nhóm đề tài lại đẻ ra  những dự án  to nhỏ rút tiền từ Quỹ xóa đói giảm nghèo?
                   Trả lời phỏng vấn của báo Đại đoàn kết ngày 29-9-2013, ông Đỗ Mạnh Hùng , Phó chủ nhiệm Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội , cho  biết trước năm 2011, số tiền bình quân  chi cho mỗi hộ nghèo  một  năm  là 180 triệu  đồng  chia từ nguồn quỹ  90 ngàn  tỷ đồng /năm , từ   năm 2011 đến nay, đã tăng lên 240 triệu  đồng.   Thế có  nghĩa  là  mỗi tháng một hộ nghèo được  từ 15 triệu   đến   20 triệu  đồng ,  và  nếu bình quân mỗi hộ 4 khẩu,  thì riêng  khoản  hỗ trợ của  nhà nước đã  có thu nhập từ  3,7 triệu   đến 5 triệu  đồng,  bằng  3,2 đến 4  lần lương tối thiểu cán bộ công nhân viên   và  gấp từ  7  đến 10 lần mức chuẩn nghèo ở thành thị.  Nhưng thực tế không phải như vậy.  Bộ máy quản lý các chương trình , dự án xóa đói giảm nghèo  đã ngốn gần hết tiền  dành cho người  nghèo mất rồi.  Trên báo Tuần Việt Nan net , nhà  báo Lê Nguyễn Huy Hậu  dẫn lời Thứ trưởng Bộ kế hoạch đầu tư Đặng Huy Đông :  “Mỗi năm người nghèo tiếp cận chỉ khoảng 10-15 triệu đồng/hộ.  Có nghĩa, cứ  mỗi 1 đồng  người  nghèo được nhận thì 10 đồng được trả cho bộ máy quản lý”.  Cũng theo thứ trưởng Đặng Huy Đông, tỷ  lệ chi cho hành chính sự nghiệp  chiếm hơn 63% tổng số tiền  giảm nghèo huy động được , còn mức đầu tư phát triển chỉ chiếm 36%,  cụ thể số tiền chi phí để vận hành bộ máy xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam hiện ở mức 75. 600 tỷ đồng/ năm tương đương 3,5 tỷ đô la.   Nhà báo Lê Nguyễn Huy Hậu đã ví von một cách hài hước : Bộ máy xóa đói giảm nghèo mỗi năm  ngốn  hết 77 cái sân vận động Mỹ Đình , Hà Nội! (Tổng chi phí xây dựng sân Mỹ Đình 63 triệu đô la)
             Qũy xóa đói giảm nghèo  được sử  dụng đầu tư rất  quy mô,  nào là phát triển vùng, phát triển nông nghiệp, phát triển việc làm, xây dựng cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật, dạy nghề, xuất khẩu lao động, bệnh viện, trường học v.v.  Người ta bảo phải trao  cho người nghèo “cái cần câu chứ không cho con cá”.  Rất hợp lý, đúng nguyên tắc.  Chỉ có điều “ cần câu” nhiều  nhưng quá đắt và  người nghèo lại không câu được cá.  Muốn được  chọn là hộ nghèo có khi người nghèo phải hối lộ bộ máy quản lý,  muốn học nghề phải trả học phí, và nếu muốn đi xuất khẩu lao động  phải thế chân hàng ngàn đô la.  Thực tế  người  nghèo chỉ tiếp cận được từ 4% đến 6 % số tiền từ quỹ xóa đói giảm nghèo ,  lại phải gánh các khoản  chi phí cho việc đào tạo, cấp vốn, hỗ trợ việc làm, giáo dục… thì thử hỏi  vác sao nổi “chiếc cần câu” mà câu cá?  “Người ta xắm “cần câu” là để “câu những con cá bự trong ao nhà nước” chứ đâu phải để  trao cho người nghèo”. Đại biểu Quốc hội Ksor Phước đã từng nói thẳng với báo chí như vậy.
                Bộ máy quản lý chương trình xóa đói giảm nghèo phình ra bao nhiêu bụng người nghèo tóp lại bấy nhiêu. Có  địa phương  còn sử dụng  Quỹ  xóa đói giảm nghèo vào những chương trình khác như  dự  án nông nghiệp, nông thôn mới, nước sạch, cơ sở hạ tầng,  khi những  chương trình  này  đã được chi tiền từ  nguồn ngân sách khác .   Đại biểu Qước hội Nguyễn Lâm Thành  của tỉnh Lạng Sơn đã  ví von chuyện đó như trong  một bàn tiệc 4-5 người ăn một con gà,  nhưng một con gà  đó lại được viết hóa đơn  thanh toán thành 4-5 con gà (Báo Đầu tư).
              Phương ngôn có câu : “Bụt ăm ba ma ăn bảy!” Phải chăng việc xóa đói giảm nghèo ở nước ta nó cũng tương tự như câu phương ngôn ấy, nên dù tiền bạc đổ ra như nước mà vẫn không xóa được đói nghèo?   Đáng buồn hơn là ngay cả thới  bao cấp  hình ảnh  đói nghèo cũng không   phơi ra như hiện nay.  Người nghèo lang thang bàn vé số dạo, lượm ve chai, đi ăn xin nhan nhản khắp phố chợ, tệ nạn trộm cướp tăng vọt một phần do đói nghèo.  Không biết bạn suy nghĩ thế nào, bản thân tôi cảm thấy vô cùng nhức nhối mỗi khi thấy trên TV xuất hiện cái chương trình “Lục lặc vàng”, hoặc “ Vượt lên chính mình”.  Hảng trăm người dân  nghèo  xác xơ đứng phơi nắng , phơi rét hò hét, vỗ tay reo đề cổ vũ cho người cùng cảnh thực hiện những kịch bản thô thiển không một chút nhân văn. Họ đâu biết một cặp bò, hoặc vài triệu bạc  mà một số ít người nghèo may mắn nhận được chỉ bằng một phần trăm, phần ngàn số tiền người ta bỏ ra làm chương trình quảng cáo đó ? Và không ít kẻ làm giàu từ việc phơi bày cảnh ngộ nghèo khó của nhân dân như vậy.
                 Tờ báo TuânVietnam.net viết : “Có lẽ đã đến lúc Quốc hội cần mở một cuộc điều tra cụ thể và toàn diện về hiệu quả và tính hợp lý của chương trình xóa đói giảm nghèo .  Ngay cả khi Việt Nam được Liên hợp quốc đánh giá là một trong những quốc gia có tiến bộ vượt bậc trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, thì cũng không thể biện minh cho sự lãng phí và thiếu hiệu quả quá lớn nguồn vốn như hiện nay. Bời vì để đạt được thành tích đó, có vẻ như Việt Nam đang đánh đổi cả sự phát triển về kinh tế lẫn ổn định chính trị, khi chỉ số nợ công cùa Việt Nam theo nhiều dự báo đã lên đến 95% GDP”.
              Điều tra ai, điều tra thế nào khi “Tiêu cực, tham nhũng nhìn vào đâu cũng thấy, sờ vào chỗ nào cũng có” ( Lời Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng). Điều tra ai, điều tra thế nào khi những kẻ có chức quyền  “Ăn của dân không từ một cái gì, từ tiền Bảo hiểm y tế  của thương binh đến liều vắcxin  của trẻ con”? (Lời Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan)  Và ai là người có bàn tay sạch để phanh phui 94%  nguồn vốn dành xóa đói giảm nghèo rơi vào  đâu? nguyên Tổng thanh tra Chính phủ  Trần Văn Truyền chăng?
 M D

Cánh Cò – Ông Truyền nuôi vịt

Cựu Tổng thống Viktor Yanukovych có lẽ khó ngờ được ngày hôm nay lại trở thành kẻ đào tẩu, khi trước đây chỉ vài tuần vẫn còn nghĩ rằng chiếc ghế tổng thống của ông đáng ra phải nạm vàng thay vì chỉ bọc nhung nằm trong dinh tiếp khách.
Đâu đó trong một ngôi nhà tồi tàn tạm trú trên đường chạy trốn, tay vặn vòi nước làm bằng inox lạnh lẽo ông Viktor Yanukovych làm sao quên chỉ vài ngày trước thôi ông còn vặn vòi nước bằng vàng ròng trong nhà, cũng như thưởng thức những thứ xa hoa khác mà một đời tổng thống ông “dành dụm” được, để giờ đây bị người khác sung công mặc dù họ trầm trồ thán phục. Và sự trầm trồ có thật ấy đi liền với lời kết án nặng nề mà bất cứ nhà độc tài nào cũng phải nhận lãnh khi quyền lực bị nhân dân đạp đổ.
Sở thích chung của tất cả các nhà độc tài kim cổ là ao ước sống trong một cung điện càng nguy nga càng thích thú. Sự xa hoa ấy vô giới hạn tùy vào trí tượng của họ hay các tay cố vấn cộng với số tài sản ăn cắp từ người dân nhiều lên tới mức nào. Càng ao ước xa hoa, càng phải tìm thêm nguồn tiền để tích lũy. Tiền tích lũy càng cao lòng oán hận của người dân càng nặng. Cuối cùng thì cái vòng tròn ấy luôn luôn kết thúc bằng thảm kịch của kẻ ham mê quyền lực và nhiều khi cái chết của cả gia đình tùy vào sự bóc lột dân chúng của đương sự tàn nhẫn đến đâu.
Những đồng tiền dính đầy máu tự nó có tiếng rên xiết dù đã biến thành vàng, thành những chiếc xe hơi đắt giá hay thành những chiếc du thuyền cực kỳ chói sáng. Với số lương 100 ngàn USD một năm, không biết trong khi Viktor Yanukovych cầm quyền báo chí của Ukraine có bài viết nào ca tụng sự thanh liêm của ông như người ta thường thấy trong thể giới độc tài toàn trị hay không, nhưng theo truyển thông quốc tế thì sau khi ông bỏ chạy người dân phát hiện hàng đống giấy tờ trôi sông gần dinh thự của ông ta cho thấy những khoản tiền chi thu bất chính cùng một tấm chi phiếu 12 triệu đô la chưa kịp rút ra. Số tiền này có thể được ký từ những nhóm lợi ích của Ukraine, những tỷ phú khuynh loát nước này từ khi tổng thống Viktor Yanukovych cầm quyền.
Ông Viktor Yanukovych tuy ở Ukraine xa xôi nhưng hoàn toàn có thể yên tâm rằng ông không phải là kẻ cô đơn, ít nhất tại đất nước mà ông đã từng có cơ hội trông thấy vào năm 2011, và cũng ít nhất đang có một người giống ông, bị báo chí lật qua lật lại để tìm hiểu xem tại sao lại có người lương thì ít mà bổng thì nhiều đến nỗi xây hẳn một biệt dinh xa hoa tuy không bằng dinh thự của Viktor Yanukovych nhưng cũng có thể làm cho cả đất nước Việt Nam mắt chữ O mồm chữ A.
Người ấy là một bao công của “thời đại Hồ Chí Minh”, cựu Ủy viên Trung ương Đảng, cựu Tổng thanh tra Chính phủ: ông Trần Văn Truyền.
Cách đây 3 năm, ngày 2 tháng Hai năm 2011 tờ Thời báo kinh tế Việt Nam có bài phỏng vấn ông Tồng thanh tra Chính phủ này với nội dung xoay quanh những khó khăn mà ở cương vị Tổng thanh tra ông gặp phải đó là vấn đề đút lót, cả nể, hay cơ chế khó khăn mà ông gặp trong khi nhận chức vụ này.
Trong câu mở đầu người phóng viên đã viết “Ở cương vị phải giữ mình đến mức gần như là “ép xác”, gương mặt lúc nào cũng phảng phất buồn, Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền bộc bạch dù thế nào, ông vẫn là con người bằng xương bằng thịt chứ đâu phải là gỗ đá”.
Cứ thế bài báo dẫn người đọc một mạch xông vào những ngóc nghách mà một thanh tra chính phủ phải đối đầu, phải tự hành xác mình để tranh đấu trước những cám dỗ khó quay lưng. “ép xác” và “phảng phất buồn” là hai cụm từ miêu tả được chân dung của ông Truyền: một đại tài tử chuyên đóng phim khoa học viễn tưởng.
Ngày 21 tháng 2 năm 2014 ba năm sau khi bài tụng ca ông Truyền xuất hiện, báo Người Cao Tuổi đưa hình ảnh và chi tiết về tài sản ông Tổng thanh tra làm người đọc ngẩn ngơ. Tuy không phải là bom tấn nhưng không thua gì mìn tự tạo của các tay đánh bom tự sát Al Qaeda.
Sức công phá của nó tuy gói gọn trong phạm vi một thanh tra chính phủ nhưng có sức chấn động âm ỉ và câu hỏi về tính minh bạch của đảng cộng sản một lần nữa được đặt lên bàn cân. Sở dĩ dư luận cân cái gọi là minh bạch ấy vì nhiểu lý do, mà lý do lớn nhất là trong cương vị một thanh tra, đại diện cho cả chính phủ, với đồng lương không thể mua nổi một chiếc xe hơi đời mới sau khi về hưu nhưng lại tậu được dinh cơ hàng trăm tỷ bạc với kiến trúc nội thất xa hoa trên cái nền đất vẫn còn nghi vấn do tham ô cấp tỉnh mới có được. Bài báo chi tiết đến chiếc giường hàng chục tỷ của ông Truyền cùng những căn nhà vệ tinh khắp nơi đã khiến báo chí nhảy vào cuộc.
Dù muốn hay không ông Truyển cũng phải trả lời về những cáo buộc ấy. Và ông trả lời như không trả lời gì cả: “báo Người Cao Tuổi nói quá lời”.
Ơ hay, báo này đã cao tuổi và vì vậy phải biết hậu quả nếu quá lời đối với một Thanh tra chính phủ dù đã về hưu thì hậu quả sẽ như thế nào chứ? Ông Truyền không phải là Chủ tịch nước, hay Thủ tướng hoặc Tổng bí thư nên cơ ngơi của ông không thể sánh với tổng thống Ukraine. Tuy nhiên tính toán trên cơ sở lương tiền và tất cả bổng lộc công khai hợp pháp của ông thì cả trăm năm sau cũng không thể làm chủ một biệt dinh cùng hàng chục căn nhà khắp nơi như thế.
Hết Phó Chủ tịch tỉnh Bến Tre nơi ông có căn biệt dinh ấy cho tới con gái ông nói về nguồn tiền mà ông có do người em kết nghĩa hảo tâm nào đó biếu tặng. Cán bộ dưới quyền ông tại Bến Tre đang hết lòng trả ơn do ông “tha” không “trảm” họ trong quá khứ. Đó là luật chơi của thế giới cộng sản và luật này luôn luôn thắng bởi không có một bên thứ ba nào chứng minh sự thật ấy có tồn tại hay không.
Con gái ông nói ông có người em kết nghĩa cho tiền để cất nhà vì thấy ông quá nghèo. Phát biểu này chấp nhận được vì ai thấy nghèo mà không thương? Cho tiền ông cất nhà là biểu hiện cái tình thương ấy mà thôi. Nhưng quan trọng là cái sự thương ấy có khác với cái thương của ông cán bộ Bến Tre hay không. Người em kết nghĩa “thương” đột xuất này làm gì đủ giàu để có thể cho ông Truyền cả một biệt dinh như vậy và cái giàu ấy có liên quan gì đến chức năng của một ông Tổng thanh tra Chính phủ đối với mối thân tình được gọi là kết nghĩa hay không?
Là một Tổng thanh tra Chính phủ trong hoàn cảnh đất đai bị cướp bóc mọi nơi nhưng ông Truyền không điều tra ra được một vụ án tham nhũng đất đai tầm cỡ nào và vì vậy dân oan không ai đem biếu cho ông dù chỉ một bó hoa để cám ơn. Thế nhưng rất nhiều người không phải là nông dân nhưng đất đai không tính hết đã biếu hoa cho ông. Những bó hoa được quy ra tiền. Và quy rất “chênh lệch”.
Có lẽ những đồng tiền chênh lệch ấy là những viên gạch xây biệt dinh cho ông Truyền chăng? hay ông còn làm thêm nghề gì khác ngoài Tổng thanh tra?
Có anh phóng viên ghi rằng mọi sự chú ý quá mức vào cái giàu của Ông Truyền là không công bằng. Nhà báo nhận xét: “Người viết bài này đã có dịp rong ruổi từ Nam chí Bắc, chiêm ngưỡng những dinh thự hoành tráng gấp nhiều lần căn biệt thự của ông Truyền, ngắm những chiếc siêu xe vài triệu USD mà đôi khi chủ nhân chỉ là một chủ đầm tôm hay một “trùm nuôi vịt” xuất sắc”.
Thật là một so sánh tinh vi và không kém phần hài hước. Ông Truyền không nuôi tôm nhưng ông đích thị là một trùm nuôi vịt xuất sắc: ông nuôi… vịt trời để khi có ai hỏi thì ông nói vịt đã bay về nơi vô định.
Biệt dinh của ông Truyền rồi sẽ chỉ là một câu chuyện sớm trở thành cổ tích như nhiều câu chuyện tương tự trước đây. Vụ việc của ông Truyền không may nổ ra cùng lúc với sự việc Tổng thống Ukraine bị lật đổ. Báo chí lấy ông Truyền làm cái cớ để cảnh báo với những người khác cao hơn ông về chức vụ, giàu hơn ông về tài sản, và chắc chắn là tội ác cũng cao hơn ông về mức độ hành hạ dân chúng.
Chỉ mong sáng mai sau khi thức dậy không thấy báo chí quốc tế đưa hình ảnh ông cựu Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền quỳ gối trước dân oan như cảnh sát Ukraine quỳ gối xin lỗi trước người dân nước họ.
Mọi cái quỳ gối muộn màng đều có kết quả bi đát.
Cánh Cò
(RFA Blog’s)

Độ giàu có của đại gia Đông Âu Hồ Hùng Anh

Với việc nắm lượng vốn lớn tại Techcombank và đặc biệt là tại “ông lớn” Masan, ông Hồ Hùng Anh đang là một trong những người giàu nhất sàn chứng khoán Việt Nam.
Gia đình ông Hồ Hùng Anh đang nắm bao nhiêu vốn Techcombank, Masan?
Hồ Hùng Anh – một trong những cái tên nổi bật trong giới ngân hàng nhiều năm qua khi là Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank).
Ông Hùng Anh hiện cũng là một trong những người giàu nhất trên sàn chứng khoán Việt Nam khi nắm lượng lớn cổ phiếu MSN của Công ty cổ phần Tập đoàn Masan – một trong những công ty có vốn hóa cao nhất thị trường.
Tỷ phú, Đông-Au, giàu, siêu-giàu, Techcombank, Masan, cổ-phiếu, Hồ-Hùng-Anh, MSN,
Ông Hồ Hùng Anh
Vậy ông Hồ Hùng Anh và gia đình hiện đang nắm bao nhiêu vốn 2 công ty lớn này?
Với Techcombank, theo báo cáo quản trị 2013 của ngân hàng này, Chủ tịch Hồ Hùng Anh hiện đang nắm hơn 11,93 triệu cổ phiếu, tương đương hơn 1,34% vốn Techcombank.
Vợ ông Hùng Anh là bà Nguyễn Thị Thanh Thủy nắm lượng cổ phiếu Techcombank “khủng”, lên tới gần 27,69 triệu cổ phiếu, tương đương gần 3,12% vốn.
Ngoài ra, 2 thành viên khác trong gia đình ông Hùng Anh là ông Hồ Anh Ngọc, em trai ông Hùng Anh, và bà Nguyễn Thị Thanh Tâm – mẹ ông Hùng Anh – cũng đang nắm lần lượt hơn 8,88 triệu cổ phiếu và 80.158 cổ phiếu Techcombank.
Như vậy, hiện tại gia đình ông Hồ Hùng Anh đang nắm gần 48,59 triệu cổ phiếu, tương đương hơn 5,47% vốn Techcombank. Nếu tính theo mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu, giá trị tài sản gia đình ông Hùng Anh đang nắm là gần 486 tỷ đồng.
Tại Masan, ông Hồ Hùng Anh đang giữ chức Phó chủ tịch Hội đồng quản trị. Theo báo cáo quản trị 2013, ông Hùng Anh đang nắm hơn 15,77 triệu cổ phiếu Masan, tương đương 2,15% vốn.
Tính theo giá chốt phiên hôm qua (25/2/2014) của cổ phiếu MSN là 100.000 đồng/cổ phiếu, giá trị cổ phiếu Masan ông Hùng Anh đang nắm giữ lên tới gần 1.577 tỷ đồng.
Người nhà ông Hùng Anh không nắm cổ phiếu Masan nào.
Liên quan đến các cổ đông của Techcombank, Masan hiện chính là cổ đông lớn nhất của ngân hàng này với hơn 19,5% vốn, tương đương hơn 173,15 triệu cổ phiếu. Tiếp đến là HSBC với hơn 19,41% vốn, tương đương hơn 172,35 triệu cổ phiếu.
Một cổ đông khác có liên quan đến cả Masan và Techcombank là ông Nguyễn Đăng Quang – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Masan, đồng thời cũng là Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng quản trị Techcombank.
Ông Đăng Quang hiện chỉ nắm 10 cổ phiếu MSN của Masan, nhưng vợ ông là bà Nguyễn Hoàng Yến nắm tới 21,78 triệu cổ phiếu MSN, tương đương 2,96% vốn Masan. Bà Yến hiện cũng là Thành viên Hội đồng quản trị tập đoàn này.
Với việc nắm lượng lớn cổ phiếu MSN, bà Nguyễn Hoàng Yến cũng là một trong những người giàu nhất sàn chứng khoán Việt Nam với gần 2.178 tỷ đồng.
Tại Techcombank, ông Đăng Quang đang nắm hơn 2,85 triệu cổ phiếu, tương ứng hơn 0,32% vốn. Bà Hoàng Yến nắm hơn 6,94 triệu cổ phiếu tương đương 0,782% vốn Techcombank.
(BizLIVE)

Nguyễn Hưng Quốc – Phát triển trước, dân chủ sau

 
Để trì hoãn dân chủ và cũng để biện minh cho chế độ độc tài độc đảng tại Việt Nam, ngoài hai lý do chính đã nêu trong bài “Ai kiềm hãm dân chủ?”: trình độ dân trí thấp và lòng thù hận còn ngùn ngụt giữa những người Việt với nhau, giới tuyên huấn Việt Nam còn nêu thêm một lý do khác: Điều Việt Nam cần nhất hiện nay là giàu mạnh; muốn giàu mạnh cần có sự tập trung lực lượng, ý chí và chính sách; nghĩa là, nói cách khác, cần độc tài. Hai tấm gương người ta đưa ra nhiều nhất là Trung Quốc và Singapore. Người ta hứa hẹn: khi ở Việt Nam, mọi người không những no cơm ấm áo mà còn được giáo dục tốt, hơn nữa, có đủ mọi thứ tiện nghi xa xỉ khác, dân chúng tha hồ bỏ điều 4 trong Hiến pháp và thay đổi thể chế. Lúc ấy, muốn tự do hay muốn lập bao nhiêu đảng cũng được.
 

Để củng cố cho các quan điểm của mình, một số người nêu một số lý do: Một, dưới chế độ độc tài, mọi quyết định của giới lãnh đạo dễ dàng hơn, do đó, dễ có hiệu quả hơn; hai, độc tài duy trì trật tự và nuôi dưỡng tinh thần kỷ luật; ba, độc tài tiết kiệm được nhiều chi phí hành chính “vô ích” như bầu cử hay lương hướng cho phe đối lập; và bốn, độc tài tạo nên ổn định xã hội (khi nói ý này, họ chỉ tay về phía Thái Lan: “Thấy chưa? Ở Thái Lan dân chủ quá nên dân chúng cứ biểu tình hoài, vừa gây rối trật tự giao thông vừa khó khăn cho việc làm ăn buôn bán của mọi người!); v.v..

 

Nghe, ngỡ chừng có lý, nhưng ở đây lại có nhiều vấn đề.

 

Thứ nhất, không phải chế độ độc tài nào cũng có khả năng làm cho đất nước phát triển giàu mạnh. Có. Nhưng hiếm hoi. Đầu thập niên 1970, kinh tế Brazil phát triển mạnh dưới một chế độ quân phiệt; trong thập niên 1980, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan đều biến thành những con hổ trong lãnh vực kinh tế dù vẫn sống dưới chế độ độc tài. Trong thập niên 1990, đó là hiện tượng Trung Quốc. 

 

Nhưng tất cả những nước vừa nêu chỉ là những ngoại lệ. Điều kiện chính để các ngoại lệ ấy trở thành ngoại lệ là quyết tâm và tài năng của người lãnh đạo: Ở Trung Quốc, đó là Đặng Tiểu Bình và ở Singapore, là Lý Quang Diệu. Ở tất cả các nước khác, độc tài chỉ dẫn đến sự kiệt quệ về kinh tế, sự lạc hậu về kỹ thuật và sự suy đồi về văn hóa. Bằng chứng? Nhiều vô cùng. Tất cả các nước cộng sản trước đây đều độc tài và tất cả đều tệ hại trong mọi phương diện. Ở châu Phi, tất cả các quốc gia độc tài đều là những quốc gia nghèo đói triền miên và nợ nần thì chống chất. Hiện nay, hai nước cộng sản độc tài nhất cũng là hai nước bần cùng nhất: Bắc Hàn và Cuba. Các nhà độc tài Francois Duvalier (thường được gọi là Cha/Bố Doc) ở Haiti, Saparmurat Niyazov ở Turkmenistan, Rafael Trujillo ở Dominican Republic, Muammar Gaddafi ở Libya, Mobutu ở Congo, Francisco Macias Nguema ở Equatorial Guinea, Kim Nhật Thành, Kim Chính Nhật và Kim Chính Ân ở Bắc Hàn, Saddam Hussein ở Iraq, Mohamed Siad Barre ở Somalia, Mengistu Haile Mariam ở Ethiopia, Daniel arap Moi ở Kenya, Robert Mugabe ở Zimabwe, Hosni Mubarak ở Ai Cập, Ibrahim Babangida và Sani Abacha ở Nigeria, Paul Kagame ở Rwanda, v.v. chỉ có “công” duy nhất là làm cho đất nước của họ ngày càng trở nên cô lập và bần cùng. Ở Việt Nam, độc tài đã ngự trị trong phạm vi cả nước đã gần 40 năm: Giới lãnh đạo đã có toàn quyền để làm bất cứ những gì họ muốn, không những không bị phản đối mà còn không bị cả phản biện nữa, nhưng kết quả ra sao?

 

Thứ hai, độc tài tự nó không dẫn đến phát triển, hơn nữa, còn đối lập với phát triển. Để phát triển, ngoài tài nguyên và nhân công, người ta cần những chính sách sáng suốt; để có các chính sách sáng suốt ấy, người ta cần có trí tuệ. Trí tuệ, liên quan đến chính sách, đến từ hai nguồn: Một, từ các nhà lãnh đạo; và hai, từ tập thể. Để có trí tuệ tập thể, hai điều kiện cần nhất là: Một, người ta phải có khả năng suy nghĩ một cách có phê phán; và hai, người ta có đủ tự do để phát biểu những điều mình suy nghĩ. Nhưng hai điều kiện ấy lại không thể nảy nở dưới các chế độ độc tài. Thiếu hai điều kiện ấy, những cái gọi là trí tuệ tập thể chỉ là những sáo ngữ. Ngay cả trí tuệ thiên tài của một cá nhân cũng có nguy cơ vấp sai lầm, và vì nguy cơ ấy, cần được phản biện và kiểm tra. Đối lập tồn tại là để đóng vai trò phản biện và kiểm tra ấy.

 

Trong bài “Can China Innovate Without Dissent?” đăng trên The New York Times ngày 21/1/2014, giáo sư Stephen L. Sass, người từng được mời giảng dạy tại Trung Quốc trong nhiều năm, nhận xét: Mặc dù trong mấy thập niên vừa qua, Trung Quốc phát triển vượt bậc, nhưng ông không tin là họ có thể vượt qua được Mỹ. Từ góc độ văn hóa đến góc độ thiết chế và chính trị, Trung Quốc không hề khuyến khích óc phê phán và sự tự do trong tư tưởng, do đó, không hy vọng gì có thể cách tân thực sự trong lãnh vực khoa học kỹ thuật.
 

Thứ ba, phát triển, tự nó, không dẫn đến dân chủ. Singapore, chẳng hạn, vốn được xem là một quốc gia phát triển với thu nhập bình quân trên đầu người trên 60.000 Mỹ kim, thuộc loại cao nhất trên thế giới, thế nhưng, cho đến nay, nước này vẫn bị xếp vào loại “tự do một phần” (partly free). Phần lớn các quốc gia ở Trung Đông, nhờ các tài nguyên thiên nhiên, chủ yếu là dầu và khí đốt, đều giàu có với thu nhập bình quân trên đầu người rất cao, có khi, phải nói là cực cao, như ở Qatar là trên 100.000 Mỹ kim; ở Kuwait là trên 40.000; ở United Arab Emirates cũng trên 40.000; ở Oman, Bahrain, và Saudi Arabia, đều trên 20.000, v.v.. Nhờ giàu có, họ cũng rất phát triển. Vậy mà hầu như không có nước nào có tự do cả. Hiện nay, Nga cũng là một nước phát triển, được xếp vào nền kinh tế lớn hàng thứ 8 trên thế giới, với thu nhập bình quân trên đầu người khoảng gần 15.000 Mỹ kim, nhưng dưới quyền cai trị của Vladimir Putin, dân chúng vẫn không hề có tự do.

 

Thứ tư, khái niệm phát triển không nên chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế; và trong phạm vi kinh tế, giới hạn trong chuyện thu nhập. Đó chỉ là một khía cạnh. Trong ý niệm phát triển, còn ít nhất ba khía cạnh khác quan trọng không kém: một là y tế tốt để tuổi thọ được kéo dài; hai là giáo dục tốt để trình độ dân trí càng ngày càng cao; và ba là nhân quyền được tôn trọng để mọi người được sống như những con người thực sự. Dân chúng giàu có bao nhiêu nhưng nếu họ không được giáo dục và quyền làm người của họ không được tôn trọng, không thể nói là phát triển được. Hiểu theo nghĩa rộng như vậy, phát triển đồng nghĩa với tự do: Cả hai đồng hành với nhau. Do đó, nói phát triển trước rồi sau đó mới cho phép tự do là nói một điều mâu thuẫn. Trong chính trị, mâu thuẫn thường là một sự dối trá.

 

Thứ năm, ngoài việc độc tài không bảo đảm phát triển và phát triển không bảo đảm cho dân chủ, luận điệu trên còn còn quên một khía cạnh khác: Trong các chế độ chính trị, độc tài hàm chứa nhiều nguy cơ tham nhũng nhất. Cần nhấn mạnh là: do gắn liền với lòng tham của con người và tính chất không thể hoàn hảo được của mọi bộ máy công quyền, tham nhũng xuất hiện ở mọi thời và mọi nơi. Không có nơi nào, ngay cả trong các tôn giáo, tránh được tham nhũng. Vấn đề là ở mức độ. Và về mức độ, không thể phủ nhận được sự thật này: trên thế giới, trừ Singapore, nước càng dân chủ bao nhiêu càng ít tham nhũng bấy nhiêu. Lý do rất dễ hiểu: Dân chủ, trong đó, quan trọng nhất là quyền tự do thông tin và tự do ngôn luận, tự bản chất, là những biện pháp hữu hiệu nhất để chống tham nhũng.

 

Bất chấp những lý lẽ trên, Việt Nam vẫn muốn làm một con hổ trước khi dân chủ hóa.

 

Tưởng tượng một con hổ vồ một người. Thấy người đó than khóc lạy lục thảm thiết quá, con hổ bèn an ủi: Không sao đâu, mày cứ nằm yên để tao ăn thịt mày; khi no rồi, tao sẽ đi bắt vài con bò Kobe về để mày làm…beefsteak nhậu!

Nguyễn Hưng Quốc

(Diễn đàn Thế kỷ) 

QUÁ ĐỐN MẠT!

Nguyễn tường Thụy

Chỉ có thể dùng 3 từ này để nói về 2 ngày trời lặn lội từ Vũng Tàu về Cao Lãnh xong lại xuống huyện Lấp Vò- Đồng Tháp để làm việc với trại giam An Bình và công an huyện Lấp Vò.
Ngày Thứ Nhất, Trại tạm giam An Bình- Đồng Tháp.
Ngày 24-02-2014, ngày thứ 13 mẹ tôi bị bắt giữ, sau khi nghe được thông tin người nhà cô Thúy Quỳnh đã được thăm nuôi gặp mặt, tôi lập tức về trại giam An Bình Tp. Cao Lãnh – Đồng Tháp với hi vọng cũng sẽ được gặp mẹ.
Đến được trại giam cũng đã là đầu giờ làm việc buổi chiều. Xin được gặp trực ban và tiếp tôi ngày hôm đó là: thiếu tá Nguyễn Tấn Dũng- số hiệu 430-310 đã tiếp tôi. Tôi đặt ngay vấn đề thứ nhất về việc được thăm nuôi gặp mặt mẹ tôi, nhưng cũng như lần trước họ từ chối tôi việc đó. Tôi đặt ngay vấn đề vì sao gia đình cô Thúy Quỳnh được gặp mặt mà tại sao gia đình tôi không được gặp? Ông Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời tôi như sau:
– Việc cho thân nhân gia đình gặp mặt là do bên cơ quan thụ lý hồ sơ, là phòng điều tra bên Lấp Vò cho phép trong nghiệp vụ điều tra để làm rõ vụ án.
(Như vậy hóa ra chỉ cần lấy cớ là đang làm nghiệp vụ điều tra thích cho ai gặp là gặp đấy à? )
Tôi hỏi ông trực ban ấy:
– Mẹ cháu hôm nay đã bị giam giữ quá hạn 4 ngày rồi, nhưng chưa có thông báo chính thức bằng văn bản nào của công an điều tra. Vậy chú có thể cho cháu biết lệnh tạm giam đã được tống đạt về trại giam này chưa? Vì nếu không có lệnh tạm giam thì Trại giam không được quyền giữ người thêm nữa.
Ông ta trả lời:
– Đã có lệnh tạm giam rồi, nếu không có lệnh tạm giam chúng tôi đã thả người.
Tôi có hỏi:
– Vậy chú có thể cho cháu biết được là trong lệnh tạm giam ghi mẹ cháu phạm lỗi gì, tội gì? Và lệnh tạm giam có thời hạn bao nhiêu tháng?
– Cái này, giờ mới chỉ là tạm giam làm rõ hành vi phạm tội chứ chưa phải là chính thức, với lại lệnh tạm giam có thể 2 tháng 3 tháng 4 tháng không biết được.- Ông ta trả lời
– Chú xem dùm cháu, cháu biết chú định nói gì? Bên Trại giam chỉ giữ người, còn mọi giấy tờ liên quan hay thắc mắc về bên cơ quan thụ lý hồ sơ đúng không? Cái này cháu biết nhưng lệnh tạm giam cũng phải được chuyển đến cho trại giam để tống đạt cho đương sự, vì vậy chú có thể cho cháu biết trong lệnh tạm giam ghi giam giữ vì hành vi gì?
-Cái này chỉ là lệnh tạm giam thôi, chưa phải kết luận chính thức. Sau này khi điều tra xong sẽ có bản kết luận rồi cáo trạng này nọ….. (Ông này hình như bị mắc bệnh thuộc lòng, lôi quy định ra nói chuyện nên tóm tắt lại ý chính vậy)
– Những cái đó cháu biết hết rồi, chú không cần giải thích. Cháu chỉ hỏi mẹ cháu đã có lệnh tạm giam, vậy lệnh tạm giam ghi mẹ cháu phạm tội gì? Chú xem dùm cháu được không? Đường xá đi lại xa xôi, đã đến trại giam rồi thì cháu hỏi chú luôn đỡ phải đi xuống Lấp Vò! Cháu nghĩ cái này trong khả năng thẩm quyền của chú mà!
Ông giám thị kia im lặng một lúc sau đó nói tôi: “Chờ chút” rồi đi vào văn phòng.
Một lúc sau ông ta ra trả lời:
– Trong lệnh ghi là mẹ của anh bị tạm giam để làm rõ hành vi gây rối trật tự công cộng nhé. Còn những việc khác thì lên công an huyện Lấp Vò để hỏi đi nhé.
Đã quá quen thuộc với câu nói này nên tôi chán nản ra căng tin trại mua ít bánh, sữa gửi vào. Và tại đây đã hiểu lý do vì sao những thực phẩm như bánh. sữa nước ngọt lại không được gửi vào. Tôi mua gửi vào cho mẹ tôi: 4 hộp cà phê hòa tan, 1 lốc trà xanh không độ, 1 hộp bánh, 2 lốc sữa milo (loại sữa uống như hộp cô gái hà lan). Thanh toán tiền 482.000. (Thảo nào tuy chỉ là trực trại giam, nhưng từ thằng trực cổng cũng đã dùng iphone 5s, mình thèm rỏ dãi mà còn chưa được sờ vào).
Gửi thêm cho mẹ ít tiền rồi thất vọng ra về như những lần trước, vì biết khi chúng nó đã nói chuyện bằng quy định và đùn đẩy hết trách nhiệm qua Lấp Vò hết như vậy thì cũng chả đòi hỏi gì thêm cả, ở lại vừa mất thời gian lại không được việc gì. Để hơi ngày hôm sau chiến bọn Lấp Vò.
Quay lại ráng nhìn vào khu nhà giam, im ắng, lụp xụp, bốn bề bí bách. ĐÚNG LÀ TÙ!! Không biết mẹ đang ở góc nhỏ nào? Hét lên không biết mẹ có nghe được không?
15h03, có đi xe ôm gấp cũng chả về kịp huyện Lấp Vò trước 17h. Đành ngủ lại một đêm sáng hôm sau làm việc sớm.
Ngày làm việc thứ 2- công an huyện Lấp Vò- Đồng Tháp
 
Sáng ngày 25-02-2014, tôi có mặt tại công an huyện Lấp Vò- Đồng Tháp lúc 9h.Tôi cùng chị Diễm Thúy vợ anh Nguyễn Văn Minh (người bị bắt giam cùng mẹ tôi đến nay). Tiếp tục vào cổng xin được gặp mặt phó thủ trưởng phòng CSĐT( cảnh sát điều tra) ông Lê Hoàng Dũng, nhưng một lần nữa và như mọi lần trước anh công an trực cổng khi biết tôi là con trai bà Bùi Thị Minh Hằng đã không cho tôi vào. Tôi nói với anh ta:
– Em hôm nay đến đây là do 4 ngày trước, một anh cán bộ ở đây nói với em đang làm thủ tục bắt giam và khởi tố sẽ làm thông báo đến chính quyền địa phương để thông báo đến gia đình, nhưng em về nhà chờ đã 4 ngày rồi nhưng đến hôm nay vẫn chưa nhận được bất cứ một thông báo nào cả, vì vậy em muốn gặp chú Dũng để hỏi về giấy thông báo bắt giam và khởi tố mẹ em.
Anh ta nói:
– Giấy đã được làm và chuyển về, anh cứ về chờ đi”
– Chờ đến bao giờ nữa, hôm nay đã là ngày thứ 4, ngày thứ 4 rồi đó anh. Lần trước anh kia bảo em về chờ, em đã chờ nhưng hôm nay không chờ được nữa. Em qua trại giam An Bình, họ đã đùn đẩy trách nhiệm này qua bên các anh. Vì vậy, các anh không thể né tránh em mãi được, phải cho em một thông báo chính thức bằng văn bản.
Anh ta đuối lý nên quay sang hỏi:
– Thế anh có giấy mời không?
Tôi trả lời:
– Không
Anh ta nói:
– Không có giấy mời thì không được vào, khi nào có giấy mời thì anh mới được vào làm việc!
Quá bức xúc trước câu nói của anh trực trại, tôi không còn bình tĩnh được nữa:
– Để em nói cho anh nghe nè, cơ quan công an không những chỉ có quyền bắt giam ai đó để điều tra, mà còn phải có trách nhiệm giải đáp và trả lời những yêu cầu của người dân, đó là trách nhiệm “Tiếp Dân”, trong luật có quy định rõ ràng anh có biết không?
Anh ta không trả lời lại tôi và nói:
– Anh đứng sang bên để tôi gọi điện vào xin lệnh.
– Anh cứ gọi điện thông báo đi. Hôm nay tôi sẽ chờ ở đây đến khi được làm việc mới về, anh nhắn nguyên văn lại cho tôi. Và hôm nay tôi sẽ không chấp nhận làm việc ngoài cổng và không mặc sắc phục như lần trước nữa. Đây là cơ quan chính quyền chứ không phải cái chợ.
Cùng lúc đó, anh Nguyễn Hồng Nguyên người đã làm việc lần trước với tôi ở trước cổng và thông báo về việc đang làm thủ tục khởi tố mẹ tôi cho tôi bước từ ngoài bước vào. Cơ hội không có lần thứ 2, tôi chụp lấy anh ta và nói:
– Anh ơi, lần trước anh bảo với em đang làm thủ tục khởi tố mẹ em và sẽ thông báo về gia đình, vậy sao em chờ 4 ngày rồi không thấy gì, chính quyền địa phương cũng trả lời không nhận được bất kỳ thông báo nào từ công an huyện Lấp Vò.
Anh Nguyễn Hồng Nguyên nói tôi vào trong và chỉ thị một anh lính gác đưa tôi vào tổ điều tra gặp ông Luật thủ trưởng cơ quan điều tra. Tại đây một lần nữa họ bắt tôi và chị Thúy ngồi chờ, trong lúc họ cầm hồ sơ đi lại giữa phòng điều tra và phòng đánh máy. (Có lẽ thông báo tôi nhận được sau đó đến giờ phút đó mới được họ mang đi đánh máy và in ra)
Một lúc sau, họ mời chị Thúy vào làm việc trước, sau đó mới cho tôi vào. Tại đây tôi gặp một người thiếu tá, nhưng không đeo bảng tên mà sau này tôi mới được biết ông ta là Phạm Văn Tiền- ĐTV (điều tra viên) thuộc phòng CSĐT. Trước khi mời tôi ngồi, ông ta bắt tôi lôi hết điện thoại và bắt tôi cởi áo để xét xem có máy ghi âm không. Ông ta nói:
– Mày bỏ hết máy điện thoại ra và máy ghi âm ra đi, tao biết có (Ông ta xưng mày tao với tôi, đây có phải thái độ một người cảnh sát nhân dân tiếp dân không?). Sau đó ông ta tiếp tục bảo tôi cởi áo. Tôi chất vấn vì sao phải bỏ điện thoại ra ngoài cho ông ta kiểm tra và vì sao bắt tôi cởi áo ông ta trả lời:
– Ở đây là nơi làm việc, không cho sử dụng điện thoại. Không được ghi âm.( Nếu làm đúng luật tại sao sợ tôi ghi âm đến vậy). Tôi có hỏi ông ta bắt tôi cởi áo để khám người tôi không cho ghi âm đúng không. Ông ta quanh co một hồi rồi cũng bảo: “Đúng, không cho mày ghi âm”.
Sau khi đã xét người xong và cho người tắt hết 2 máy điện thoại của tôi, ông ta đưa tôi một bản thông báo về việc bắt giam mẹ tôi. Tôi đọc bản thông báo xong, tôi hỏi:
– Trong bản thông báo này, căn cứ vào đâu, dựa vào đâu để gán ghép mẹ cháu đánh người thi hành công vụ? Căn cứ vào đâu bảo mẹ cháu cản trở giao thông nghiêm trọng?
– Cái này thuộc về thẩm quyền điều tra, mày không được hỏi?
– Vậy đây mới chỉ là thông báo tạm giam, vậy biên bản khởi tố đã có chưa? Và nếu có gia đình có được quyền biết và nhận hay không?
– Đã khởi tố rồi, không biết đọc chữ à?
– Cháu đã đọc hết rồi, không có nêu vấn đề khởi tố nào cả?
– Trong đó có ghi đó có biết đọc không? Đã khởi tố rồi mới tạm giam chứ.
– Cháu đã đọc rồi, trong đây không ghi. Vì vậy cháu mới hỏi là biên bản khởi tố đã có chưa? Chú coi lại đi trong này không hề ghi 1 câu nào nhắc đến từ “khởi tố” cả?
Ông ta giằng lấy bản thông báo đọc lại xong, tôi nói:” thấy chưa? trong này không hề có 1 chữ “khởi tố” nào.
Ông ta trả lời tôi:” Đã bắt giam là khởi tố rồi, nãy giờ thông báo mấy lần rồi. (Xin thưa là thông báo bằng mồm không hề có văn bản, vậy ông ta bảo tôi đọc lại làm cái gì khi trong thông báo bắt giam không hề ghi rõ đã khởi tố??)
Tôi nói:
– Cháu hỏi chú vấn đề này, vì công an phải có trách nhiệm trả lời giải đáp rõ mọi thắc mắc của người dân. Đã có biên bản khởi tố theo như chú nói vậy gia đình có được quyền nhận thông báo hay lệnh khởi tố đó không?
– Không!! ông ta trả lời:
– Vậy tại sao nãy giờ cháu chỉ hỏi như vậy mà chú cứ trả lời vòng vo làm chi vậy, cháu chỉ cần biết như thế thôi mà chú cứ dắt cháu đi đâu thế!
Sau đó ông ta lập một biên bản về việc tôi nhận giấy thông báo tạm giam do ông ta đưa, chắc sợ sau này tôi lật lọng nói chưa đưa.(Cái này có thể nói là suy bụng ta ra bụng người được không ta?)
Sau khi lập biên bản xong ông ta nói:” Vậy là xong rồi kết thúc”. Tôi nói với ông ta:
– Hôm nay cháu đến đây ngoài yêu cầu được biết về thông báo tạm giam và khởi tố mẹ cháu. Cháu còn muốn biết về…. ( tại sao công an Lấp Vò cho người nhà cô Thúy Quỳnh được gặp nhưng lại không cho gia đình cháu được gặp mặt, có thông tin nói ông Lê Hoàng Dũng là người đã đánh mẹ cháu lúc mẹ cháu bị còng trên xe yêu cầu được làm rõ vụ việc này) nhưng đã bị chặn họng ngày từ đầu “…”.
Ông ta liến thoắng:
– Hôm nay buổi làm việc chỉ đến đây thôi, không làm việc gì thêm nữa. Đã đưa thông báo cho mày rồi, còn mấy cái khác không biết, không trả lời đâu.Mời về!
Quá bức xúc trước thái độ vô trách nhiệm và bất hợp tác của ông ta, tôi nói:
– Những gì cháu thắc mắc chú chưa giải đáp hết cho cháu, giờ làm việc thì chưa kết thúc mà chú đã nói không làm việc nữa. Thái độ làm việc của chú như vậy đấy à?
Ông ta bỏ ra ngoài cửa, và nói với mấy anh công an đang đứng ngoài đó (Xin được nhấn mạnh là trong suốt buổi làm việc, bao quanh tôi và ông ta là ít nhất 3-5 người công an khác kè kè sau lưng tôi):
– Tao đã mời nó về rồi đó, mày vào tống nó ra đi.
Tôi nghe được câu nói đó của ông ta. Nên đứng dậy bước ra khỏi phòng. Trước khi ra cổng công an huyện, vì không giữ được bình tĩnh với thái độ BẤT HỢP TÁC, VÔ TRÁCH NHIỆM, VÔ NHÂN của công an huyện Lấp Vò nên tôi đã to tiếng ngay trong sân công an huyện. Nhưng thật ngạc nhiên tất cả bọn họ đều im lặng và lảng đi sang các phòng khác, chỗ khác. (Hôm nay hiền đột xuất. May quá, tưởng bị đánh bị đạp như đã làm với mẹ mình và các cô chú :v)
Cầm tờ giấy thông báo vô căn cứ của họ bước ra cổng, ngay lập tức có ngay một số người đi xe máy chạy ra theo tôi. Lúc đó đi cùng tôi chỉ toàn phụ nữ, lo sẽ có chuyện không hay xảy ra ngoài đường (với lại mình cũng nhát lắm, sợ bị các anh ấy đánh chả biết kêu ai :v) lập tức quay về thành phố.
* Qua 3 lần làm việc, đi đi về về giữa Vũng Tàu- Sài Gòn- Đồng Tháp, trải qua 10 ngày (tình từ lần đầu tiên xuống công an huyện), nay tôi không còn hi vọng gì để nói chuyện tử tế với họ ( những người mặc sắc phục công an lên người, những người đại diện cho luật pháp bảo vệ công lý) khi mà họ đã chà đạp lên luật pháp, coi thường người dân, dựa vào quyền lực và luật pháp họ đang nắm giữ để đổi trắng thay đen, vu oan cho người vô tội. Vì vậy, một lần nữa, tôi khẳng định sẽ không để bị hút vào lối mòn đi-về làm việc với họ nữa vì: KHÔNG BAO GIỜ CÓ KẾT QUẢ!
Tôi sẽ ra Hà Nội, mang theo hình ảnh của MẸ TÔI. Tôi sẽ gửi đơn thư khiếu nại lên các cấp trung ương, mang lời kêu cứu đến dư luận quốc tế, tất cả những người quan tâm đến vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Đây là một trường hợp công an Đồng Tháp và có thể còn cao hơn COI THƯỜNG NHÂN QUYỀN!
Xin mọi người, những người bạn đã đồng hành sát cánh cùng với Mẹ Tôi trong những cuộc biểu tình đòi Dân Chủ, những người bạn quan tâm và ủng hộ mẹ Tôi giúp đỡ và hướng dẫn tôi khi tôi ở Hà Nội.
XIN HÃY GIÚP ĐỠ TÔI VÀ GIA ĐÌNH TRONG VIỆC TÌM LẠI TỰ DO CHO MẸ TÔI, GIÀNH LẠI QUYỀN LỢI CHO MẸ TÔI! VÌ MẸ TÔI….
Trần Bùi Trung
(Con trai chị Bùi Thị Minh Hằng)

Thêm một đảng viên kỳ cựu bỏ đảng CSVN

Ông Tống Văn Công, một đảng viên đảng CSVN có hơn 55 tuổi đảng vừa công bố quyết định từ bỏ đảng vì thấy nó đi ngược lại lý tưởng mà ông đã “bỏ cả đời để phục vụ”.

Ông Tống Văn Công, nguyên tổng biên tập các báo Lao Động Mới, Người Lao Động và Lao Động, một đảng viên đảng CSVN kỳ cựu với hơn 55 tuổi đảng vừa loan báo bỏ đảng. (Hình: Lao Động)

“Là một đảng viên hơn 55 năm đứng trong hàng ngũ Đảng, sống thanh bạch, 82 tuổi còn làm việc hợp đồng, lúc nào cũng nghĩ về vận nước và sự suy thoái của Đảng, tôi nghĩ rằng, tôi không phải thuộc số không nhỏ đảng viên thoái hóa chính trị mà chính những người bảo thủ, giáo điều không sáng suốt chấp nhận đổi mới chính trị, khiến cho một Đảng cách mạng, anh hùng trong sự nghiệp giải phóng, nay trở thành một Đảng độc đoán, tham nhũng mới đúng là những kẻ suy thoái chính trị. Do đó tôi không thể nhận bất cứ hình thức kỷ luật nào có tên là suy thoái tư tưởng chính trị.”

Ông Tống Văn Công viết như vậy trong bản “tự kiểm điểm” mà đảng ủy địa phương tại Sài Gòn buộc ông phải viết lại với lý do “chưa đạt yêu cầu”. Đảng ủy địa phương viết trong lá thư đề ngày 24/2/2014 nhắc nhở ông “nghiêm túc viết lại bản tự kiểm điểm và tự nhận hình thức kỷ luật”. Đồng thời văn thư gợi ý kiến về 3 trường hợp bị khai trừ là “Có quan điểm ủng hộ hoặc tán thành đa nguyên chính trị, đa đảng; công khai phê phán bác bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng.”

Trong bài viết “Lời chia tay với đảng CSVN” được phổ biến trên một số diễn đàn thông tin như Bauxite Việt Nam, Blog Huỳnh Ngọc Chênh, báo Dân Quyền của Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự, ông cho hay “thời gian qua, tôi hết sức tự kiềm chế, cố gắng tiếp tục đứng trong hàng ngũ Đảng để cùng với các đảng viên chân chính trực tiếp đấu tranh, góp ý xây dựng Đảng, hi vọng những người lãnh đạo nhận ra sai lầm,vứt bỏ ý thức hệ lạc hậu, tiến tới một Đại hội Đảng đổi mới lần 2: Đổi mới chính trị, thực hiện nhà nước pháp quyền đúng như các thể chế chính trị hiện đại. Từ đó mà vực dậy niềm tin đang cùng kiệt của nhân dân, tiếp tục sứ mệnh mà đảng viên và nhân dân giao cho. Hôm nay, con đường ấy đã bị chặn lại. Đau lòng lắm, nhưng phải đành vậy thôi! Từ giờ phút này, từ ngày hôm nay, 25-2-2014, tôi xin nói lời chia tay với Đảng Cộng sản Việt Nam.”

Ông Tống Văn Công từng là tổng biên tập của 3 tờ báo thuộc hệ thống công đoàn , cơ quan ngoại vi của đảng CSVN, là Lao Động Mới, Người Lao Động và Lao Động suốt một thời gian dài khoảng 30 năm trước khi nghỉ hưu.

Từ năm 2009 đến nay, người ta thấy xuất hiện trên một số diễn đàn thông tin “lề dân” các bài tham luận thời sự ký tên Tống Văn Công, phê phán các chính sách của nhà cầm quyền CSVN là đi ngược lại quyền lợi của quốc gia dân tộc. Ông đả kích những kẻ cầm đầu đảng CSVN chỉ biết phục vụ quyền lợi bản thân và phe nhóm.

“Càng tự hào về lý tưởng cao cả mà mình đã bỏ cả đời để phục vụ, tôi càng day dứt, xấu hổ vì sự thoái hóa, tham nhũng của một bộ phận không nhỏ những người trong guồng máy lãnh đạo, khiến Đảng cầm quyền phạm nhiều sai lầm, làm mất hết niềm tin của nhân dân, làm khoảng cách tụt hậu của đất nước càng ngày càng xa so với các nước khu vực. Những người lúc nào cũng hô hào kiên trì ý thức hệ lỗi thời, cấm không được tự diễn biến, thực ra, họ chỉ nhằm duy trì quyền lực, khai thác “lợi ích nhóm”, làm giàu cho bản thân, bất chấp thiệt hại của nhân dân lao động và đất nước.” Ông Tống Văn Công lên án đám chóp bu cầu đầu đảng CSVN trong “Lời chia tay với đảng CSVN”.

Qua những bài viết phê phán chế độ từ đàn áp nông dân ở Văn Giang đến khai thác bauxite ở Tây nguyên hay chỉ chống tham nhũng hình thức, chống Trung quốc bá quyền bành trướng, ông Tống Văn Công đã bị đảng CSVN bắt làm “kiểm điểm” 15 lần vì các bài viết của ông “đưa lên mạng gây tác động xấu, bị buộc kiểm điểm mà “không sửa chữa”, “phê phán xuyên tạc “tư tưởng Hồ Chí Minh”, “tự diễn biến hòa bình, suy thoái chính trị”…

Cuối năm ngoái, trước khi qua đời ngày 22/1/2014 vừa qua vì bệnh ung thư, đảng viên kỳ cựu Lê Hiếu Đằng đã loan báo từ bỏ đảng và kêu gọi bỏ đảng tập thể vì thấy cái đảng CSVN đi ngược lại quyền lợi nhân dân và đất nước. Nếu có chuyện từ bỏ đảng CSVN tập thể hay ít nhất bỏ không tham dự các sinh hoạt đảng tại các địa phương, thì tin tức này cũng không thể kiểm chứng. Đảng và nhà nước CSVN kiểm soát toàn bộ guồng máy truyền thông chính thống.

Những người đảng viên nổi tiếng như Tống Văn Công, Lê Hiếu Đằng loan báo bỏ đảng không thể không tác động đến sự suy nghĩ của hàng ngũ đảng viên đảng CSVN, nhất là những biến chuyển thời sự chính trị dồn dập ở Ukraine đập vào não bộ của họ hàng ngày.

(Người Việt)

Lời khai chấn động vụ ‘cảnh sát trấn tiền gái mại dâm’

TP – Khai trước tòa, bị cáo Hoàng Công Trường nói: “Ngày ấy, có một “suất” phó giám đốc công an tỉnh, thấy thủ trưởng đơn vị tôi có nhiều khả năng “tranh cử”, nên họ đã dựng lên vụ việc này để “hạ bệ”. Và chúng tôi trở thành nạn nhân của màn kịch đó”
Sau nhiều lần hoãn tòa, hôm qua, TAND TP Lạng Sơn tiếp tục đưa ra xét xử vụ án “cưỡng đoạt tài sản” đối với các bị cáo cựu cảnh sát TP Lạng Sơn. Họ bị cáo buộc trấn tiền, vàng gái mại dâm và lái xe tại bến xe phía Bắc Lạng Sơn.
Quang cảnh phiên tòa ngày 26/2
Quang cảnh phiên tòa ngày 26/2
Nhân chứng, bị hại: Sự việc đúng sự thật
Ra toà ngày 26/1, các bị cáo là cựu công an TP Lạng Sơn (tỉnh Lạng Sơn) không nhận đã gài bẫy trấn lột tiền, vàng gái mại dâm, cho rằng bị lừa “trong màn kịch chính trị”. Còn các bị cáo, bị hại và một số nhân chứng đồng ý với cáo trạng của VKS.
HĐXX do thẩm phán Chu Thị Nguyễn Phin làm chủ tọa đã yêu cầu cách ly các bị cáo để thẩm vấn. Bị cáo Hứa Viết Tú khai nhận, bản thân là người có tiền án và người quen biết, nên từ tháng 3 đến cuối tháng 4/2012, được Nguỵ Ngọc Hùng, Triệu Văn Hiếu, Hoàng Công Trường dùng nghiệp vụ sai khiến, dụ gái mại dâm “vào tròng”, sau đó cưỡng đoạt 9,3 triệu đồng, 2,5 chỉ vàng. Tú cũng khai rõ hành vi “bắt bạc”, trấn lột bốn triệu đồng của các lái xe miền Nam tại Bến xe phía Bắc TP Lạng Sơn (Tiền Phong đã có loạt bài phản ánh).
Chiều qua, đại diện Viện KSND TP Lạng Sơn giữ quyền công tố tại toà giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị mức án dành cho các bị cáo: Hoàng Công Trường từ 24 đến 30 tháng tù giam, Triệu Văn Hiếu và Hứa Viết Tú mỗi bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù giam.
Các bị hại Vy Thị N. cùng nhiều nhân chứng có mặt tại tòa đều nhất trí với nội dung với bản cáo trạng của Viện KSND TP Lạng Sơn. Họ khẳng định, tuy thời gian đã lâu, kéo dài hàng năm trời, nhưng sự việc xảy ra là có thật, lời khai của họ tại cơ quan điều tra là đúng sự thật.
Ngược lại, các bị cáo Triệu Văn Hiếu, Hoàng Công Trường (cựu cán bộ Công an TP Lạng Sơn) đều một mực kêu oan, không nhận tội và vẫn cho rằng, bị đồng đội ở công an tỉnh Lạng Sơn…lừa.
Những lời khai chấn động
Bị cáo Trường và Hiếu cùng cho rằng, họ bị lãnh đạo Phòng CSĐT tội phạm về TTXH (PC45) – Công an tỉnh Lạng Sơn dụ dỗ, cho chép lời khai của nhau; do họ học không đúng chuyên ngành điều tra nên mắc vào vòng lao lý, nay mới dịp tố cáo trước tòa.
“Ngày ấy, có một “suất” phó giám đốc công an tỉnh, thấy thủ trưởng đơn vị tôi có nhiều khả năng “tranh cử”, nên họ đã dựng lên vụ việc này để “hạ bệ”. Và chúng tôi trở thành nạn nhân của màn kịch đó” – bị cáo Hoàng Công Trường khai trước toà(?!).
Khi HĐXX đưa ra dẫn chứng những lời khai của bị cáo Hứa Viết Tú và Vy Thị N. (bị hại) thừa nhận vụ việc, Trường và Hiếu cho rằng, đó là những “diễn viên”, là người của cơ quan điều tra, nhằm hãm hại hai người.
Ngay cả bị cáo Nguỵ Ngọc Hùng, ra tòa lần này với cương vị là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (tòa phúc thẩm chấp nhận mức án 12 tháng, cho hưởng án treo mà tòa sơ thẩm đã tuyên và đã chấp hành xong bản án- PV), cũng một mực kêu oan; đồng thời cho biết sẽ tiếp tục khiếu nại lên cấp trung ương.
Tuy nhiên, khi HĐXX hỏi căn cứ về những lời khai trên, các bị cáo cựu công an đều không đưa ra được chứng cứ cụ thể,và cho rằng đó là suy nghĩ chủ quan của bản thân! Hôm nay, phiên tòa bước sang phần tranh tụng và tuyên án.
(Tiền phong)

Những bí mật chưa tiết lộ về bùa ngải

Pháp sư phù phép “yểm bùa”
Bùa ngải ở nước ta không phải là một khái niệm quá xa lạ. Hầu hết mọi người đều từng nghe đến việc dùng bùa ngải để mưu cầu điều tốt cho mình hoặc để ám hại người khác. Vậy bùa chú có thật sự mang công dụng vô biên hay không?
Bùa ngải có nhiều dòng phái nhưng tựu trung lại là dùng phương pháp làm phép “gửi lệnh” điều khiển âm lực vào một vật cụ thể nào đó để trấn yểm, phục vụ mục đích người dùng. Việc khai triển bùa ngải vì vậy phải thông qua thầy bùa hay còn gọi là pháp sư. Pháp sư có pháp lực càng cao thì “thương hiệu” càng lớn và dĩ nhiên được nhiều người tin tưởng thỉnh bùa.
Bùa yêu có rất nhiều loại và rất “thịnh hành” trong giới bùa chú hiện nay
Mất nhiều tháng thuyết phục, người viết bài mới được diện kiến ông T., một pháp sư có tiếng ở Sài Gòn và được ông chia sẻ những sự thật về bùa ngải.
Nhà pháp sư T. nằm ở mặt tiền đường trên địa bàn Q.Bình Thạnh. Căn nhà rất rộng nhưng cửa đóng then cài quanh năm, chỉ một mình ông ở. Cả gia đình ông đều định cư ở nước ngoài, riêng ông vẫn ở lại. Ông năm nay 40 tuổi, từng tốt nghiệp cử nhân luật nhưng 20 năm qua ông chỉ chuyên tâm nghiên cứu bùa ngải.
Phải thuyết phục lắm, chúng tôi mới được ông T. cho phép vào tham quan căn phòng nơi ông nghiên cứu và thực hành bùa pháp. Căn phòng nhỏ đốt nhang trầm nghi ngút. Ở chính giữa là bàn làm việc có mực tàu và giấy vẽ bùa. Xung quanh bốn bức tường là 8.000 đầu sách đủ thứ tiếng chuyên về bùa ngải. Trên các bức tường treo nhiều ảnh mà theo ông là cao tổ của các trường phái bùa ngải. Tất cả đều là người Trung Quốc, Thái Lan hoặc Ấn Độ. Theo lời ông, bùa ngải chỉ là một trong những hình thức khai triển huyền thuật, ngoài ra còn có trù ếm, thần thông, thôi miên…
Huyền thuật có lịch sử ít nhất đã 8.000 năm, bất cứ tôn giáo nào, dân tộc nào cũng có huyền thuật. Ở nước ta, có rất nhiều loại huyền thuật tự sinh hoặc du nhập. Cơ bản nhất vẫn có thể kể đến các dòng Nam Tông (Ấn Độ, Thái Lan, Miến Điện, Campuchia…), dòng Tiên Đạo (Trung Quốc, Tây Tạng…) hay huyền thuật của các dân tộc (như người Mường)… Mỗi dòng đều có thế mạnh thế yếu nhưng trước đây dùng để chữa bệnh, trừ ma diệt quỷ chứ không dùng hại nhau như bây giờ.
Pháp sư phù phép “yểm bùa”
Bùa ngải dùng đủ thứ chất liệu từ cây cỏ đến vật dụng, tùy phép yểm và mục đích. Lá bùa có loại nhỏ bằng ngón tay, có loại to như mặt bàn. Loại chôn, loại đốt, loại uống (trực tiếp hoặc đốt), cũng có loại vô hình vô trạng… Ở miền Nam, huyền thuật chủ yếu thịnh hành dòng Nam Tông, đặc biệt là bùa chú của Thái hoặc Miên (Campuchia).
Trong đó, phương pháp “trù ếm” được sử dụng nhiều nhất với “hình nộm thế thân”. Chiêu thức vô cùng tàn độc nhắm đến người bị sát hại (đâm, cắt, bẻ gãy, dìm nước…). Rất nhiều người bị hại không chỉ tán gia bại sản mà tinh thần, thể xác còn bị tổn hại ghê gớm. Huyền thuật tôn chỉ là điều chỉnh quan hệ giữa con người với cõi siêu nhiên. Vì vậy, xuất phát điểm của bùa ngải đơn thuần là vì mục đích tốt.
Dòng huyền thuật nào cũng có “bùa hại”. “Bùa hại” từ sơ khởi cũng đã có nhưng chỉ mang tính chất để răn đe, trừng phạt những người xấu và giúp họ quay đầu chuyển ý. Dần dà, nhiều người tà tâm đã khuếch đại, phát triển bùa hại lên tầm cao mới. “Từ lâu, việc dùng bùa phép ám hại nhau là có thật, dù nhiều người chưa tin” – ông T. khẳng định.
Trường Tiến
(Một thế giới)

Bản kiểm điểm không đúng yêu cầu – Nguyên Tổng biên tập báo Lao động chia tay với Đảng – Khó xử Công hàm Phạm Văn Đồng


Khó xử Công hàm Phạm Văn Đồng

Trung Quốc xây dựng mạnh đô thị Tam Sa trên quần đảo Hoàng Sa

Trong bài viết mới đây của Tiến sĩ Trần Công Trục cho rằng “Công hàm 1958 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký gửi Trung Quốc chỉ ủng hộ và thừa nhận phạm vi lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố, không có chữ nào nhắc đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà Bắc Kinh yêu sách chủ quyền với tên gọi Tây Sa, Nam Sa.”

Do đó mà việc kêu gọi hủy bỏ công hàm này là mắc lừa chủ trương hiện nay của Bắc Kinh.


Các tin liên quan


Tiến Sĩ Trần Công Trục đã chỉ nói một phần ý nghĩa của Công hàm 1958, và là phần phụ, phần bao quát không bao gồm ý nghĩa và hệ quả đích thực của Công hàm này.

Đó là lý do vì sao đến giờ này Việt Nam vẫn chưa có những biện pháp cứng rắn hơn đối với những hành vi xâm phạm ngày một gia tăng của Bắc Kinh trên Biển Đông.

Kẽ hở của Công hàm 1958

Đúng là Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không đề cập gì đến Hoàng Sa hay Trường Sa.

Nhưng Công hàm đã viết:

“Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.”

Tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Quốc đã viết:

“Chiều rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.”



Việt Nam Cộng hòa là một thực thể chính trị, một chủ thể trong quan hệ quốc tế được quốc tế công nhận
Ông Trần Công Trục

Dù giải thích thế nào đi nữa, Công hàm 1958 vẫn đã thừa nhận chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông bao gồm luôn quần đảo Hoàng sa và Trường sa của Việt Nam, và cho Trung Quốc lý cớ để cột công hàm này vào nền tảng biện minh cho chủ trương xâm lược của họ hiện nay.

Nói cách khác, cái “thòng lọng pháp lý của Bắc Kinh đang giăng sẵn” như mô tả của Tiến sĩ Trần Công Trục chỉ có thể có được từ chính sợi dây thừng mà Công hàm 1958 đã cung cấp.

Trong bài viết, Tiến sĩ Trần Công Trục cũng đã đề cập: “Việt Nam Cộng Hòa là một thực thể chính trị, một chủ thể trong quan hệ quốc tế được quốc tế công nhận. Vì vậy, Việt Nam Cộng Hòa là đại diện cho nhà nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam để quản lý và thực thi chủ quyền đối với hai quầnđảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.”

Tôi tán đồng cách nhìn này và vì thế Tuyên bố của Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 4-2-1974 là một văn kiện quan trọng để cho nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay khai dụng trong việc tranh luận với Trung Quốc về vấn để chủ quyền biển đảo.

Chính tư thế pháp lý của VNCH năm 1974 đã nói lên giá trị của Tuyên Bố 4-2-1974 và do đó, trực tiếp hủy giá trị của Công hàm 1958 trong “chiêu bài lập lờ đánh lận con đen cho tham vọng bành trướng” của Bắc Kinh.

Công hàm này chỉ mang tính ngoại giao trong bối cảnh của giai đoạn 1958 và càng không phải là một bản cam kết giữa hai quốc gia.

Tiến sĩ Trần Công Trục đã nhầm lẫn giữa một “diplomatic note” với một “bilateral agreement” khi viết rằng: “theo luật pháp quốc tế nếu như một chính thể đã chính thức công nhận một vấn đề thì không thể hủy bỏ đơn phương một cách đơn giản như vậy là xong. Tiền hậu bất nhất là điều tối kỵ khi đưa một vấn đề tranh chấp ra các cơ quan tài phán quốc tế”.

Hơn thế nữa, ngay cả một cam kết giữa hai quốc gia cũng chỉ được tôn trọng trong bối cảnh ngày nào nó còn bảo vệ được quyền lợi của cả hai quốc gia.

Ngày nào còn tránh né việc công khai xác định với Trung Quốc sự sai trái về pháp lý và vô hiệu lực của Công hàm Phạm Văn Đồng, thì ngày đó nhà quyền cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục bị lúng túng trong sự giải thích lòng vòng, vừa khó thuyết phục được công luận vừa cho Trung Quốc thấy thế yếu của Việt Nam.

Mặt trận pháp lý

Công hàm Phạm Văn Đồng khiến chính quyền cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục bị lúng túng trong sự giải thích lòng vòng

Trong nhiều thập niên vừa qua, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã chọn phương thức “ngoại giao” để giải quyết các tranh chấp biển đảo đối với Trung Quốc. Đến nay thì phương án này không những không hiệu quả mà còn gây nguy hiểm cho Việt Nam khi thời gian kéo dài chỉ càng củng cố và có lợi cho các ý đồ bành trướng tiếp của Trung Quốc.

Khi Trung Quốc ỷ thế lớn và tìm cách gây chia rẽ nội bộ các nước trong khối ASEAN thì việc ASEAN có thông qua Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) với Trung Quốc hay không cũng sẽ chỉ mang giá trị hình thức.

Đã đến lúc Việt Nam cần mạnh dạn tiến hành phương án đấu tranh pháp lý, tức kiện Trung Quốc ra tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc như Philippines đã làm vì có khá nhiều điểm tương đồng.

Mặc dù Philippines không kiện Trung Quốc về chủ quyền biển đảo, mà kiện Trung Quốc “áp dụng và giải thích sai Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS)” như Tiến sĩ Trần Công Trục phân tích, thì đó ít ra cũng là điểm khởi đầu cần thiết trong việc dùng công pháp quốc tế buộc Trung Quốc phải “nói chuyện”, chứ không thể để họ cố tình tránh né, phớt lờ như hiện nay.

Đương nhiên tiến hành một vụ kiện cần phải nghiên cứu thật kỹ, nhưng không vì thế mà chần chừ quá lâu và nuôi hy vọng quá nhiều vào việc ASEAN và Trung Quốc sẽ tiến hành tham vấn về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) như Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh tuyên bố hôm đầu năm 2014.

Sức mạnh toàn dân

Vận dụng bằng ngoại giao hay pháp lý để lấy lại chủ quyền biển đảo đã bị xâm chiếm là những phương thức cần thiết nhưng chắc chắn là chưa đủ và khiếm diện.



Trách nhiệm giành lại chủ quyền không thể ủy thác vào chính quyền hay bất cứ một tập thể nào mà phải dựa trên nền tảng toàn dân

So với nhiều quốc gia trong khu vực, Việt Nam có ít nhất 138 chiến sĩ từ hai thể chế chính trị khác nhau đã hy sinh trong cuộc chiến chống Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa năm 1988.

Nếu coi nỗ lực bảo vệ và lấy lại chủ quyền các phần lãnh thổ, lãnh hải của cha ông là mục tiêu tối hậu, Việt Nam cần vượt lên trên mọi khuynh hướng chính trị, mọi nhu cầu ngắn hạn của những chính phủ đang cầm quyền.

Nhưng để thực hiện được ước muốn tối thượng đó thì phải có nền tảng tối thiểu.

Nền tảng đó chính là sức mạnh của Toàn dân.

Lịch sử Việt đã chứng minh quá nhiều lần rằng không có cách nào khác.

Vì vậy, nếu thực tâm muốn bảo vệ chủ quyền đất nước dựa trên nền tảng sức mạnh toàn dân, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam cần phải:

Thả ngay những người yêu nước đang bị giam giữ và tôn trọng quyền bày tỏ lòng yêu nước của người dân;

Thực hiện tinh thần Hội nghị Diên Hồng bằng cách chấm dứt ngay chính sách độc quyền yêu nước;

Dẹp bỏ thái độ thù nghịch đối với những tiếng nói xây dựng, ôn hòa vì quyền lợi của Tổ quốc.

Nói tóm lại, khi một phần lãnh thổ, hải đảo đã bị nước ngoài xâm chiếm, trách nhiệm giành lại chủ quyền không thể ủy thác vào chính quyền hay bất cứ một tập thể nào mà phải dựa trên nền tảng toàn dân.

Bài viết thê ̉hiện quan điểm riêng của ông Lý Thái Hùng, một lãnh đạo của đảng chính trị Việt Tân ở Hoa Kỳ.
Lý Thái Hùng
(BBC)

 

Tống Văn Công – Bản kiểm điểm không đúng yêu cầu

Gợi ý :Những nội dung cần kiểm điểm đối với đảng viên

1- Nội dung sai phạm:

Từ năm 2009 đến 01/2013 đảng viên Tống Văn Công đã có nhiều bài viết trên mạng internet, được các trang mạng xã hội tán phát, nội dung chủ yếu là phủ nhận quan điểm, đường lối của đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, phân tích có ý xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, ủng hộ và cổ xúy “đa nguyên chính trị, đa đảng, Nhà nước tam quyền phân lập, xã hội dân sự dân chủ, tự do báo chí theo phương Tây …”

– Sau khi phát hiện sai phạm, Chi bộ, đảng ủy và Tổ công tác của ban Thường vụ Quận ủy đã tổ chức trên 15 cuộc họp, tiếp xúc, giáo dục, đấu tranh, thuyết phục đảng viên Tống Văn Công, tranh thủ ý kiến của các đảng viên lớn tuổi quen biết để tác động, thuyết phục.Tuy nhiên, sau khi hứa, cam kết với cấp ủy các cấp, đảng viên Tống Văn Công vẫn tiếp tục có các bài viết nội dung trái với quan điểm đường lối của đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước hiện nay, cụ thể từ tháng 1/2013 đến tháng 1/2014, đảng viên Tống Văn Công tiếp tục viết bài “Kính gởi Hội nghị Trung ương 8: đất nước đòi hỏi phải đổi mới chính trị”, đăng trên mạng viet-studies ngày 30/9/2013, bài “Kìa cái tất yếu đang lừng lững đi tới”, đăng trên Diễn đàn xã hội dân sự 18/12/2013, đặc biệt tham gia cùng giáo sư Tương Lai, luật sư Lê đức Tiết viết một số bài có nội dung phản động trong tác phẩm Thực tiễn Thanh Văn và tầm nhìn đoàn kết do trung tâm Sena phát hành trái phép tháng 1/2014.

Như vậy những quan điểm sai trái nêu trên là biểu hiện rất rõ đảng viên Tống Văn Công đã suy thoái tư tưởng chính trị “tự diễn biến”, ”tự chuyển hóa” nói và làm trái với những điều cơ bản của đảng về quan điểm, đường lối và hoàn toàn mất niềm tin đối với đảng và chủ nghĩa xã hội, vi phạm nghiêm trọng điều 1, điều 2 Quy định số 47-QD/TW ngày 01/11/2011 của Bộ Chính trị về những điều đảng viên không được làm, không còn đủ tư cách đảng viên.

2-  Căn cứ để xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên Tống Văn Công

– Vi phạm điều lệ đảng tại điều 1, điều 2

– Vi phạm quy định 47-QD/TW, ngày 1 tháng 1 năm 2011 của Ban chấp hành trung ương về những điều đảng viên không được làm tại điều 1, điều 2.

– Căn cứ khoản 3, điều 6, quy định số 181-QD/TW ngày 30/3/2013 của Bộ Chính trị về xử lý đảng viên: những trường hợp vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2. Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

 a/ Cố ý nói, viết có nội dung xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc sự thật, phủ nhận vai trò lãnh đạo và thành quả cách mạng của đảng và nhân dân.

b/ Có quan điểm ủng hộ hay tán thành đa nguyên chính trị, đa đảng, công khai phê phán bác bỏ chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ chí Minh, nguyên tắc tập trung dân chủ của đảng.

c/ Xuyên tạc đường lối, chính sách của đảng, Nhà nước, bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo đảng, Nhà nước, truyền thống của dân tộc, của đảng và Nhà nước.

Ông Tống Văn Công

BẢN KIỂM ĐIỂM KHÔNG ĐẠT YÊU CẦU

Tống Văn Công

Ngày 14-2- 2014, tôi được Đảng ủy mời họp tại văn phòng đảng ủy phường Tân Kiểng, quận 7, TP HCM,  để nghe  chỉ đạo  tự kiểm điểm về những khuyết điểm của mình. Do  không được trao văn bản, tôi đã ghi chép mấy điểm chính: Từ năm 2009 đã viết hơn 30 bài trái quan điểm của Đảng, đưa lên mạng gây tác động xấu; Có 15 cuộc kiểm điểm góp ý mà không sửa chữa. Có những bài chống Trung Quốc,  gây chia rẽ  hai Đảng, hai nước xã hội chủ nghĩa; Xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh; Tự diễn biến hòa bình suy thoái chính trị: Cổ vũ tam quyền phân lập, đa nguyên, đa đảng, vi phạm 19 điều cấm đảng viên không được làm theo Quyết định 47- QĐ/TW của Bộ Chính trị. Đồng chí Công phải viết bản tự kiểm điểm và tự nhận một hình thức kỷ luật của Đảng.

VÌ SAO TÔI VIẾT BÀI “ĐỔI MỚI ĐẢNG TRÁNH NGUY CƠ SỤP ĐỔ” ?

Tháng 9 năm 2009 tôi viết bài trên với mở đầu bằng câu “Tổ quốc Việt Nam đang đứng trước hai hiểm họa: giặc ngoại xâm và giặc nội xâm”.

Từ 2005, Trung Quốc bắt đầu bắn giết đuổi bắt ngư dân đòi tiền chuộc. Ngày 9-1-2005, chúng bắn chết 9 ngư dân Hoằng Hóa, Thanh Hóa, bắn bị thương 9 người, bắt sống 9 người đòi tiền chuộc mỗi người hơn 100 triệu đồng. Các hãng tin nước ngoài đưa tin, ta im lặng. Sau 4 ngày, người phát ngôn Trung Quốc Khổng Tuyền tuyên bố “Qua 55 năm quan hệ ngoại giao hai nước đã bước qua giai đoạn phát triển mới vô cùng tốt đẹp”. Tiếp theo Bộ Quốc phòng cử đoàn cán bộ quân sự cao cấp sang Trung Quốc học tập chính trị. Nhưng không vì thế mà Trung quốc giảm bớt các hành động bắn giết, đuổi bắt ngư dân. Tháng 6 năm ngoái (2013), trong khi người dân bức xúc vì liên tiếp 2 tàu cá Quảng Ngãi, bị bắn chìm, một ngư dân chết thỉ báo chí đưa tin ngày 6-6-2013, Bộ Quốc phòng cử 22 cán bộ cao cấp sang Trung Quốc học chính trị, đây là đợt thứ 6.

Năm 2009 còn có chuyện mở đầu thực hiện với Trung Quốc khai thác bô xit Tây Nguyên. Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi liên tiếp 3 thư yêu cầu ngưng dự án này với 2 lý do: Tây nguyên là địa bàn an ninh quốc phòng, không nên đưa nước ngoài khai thác; Hai là không có hiệu quả kinh tế. Các nhà khoa học tổ chức nhiều cuộc hội thảo và kiến nghị giống như Đại tướng, có nêu thêm cảnh báo sẽ có hàng vạn tấn bùn đỏ trên cao hơn 1000 mét có thể đổ ụp xuống làm miền Đông và Sài Gòn chết khát. Nhưng Đảng, Nhà nước ta vẫn kiên trì thực hiện thông cáo chung đã được TBT Nông Đức Mạnh cam kết với Đảng bạn. Năm 2013, nhà máy Tân Rai đã cho ra sản phẩm. Trung Quốc mua dưới giá thành. Tính ra mỗi năm lỗ khoảng 100 triệu đô la. Những vị có trách nhiệm xin miễn giảm thuế và cam kết từ năm 2020 sẽ lãi to!

Về hiểm họa nội xâm: Tham nhũng tỏ ra bất trị, cứ tăng nhanh từng năm, tháng. Tại Hội nghị Trung ương 3, năm 2006, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh phát biểu “Tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ”. Là một đảng viên sao có thể vô cảm trước “sự sống còn” ghê gớm ấy? Tuy nhiên dù rất nhiều cảnh báo góp ý, 6 năm sau, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài diễn văn khai mạc Hội nghị Trung ương 4 sáng ngày 26 tháng 12 năm 2011 có đoạn như sau: “Đặc biệt có một câu hỏi lớn rất day dứt, trăn trở lâu nay, cần được trả lời cặn kẽ là: Vì sao công tác xây dựng Đảng được Trung ương rất coi trọng, đã có nhiều nghị quyết chỉ thị rất đúng, rất hay, nhiều cuộc vận động sâu rộng, nhưng kết quả vẫn chưa đạt yêu cầu? Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng, lãng phí, hư hỏng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, kể cả ở cấp cao, chưa được đẩy lùi mà thậm chí ngày càng có chiều hướng nghiêm trọng hơn, làm xói mòn lòng tin đối với Đảng? Vướng mắc chính là chỗ nào?”

Như vậy là dù 30 năm với rất nhiều nghị quyết, chỉ thị, tham nhũng vẫn không lùi nhưng Tổng bí thư vẫn cho rằng Nghị quyết, chỉ thị rất đúng!

Sau một năm thi hành Nghị quyết Trung ương 4, Tổ chức Minh Bạch thế giới xếp hạng Việt Nam tụt 11 bậc về kết quả chống tham nhũng. Nhân loại tiến bộ đã rút ra bài học thực tế rất ngắn gọn về tham nhũng như sau: Tham nhũng là do Nhà cầm quyền độc tài, quyền quyết định của viên chức quá rộng, thiếu công khai minh bạch và quyền tư pháp không độc lập, do đó không kiểm soát được quyền lực.

Lẽ ra những người lãnh đạo của Đảng cầm quyền sau hàng chục năm với nhiều nghị quyết vẫn không chống được tham nhũng thì phải hiểu rằng các nghị quyết ấy sai, hoặc chưa đầy đủ, phải học cách làm của những quốc gia chống tham nhũng thành công đặt ra cho mình những câu hỏỉ từ bài học của nhân loại.

Quan liêu, độc quyền đẻ ra tham nhũng, làm suy thoái Đảng cầm quyền, gây ra khủng hoảng chính trị. Lịch sử 84 năm của Đảng cộng sản Việt Nam chưa bao giờ có chuyện Tổng bí thư thay mặt Bộ chính trị đề cử 2 người vào Bộ Chính trị mà bị bác bỏ cả hai và bầu 2 người khác. Chưa bao giờ có tình trạng các nhà lãnh đạo công kích nhau trước nhân dân. Chưa bao giờ trong một cuộc họp báo công khai mà ông nói gà, bà nói vịt. (Họp báo đầu năm ngày 7-2, Đinh Thế Huynh nói, báo chí thông tin, bình luận phải có lương tâm và trách nhiệm tạo ra sự đồng thuận, không được phép nói trái làm phân tâm các véc tơ phát triển. Sau đó, phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nói: “Tạo đồng thuận không phải là khen xuôi chiều mà phải phát hiện phê phán với tinh thần xây dựng”). Chưa bao giờ có tình trạng nhiều đảng viên tuyên bố bỏ Đảng như bây giờ!

Từ khủng hoảng chính trị đã gây ra khủng hoảng toàn diện cho đất nước. Chỉ xin nêu sơ lược vài nét:

+   Nền kinh tế được hi vọng sẽ sớm xuất hiện “con rồng Việt Nam” đã lâm vào khủng hoảng 2 năm trước khủng hoảng của thế giới, đến nay theo Viện trưởng quản lý kinh tế Trần Đình Thiên, “kinh tế thế giới đã bước vào quỹ đạo phục hồi, nhưng Việt Nam thì còn ở dưới đáy, bởi nợ xấu, sở hữu chéo, đề án tái cơ cấu tiếp tục nằm trên giấy. “ (Tại Hội thảo mùa Thu ở Huế)

+  Nông dân kéo đi khiếu kiện vượt cấp hàng chục năm, tới lúc dùng súng chống cưỡng chế. Nguyên chủ tịch tỉnh lúa An Giang Nguyễn Minh Nhị nói: “Bao nhiêu năm theo Đảng giành độc lập, có độc lập rồi thì mất quyền sở hữu ruộng đất, dắt díu nhau lên các khu công nghiệp tìm sống với đồng lương bèo bọt” (báo Nông nghiệp Việt Nam Têt Tân Mão).

+  Giai cấp công nhân được mệnh danh là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua Đảng của mình. Nhưng họ đang trong tình trạng cùng khổ chưa từng có. Giống như giai cấp công nhân ở thế kỷ 19 mà Marx – Engels đã mô tả, nhưng còn khổ hơn vì không được phép đình công. Theo Tổng Liên đoàn Lao động lương tối thiểu của họ chỉ đủ cho 60% mức sống tối thiểu, có 94% phải tăng ca, tăng giờ. Họ đã tự tổ chức hơn 5000 cuộc đình công bị coi là bất hợp pháp vì không được công đoàn lãnh đạo! Trước đây công nhân còn cử ban đại diện ra đối thoại với chủ, nhưng từ 2013 không còn ai dám đứng ra làm đại diện nữa, vì sau khi tình hình ổn định thì người đại diện bị chủ sa thải, hoặc bị bắt về tội kích động đình công.

+ Năm 2013 Công ty tư vấn tài sản WealthX và Ngân hàng Thụy Sĩ UBS thông báo: “Mặc cho kinh tế khó khăn, số người “siêu giàu” ở Việt Nam (có tài sản 30 triệu USD) đã tăng 15%, trong khi đó có 8,1 triệu người nghèo đói”. Có thể nêu tên 2 người nghèo phải tìm cái chết đã được đăng báo là: Chị Lê thị Ngọc Nhãn ở Cà Mau trước khi tự tử đã gửi thư cho Trung tá Diện “Sau khi cháu chết rồi xin chú giúp các con của cháu được vào trại mồ côi. Cháu đội ơn chú đời đời”. Chị Nguyễn thị Mỹ Nhân cũng ở Cà Mau tự tử để được công nhận diện nghèo, đã gửi thư cho Đảng ủy xã: “Xin thấu hiểu hoàn cảnh không lối ra của gia đình tôi, sau khi tôi chết, đồng ý cấp sổ nghèo cho chồng con tôi được sống.”

+ Đạo đức xã hội băng hoại chưa từng thấy. Một dân tộc sống theo phương châm “thương người như thể thương thân”, những năm kháng chiến nhà nhà đêm không gài cửa, ra ngõ gặp anh hùng. Sau 38 năm sống trong chế độ xã hội chủ nghĩa sao biến đổi ghê gớm như vậy? Con đánh giết cha mẹ, cháu đánh giết ông bà, vợ đốt chồng. Thanh niên ném đá lên ô tô tàu hỏa làm vui. Thợ vá xe rắc đinh bẫy người đi mô tô. Đi lao động nước ngoài thì trộm cắp và bỏ trốn để sống bất hợp pháp. Các báo mới đưa tin thày trò đánh nhau giữa lớp. Chuyện thầy gạ tình cho điểm, ép mua dâm học trò vị thành niên liên tục xảy ra. Điều tra của Trung tâm xã hội học cho hay: Học sinh cấp 1 có tỉ lệ nói dối 22%, cấp 2 tăng lên 50%, cấp 3 64%, đại học 80 %. Chúng ta sắp có lớp trí thức mới nói dối nhất thế giới. Nguyên Bộ trưởng giáo dục Nguyễn Thị Bình nói “Giáo dục Việt Nam kém hơn cả Campuchia, Lào” (Trên báo Giáo Dục).

Cũng chính vì không chịu đổi mới chính trị, khư khư ý thức hệ giáo điều mà không có một sách lược đối ngoại đúng đắn nhất là đối với Trung Quốc, bị họ lòe bịp “16 chữ vàng” và “4 tốt”. Trung Quốc chưa bao giờ là nước xã hội chủ nghĩa, và ngày càng tỏ ra là một nước phát xít. Sau giải phóng họ bắt đầu thôn tính Tây Tạng, Tân Cương, đàn áp, không ghê tay, sau đó tấn công biên giới Ấn Độ, Liên Xô… Họ dùng 2 thủ đoạn xảo trá để buộc chúng ta khuất phục: Một là kể công ơn đã giúp ta; Hai là đề cao cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, phải cùng “chống âm mưu diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch phương Tây. Họ khuyên ta cử cán bộ sang nghe họ giảng dạy về bảo đảm an ninh chính trị, chống âm mưu diễn biến hòa bình và ta đã làm theo.

Nên biết, ngày xưa họ giúp ta chỉ vì sách lược dùng máu Việt Nam để mặc cả với Mỹ và phương Tây và để có điều kiện thao túng ta. Năm 1954, họ ép ta nhận sự chia đôi đất nước. Năm 1972 họ bắt tay Nixon bán đứng ta, để chiếm trọn Hoàng Sa. Năm 1975 họ nhờ tướng Pháp Vanuxem khuyên Dương Văn Minh lên tiếng cầu cứu, Bắc Kinh sẽ cứu Việt Nam Cộng hòa, bị tướng Minh từ chối. Năm 1979, họ xui Pôn Pốt đánh ta, rồi cho rằng ta bị kẹt ở Campuchia, họ đưa 600.000 quân xâm lược 6 tỉnh biên giới phía Bắc, giết hàng vạn dân thường, đập phá từng cái nồi, hãm hiếp, giết chết đàn bà con trẻ ném xuống giếng. Bị thua đau, họ rút quân, nhưng vẫn chiếm giữ nhiều vùng núi hiểm trở. Năm 1988 họ tấn công đảo Gạc Ma và các đảo ở Trường Sa, xả súng giết 74 hải quân ta. Mỗi dịp kỷ niệm ngày hải quân họ đưa phim này ra chiếu. Hiện nay họ vẫn tuyên bố toàn bộ Trường Sa và 80% Biển Đông là của họ, việc đánh chiếm chỉ là chờ thời cơ.

Nhiều đảng viên cộng sản dẫn đầu biểu tình phản đối tội ác của chúng đã bị đuổi bắt. Nhà văn Nguyên Ngọc đi biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn đã bị Đài truyền hình Hà Nội gọi là bọn phản động, ông kiện, tòa trả lại hồ sơ không xử. Tôi và đồng chí giáo sư Tương Lai trên đường đi dự cuộc mít tinh phản đối Trung Quốc xâm lược tại Nhà hát Thành phố (ngày hôm trước đã báo với ông Lê Minh Trí Phó chủ tịch UBND TP HCM) đã bị hơn chục xe cảnh sát bao vây buộc phải vào đồn.

Quá bức xúc trước tình trạng khốn khổ của ngư dân, anh André Menras tên Việt Nam là Hồ Cương Quyết, người từng treo cờ Mặt trận giải phóng trước Nghị viện Sài Gòn, bị Chính quyền Sài Gòn bỏ tù, đã xin Chủ tịch Nguyễn Minh Triết cho phép làm bộ phim “Hoàng Sa- Việt Nam, nỗi đau mất mát”. Anh bỏ tiền dành dụm nghỉ hưu đem làm phim. Phim làm xong được duyệt, nhưng cho tới nay vẫn cấm chiếu. Một lần họp mặt với bạn tù thời chống Mỹ ông đem phim ra chiếu đã bị cảnh sát giải tán. Hồ Cương Quyết búc xúc kêu ”Bác Hồ ơi, Bác sống lại mà coi!”

Nhân đây tôi muốn nhắc lại trong cuộc kiểm điểm tôi về bài viết ”Đổi mới Đảng tránh nguy cơ sụp đổ”, có chi ủy viên đã nói ”Hoàng Sa, Trường Sa là bãi hoang chim ỉa. Ta nói của ta. Trung Quốc nói của Trung Quốc. Đồng chí Công nói vậy là gây chia rẻ hai Đảng và hai nước xã hội chủ nghĩa anh em”. Lãnh đạo các cấp ủy không ai có ý kiến gì. Tôi không chê trách các đồng chí mà chỉ băn khoăn lo lắng, vì sao Đảng lãnh đạo không quan tâm giáo dục cho đảng viên và nhân dân hiểu lời của đức Trần Nhân Tông “Các ngươi phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay giặc”. Tháng trước, Thủ tướng chỉ đạo phải đưa Hoàng Sa, Trường Sa vào sách giáo khoa, báo vừa đăng lên đã bị gở xuống. Quan hệ với Trung Quốc gây thiệt hại về phía Việt Nam chưa thể lường hết. Qua 20 năm, FDI từ Trung Quốc chỉ chiếm 1,5% nhưng Trung Quốc lại trúng thầu hơn 90% các công trình điện, khai khoáng, luyện kim, hóa chất. Họ đưa cho ta thiết bị lỗi thời. Mấy năm qua ngành mía đường cứ kêu bị đường nhập lậu đánh bại là do thiết bị Trung Quốc cũ kĩ, tiêu hao năng lượng, lao động nhiều, giá thành cao, chất lượng kém. Sau đường là xi măng và nhiều thứ khác. Các công trình trúng thầu, họ đưa lao động cơ bắp người Trung Quốc sang xây nhà ở, lập nhà hàng, lấy vợ sinh con, mua đất đứng tên vợ. Các làng Trung Quốc hình thành khắp nơi từ Mông Cái, đến Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Khánh Hòa…. Thương lái Trung Quốc gây khó từ Lạng Sơn tới tận Cà Mau, họ hợp đồng mua rể hồi, móng trâu, khoai lang, đỉa, ốc bưu vàng, lá vải… ít lâu thì họ biến mất.

Chúng ta đã lập quan hệ hữu nghị hợp tác với những “kẻ thù cũ” Pháp, Mỹ, đặc biệt đã đưa Tổng thống Pháp Mitterand đi thăm chiến trường xưa Điện Biên Phủ nơi họ bị bắt sống 17.000 quân nhục nhã. Suốt hơn nửa thế kỷ chúng ta vẫn long trọng tổ chức những ngày kỷ niệm chiến thắng. Thậm chí hàng ngày báo chí, đài tuyền hình phát thanh còn ra rả chửi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ. Nhưng không vì thế mà họ gây khó khăn cho ta, thậm chí họ vẫn viện trợ, tạo điều kiện cho ta phát triển. Cuộc chiến chống xâm lược biên giới phía Bắc từng được báo Nhân Dân bình luận với tựa đề “Chiến công hiển hách ghi vào lịch sử chống xâm lược của dân tộc”, thế nhưng sau khi lập lại quan hệ bình thường với Trung Quốc thì dường như bị buộc phải quên chiến công hiển hách ấy đi? Tại sao với Trung Quốc chúng ta không dám đòi bình đẳng như các quốc gia khác? Rất tệ hại là chủ trương đục bỏ bia chiến thắng ở Cầu Chánh Khê, bôi xóa tên liệt sĩ Hoàng thị Hồng Chiêm trên tượng đài của chị và đổi tên trường trung học mang tên chị thành trường Bình Ngọc (thuộc Mông Cái). Ở tận núi Quyết, thành phố Vinh Nghệ An, người ta còn đập bỏ tấm bia của Chủ tịch Hồ Chí Minh ca ngợi Quang Trung vì có hai chữ “giặc tầu”. Bài thơ như sau:

“Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,

“Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu.

“Ông đà chí cả, mưu cao,

“ Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.

“Cho nên Tàu dẫu làm hung,

“Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà”.

Cách xử lý như trên cùng với việc cho cảnh sát đuổi bắt, ném lên xe những đảng viên và nhân dân đi biểu tình mỗi lần Trung Quốc gây hấn vô lý, có phải là sách lược sáng suốt hay không?  Một Đảng trong sạch không tham nhũng, tôn trọng và hết lòng phục vụ nhân dân, đồng thời không khuất phục trước kẻ thù hung bạo là hai điều kiện quyết định để có thể đứng vững và tồn tại.

Tổng bí thư Lê Duẩn trong bài nói sau ngày chiến thắng biên giới phía Bắc năm 1979 có đại ý: Trung Quốc từ lâu có âm mưu bành trướng xuống phía Nam. Khi chúng có điều kiện thực hiện thì đầu tiên sẽ là xâm lược Việt Nam. Muốn không bị xâm lược chúng ta phải mạnh lên, cả nước đoàn kết một lòng. Chúng ta không thù hằn Trung Quốc, coi nhân dân Trung Quốc là anh em. Bọn phản động cầm quyền chỉ là một bè lũ. Ý kiến của ông vẫn còn nguyên giá trị thời sự!

Nguyên nhân của mọi nguyên nhân gây khủng hoảng và hèn yếu trước ngoại bang là do Đảng không đổi mới chính trị tương ứng với đổi mới kinh tế. Thế nào là đổi mới chính trị? Nội dung chủ yếu đã có trong hai câu mở đầu Tuyên ngôn độc lập năm 1945 trích từ Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và Tuyên ngôn nhân quyền 1791 của Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Hơn 60 năm qua Liên Hiệp Quốc đã lần lượt ban hành nhiều Tuyên ngôn, Công ước cụ thể hóa các quyền tự do của con người. Nhà nước Việt Nam cũng đã ký cam kêt thực hiện nhiều công ước quan trọng.

Các quyền tự do gồm có: Quyền sở hữu tài sản riêng, quyền tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo, tự do ngôn luận, báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do đi lại và cư trú, quyền tham gia quản lý đất nước trực tiếp, hoặc thông qua lựa chọn người đại diện bằng cuộc tự do bầu cử thường kỳ, chân thực, bình đẳng, phổ thông đầu phiếu và bỏ phiếu kín. Các quyền tự do nói trên đều được ghi vào Hiến pháp, nhưng suốt 70 năm chưa được thực hiện hoặc thực hiện một cách hình thức. Cho nên nhân dân có câu “Đảng cử dân bầu”. Quyền lập hội chỉ là vào các hội, đoàn do Đảng lập ra. Quyền tự do báo chí là viết báo của Đảng, nhà nước. Hồ Chủ tịch từng nói, báo nhà nước lập ra không phải là báo chí tự do (sách Hồ Chủ tịch với báo chí, do Hội nhà báo TP HCM xuất bản 1980, trang 9). Đó là trái với các Công ước mà nhà nước ta đã ký kết.

Để các quyền tự do của con người trở thành hiện thực thì phải có một chế độ dân chủ để thực thi. Dân chủ là thể chế hóa các quyền tự do của con người bằng một bản hiến pháp đảm bảo pháp quyền, thể hiện trung thực ý chí chính trị của nhân dân.Theo bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền đã nói ở trên, điêù 16 có nội dung như sau: ”Một xã hội mà trong đó các quyền con người không được đảm bảo, nguyên tắc tam quyền phân lập không được tôn trọng, thì hiến pháp có được ban hành hay không cũng chẳng có ý nghĩa gì”. Tức là phải có nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập thì mới có thể đảm bảo quyền tự do của con người. ( Nga và các nước Đông Âu ngày nay đều ghi “tam quyền phân lập” trong hiến pháp của họ). Thông điệp đầu năm 2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói: “Dân chủ và nhà nước pháp quyền là cặp song sinh trong thể chế chính trị hiện đại” là có ý nghĩa như vậy. Nhà nước dân chủ phải là nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập. Nhà nước dân chủ phải tôn trọng đời sống của một xã hội dân sự, nội dung phong phú của nó đã được ghi đầy đủ trong “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị” mà nhà nước Việt Nam đã ký cam kết thực hiện từ ngày 24 -9-1982, nhưng sau 30 năm hầu như chưa thực hiện được gì đáng kể!

TẠI SAO TỰ DIỄN BIẾN ?

Cuộc sống luôn luôn biến động. Cái hôm qua cho là đúng hôm nay không còn thích hợp. Cho nên chống “tự diễn biến”, chống “diễn biến hòa bình” tức là chống lại sự thay đổi, chống tinh thần sáng tạo tìm những điều thích hợp trong hoàn cảnh mới, chống trào lưu tiến bộ, cố ôm giữ mớ giáo điều mà ngay những nhà mác xít trước đây cũng không chấp nhận. Phép biện chứng cho rằng, mọi sự vật đều tiệm tiến dần dần đi tới đột biến. Tôi xin ôn lại về sự “tự diễn biến” của chính hai ông tổ khai sáng chủ nghĩa cộng sản là Karl Marx và F. Engels.

Năm 1848 Marx và Engels công bố Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, cơ sở lý luận của Quốc tế cộng sản thứ nhất. Trong đó có những luận điểm về đấu tranh giai cấp, cho rằng giai cấp tư sản tạo ra những người đào huyệt chôn chính nó, cách mạng vô sản sẽ lật đổ nhà nước tư sản, thực hiện chuyên chính vô sản, xóa bỏ tư hữu, xóa bỏ thị trường, xóa bỏ cả tôn giáo… Từ thập niên 60 thế kỷ 19 hai ông bắt đầu thấy có sự biến đổi trong chủ nghĩa tư bản và chủ trương đấu tranh hợp pháp, không làm cách mạng để lật đổ nhà nước tư bản. Sau khủng hoảng kinh tế năm 1866, Các công ty cổ phần và các ngân hàng đầu tư quy mô lớn ra đời làm thay đổi cơ cấu xã hội của chủ nghĩa tư bản. Marx nhận xét, vậy là nhà tư bản “đã từ bỏ sản nghiệp tư hữu của chủ nghĩa tư bản họ chỉ còn là chủ cổ phần của xí nghiệp”. Do đó, phát biểu với quần chúng ngày 8-9-1872 ở Amsterdam (Hà Lan) Marx công nhận các nước như Mỹ, Anh, Hà Lan… công nhân có thể đạt được mục đích của mình bằng biện pháp hòa bình.. Hai ông tán thành quan điểm của Ferdinand Lassalle lãnh tụ Đảng Xã hội – Dân chủ Đức chủ trương hòa bình đi lên chủ nghĩa xã hội. Sau khi tan rã quốc tế thứ nhất năm 1876, hai ông không tìm cách khôi phục lại mà bắt đầu soạn thảo Cương lĩnh chuẩn bị ra đời Quốc tế thứ 2. Năm 1883 Marx qua đời, do đó Engels là người chủ trì Đại hội quốc tế của những người lao động xã hội chủ nghĩa tại Pari từ 14 đến 21 tháng 7 năm 1889 thành lập Quốc tế thứ 2 mà nội dung của nó hoàn toàn khác với Tuyên ngôn cộng sản năm 1948 ở những điểm lớn sau đây:

–  Đảng và công đoàn đấu tranh bênh vực,bảo vệ quyền lợi mọi mặt của công nhân lao động.

–  Không dùng bạo lực cách mạng lật đổ nhà nước tư sản mà đấu tranh nghị trường đa nguyên đa đảng, chấp nhận thể chế đại nghị, cử đại diện tham gia bầu cử, nếu thắng cử thì nắm quyền chính trị thực hiện chế độ xã hội – dân chủ.

– Trong Đảng không lấy lập trường, quan điểm ý thức hệ sát phạt nhau mà tự do tư tưởng, và tất cả thượng tôn pháp luật.

Ngày 6-3-1895, Engels viết lời tựa cho quyển sách “Đấu tranh giai cấp ở Pháp”, trong đó có đoạn như sau: “Lịch sử chứng tỏ chúng ta mắc sai lầm. Quan điểm của chúng ta hồi đó chỉ là một ảo tưởng. Lịch sử còn làm được nhiều hơn, không những xóa bỏ những mê muội của chúng ta mà còn thay đổi điều kiện đấu tranh của giai cấp vô sản. Phương pháp đấu tranh năm 1848 đã lỗi thời về mọi mặt”.

Lê nin không chấp nhận đường lối của Quốc tế thứ 2. Do đó không thể xem ông là người kế tục Marx và Engels. Ông kế thừa chủ nghĩa Blanqui, phái bạo lực trong Quốc tế thứ 1, cho rằng, chỉ cần dựa vào cách mạng bạo lực là có thể sáng tạo được một thế giới mới không có bóc lột và áp bức.

Do Lê nin chống Quốc tế 2, Đảng Xã hội Dân chủ Nga chia ra thành 2 phái đối lập nhau, phái theo Lê nin chiếm đa số nên gọi là bonsevich. Trái với dự đoán của Marx – Engels là cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ thành công ở nước tư bản phát triển nhất như Đức, Lê nin lãnh đạo Cách mạng tháng mười thành công ở nước Nga nông nghiệp lạc hậu. Điều này đã làm cho ông tự tin rằng mình không kém Marx, mà còn đúng hơn Marx! Ông đề ra các nguyên lý về chuyên chính vô sản không phải là chuyên chính của cả giai cấp mà là chuyên chính của Đảng độc quyền, không còn bảo đảm “sự tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người” (Tuyên ngôn của Đảng cộng sản), ông đề ra nguyên tắc tập trung dân chủ, …

Ngay sau cách mạng Tháng 10 thắng lợi đã có nhiều nhà cách mạng Nga và thế giới không đồng ý với các quan điểm của Lê nin như Plekhanov, Kausky, Rosa Luxemburg … Trong đó, bà Luxemburg được Franz Mehring người viết tiểu sử của Marx cho là “khối óc tốt nhất đứng sau Marx”, bà nhân định “chuyên chính vô sản của Lê nin đối lập với dân chủ”.

Các ý kiến phản đối cho rằng Lê nin sẽ làm chế độ cách mạng Liên Xô đi tới chỗ sụp đổ đã được nhà nghiên cứu xã hội John Reed ghi lại trong quyển “Mười ngày rung chuyển thế giới” (Việt Nam đã dịch và xuất bản 2 lần năm 1960 và 1977). Lê nin đọc sách này một cách hứng thú, ông đã viết thư cỗ vũ nhà xuất bản in sách, chấp nhận công khai các lời chỉ trích nói trên đối với ông. Do đó, sau khi Liên Xô sụp đổ nhiều nhà bình luận cho rằng chính Lê nin mới là người gieo mầm cho Liên Xô bị tan rả 70 năm sau.

Ngày nay nhiều nhà nghiên cứu có uy tín đều cho rằng chính các Đảng xã hội – dân chủ mới là những Đảng thừa kế đúng đắn tư tưởng của Marx và Engel. Nhiều nước Bắc Âu vận dụng tư tưởng này đã giành thắng lợi lớn, thực hiện đa nguyên, đa đảng, nhưng luôn giành thắng lợi trên nghị trường, xây dựng nhà nước phúc lợi, nâng cao đời sống nhân dân, đặc biệt là công nhân lao động, khoảng cách giàu nghèo không đáng kể, tham nhũng hầu như không có.

Đảng xã hội – dân chủ Thụy Điển, chấp nhận đa nguyên, dựa vào người lao động, đấu tranh nghị trường;. Có thời gian rất dài Đảng liên tục cầm quyền 44 năm, đưa nước Thụy Điển nghèo nàn, lạc hậu trở thành nước giàu bật nhất, khoảng cách giàu nghèo không đáng kể, hầu như không có tham nhũng, ổn định nhất thế giới. Năm 2013 Cộng hòa Liên Bang Đức nước giàu mạnh nhất Châu Âu kỷ niệm 150 năm Đảng dân chủ – xã hội Đức, một Đảng theo đường lối của Quốc tế 2 lâu đời và vững mạnh vào bậc nhất. Nhân dịp này Tổng thống Joachim Gauck có bài diễn văn ca ngợi Đảng có lịch sử lâu dài dám xả thân vì niềm tin của mình: “Đó là bầu cử tự do, bình đẳng trong cả nước, bất chấp sự khác biệt xã hội của những người tham gia bầu cử, là cấm lao động trẻ em, là các tòa án phải độc lập”. Quan điểm đúng đắn đã thắng thế trong Đảng, đó là: Không thiết lập một đặc quyền giai cấp mới nào”, “dân chủ phải vừa là phương tiện vừa là mục tiêu”, “đấu tranh cho cải cách chứ không phải cho việc làm cách mạng”, ” can đảm phấn đấu cho sự hợp tác chính trị với những lực lượng to lớn khác của các đảng phái tư sản”; “cải thiện từng bước cụ thể đời sống con người, thay vì công bố những mục tiêu xa vời không tưởng”. Do đó, Đảng kế thừa tư tưởng của Marx, Engels, Lassalle vững mạnh suốt 150 năm làm choTây Đức có thu nhập cao gấp 4 lần Đông Đức xã hội chủ nghĩa theo chuyên chính vô sản của Lê nin khi thống nhất!

Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam cũng tỏ rõ một quá trình tự diễn biến rất gian nan, có lúc nhanh, lúc chậm, có lúc đúng, lúc sai và nhiều lần sai rất nghiêm trọng và kéo dài.  Khoảng 1930- 1931 khẩu hiệu vang dội của Đảng là “Trí, Phú, Địa, Hào, đào tận gốc trốc tận rể”. Năm 1945 đảo ngược lại hoàn toàn: Đoàn kết mọi người yêu nước, không phân biệt, đảng phái, giai cấp… Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết! Khoảng năm 1950 bắt đầu nói “Đoàn kết công, nông, binh”. Còn hiện nay thì nói “ Liên minh công nhân, nông dân, trí thức là nền tảng”.

Sau năm 1975, Đại hội 4, Đại hội 5 đều đặt nhiệm vụ lớn nhất là “Thiết lập hệ thống chuyên chính vô sản trong cả nước” và “Nắm vững chuyên chính vô sản là nắm vững đường lối của Đảng”. Nội dung của nó là tiếp tục đấu tranh giai cấp, tiêu diệt mầm móng bóc lột, giải quyết triệt để “vấn đề ai thắng ai”. Ngày nay hầu như những chữ “chuyên chính vô sản” và “ai thắng ai” đã biến mất mà Nghị quyết bắt đầu nói “ con người là trung tâm”, và “phải thực hiện quyền con người”. Nghị quyết Đại hội 4 và 5 đều có chủ trương lớn là cải tạo xã hội chủ nghĩa về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp. Về công nghiệp không để một xí nghiệp tư nhân nào. Nông dân phải vào hợp tác xã. Cửa hàng tạp hóa của tiểu thương cũng không còn. Nghị quyết Đại hội 4 ghi “Sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa chỉ có thể thành công thông qua xây dựng có ý thức, có kế hoạch. Vì vậy kế hoạch là công cụ chính để quản lý và điều khiển quá trình từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.” Hiện nay, nghị quyết bảo phải vận dụng đầy đủ quy luật thị trường. Đại hội 4 và Đại hội 5 đều quyết định “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Năm 1976, Tổng bí thư Lê Duẩn nói “thời kỳ quá độ kéo dài khoảng 20 năm”. Năm 2013, tại Quốc hội Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói, chưa biết đến hết thế kỷ này đã có chủ nghĩa xã hội hay chưa. Đại hội 6 nhận định nền kinh tế đạt kết quả không tương xứng với sức lao động và vốn đầu tư bỏ ra. Nguyên nhân là do “Mười năm qua đã phạm nhiều sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, về cải tạo xã hội chủ nghĩa và về quản lý kinh tế”. Đại hội 6 cho sai lầm là do “duy ý chí” không nhìn đúng sự thật và đưa ra khẩu hiệu “Nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Đại hội quyết định Đổi mới toàn diện, bắt đầu là đổi mới kinh tế. Đại hội 9 cho phép doanh nhân (tên mới của nhà tư sản) được thuê công nhân với số lượng không hạn chế. Đại hội 11 chủ trương kết nạp doanh nhân vào Đảng cộng sản, tức là nhà tư sản được đứng vào đội tham mưu của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng. (Điều này ông Nguyễn Đức Bình nguyên ủy viên Bộ chính trị, giám đốc Học viện Nguyễn Ái Quốc kiên trì cực lực phản đối vì cho rằng như vậy không còn gì là chủ nghĩa xã hội!).

Lược qua ở trên đã cho thấy Đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn tự diễn biến hòa bình. Nhờ đó mà Đảng thoát khỏi những tai ương cho mình và tai họa cho dân tộc như: cải cách ruộng đất, cải tạo xã hội chủ nghĩa, bỏ tù hàng loạt cán bộ cao cấp gọi là “ nhóm chống Đảng”. Diễn biến hòa bình lớn nhất là Đổi mới của Đại hội 6, quyết định bỏ một nửa, nhưng là một nửa quan trọng nhất lý thuyết xã hội chủ nghĩa của Lê nin, Stalin. Quan trọng nhất là nói theo Marx: cơ sở kinh tế quyết định đối với thượng tầng kiến trúc. Nhờ đó mà dư luận quốc tế hi vọng sẽ sớm xuất hiện “ Con rồng Việt Nam”. Nhưng sau gần 30 năm đã làm người ta thất vọng. Thành tích đổi mới kinh tế đã làm cho những người lãnh đạo chủ quan cho rằng có thể không cần đổi mới chính trị. Thực ra những người lãnh đạo sợ rằng đổi mới chính trị sẽ đe dọa sự tồn tại vị trí cầm quyền của Đảng. Những người sáng suốt nhất, dũng cảm nhất của Đảng như Trần Xuân Bách, Trần Độ, Nguyễn Hộ …đề nghị đổi mới chính trị đều bị sa thảỉ.

TẠI SAO TÁN THÀNH TAM QUYỀN PHÂN LẬP?

Chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa Lê nin đều không có nhà nước pháp quyền mà chỉ có nhà nước chuyên chính vô sản. Nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập là của nền dân chủ phương Tây. Nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp 1946 là nhà nước pháp quyền, tam quyền phân lập. Các Hiến pháp sau này khác Hiến pháp 1946 chính là ở đó. Sau Đổi mới, đến Đại Hội 7 TBT Đỗ Mười là người có sáng kiến đưa ra khái niệm “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, có định nghĩa như hiện nay.

Các nhà tuyên huấn của Đảng giải thích: Quyền lực nhà nước là thống nhất. Bởi vì quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nhân dân thì không thể chia cắt ( chuyên viên cao cấp của Ban tuyên giáo Trung ương giảng về Hiến pháp 2013 ở đảng bộ phường Tân Kiểng). Lý lẽ đó không chính xác. Nhà nước là công cụ của nhân dân. Nhân dân có quyền phân chia các quyền tư pháp, hành pháp, tư pháp như thế nào để có hiệu quả nhất cho phát triển và chống tham nhũng. Phân quyền của nhà nước pháp quyền, chứ đâu phải là phân chia nhân dân! Còn có lý lẽ thứ 2, “tam quyền phân lập” là của phương Tây của tư sản không thích hợp cho phương Đông và nước xã hội chủ nghĩa. Về điều này có thể lấy ý kiến của Tôn Trung Sơn nhà cách mạng vĩ đại mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần đề cao. Ông nói trong bài phát biểu năm 1927 trước quốc dân: “Dân chủ dân quyền thì phải học Phương Tây. Bởi vì Phương Đông và Trung Quốc suốt 4000 năm lịch sử chìm đắm trong quân quyền”. Việt Nam ta cũng theo “quân quyền” cho đến 1945.

Xin trích hai ý kiến cách nhau hơn 2000 năm về ‘tam quyền phân lập” mà cho đến nay vẫn được cả nhân loại truyền tụng làm theo.

Triết gia vĩ đại thời cổ đại, Aristote nói “Tôi nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng của Nhà nước ở nơi nào pháp luật không có hiệu lực và nằm dưới quyền của một ai đó. Còn nơi nào pháp luật đứng trên các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là nô lệ của pháp luật thì ở đó tôi thấy sự cứu thoát của nhà nước”.

Một triết gia Pháp vĩ đại của thế kỷ 19 là Montesquieu nói: “Khi mà quyền lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay một viện nguyên lão thì không còn gì là tự do nữa. Người ta sợ rằng chính ông ấy hoặc Viện ấy, chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài. Cũng không có tự do nếu như quyền tư pháp không tách rời quyền hành pháp và lập pháp. Nếu như quyền tư pháp được nhập với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do cuả công dân. Quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập với quyền hành pháp thì quan tòa có sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người hay một tổ chức nắm cả ba quyền thì tất cả đều mất hết”.

Ngày nay các nước dân chủ đều thực hiện nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập để: Xã hội được tự do khi nhà nước bị kiểm soát bởi luật pháp mà mục đích là để bảo vệ quyền con người. Xã hội được quản lý bởi một chính phủ của luật pháp. Thông điệp đầu năm 2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có câu “Người dân có quyền làm tất cả những điều gì luật pháp không cấm và sử dụng luật pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cơ quan nhà nước và cán bộ công chức chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép.”

Đó là những ý kiến rất đúng đắn nhưng không thể thực hiện được nếu như không có nhà nước pháp quyền, với tam quyền phân lập! Vì sao? Bởi vì ở Điều 2 của Hiến pháp ghi ”Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện cá quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Quốc hội là cơ quan lập pháp, nhưng thực ra gồm có đủ mặt những người của hành pháp và tư pháp. Điều đó gây hậu quả đúng như Montesquieu cảnh báo như trên. Quyền tư pháp độc lập không thể thực hiện theo “sự phân công phối hợp” được. Do đó nó đẻ ra điều người gọi là “án bỏ túi”. Án oan sai nhiều không kể xiết, rất đáng lo là nhiếu oan sai tới mức án tử hình. Rất nhiều vụ án xét xử kéo dài hàng chục năm như vụ án “vườn đào”, vụ án “ăn trộm dê”… Nghị quyết 49/TW của Bộ chính trị về cải cách tư pháp đến năm 2020 không có đề ra việc thực hiện quyền Tư pháp độc lập. Do đó, mỗi năm đều họp bàn mà suốt 10 năm vẫn không có nền Tư pháp trong sạch vững mạnh như mục tiêu đề ra!

Nguyên nhân quan trọng nhất khiến quyền tư pháp không thể độc lập là do Điều 4 Hiến pháp quy định Đảng cộng sản Việt Nam là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Như vậy “quyền lực nhà nước là thống nhất…” nhưng cuối cùng cả 3 quyền đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, tức là Đảng có quyền đứng trên quyền tư pháp, đứng trên pháp luật.

Một số nhà nghiên cứu pháp luật là đảng viên đã hơn chục năm nay kiên trì góp ý rằng: Đảng đã lãnh đạo xây dựng Hiến pháp cụ thể hóa Cương lĩnh của Đảng rồi thì không nên trực tiếp lãnh đạo quyền tư pháp. Phải để quyền tư pháp đứng trên thì mới ngăn chặn được tham nhũng. Đảng đang lâm vào tình trạng tham nhũng suốt hơn 30 năm, càng ngày càng nghiêm trọng, nếu không dũng cảm chấp nhận tư pháp độc lập thì không khác nào người bị bệnh nặng mà cứ giành quyền chỉ đạo thầy thuốc!

TẠI SAO ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN LẠI TÁN THÀNH ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG?

Như vậy là tạo điều kiện cho các đảng đối lập giành quyền lãnh đạo của Đảng mình? Hậu thuẩn cho câu hỏi này là lập luận: Trong thời kháng chiến gian khổ, tại sao các đảng đối lập không nhảy ra tranh với Đảng cộng sản về sự hi sinh, nay sau khi đất nước hòa bình phát triển lại muốn nhảy ra tranh phần? Cách nghĩ như vậy giống như đòi chia “quả thực” trong cải cách ruộng đất, ai “đấu tố” mạnh thì phải được chia phần nhiều hơn; hoặc giống như một Công ty cổ phần bàn chuyện chia lãi, chứ không giống một Đảng cách mạng từng tuyên bố “Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài mục đích phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân” (giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh của Bộ Giáo dục – Đào tạo). Trong hạnh phúc của nhân dân có quyền tự do, mà chủ tịch Hồ Chí Minh có câu thơ rất hay “Trên đời nghìn vạn điều cay đắng. Cay đắng chi bằng mất tự do”. Trong các quyền tự do có quyền tự do chính trị. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Nhà nước Việt Nam ký kết từ 24-9-1982 ở Lời nói đầu có ghi “Chỉ có thể đạt được lý tưởng của con người tự do được tận hưởng tự do về dân sự và chính trị không bị sợ hãi…” và ở Điều 1 ghi nhận “quyền quyết định thể chế chính trị”. Hiến pháp 1946 ghi nhận quyền:” Tự do tổ chức và hội họp”. Các Hiến Pháp sau này đều có ghi nhận tất cả các quyền tự do, trong đó có quyền lập hội, nhưng đã mắc nợ nhân dân suốt 70 năm không được thực hiện. Mặc dù Hiến pháp và Luật đều không điều nào cấm lập đảng, lập hội, nhưng thực tế thì không cho phép. Và như phần trên đã nói, từ 1866 Marx và Engels đã chấp nhận đa đảng. Thật ra ngay từ 1848, trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản ở chương 4 về “Thái độ đối với các đảng đối lập” (trang 99) hai ông đã dạy những người cộng sản cách sống chung với các đảng tư sản. Không chấp nhận đa nguyên chính trị, cứ tưởng sẽ tốt, có lợi cho Đảng cầm quyền, bởi vì không sợ ai tranh giành với mình. Nhưng theo bài học rất sơ đẳng thì chính đó lại là tự giết mình. Đó là bài học từ sự sụp đổ của các Đảng cộng sản Liên Xô, Đông Âu. Bởi vì độc quyền thì sinh ra quan liêu, quan liêu sinh tham nhũng, tham nhũng lũng đoạn mọi mặt sẽ làm bại hoại mục ruỗng cả Đảng và cả dân tộc. Chấp nhận đa nguyên đa đảng là học bài học trường tồn một cách đường đường chính chính của các Đảng xã hội – dân chủ Thụy Điển, Na Uy, Đức …Nguyên ủy viên Bộ chính trị, chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An trong bài nói ngày 7-12-2010 trên Tuần Việt Nam, cho rằng tình trạng suy thoái của Đảng như hiện nay, “không phải là do bị diễn biến hòa bình … Chính những đảng viên cộng sản chân chính, liên minh giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức cách mạng, cũng không muốn bảo vệ sự độc quyền của một Đảng biến chất, thoái hóa, tham nhũng. Đảng đã thành vua tập thể”. Ông vua phong kiến thì chẳng sao, dù cho ông ta có 3000 cung nữ, dù cho đất đai cả nước là của vua. Nhưng Đảng thì lại khác, bởi Đảng phải nói và làm theo chủ tịch Hồ Chí Minh “ Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là nhân dân, vì dân là chủ”. Và người dân luôn luôn so sánh lời nói với việc làm của đảng viên có đi đôi hay không.

TẠI SAO VI PHẠM 19 ĐIỀU CẤM THEO QUYẾT ĐỊNH 47/QĐ/TW?

Mấy mươi năm trước đảng viên chỉ thực hịên Điều lệ, Nghị quyết Đảng và pháp luật mà nói chung rất tốt. Hơn 10 năm qua có thêm quy định các điều cấm không được làm, nhưng tình hình cứ xấu đi. Quyết định 47/ QĐ/TW ghi là “Căn cứ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam”. Nhưng Hiến pháp Việt Nam có ghi các quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, lập hội, biểu tình thì Quyết định 47/QĐ/TW ở Điều 6 cấm “biểu tình tập trung đông người gây mất an ninh trật tự”. Quy định này không rõ, bao nhiêu người thì gọi là đông người, và nếu đông người mà không gây mất trật tự thì có được phép hay không? Như trên tôi đã kể, chúng tôi mới trên đường đi thì đã bị vây bắt rồi, làm gì đã gây ra mất an ninh!

Và nói trái nghị quyết cũng là một khái niệm rất khó xác định. Mọi đảng viên đều phải bình đẳng, vậy Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói ở Vĩnh Phú, phê phán các đảng viên đi biểu tình phản đối Trung Quốc là suy thoái chính trị có đúng Nghị quyết Đảng và Hiến pháp không? Ông nói “hết thế kỷ này cũng chưa chắc có chủ nghĩa xã hội” có đúng Nghị quyết không? Ông nói Hồ Chủ tịch viết trong Di chúc “Đảng ta là Đảng cầm quyền là hơi hẹp, đúng ra phải nói Đảng ta là Đảng lãnh đạo có đúng nghị quyết không? Có xúc phạm lãnh tụ không?

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có nhiều phát biểu rất đúng, nhưng tôi e rằng nếu là người khác nói thì rất có thể sẽ bị quy là trái Nghị quyết: Ví như ông lên tiếng giữa Quốc hội đòi Hoàng Sa, phê phán Trung Quốc ở Shangri-la làm cho họ cáu giận, và Thông điệp đầu năm 2014 của ông đưa ra nhiều khái niệm đúng đắn về dân chủ giống như của phương Tây mà các Nghị quyết của Đảng đều chưa hề ghi nhận? Chẳng lẽ trong Đảng không có bình đẳng về phát ngôn? Cấp trên muốn nói gì cũng được còn cấp dưới thì không?

Tôi cho rằng Quyết định 47/QĐ/TW hoàn toàn trái ngược với Hồ Chí Minh: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình vạch rõ những cái đó vì đâu mà có khuyết điểm, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rổi kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. “Nghị quyết gì mà người dân nói là không đúng thì để họ để nghị sửa lại”

“Quyền tự do tư tưởng hóa ra là quyền tự do phục tùng chân lý” và “Dân chủ là người dân được mở mồm ra nói”. Chẳng lẽ đảng viên cũng là công dân lại không được mở mồm như người dân? Cách quy định những điều cấm như thế qua hơn 10 năm đã chứng tỏ nó không làm Đảng mạnh và tốt lên, trái lại, bêu riếu sự lạc hậu trong thời đại bùng nổ thông tin. Thời đại ngày nay các đảng chính trị đều thực hiện dân chủ nội bộ và thực hiện công khai minh bạch không chỉ trong nội bộ mà trước toàn dân. Chỉ có như vậy mới không tái diễn chuyện “khoán chui” và “xé rào”. Tuy vậy, tôi cũng đã nhiều lần định không đưa bài góp ý lên mạng mà chỉ gửi cho Đảng và các báo, các mạng của Đảng, nhưng các báo đều không đăng, Đảng thì không bao giờ hồi âm!

Thưa các đồng chí nhiều khi tôi quá bức xúc, đau lòng, cảm thấý dường như Đảng ngày nay không phải là Đảng mà ngày xưa mà tôi giơ tay thề hi sinh đến giọt máu cuối cùng vì Đảng ấy “không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó làm trọn nhiệm vụ giải phóng dân tộc làm cho Tổ quốc giàu mạnh đồng bào sung sướng.” Hình như có những kẻ muốn biến Đảng thành công cụ của các “nhóm lợi ích” giúp họ giữ ghế và làm giàu! Là một nhà báo có 35 năm theo dõi phong trào công nhân lao động, cho nên bức xúc nhất của tôi là nhìn thân phận khốn cùng của giai cấp công nhân hôm nay.Tôi vô cùng bức xúc khi cảm nhận rằng hai giai cấp lớn nhất, có công đóng góp lớn nhất cho thắng lợi của cách mạng và kháng chiến là công nhân và nông dân đã bị phản bội bằng nhiều chính sách quá bất công đối với họ.

Có lẽ bản kiểm điểm của tôi không đáp ứng được yêu cầu của các đồng chí chỉ đạo cuộc kiểm điểm. Nhưng biết làm sao, khi đó là nhận thức thành thật của tôi, một đảng viên sau hơn 55 năm đứng trong hàng ngũ Đảng, sống thanh bạch, ngoài 80 tuổi còn ký kết hợp đồng viết bài cho báo Lao Động và lúc nào cũng nghĩ về vận nước và sự suy thoái của Đảng, lại là kẻ suy thoái chính trị ư? Không! Tôi cho rằng chính những người bảo thủ, giáo điều, không sáng suốt chấp nhận đổi mới chính trị, khiến cho một Đảng cách mạng, anh hùng, trở thành một Đảng suy thoái tham nhũng, họ mới chính là kẻ suy thoái chính trị. Do đó, tôi không nhận bất cứ hình thức kỷ luật nào có tên gọi là suy thoái tư tưởng chính trị. Nhưng tôi không muốn tuyên bố từ bỏ Đảng mà xin nhường cho Đảng quyền khai trừ mình. Bởi vì như vậy, tôi sẽ được yên lòng rằng, Đảng khai trừ tôi không phải là Đảng mà tôi từng tha thiết xin được gia nhập và thề phục vụ suốt đời. Và có lẽ nhờ đó từ ngày mai tôi sẽ không còn quá băn khoăn về trách nhiệm đối với Đảng, không còn bức xúc cứ muốn viết bài góp ý, xây dựng Đảng.

                                                                Ngày 22-2-2014

Tống Văn Công

Tác giả gởi cho viet-studies ngày 26-2-14

Nguyên Tổng biên tập báo Lao động chia tay với Đảng

Ông Tống Văn Công, nguyên tổng biên tập báo Lao động
Trong bản tự kiểm điểm ngày 22-2, ở phần “tự nhận một hình thức kỷ luật”, tôi đã viết :
Là một đảng viên hơn 55 năm đứng trong hàng ngũ Đảng, sống thanh bạch, 82 tuổi còn làm việc hợp đồng, lúc nào cũng nghĩ về vận nước và sự suy thoái của Đảng, tôi nghĩ rằng, tôi không phải thuộc số không nhỏ đảng viên thoái hóa chính trị mà chính những người bảo thủ, giáo điều không sáng suốt chấp nhận đổi mới chính trị, khiến cho một Đảng cách mạng, anh hùng trong sự nghiệp giải phóng, nay trở thành một Đảng độc đoán, tham nhũng mới đúng là những kẻ suy thoái chính trị. Do đó tôi không thể nhận bất cứ hình thức kỷ luật nào có tên là suy thoái tư tưởng chính trị.
Tuy vậy, tôi không muốn tuyên bố từ bỏ Đảng mà xin nhường cho Đảng quyền khai trừ mình. Bởi vì làm như vậy, tôi sẽ yên lòng rằng, Đảng khai trừ tôi không phải là Đảng mà tôi từng tha thiết xin được gia nhập và thề phục vụ suốt đời. Và có lẽ nhờ đó mà mai kia tôi sẽ không còn quá băn khoăn về trách nhiệm đối với Đảng, không còn quá bức xúc cứ muốn góp ý xây dựng.
Ngày 24 tháng 2 năm 2014, tôi nhận được văn thư của đảng ủy cho rằng tự kiểm điểm của tôi “ chưa đạt yêu cầu”, phải “nghiêm túc viết lại bản tự kiểm điểm và tự nhận hình thức kỷ luật “. Cùng với văn thư trên, có bản gợi ý nêu ra ba trường hợp mà theo Quyết định 47 -QĐ/TW là phải khai trừ: “Có quan điểm ủng hộ hoặc tán thành đa nguyên chính trị, đa đảng; công khai phê phán bác bỏ chủ nghĩa Mác -Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng.”
Tôi hiểu, Ban chỉ đạo muốn bảo rằng: Khuyết điểm của tôi là phải tự nhận hình thức khai trừ ra khỏi Đảng. Không làm như vậy thì tôi gây khó cho tổ chức Đảng. Nhưng làm như vậy thì thật là khó cho tôi. Bởi vì cho đến nay, tôi vẫn tự hào về cái ngày là anh lính vệ quốc đoàn, viết đơn xin vào Đảng để được noi gương các đảng viên trong giờ phút gay go của chiến dịch Cầu Kè năm 1950 ( Trà Vinh) đã hô to “Các đảng viên cộng sản! Xung phong!” Tôi vẫn tự hào ngày được vào Đảng, giơ tay thề hy sinh chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập, thống nhất, dân chủ cho nhân dân. Còn chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là gì thì, thú thật không chỉ tôi mà cả các bậc đàn anh cũng chẳng hiểu!
Càng tự hào về lý tưởng cao cả mà mình đã bỏ cả đời để phục vụ, tôi càng day dứt, xấu hổ vì sự thoái hóa, tham nhũng của một bộ phận không nhỏ những người trong guồng máy lãnh đạo, khiến Đảng cầm quyền phạm nhiều sai lầm, làm mất hết niềm tin của nhân dân , làm khoảng cách tụt hậu của đất nước càng ngày càng xa so với các nước khu vực. Những người lúc nào cũng hô hào kiên trì ý thức hệ lỗi thời, cấm không được tự diễn biến, thực ra, họ chỉ nhằm duy trì quyền lực, khai thác “lợi ích nhóm”, làm giàu cho bản thân, bất chấp thiệt hại của nhân dân lao động và đất nước. Giặc “nội xâm” bao giờ cũng là chỗ dựạ của giặc “ngoại xâm”. Bất kể bọn bành trướng hung hăng ra rả khẳng định toàn bộ Hoàng Sa, Trường Sa, cả “lưỡi bò” biển Đông là của Trung Quốc, lời họ đáp lại chủ yếu vẫn là kiên trì “16 chữ vàng” và “bốn tốt”, vì đây là “đồng chí cùng chung ý thức hệ” , cùng chống lại các thế lực thù địch phương Tây. Truyền thống bất khuất, lòng tự tôn dân tộc bị xúc phạm nghiêm trọng, làm mất dần sự đồng thuận xã hội trước hiểm họa đe dọa sự tồn vong của dân tộc, mà thực ra cũng là sự tồn vong của chính Đảng cộng sản Việt Nam.
Vì những lẽ đó mà thời gian qua, tôi hết sức tự kiềm chế, cố gắng tiếp tục đứng trong hàng ngũ Đảng để cùng với các đảng viên chân chính trực tiếp đấu tranh, góp ý xây dựng Đảng, hi vọng những người lãnh đạo nhận ra sai lầm,vứt bỏ ý thức hệ lạc hậu, tiến tới một Đại hội Đảng đổi mới lần 2 : Đổi mới chính trị, thực hiện nhà nước pháp quyền đúng như các thể chế chính trị hiện đại. Từ đó mà vực dậy niềm tin đang cùng kiệt của nhân dân, tiếp tục sứ mệnh mà đảng viên và nhân dân giao cho.
Hôm nay, con đường ấy đã bị chặn lại. Đau lòng lắm, nhưng phải đành vậy thôi! Từ giờ phút này, từ ngày hôm nay, 25-2-2014, tôi xin nói lời chia tay với Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngày 25 tháng 2 năm 2014
Tống văn Công
(Quê choa)

Tự do cho dân, hòa giải dân tộc và dân chủ cho đất nước – Cuộc chiến chống tham nhũng: Hô hào và Hiệu quả? – Cơ sở pháp lý nào cho việc lập Hội ở Việt nam? – ‘Khai hỏa để chứng minh chủ quyền’


Tự do cho dân, hòa giải dân tộc và dân chủ cho đất nước

Sáng 11/5/2013, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI bế mạc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đọc diễn văn tổng kết trong đó ông tuyên bố : “Đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị phải đồng bộ với đổi mới thể chế kinh tế.”

Nghe “Đổi mới”, mừng quá!, tưởng đã đến lúc Đảng chấp nhận đổi mới tư duy chính trị để đồng bộ với đổi mới kinh tế.

Nhưng không! Khi đọc văn kiện chính thức “KẾT LUẬN HỘI NGHỊ LẦN THỨ BẢY BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHÓA XI : Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở” mới vở lẽ ra rằng “Đổi mới” kèm với “Hoàn thiện” chỉ có ý nghĩa trên vấn đề tổ chức nội bộ của Đảng, không mảy may chút gì dính đến một tư duy chính trị thông thoáng hơn mà cơ chế kinh tế thị trường đòi hỏi phải đồng bộ. Thực tế kết luận này chỉ nhằm “Hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Thế thì phải hiểu như thế nào, khi một thời gian gần đây, trước khi có Thông điệp đầu năm của Thủ tướng, Bộ trưởng Kế Hoạch-Đầu tư (KH-ĐT) Bùi Quang Vinh, đi nhiều nơi tôn vinh kinh tế thị trường là “tinh hoa của nhân loại” mà không có một chữ nào nói đến “định hướng xã hội chủ nghĩa”?. Hoặc Bộ trường Vinh qua mặt Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI do Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, hoặc Bộ trường Vinh được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo “cứ thế…cứ thế…”

Ai đã bật đèn xanh cho Bộ trưởng Vinh tuyên bố rõ ràng, trái ý Tổng Bí thư như thế?

Có hay không việc chạy đua nước rút chiếm lĩnh quyền lực?

Ai cũng còn nhớ rằng tại Hội nghị lần thứ 5, khi Bộ chính trị đề nghị Ban Chấp hành Trung ương kỷ luật đồng chí X và đã bị ban này nói KHÔNG.

Tại Hội nghị lần thứ 7, hai ông Vương Đình Huệ (Ban kinh tế Trung ương), và Nguyễn Bá Thanh (Ban nội chính) được TBT Nguyễn Phú Trọng đề nghị vào Bộ Chính trị nhằm tăng uy tín và quyền lực cho hai ông trong công tác, Ban Chấp hành Trung ương cũng nói KHÔNG.

Hai ông này không vào được Bộ Chính trị nên không có quyền quyết định trên các cấp Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Thủ tướng, Bộ trưởng, và một số cấp UBND tỉnh.

Việc nói KHÔNG của Ban Chấp hành Trung ương có ý nghĩa rõ rệt:

1- Nếu Thủ tướng mà còn bị kỷ luật vì dính đến tham nhũng thì sự kỷ luật cũng sẽ treo lơ lửng trên đầu các Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.

2- Các Ủy viên phần lớn dính đến những chương trình kinh tế của các tỉnh, mà quan trọng nhất là đầu tư công, nơi xảy ra tham nhũng và thất thoát nhiều nhất, không muốn Đảng dây dưa vào việc “làm ăn” kinh tế của họ. Họ không bầu cho ông Vương Đình Huệ.

3- Các Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương không muốn “lấy đá ghè chân mình” nên không bầu cho ông Nguyễn Bá Thanh, người đảm trách thực tế Ban chỉ đạo Trung ương phòng chống tham nhũng.

Từ đó có thể khẳng định mà không sợ sai lầm quá đáng rằng, cho đến giữa nhiệm kỳ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã lập bàn 1-0 trước TBT Nguyễn Phú Trọng.

Tuy tình hình đã như thế, nhưng khó mà nói được phe nào với phe nào.

Để có cái nhìn tường tận hơn, chúng tôi thử khảo sát Đảng theo “nhóm lợi ích”.

1 – Nhóm lợi ích thứ nhất gồm phía Thủ tướng, người nắm trong tay tiền thuế của dân, số tiền này được chi tiêu: trả lương cho bộ máy nhà nước, cho bộ máy Đảng và các tổ chức ngoại vi như Mặt trận Tổ quốc, hội Liên Hiệp Phụ nữ…, quan trọng nhất là đầu tư công, …

2- Nhóm lợi ích thứ hai gồm các Bí thư Tỉnh, Ủy ban Nhân dân tỉnh, phần lớn các vị này đều nằm trong Ban Chấp hành Trung ương. Nhóm này lấy tiền từ nhóm lợi ích thứ nhất trong các vụ đầu tư công ở tỉnh.

3- Nhóm thứ ba gồm bộ máy của TBT Nguyễn Phú Trọng, Quân Ủy Trung ương, quân đội, cũng lấy nguồn tài chánh từ nhóm thứ nhất. Tuy nhiên quân đội có cơ sở kinh tế quan trọng riêng mà nhóm thứ nhất không có quyền kiểm soát.

Hiện nay, do không thu thuế đủ nên Thủ tướng nghe theo bộ trưởng KH-ĐT Bùi Quang Vinh ra chỉ thị 1902 về đầu tư công nhằm cắt nguồn tài trợ cho nhóm lợi ích thứ hai, lấy lý cớ đầu tư không hiệu quả và để minh chứng cho quyết định của mình, ông Vinh đưa ra vài thí dụ:

1- Ví dụ dự án thủy lợi lúc đầu vẽ ra bảo là tưới tiêu cho 1.000ha, suất đầu tư 2 tỉ đồng/ha, nhưng khi hoàn thành thì chỉ tưới tiêu cho 500ha và tổng vốn đầu tư vẫn là 2.000 tỉ đồng, rất kém hiệu quả nhưng không ai bị xử lý.

2- ví dụ xây cái chợ không có người đến, gây lãng phí rất lớn nhưng không ai chịu trách nhiệm”.

3- có tỉnh làm đường rộng 70 mét mà không có người đi.

Và Bộ trưởng Vinh tiết lộ: “Khi thực hiện,(chỉ thị 1902 về đầu tư công) có người đã nói với tôi: Bộ trưởng làm như thế này là lấy đá tự đè chân mình. Cả một thời gian dài sau đó, cũng vẫn còn rất nhiều ý kiến trái chiều kiến nghị kêu khó khăn, mất quyền lợi…”

Nhóm lợi ích thứ 2 do đó bị đụng chạm. Nhóm này sống ngon lành nhờ những vụ đầu tư công, vụ nào cũng đem lại lợi nhuận riêng hàng triệu đô la cho các vị, chỉ cần nhìn Dương Chí Dũng khai ông ta và Tập đoàn Vạn Thịnh Phát (TP.HCM) do bà Trương Mỹ Lan làm chủ tịch, đã “mua” Thượng tướng công an Phạm Qúy Ngọ bằng 5 trăm ngàn, triệu đô thì cũng hiểu nhóm lợi ích thứ hai bị thiệt thòi với chỉ thị 1902 như thế nào. Phần lớn họ có mặt trong Ban Chấp Hành Trung Ương nên khó có thể nói họ sẽ không có tác động nào trong những lần họp tới, nhất là chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XII vào năm 2015. Và ở đây cái khôn ngoan không nói ra của “chỉ thị 1902 về đầu tư công” được ban hành bởi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là sẽ tạo thêm một việc “xin, cho”. Anh Trung ương nào được cho sẽ phải uống nước nhớ nguồn.

Tóm lại, tuy là ba nhóm lợi ích, nhưng thực tế chỉ có hai khuynh hướng: một bên che đậy bằng ngọn cờ chủ nghĩa Mác-Lê trong các hoạt động kinh tế, còn bên kia nói “định hướng xã hội chủ nghĩa” cho có lệ, nhưng làm huỵch toẹt ra là kinh tế thị trường với “Chiếc phong bì không còn chứa đủ tiền hối lộ

Hai khuynh hướng này sẽ làm cho Đảng dậy sóng và đất đước cũng sẽ chao đảo theo. Dù khuynh hướng nào thắng hay bại, đất nước cũng sẽ thua thiệt.

Trong cuộc chơi giữa hai khuynh hướng này, các lão thành cách mạng, các đảng viên về hưu chỉ có cái sổ lương hưu chả thấm vào đâu so với 10 ngàn, 20 ngàn đô mà Dương Chí Dũng vứt ra cho các cán bộ công an đương quyền cấp dưới. Còn các đảng viên, ngoài số lương rất thấp so với công dân các nước quanh vùng, có kiếm chác được món tiền còm thêm cũng chỉ vừa đủ sống. Tất cả thu nhập của những phần tử nói trên chả thấm vào đâu trước những thất thoát to lớn mà đất nước phải gánh chịu. Nếu có một sự thay đổi thể chế chính trị ôn hòa, chẳng ai thèm đụng đến thu nhập kém cỏi của họ.

Nếu họ còn chút lương tâm, họ thừa biết họ phải làm gì để giúp đất nước thoát ra khỏi vũng lầy hiện nay.

Khi nói về đảng cộng sản, có khuynh hướng cho rằng phải nói đến công và tội của đảng này. Chúng tôi cho rằng, khi đất nước đang quằn quại trong vũng lầy và cần phải thoát ra bằng mọi giá thì có nói đến công lao cũng bằng thừa. Không công lao nào chuộc được cái tội tày trời hiện nay là làm cho đất nước ngày càng nghèo đi, để cho biển đảo bị Trung quốc chiếm mà không bảo vệ, cấm người dân tuyên truyền cho lòng yêu nước, yêu biển đảo…trái lại lúc nào cũng trâng tráo đòi nhân dân phải chấp nhận quyền lãnh đạo của mình, bằng Hiếp Pháp sửa đổi, bằng bạo lực quân đội, công an.

Dù sao, công lao của đảng cộng sản cũng sẽ có cơ hội được đề cập đến, khi họ phải trả lời trước tòa án nhân dân.

Ngày 19/01/2014 là ngày kỷ niệm 40 năm Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, đúng vào sáng ngày này không một tờ báo trung ương nào của Đảng nhắc đến hai chữ Hoàng Sa, mãi đến chiều tối mới có vài tờ báo e dè đưa tin triển lảm về Hoàng Sa ở Đà Nẵng, tờ Đại Đoàn Kết chỉ dám nói thoáng qua rằng 74 người Việt(không dám nói họ là chiến sĩ VNCH) đã ngã xuống.

Một tháng trước đó, vài tờ báo trong hệ thống này liên tục phóng sự về cuộc hải chiến bảo vệ Hoàng Sa của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa đã thông báo tổ chức “Chương trình ca nhạc hát về biển đảo quê hương và Lễ thắp nến tri ân Hướng về Hoàng Sa” ở Đà Nẵng nhưng cuối cùng ngày 17/1 do lệnh trên phải thông báo hủy bỏ.

Ai đã ra lệnh cho báo chí không được nhắc đến Hoàng Sa trong sáng ngày 19/01/2014 này, ai đã cấm tổ chức tưởng niệm thắp nến ở Đà Nẵng? Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang hay Nguyễn Tấn Dũng? Người dân chúng tôi đòi hòi trong các ông, ai là người đã đánh mất lòng tự trọng dân tộc tối thiểu để ra lịnh cấm đoán hèn mạt này.

Tự do cho dân, hòa giải dân tộc và dân chủ cho đất nước

Chúng tôi mong muốn thấy những nguyên tắc dưới đây được ghi trong Hiến pháp:

– Hiến Pháp phải bảo đảm cho mọi công dân các quyền: ứng cử, bầu cử, biểu tình, lập hội, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do đi lại, xuất ngoại, tự do kinh doanh, làm ăn, quyền tư hữu và trực tiếp quản lý về nhà cửa, ruộng đất …

– Hiến pháp phải quy định một nhà nước pháp quyền thay mặt nhân dân trong việc quản trị đất nước, khác xa hoàn toàn với quan niệm cai trị người dân. Quân đội chỉ có bổn phận bảo vệ đất nước, biển đảo. Hiến Pháp không được quyền ghi tên bất cứ đảng phái nào.

– Hiến pháp phải quy định Hành pháp, Lập pháp, Tư pháp tuyệt đối độc lập với nhau.

– Hiến pháp phải quy định tất cả điều khoản về quyền con người, ít nhất là theo công ước quốc tế, không thể bị bất cứ ai xâm phạm, vì bất cứ lý do gì.

Đặc biệt về vấn nhân quyền, chúng ta có khả năng giương cao ngọn cờ này trước thế giới nếu chúng ta quyết tâm. Nó không tốn kém bao nhiêu, nó hợp với thời đại và lòng bao dung của chúng ta, nó chỉ đòi hỏi tự chúng ta tôn trọng thực sự con người.

Thông điệp của Thủ tướng nói đến giương cao ngọn cờ dân chủ chỉ là một kiểu nói mị dân . Dân chủ càng ngày càng tiến triển trên thế giới, Dân chủ lại là một quá trình chứ không phải ngày một ngày hai như mì ăn liền. Chúng ta tụt hậu về lối sống dân chủ, lối suy nghĩ dân chủ từ ngày đảng cộng sản Đông Dương được thành lập cho đến nay cũng đã 80 năm và hiện nay vẫn lặn ngụp trong kiểu “dân chủ xã hội chủ nghĩa” tức là vẫn độc tài. Cho nên cùng lắm là giương cao khẩu hiệu như bà phó Đoan của Hội đồng lý luận Trung ương là “dân chủ xã hội chủ nghĩa cao hơn gấp vạn lần dân chủ tư bản chủ nghĩa” để mà tiếp tục dối dân chứ có cờ đâu mà phất.

Hiến pháp sửa đổi 2013 hoàn toàn trái với tinh thần nói trên vì chỉ thể hiện cương lĩnh của một đảng độc tài.

Theo chúng tôi hiểu, bản Hiến pháp do nhóm 72 nhân sĩ (gọi tắt là Kiến nghị 72) đề nghị trong năm 2013 đã có sẵn những tinh thần mà chúng tôi mong muốn, có thể thảo luận thêm để thành bản Hiến pháp mới của một nước Việt Nam tự do, dân chủ, thật sự của mọi công dân.

Ngày 20/10/2013, Tiến sĩ Trần Nhơn, đảng viên, nguyên thứ trưởng Bộ Thuỷ Lợi, trong một đề nghị Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (Do Công ty Hỗ trợ Phát triển và Hội nhập Toàn Cầu đề xuất trên nền tảng của nguyên bản dự thảo Kiến nghị 72), được đăng trên site Tự Đổi Mới (tudoimoi.org) có một đề nghị sửa đổi quan trọng về điều 11:

Điều 11. Quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, quốc khánh và thủ đô:

Quốc hội chuẩn bị đề án quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, quốc khánh và thủ đô, trình nhân dân phúc quyết.

Đề nghị của Tiến sĩ Trần Nhơn vừa can đảm, vừa khai phá và nếu được chấp nhận sẽ là một bước hòa giải dân tộc chưa có tiền lệ, mở cửa cho một sự đoàn kết dân tộc rộng lớn mà đất nước đang chờ đợi.

Sau thời kỳ toàn dân ta đấu tranh chống phướng Bắc để có một đất nước Việt Nam độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, chúng ta đã trải qua trong thế kỷ 20, hai cuộc chiến tranh đẫm máu khốc liệt. Trong cuộc chiến tranh thứ nhất, toàn dân một lòng đã dũng cảm và thành công trong việc giải phóng dân tộc đánh đổ thực dân.

Tiếc thay, miền Bắc sau năm 1954, đảng Lao Động Việt Nam (thực chất là đảng cộng sản đổi họ đổi tên nhưng không đổi tư duy cộng sản), đã đứng trong hàng ngũ quốc tế cộng sản, với tất cả những tồi tệ của chủ nghĩa độc tài hiện nay.

Vì thế cuộc chiến tranh lần thứ hai từ năm 1960 đến năm 1975 tuy có một số lý do, nhưng nổi bật lên cả là màu sắc cuộc chiến Quốc-Cộng, giữa tự do và độc tài, giữa dân chủ và chuyên chính, giữa hai quan niệm cuộc sống khác nhau, không thể thống nhất được.

Sau 1954 với một triệu người di cư vào Nam thì đến năm 1975 và những năm sau đó, từ 1 đến 3 triệu người cũng bỏ nước ra đi tìm tự do. Cho đến những năm gần đây, 2013/2014 số người lợi dụng các tours du lịch rồi bỏ trốn cũng rất cao buộc Tổng cục Du lịch Việt Nam vừa có công văn số 17 cho biết sẽ kiên quyết ngăn chặn hành vi lợi dụng con đường du lịch để đưa người Việt Nam ra nước ngoài bất hợp pháp (thực tế là vượt biên chính thức). Nếu đất nước hòa bình, tiến bộ, tươi đẹp thật sự thì chẳng có ai bỏ quê cha đất tổ mà đi.

Sự phân ly này đòi hỏi chúng ta phải tìm cách hoà giải giữa dân tộc chúng ta để cùng nhau chung sống hài hòa trên giải đất của tổ tiên. Hiện nay vấn đề lá cờ đang gây nhiều chia rẽ, chúng ta không thể để hai lá cờ cứ tiếp tục đánh nhau trong lòng người.

Chúng tôi nghĩ rằng cha ông ta đã mấy lần, chẳng đặng đừng, chống quân Bắc triều để giữ bờ cõi. Chắc lúc đó đã có những lá cờ phất phới bay và chiến thắng, nhưng đến nay, thử hỏi ai còn biết, hoặc nhớ đến những lá cờ mà cha ông ta đã phất lên trước mặt quân xâm lược? Bản thân tôi chỉ còn nhớ đến những chiến thắng hào hùng của cha ông mà không được lịch sử dạy cho lúc đó cha ông đã dùng những lá cờ nào? Và dù lá cờ nào thì nay cũng đã biến mất.

Trong chiến tranh vừa qua, có hai lá cờ: Đỏ sao vàng và Vàng ba sọc đỏ. Cờ nào cũng thấm máu của anh hùng liệt sĩ, cờ nào cũng linh thiêng tùy theo anh ở phía nào. Có thể nói gia đình nào cũng có con em thấm máu không trên lá cờ này thì cũng trên lá cờ nọ. Cờ nào cũng mang vinh quang cùng tội ác. Chính vì thế mà chúng ta phân tán, chia rẽ vì một biểu tượng lá cờ.

Hơn 40 năm qua, sự chia rẽ, thù hận không những không mờ nhạt mà càng sâu đậm trong bối cảnh đất nước lún sâu vào tụt hậu, xã hội mất lẽ sống cao đẹp đáng có, con người bần cùng hóa và tiếp tục bị kềm kẹp về tư tưởng. Về phía những thành phần vượt biển để thoát khỏi chế độ cộng sản, họ đã thành công ở những nước được xem là tổ quốc thứ hai của họ, tạo ra được một cộng đồng người Việt giàu có, tiến bộ, thành đạt, chưa có tiền lệ trong lịch sử dân tộc, nhờ đó khẳng định được rằng chế độ tự do dân chủ đã giúp cho con người từ tay trắng có thể đạt được ước vọng của mình. Không huy động được một cộng đồng như vậy trong vấn đề ngoại thương chứng tỏ sự yếu kém của những người cầm quyền hiện nay.

Nếu cứ tiếp tục áp đặt một lá cờ là tiếp tục duy trì sự chia rẽ. Đất nước chúng ta đang trong tình trạng bi đát đòi hỏi công sức của mọi người, vì thế nếu người dân phúc quyết lá cờ một cách dân chủ thì thiểu số sẵn sàng chấp nhận. Trong cuộc sống dân chủ, chỉ có kẻ độc tài mới không chấp nhận mình là thiểu số một khi quần chúng đã phúc quyết.

Những suy nghĩ nói trên cho phép chúng tôi kết luận rằng đề nghị về điều 11 của TS Trần Nhơn là can đảm, đặt đúng vấn đề trong mong muốn hòa giải dân tộc. Nếu Đảng không muốn hòa giải vì luôn muốn có “lực lượng thù địch” để làm bình phong cho những thất bại của họ, thì ngược lại người dân chúng ta phải hòa giải được với nhau, bất chấp chính quyền, càng sớm càng tốt. Mong độc giả cùng suy nghĩ với chúng tôi.

Nguyễn Trung Chính
20/01/2014

Cuộc chiến chống tham nhũng: Hô hào và Hiệu quả?

vn-VDPF-305.jpg
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tại Diễn đàn Đối tác Phát triển 2013 hôm 05/12/2013 được tổ chức ở Hà Nội. (Ảnh minh họa) World Bank Photo/Việt Tuấn

Hiệu quả hạn chế

Trong thời gian qua các cấp lãnh đạo Chính phủ và Đảng CSVN có nhiều phát biểu và hô hào chống tham nhũng, thế nhưng thực tế cho thấy hiệu quả của công tác này trong năm qua còn quá hạn chế.

Sau gần 2 tháng bế mạc kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa 13, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa ra văn bản trả lời chất vấn của 11 đại biểu Quốc hội về hiệu quả thấp trong công cuộc chống tham nhũng trong thời gian qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhìn nhận công tác phòng chống tham nhũng luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, có những chuyển biến tích cực nhưng vẫn chưa đạt yêu cầu và mục tiêu đề ra, tiếp tục gây bức xúc trong xã hội.

Văn bản trả lời của Thủ tướng VN được người dân trong nước đang phải chịu đựng tình trạng tham nhũng tràn làn đến từng ngõ ngách trong đời sống cho là giống như một điệp khúc nhàm chán của một bài hát buồn.

Bộ máy hoạt động chống tham nhũng chưa có kết quả. Bởi vì chỉ mang tính chất hô hào, chưa đi vào hoạt động một cách có trách nhiệm hoặc có hiệu lực.  -Ô. Lê Văn Cuông

Dư luận vẫn chưa quên lời tuyên bố nhậm chức Thủ tướng của ông Nguyễn Tấn Dũng hồi cuối tháng 6/2006 rằng “tôi kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu tôi không chống được tham nhũng, tôi xin từ chức ngay”. Dẫu biết rằng “một con én không làm nên mùa xuân” nhưng với lời tuyên bố hùng hồn của vị Thủ tướng mới mang đến ít nhiều niềm tin “quốc nạn tham nhũng” sẽ được đẩy lùi trong tình cảnh như Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan nhận định “Người ta ăn của dân không từ thứ gì”.

Kể từ thời điểm ông Nguyễn Tấn Dũng nhậm chức Thủ tướng VN cho đến nay hơn 7 năm, công tác phòng chống tham nhũng luôn được Đảng CSVN cùng cả hệ thống chính trị thường xuyên lãnh đạo và chỉ đạo trên tinh thần như tuyên bố của cựu Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh “Đảng kiên quyết chống tham nhũng đến cùng để làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước”. Tuy nhiên, trong kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa 13 hồi tháng 11 năm ngoái, các đại biểu cho rằng cơ quan phòng chống tham nhũng do Chính phủ dựng lên dày đặc nhưng hiệu quả hoạt động còn nhiều hạn chế cũng như các vụ tham nhũng được phát hiện nhưng xử lý còn chậm và những đối tượng phạm tội trong các vụ án tham nhũng thường được xử lý nhẹ. Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Giáo dục Thanh thiếu niên và Nhi đồng, ông Lê Như Tiến phát biểu rằng trong kế hoạch phòng chống tham nhũng, cả nước được yêu cầu bày binh bố trận rầm rộ, súng đạn sẵn sàng nhưng kết quả không đạt yêu cầu, tham nhũng chưa bị sát thương.

 

20937153-images2039627_160671789-305.jpg
Ảnh minh họa tham nhũng
Mặc dù vấn nạn tham nhũng được các đại biểu thảo luận thẳng thắn ở các kỳ họp quốc hội cũng như có nhiều kiến nghị với các cấp chính quyền thuộc Đảng ĐCSVN và Nhà nước phải tiến hành giải quyết một cách triệt để, nhưng trong thực tế việc chỉ đạo chống tham nhũng của Chính phủ dường như không mang lại hiệu quả. Nguyên Đại biểu Quốc hội Lê Văn Cuông nhận định về tình hình chống tham nhũng ở VN:

“Hiện nay các văn bản quy định pháp luật tương đối đầy đủ và bộ máy từ trên xuống dưới cũng rất hùng hậu nhưng tình trạng tham nhũng vẫn xảy ra khá phổ biến, chưa được ngăn chặn đẩy lùi mà ngày càng diễn biến phức tạp, tinh vi và gây nên sự bất bình cũng như giảm niềm tin trong nhân dân. Điều đó cho thấy bộ máy hoạt động chống tham nhũng chưa có kết quả. Bởi vì chỉ mang tính chất hô hào, chưa đi vào hoạt động một cách có trách nhiệm hoặc có hiệu lực. Do đó, cần phải có một cách thức chỉ đạo cũng như giải quyết quyết liệt và hiệu lực hơn. Nếu cứ như lâu nay thì tình trạng rất khó có sự chuyển biến mang tính chất đột phá”.

Người dân bi quan

Hôm 8/1 vừa qua, Thanh tra Chính phủ VN công bố báo cáo cho biết đã phát hiện 45 vụ có hành vi tham nhũng trong năm 2013. Cùng ngày, qua cổng thông tin điện tử Chính phủ, Bộ Công an VN đã phát hiện hơn 400 vụ tham nhũng trong năm ngoái, nhiều hơn khoảng trên 100 vụ so với năm 2012. Trong năm 2013, có 10 vụ tham nhũng được cho là “đại án” mà dư luận đặc biệt quan tâm, thế nhưng chỉ có 2 trong số 10 vụ “đại án tham nhũng” được đưa ra xét xử với tổng cộng 4 bản án tử hình.

Thuật ngữ nhóm lợi ích ngày càng lộ rõ, bây giờ những nhóm lợi ích đã lớn lên thành tội phạm mafia, nghĩa là gắn kết giữa các nhóm tội phạm, nhóm kinh tế và những người có chức có quyền.  -LS Trần Quốc Thuận

Trong khi người dân ngày càng tỏ ra bi quan trước tệ trạng tham nhũng năm sau nhiều hơn năm trước, không những không đẩy lùi được mà lại giống như một dịch bệnh nguy hiểm ngày càng lây lan với tốc độ không thể kiểm soát như trong các báo nhận định “tình hình tham nhũng tiếp tục diễn biến phức tạp, tinh vi ở nhiều cấp, nhiều ngành”, phải buột miệng than rằng “càng chống càng tham” thì người đứng đầu Đảng CSVN hiện nay, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định việc tham nhũng của các quan chức trong bộ máy Nhà nước là hành vi có tổ chức, tuyên bố rằng có dấu hiệu cho thấy việc tham nhũng có sự thống nhất và chỉ đạo từ các lãnh đạo có cương vị cao nhất trở xuống. LS Trần Quốc Thuận, một đảng viên kỳ cựu, từng 14 năm ở cương vị Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cho biết vì sao Tổng Bí thư ĐCS lại nhận định như vậy:

“Thuật ngữ nhóm lợi ích ngày càng lộ rõ, bây giờ những nhóm lợi ích đã lớn lên thành tội phạm mafia, nghĩa là gắn kết giữa các nhóm tội phạm, nhóm kinh tế và những người có chức có quyền. Đây là biểu hiện rất xấu của chế độ hiện nay”.

Mới đây nhất, hôm 12/1, trả lời TTXVN về việc xử lý những vụ án tham nhũng lớn trong thời gian gần đây, ông Nguyễn Phú Trọng quả quyết “Tốt nhất là đừng để xảy ra…Còn khi đã xảy ra rồi thì phải kiên quyết xử lý, xử lý thật nghiêm”. Tuyên bố vừa nêu của Tổng Bí thư Đảng CSVN chỉ vài ngày sau khi Tòa án Nhân dân TP. Hà Nội quyết định khởi tố vụ án “cố ý làm lộ bí mật Nhà nước” liên quan đến Thượng tướng Phạm Quý Ngọ, Thứ trưởng Bộ Công an nhận số tiền 1.510.000 USD qua lời khai của tử tội Dương Chí Dũng.

Dư luận đang chờ xem Đảng Cộng Sản và Nhà nước nghiêm trị vụ án “cố ý làm lộ bí mật Nhà nước” cũng như 8 vụ “đại án” còn tồn đọng như một phép thử để chứng minh hiệu quả chống tham nhũng trong thời gian tới. Bằng ngược lại, “quốc nạn tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của chế độ” như chính khẩu hiệu hô hào của Chính phủ VN bấy lâu nay.

Hòa Ái, phóng viên RFA
2014-01-20

Cơ sở pháp lý nào cho việc lập Hội ở Việt nam?

timthumb1-305
Các vận động viên và thành viên của nhóm “Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam”.

Courtesy vnwhr.net
Tự do hội họp và tự do lập hội là những quyền quan trọng giúp người dân thực thi nhiều quyền dân sự, chính trị, cũng như các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa khác. Hiện nay ở Việt nam tình hình việc thành lập các hội đoàn tự phát đang phát triển mạnh. Việc làm này có phù hợp với luật pháp Việt nam hay không và cơ sở pháp lý cho vấn đề này là gì? Anh Vũ phỏng vấn LS Hà Huy Sơn để tìm hiểu thêm về vấn đề này:

Chưa có Luật về Hội

Anh Vũ: Thưa luật sư, xin ông cho biết, đến nay quyền tự hội họp và quyền tự do lập hội của công dân được luật pháp của Việt nam qui định cụ thể hóa như thế nào?

LS Hà Huy Sơn: Theo bản Hiến pháp mới nhất của Việt nam hiện nay, Điều 25 quy định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”, và Hiến pháp cũng quy định “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.  Theo pháp luật hiện nay tuy chưa có Luật về Hội, nhưng dưới luật đã và đang có 02 Nghị định, đó là Nghị định số 45/2010/N Đ-CP, ngày 21 tháng 4 2010 quy định về việc Tổ chức và Quản lý Hội và Nghị định Sửa đổi Bổ xung Nghị định 45 là Nghị định số 33/2012/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 13 tháng 4 năm 2012. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội.

Cơ sở của việc lập Hội theo tôi thì dựa vào Nghị định 45/2010/N Đ-CP, tại Điều 02 có quy định những công dân tự nguyện và có chung một mục đích để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình và các lợi ích hợp pháp khác của các thành viên thì có quyền lập hội. Theo tôi hiểu cái cơ sở căn bản thì dựa vào các văn bản như thế.

Anh Vũ: Được biết trước đây, để cụ thể hóa quyền tự hội họp và quyền tự do lập hội được qui định tại điều 10 Hiến pháp năm 1946. Ngày 20 tháng 5 năm 1957, ông Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 101/SL-L-003 ban hành Luật về quyền tự do hội họp. Vậy đến nay Sắc lệnh đó vẫn còn hiệu lực thi hành hay không thưa LS?

Theo nguyên tắc cơ bản của pháp luật, cũng như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói trong thông điệp đầu năm mới 2014 là công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm.
-LS Hà Huy Sơn

LS Hà Huy Sơn: Các văn bản đó thì Nhà nước cũng chưa có các văn bản nào hủy bỏ các Sắc lệnh này. Nhưng theo tôi thì cái chính thì nên dựa vào Điều 25 của Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã quy định cụ thể và 02 văn bản Nghị định 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 và Nghị định 33/2012/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 13 tháng 4 năm năm 2012 và hướng dẫn cụ thể của Thông tư 03 năm 2013. Là những cơ sở để các công dân muốn lập hội thì dựa vào các văn bản đó.

Anh Vũ: Thưa Luật sư, hiện nay luật pháp Việt nam chưa chính thức có Luật về Hội thì công dân có quyền hội họp và lập hội hay không?

LS Hà Huy Sơn: Theo nguyên tắc cơ bản của pháp luật, cũng như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói trong thông điệp đầu năm mới 2014 là công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm. Và theo kinh nghiệm và quan điểm của tôi thì những quyền của con người hay quyền của công dân thì không có một nhà nước nào người ta chủ động đem lại cho người dân cả. Do đó người dân phải chủ động có yêu cầu hoặc đòi hỏi, nói ngắn gọn tức là phải đấu tranh giành lấy cái quyền đó, buộc nhà nước phải thừa nhận quyền đó bằng pháp luật và yêu cầu nhà nước phải thực thi các văn bản đó. Quan điểm của tôi là như vậy.

Anh Vũ: Theo Luật sư, việc ra đời của các Hội tự phát vừa qua ở Việt nam có bị coi là vi phạm pháp luật hay không?

LS Hà Huy Sơn: Trong 02 Nghị định của Chính phủ quy định nói trên thì việc lập hội nếu ở trong phạm vi một địa phương – tỉnh thì do chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh – Thành phố phê chuẩn. Còn nếu hội hoạt động trên nhiều các tỉnh thành khác nhau thì phải do Bộ trưởng Bộ Nội vụ phê chuẩn điều lệ của Hội và khi người ta chính thức phê chuẩn chấp nhận việc thành lập Hội đấy thì về mặt pháp luật việc thành lập hội mới được coi là hợp pháp.

Còn trong quá trình chưa được pháp luật thừa nhận, thì quan điểm của cá nhân tôi các hội viên nếu có nhu cầu hoạt động thì họ nên lập những cái Ban trù bị thành lập Hội như hướng dẫn trong Nghị định của Chính phủ. Rồi có thể họ có các Dự thảo về Điều lệ của Hội, nếu mà họ đã thống nhất với nhau về các Dự thảo đó thì họ có thể tự nguyện chấp hành cái Điều lệ đó để cùng nhau vận động để Chính phủ cộng nhận cái hội của mình. Còn tất nhiên bao giờ Chính phủ chấp nhận hay Bộ Nội vụ chấp nhận thì nó đòi hỏi cả một quá trình.

Anh Vũ: Xin cảm ơn LS Hà Huy Sơn đã dành thời gian trao đổi cùng Đài Á Châu Tự do.

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2014-01-20

Vấn nạn biếu quà Tết cho cấp trên

000_Hkg6817959-305.jpg
Một gian hàng bán bia, rượu nhập khẩu dịp Tết, ảnh minh họa chụp tại Hà Nội trước đây. AFP
Trong giai đoạn sắp tới Ngày Tết Giáp Ngọ 2014, nhiều ý kiến trên mạng và báo chí trong nước, kể cả những nhà có tâm huyết với quê hương, đã nhắc tới và cảnh báo về điều gọi là “vấn nạn rầm rộ biếu quà Tết cho cấp trên”. Như vậy, “vấn nạn” này ra sao?
Ăn Tết quanh năm

Trong khi nhà báo Bùi Hoàng Tám qua báo Dân Trí thắc mắc rằng “ Sao lại có loại sếp như thế nhỉ”, và đi vào chi tiết là từ nhiều năm nay, chuyện “đi Tết sếp” luôn là “nỗi ám ảnh” mỗi khi năm hết, Xuân về, nhất là đối với các nhân viên, công nhân nghèo, thì nhà báo Nguyên Hồ trên báo mạng Gia Đình nêu lên câu hỏi “làm sao kết liễu vấn nạn quà Tết?”, vì, nhà báo lưu ý, trong dịp Xuân về, những người có chức, có quyền, từ trung ương đến địa phương, đều nhận được một khối “quà khổng lồ” trong dịp này. Từ Hà Nội, TS Nguyễn Xuân Diện thuộc Viện Hán Nôm VN lên tiếng:

“Nạn quà Tết trở thành tục lệ rất xấu trong những năm gần đây – tệ nạn xấu lắm. Nó là một căn bệnh xấu xa của xã hội VN. Những món quà Tết này không phải ở góc độ tình cảm nữa, mà nó là cuộc mua bán, đổi chác hay là cuộc hối lộ được gói mỹ miều dưới cái tên gọi là “quà biếu Tết.”

Thực ra, quanh năm, cấp dưới phải cung phụng cho các sếp những món quà, món hàng trong những dịp cần phải cầu cạnh, xin-cho, tạo điều kiện làm ăn hay móc ngoặc với cán bộ đảng. -GS Nguyễn Thanh Giang

Cũng từ Hà Nội, GS Nguyễn Thanh Giang nhận xét rằng:

“Chuyện quà Tết thì chỉ là cái dịp để cho người ta bàn bạc thế thôi. Thực ra, quanh năm, cấp dưới phải cung phụng cho các sếp những món quà, món hàng trong những dịp cần phải cầu cạnh, xin-cho, tạo điều kiện làm ăn hay móc ngoặc với cán bộ đảng, thì những món quà ấy vô cùng lớn. Tức là đảng và những đảng viên được điều kiện “ăn Tết quanh năm”, chứ không phải chỉ có dịp Tết không đâu.”

Theo nguyên Phó trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Đình Hương thì nhiều khi nhân viên biếu quà Tết “theo phong trào, chưa biếu sếp thì chưa yên tâm ăn Tết”. Và như thế là người ta “đo tình cảm bằng phong bì dày mỏng” và biến phong tục tặng quà của cha ông ngày xưa thành một loại hủ tục, góp phần sa đọa xã hội khi người nhận quà cáp từ đó làm giàu, còn người “đi Tết sếp” thì trở thành “khổ chủ” hoặc cho mục tiêu trục lợi nào đó.

000_Hkg8245959-250.jpg
Một gian hàng bán đồ trang trí Tết tại Hà Nội, ảnh minh họa chụp trước đây. AFP PHOTO.
Mặc dù có ý kiến cho biết nền kinh tế trong nước đang gặp nhiều khó khăn, nhiều gia đình thiếu thốn nhưng Tết đến vẫn nhộn nhịp, vẫn “tặng quà cho nhau”, thì TS Nguyễn Xuân Diện nhận xét rằng Tết năm nay, tình trạng này có vẻ không “rầm rộ” lắm, không có biểu hiện “ghê gớm” như những năm trước, hay là nó chưa đến ngày “rầm rộ” chăng? Bởi vì sao ? TS Nguyễn Xuân Diện giải thích:

“Bởi vì kinh tế VN hiện suy sụp quá rồi. Hiện nay, dân nguyên một tỉnh của VN xin xét, cấp cứu gấp về vấn đề ăn Tết. Vì họ thiếu gạo, họ đói quá! Công nhân ở các khu công nghiệp cũng đói kém quá, thất nghiệp rất nhiều. Còn người nông dân bây giờ thì mất hết đất, bị chính quyền các cấp cướp hết đất rồi. Cho nên họ chẳng còn cái gì nữa cả. Làng xóm thì trở nên tiêu điều. Do đó, họ cũng chẳng có cái chuyện đi biếu xén gì nữa. Còn các doanh nghiệp thì đang gặp vô vàn khó khăn. Nhiều doanh nghiệp phải giải thể; làm ăn khó khăn lắm. Những đại gia về bất động sản và chứng khoán coi như “chết rồi” khiến nhiều người phải đi bệnh viện tâm thần. Cho nên năm nay không có chuyện biếu quà Tết “rầm rộ” như mọi năm nữa.”

Chỉ thị không ai dám theo?

Được biết nhân dịp Tết Giáp Ngọ này, Ban Bí thư lại chỉ thị “thực hiện nghiêm chủ trương của đảng và nhà nước” về việc tiết kiệm, chống lãng phí, nhất là “nghiêm cấm mọi hình thức tặng quà Tết cho cấp trên” – điều mà công luận thắc mắc “Hà Nội năm nào cũng có yêu cầu như vậy”, trong khi GS Trần Ngọc Thêm thuộc Đại học Quốc gia TP HCM nêu lên câu hỏi rằng phải chăng chuyện tặng quà Tết ngày nay đang “biến tướng” khiến “kẻ yếu cống nạp, luồn cúi kẻ mạnh” không thể kiểm soát nỗi nên phải cấm? TS Nguyễn Thanh Giang cho rằng:

“Những “lời răn dạy” như vậy đối với các quan chức đâu phải bây giờ mới diễn ra, mà nó là chuyện xưa cũ lắm rồi. Người ta nói để mà nói, chứ ngay cả người nói cũng sẽ nhận quà, được biếu xén không dưới hình thức này cũng bằng hình thức khác; thậm chí những người ra công văn đó, những người hô khẩu hiệu đó, còn được những món quà đút lót to hơn những người không nói.”

Ở VN hiện nay, cái gì cũng là hình thức; học tập tư tưởng, đạo đức của HCM cũng là một hình thức thôi chứ chả hiệu quả gì cả.  -TS Nguyễn Xuân Diện

Theo TS Nguyễn Xuân Diện thì bây giờ, những công văn như thế, những chỉ thị như thế, có ai làm theo đâu?  Thực sự ra những người mà tìm những cái lợi gì đấy trong cuộc đút lót, hối lộ này, họ có thiếu gì cách để mà đút lót, hối lộ. Và những cái văn bản cấm biếu quà Tết hay là cấm không “đi Tết cấp trên” hoặc các cơ quan nọ kia, thì đó chỉ là hình thức thôi. TS Nguyễn Xuân Diện giải thích:

“Vì Tết đến, các bộ phận văn phòng, những nơi ban bố ra cái lệnh như vậy chẳng lẽ không ra cái lệnh gì? Nên thực chất, họ ra văn bản đó chỉ là hình thức thôi chứ cũng không cấm đoán được gì đâu. Và ở VN hiện nay, cái gì cũng là hình thức; học tập tư tưởng, đạo đức của HCM cũng là một hình thức thôi chứ chả hiệu quả gì cả. Hiện càng ngày cán bộ càng sa đọa, càng yếu kém về đạo đức, mất nhân cách nhiều; và các đội ngũ công chức nhà nước – những người gọi là “cơ quan công quyền” – thì càng hư đốn nhiều. Trong những năm gần đây, người ta thấy rất rõ như thế. Cho nên những điều vừa nói chỉ là hình thức mà thôi.”

GS Trần Ngọc Thêm khẳng định rằng nếu cấp trên không thích nhận quà, tỏ thái độ dứt khoát, kiên quyết không nhận thì còn ai dám biếu nữa.

Theo GS Nguyễn Thanh Giang thì việc biếu quà và nhận quà có liên quan nhiều hạng người khác nhau. Cái gọi là tội lỗi về vụ này cũng ở chừng mực khác nhau và sự khinh bỉ dành cho những đối tượng ấy cũng nên khác nhau. Nhưng nói chung, theo GS Nguyễn Thanh Giang, những người nhận quà tội lỗi hơn những người đưa quà, thì những mức độ tội lỗi đó cũng nên xem xét từng trường hợp một.

GS Nguyễn Thanh Giang cũng không quên đề cập tới nhiều loại quà: quà sạch và quà bẩn, có quà đáng lên án, quà đáng trân trọng. Thí dụ như người học trò nhớ ơn thầy, con cái nhớ ơn cha mẹ, việc tặng quà cho thầy, tặng quà cho cha mẹ để bày tỏ lòng biết ơn thì người tặng quà và người nhận quà đều đáng trân quý. Còn trong trường hợp mấy xếp ra “lệnh ngầm” để thuộc cấp phải tặng quà hoặc chính những người cấp dưới đó tặng quà cho lợi ích không trong sạch thì những trường hợp này đáng lên án.

 Thanh Quang, phóng viên RFA
2014-01-20

Đảng trước, Xuân sau

Một bức tranh cổ động trên đường phố Đà Nẵng, ảnh minh họa chụp trước đây. AFP PHOTO

Khẩu hiệu gây tranh cãi

Tại VN trong nhiều năm nay, cứ mỗi độ Xuân về, thì khẩu hiệu “mừng đảng, mừng xuân” lại rộ lên và tiếp tục gây nhiều tranh cãi. Như vậy, vấn đề này “tranh cãi” ra sao, và hiện có cải thiện gì không?

Nghe tường trình

Trong những ngày qua, trước khi tới Ngày Tết Giáp Ngọ 2014, báo chí trong nước xem chừng như ngày càng rộ lên chuyện “mừng đảng” rồi mới “mừng Xuân”. Chẳng hạn như báo Văn Hiến VN quảng bá “Nhiều hoạt động Mừng Đảng – Mừng Xuân Giáp Ngọ 2014”; báo Nam Định “Sôi nổi hoạt động văn hóa, văn nghệ mừng Đảng, mừng Xuân”; trong khi các báo khác thì có “Chương trình ‘Mừng Đảng – Mừng Xuân Giáp Ngọ”, hay “ Giải bóng chuyền Mừng Đảng Mừng Xuân 2014”… Đó là chưa kể các báo phổ biến chuyện nhiều địa phương khắp nước đều có sinh hoạt “mừng đảng mừng xuân” để cái khẩu hiệu ấy luôn trong tinh thần “Bài ca mùa Xuân 61” của “thi bá” Tố Hữu, rằng:

Mà nói vậy trái tim anh đó
Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ
Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều



Thiên nhiên thì đã có từ khi khai thiên lập địa rồi; đất nước thì cũng đã có ngàn tuổi rồi. Còn đảng thì mới có mấy chục năm. Họ tự đề cao như thế là không được.
-Phạm Đình Trọng

Cái khẩu hiệu “mừng đảng mừng Xuân” khiến nhà báo Bùi Đức Lại qua bài “  Nhân chuyện tranh cãi xung quanh một khẩu hiệu” có nhắc đến “một vị tiếng nói vốn có trọng lượng” nêu lên ý kiến đại khái rằng khẩu hiệu này không ổn về phương diện “thứ tự trọng khinh”, bởi vì “xuân là chuyện của muôn lòai vạn thuở, sao lại xếp sau đảng là cái hữu hạn ?”.

Nhà báo Nguyễn Tôn Hiệt có lẽ gay gắt hơn qua bài “Những khẩu hiệu quái đản”, thắc mắc rằng tại sao lại có cái khẩu hiệu đó, “chả lẽ đảng có trước rồi Xuân mới có sau ?”, mà như vậy, “trước khi có đảng, dân tộc ta suốt 4.000 năm không có mùa Xuân hay sao ?”.

Nhà báo Trần Nhương thì lưu ý tới sự “phản cảm”, nhấn mạnh rằng “Viết như thế này rất hại cho đảng” vì “đảng trong dân sao họ cứ tâng đảng lên trên tất cả”, mà “ yêu nhau như thế bằng mười hại nhau…”.

Nhận xét về khẩu hiệu “mừng đảng mừng Xuân”, GS Nguyễn Thế Hùng từ Đà Nẵng nhận xét:

“Chuyện này không hợp lý. Và nhiều người cũng đã nói rồi. Thí dụ như Xuân là Xuân của Đất Trời. Xuân về là vạn vật đâm chồi, nảy lộc. Và con người là một sinh vật rất nhỏ bé được Tạo Hóa ban ơn. Lẽ ra mỗi buổi sáng mở mắt ra là chúng ta phải cảm tạ Thượng Đế. Như vậy thì đầu năm, chúng ta phải mừng Xuân trước rồi mới mừng đất nước. Ông bà mình ngày xưa có câu “Cung Chúc Tân Xuân”, tức là chúc mừng mùa Xuân đã trở về. Như thế nó mới hợp vấn đề mùa Xuân rồi sau đó đất nước, rồi sau đó là cái gì nữa thì nó mới hợp lý, theo lẽ thường tình.”

Từ Saigòn, nhà văn Phạm Đình Trọng có vẻ “gay gắt” hơn trước điều mà ông gọi là “ tự đề cao, không còn biết Trời Đất” trong cái khẩu hiệu đó của đảng:

Một bức tranh cổ động trên đường phố Sài Gòn, ảnh minh họa chụp trước đây. AFP PHOTO.

“Tất nhiên là không đúng rồi. Bởi vì thiên nhiên của đất nước, thiên nhiên thì đã có từ khi khai thiên lập địa rồi; đất nước thì cũng đã có ngàn tuổi rồi. Còn đảng thì mới có mấy chục năm. Họ tự đề cao như thế là không được. Nó lố bịch. Đây là sự tự huyễn hoặc, tự đề cao một cách quá đáng, không còn biết đến Trời Đất, lẽ phải nữa. Một thời đảng quá hợm hĩnh, quá ngạo mạn, tự đề cao mình như thế. Đây là cái mà có lẽ đến bây giờ nó vẫn chưa chấm dứt, và kéo dài kể từ khi xuất hiện người CS đến giờ. Việc tự cho mình là cứu đất nước, mang mùa Xuân đến cho dân tộc, rồi “mừng đảng, mừng Xuân”, tức cái gì cũng đều đưa đảng lên trên cả. Đấy là một sự ngang ngược, ngạo mạn của người CS.”

Nhạc sĩ lão thành trong nước, nhạc sĩ Tô Hải, cũng cảnh báo:

Người dân chỉ cần nói hai chữ dân chủ thôi, hoặc chỉ cần nói “mừng Xuân” trước rồi mới nói “mừng Đảng” là không được rồi. Mà phải nói “mừng Đảng, mừng Xuân”. Ở nước ta, bất cứ chuyện gì cũng có thể trở thành tội phạm, cho nên việc đàn áp thì nhậy bén lắm.

Theo GS Nguyễn Thanh Giang từ Hà Nội thì cái tư duy “đảng trên hết” chẳng khác nào giẫm lên dân tộc để “tô son điểm phấn” cho mình. GS Nguyễn Thanh Giang xem chừng như không dằn được bực tức:

“Tư duy đó là tư duy của kẻ cướp. Đảng luôn luôn giành lợi ích dân tộc đem về cho mình, kể cả giành xương máu của nhân dân, của đồng bào về để tô son vẽ phấn cho đảng. Tức là đảng không phải là người đem lại quyền lợi cho dân tộc, mà bắt dân tộc hy sinh đổ xương đổ máu để tô điểm cho cái gọi là vinh quang hảo của đảng.”

“Thứ tự trọng khinh”

Nhưng cái “thứ tự trọng khinh”, “phản cảm”, “yêu nhau như thế bằng mười hại nhau”… ấy của khẩu hiệu “mừng đảng” trước rồi mới  “mừng Xuân” sau khiến hồi năm 2000, Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên Giáo) đã phải chỉ thị không được “mừng đảng” trước mừng Xuân cùng nhân dân, đất nước vào mỗi độ Xuân về. Tuy nhiên, nhà báo lão thành Hữu Thọ trong nước lưu ý rằng “sau Tết, nghe phản ánh cũng chỉ 3 hay 4 địa phương thực hiện” cái chỉ thị này thôi, và “rồi quan sát trong thực tiễn thì phổ biến lại quay về nếp cũ…”.

Blogger Trần Nhương cũng đề cập tới chuyện “… Hà Nội vẫn chơi kiểu cũ, không chịu thực hiện chỉ thị từ lâu rồi”. Về vấn đề này, nhà văn Phạm Đình Trọng nhận xét:



Chuyện khẩu hiệu “mừng đảng mừng Xuân” có thay đổi hay không thì điều này tôi nghĩ nó phụ thuộc vào từng chỗ, từng nơi, tùy cái chỗ người ta hiểu được hay không.
-GS Nguyễn Thế Hùng

“Trước phản ứng của nhiều người dân thì đảng họ cũng bắt đầu nhìn nhận, đã thấy vấn đề rồi. Do đó, hiện có một số nơi, ngày Tết, họ sửa lại là “mừng Xuân, mừng đảng”. Một số nơi họ đã thay đổi thứ tự chữ như thế. Nhưng hiện còn rất nhiều nơi, họ vẫn theo trật tự cũ là “mừng đảng, mừng Xuân”!

GS Nguyễn Thế Hùng tin là những người  “có trí tuệ” thì họ nghĩ là phải mừng Xuân, mừng đất nước đổi mới; hoặc là mừng mùa Xuân trở về, hay nói cách khác, “Cung Chúc Tân Xuân”, thế thôi. Còn vấn đề có “cải thiện” hay không còn tùy chỗ “người ta hiểu được” hay không:

“Chuyện (khẩu hiệu “mừng đảng mừng Xuân”) có thay đổi hay không thì điều này tôi nghĩ nó phụ thuộc vào từng chỗ, từng nơi, tùy cái chỗ người ta hiểu được hay không. Thí dụ, tôi ở Đà Nẵng, thì có trường họ đề là “Mừng Xuân, mừng đất nước đổi mới”, rồi có chỗ vẫn “mừng đảng, mừng Xuân”. Họ đề rất là lộn xộn.”

GS Nguyễn Thế Hùng tin rằng vấn đề càng ngày càng tỏ, để sau này lịch sử phán xét thôi. Ông lưu ý là sử kiện thì xảy ra một lần, nhưng người viết sử thì họ viết nhiều lần. Nhưng lịch sử sau này rất công bằng, để những gì đúng thì nó sẽ “lắng đọng lại”, còn những gì không đúng thì hậu thế sẽ lên án. GS Hùng khẳng định rằng những người trí thức chân chính thì bao giờ cũng có tầm suy nghĩ có giá trị đến một trăm năm hay hàng ngàn năm về sau, còn những người bình thường thì họ chỉ biết ngày nay, ngày mai mà thôi.

Chuyện “đảng trước, Xuân sau” khiến blogger Hiệu Minh bỗng nhớ lại trước kia khi “Đảng đã cho ta một mùa Xuân” ra rả trên loa phường:

Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng
Một mùa xuân tươi tràn ánh sáng khắp nơi nơi
Đảng đã đem về tuổi xuân cho nước non
Vang tiếng hát ca chứa chan niềm yêu đời

Nhưng rồi blogger Hiệu Minh thắc mắc “Nếu đảng lãnh đạo theo đường lối hiện nay thì cái mùa Xuân năm nao chẳng còn, mà có khi dân lại ‘ước vọng’ mùa xuân khác, thì hỏi rằng lúc đó, đảng tự bỏ điều 4 trong Hiến pháp có muộn lắm không?”

Thanh Quang,
phóng viên RFA

‘Khai hỏa để chứng minh chủ quyền’

Cựu Phó Đề đốc quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), Hồ Văn Kỳ Thoại, nguyên Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải, một trong các chỉ huy trận Hải chiến Hoàng Sa 40 năm về trước, nói về quyết định khai hỏa vào lực lượng của hải quân Trung Quốc tại Hoàng Sa mà quân lực VNCH khi đó đang quản lý và thực hiện chủ quyền.

Hộ tống hạm HQ-10 Nhựt Tảo

Nhân dịp bốn mươi năm sự kiện bi hùng này, cựu Phó Đề đốc hồi tưởng lại bối cảnh của trận hải chiến.

“Năm 1973 mặc dù lực lựợng chiến đấu của Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam nhưng tinh thần chiến đấu của quân lực VNCH rất cao, sau chiến thắng ở An Lộc, tái chiếm Quảng Trị vào năm 1972.

“Các căn cứ hải quân Mỹ đều được bàn giao lại cũng như các chiến hạm cỡ lớn như tuần dương hạm, khu trục hạm để hoạt động tại Biển Đông.

Khi được hỏi về quyết định khai hỏa, Phó Đề đốc Thoại mô tả rằng quyết định này là do điều ông gọi là “từ quyết định của Tổng thống VNCH ông Nguyễn Văn Thiệu.”

Khai hỏa

Tổng thống Thiệu Đồng ý dùng vũ lực’

Khi ngồi trong phòng họp của Bộ Tư lệnh Quân 1 duyên hải, có các tướng lãnh của Bộ Tổng tham mưu cũng như có vị Trung tướng Quân đội 1 thì sau khi nghe tình hình và tin tức tình báo thì ông [ông Nguyễn Văn Thiệu] quyết định rằng tôi phải làm tất cả những gì để chứng minh chủ quyền.

“Trước hết là phải dùng các biện pháp ôn hòa như đèn hiệu, cờ hiệu, loa để mời họ ra khỏi lãnh hải và lãnh thổ VNCH.

“Tuy nhiên nếu tất cả các biện pháp ôn hòa không thành công thì ông cho phép tôi dùng vũ lực để chứng minh chủ quyền của VNCH trên những đảo đó nên các chiến hạm đã làm tất cả các biện pháp đó rồi nhưng không được nên phải nổ súng.

Phó Đề đốc Thoại cũng xác nhận rằng không có lệnh nào không cho nổ súng.

“Nếu mà tôi không thi hành đúng lệnh đó [dùng vũ lực để chứng minh chủ quyền] thì sau cuộc hải chiến rồi cũng sẽ có người hỏi tôi từ Bộ Tổng tham mưu hay từ Phủ Tổng thống.

Trước câu hỏi về có thông tin không quân VNCH lúc đó ở thế sẵn sàng để tái chiếm đảo Hoàng Sa nhưng đã không xảy ra việc này, Phó đề đốc Thoại nói rằng ông “thực sự không nhớ có kế hoạch gì để đưa không quân VNCH ra tái chiếm”.

Ông Thoại nói Tổng thống Thiệu cho phép ông dùng vũ lực để chứng minh chủ quyền.

“Riêng tôi thì tôi không được biết. Những gì trao đổi ở Sài Gòn, nếu có xảy ra, thì không được thông báo. Ông Tư lệnh Sư đoàn 1 Không quân cũng như Tư lệnh Quân khu 1 là Trung tướng Ngô Quang Trưởng với tôi là ba người chỉ huy và chịu trách nhiệm những gì xảy ra ở Quân khu 1 thì tôi không được nghe biết và tôi cũng không nhớ rằng tôi có nghe những kế hoạch nào từ trong Sài Gòn dùng không quân để tái chiếm lại Hoàng Sa.

“Quyết định đó có thể có và cũng có thể không.

“Nhưng có một điều tôi biết là Sư đoàn 1 Không quân, phi đoàn khu trục phản lực F5 lúc nào cũng sẵn sàng ở phi trường để cất cánh khi có lệnh để bảo vệ các chiến hạm của Hải quân VNCH.”

Phó Đề đốc Thoại cho biết thêm sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhiều tài liệu tiết lộ cho thấy tình báo quân đội Mỹ biết về các cuộc thao tập của Trung Cộng tại các hòn đảo phía đông bắc Hoàng Sa từ tháng 9/1973 để chuẩn bị cho các cuộc tấn công vào các hải đảo Hoàng Sa.

“Họ chỉ cho mình những tin tức tình báo thôi còn những quyết định làm gì thì do phía Chính phủ VNCH quyết hết. Họ cũng không khuyên mà cũng không cản việc gì cả,” ông Thoại cho biết.

‘Nguy hiểm tột cùng’



Người Việt hiện tại hay mai sau nếu còn muốn có một quê hương và muốn giữ mảnh đất mồ mả ông cha mình thì nên sớm thức tỉnh và thấy rõ sự nguy hiểm tột cùng của sự lấn chiếm mỗi ngày một thêm của Trung Cộng
Cựu Phó Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại

Trước câu hỏi về ‎có ý kiến cho rằng phía chính phủ VNCH chưa làm hết để bảo vệ cho Hoàng Sa, ông Thoại nhận xét:

“Tôi không hiểu chưa làm hết là như thế nào. Mình phải nhớ rằng vào giai đoạn 1973-1974 khi không còn lực lượng quân đội Mỹ thì quân lực VNCH có trách nhiệm rất lớn.

“Ngoài những nhiệm vụ có sẵn rồi thì còn đảm nhận thêm nhiệm vụ của 500 ngàn quân Mỹ đã rút đi thì lực lượng của VHCH bị xé lẻ ra rất nhiều.

“Thành ra nhiệm vụ chính là làm sao cho miền Nam không bị tràn ngập hơn là những các hải đảo ngoài khơi cần phải có lực lượng để chiếm đóng.

Khi được đề nghị gửi ra thông điệp cho thế hệ trẻ người Việt ở trong nước cũng như tại hải ngoại, Phó đề đốc Thoại nói:

“Kinh nghiệm cho thấy từ Đệ nhị Thế chiến cho thấy cuộc xâm lăng của một quốc gia mạnh với những nước nhược tiểu, nếu không được một cường quốc khác can thiệp ngay từ lúc đầu, thì cuộc xâm lấn sẽ bành trướng thêm và sự thiệt hại là rất lớn đối với các quốc gia liên hệ.

“Riêng về phần Việt Nam thì người Việt hiện tại hay mai sau nếu còn muốn có một quê hương và muốn giữ mảnh đất mồ mả ông cha mình thì nên sớm thức tỉnh và thấy rõ sự nguy hiểm tột cùng của sự lấn chiếm mỗi ngày một thêm của Trung Cộng.

“Cùng nhau có hành động thích ứng và khẩn cấp trước khi quá trễ và để cả thế giới và con cháu mình thấy là sự hy sinh của 74 chiến sỹ ở Hoàng Sa năm 1974 là một ngọn đuốc, biểu tượng cho sự can trường của người chiến sĩ hải quân và là phát súng khởi đầu cho một cuộc chiến chống ngoại xâm từ phương Bắc trong vùng Đông Nam Á và trong thế kỷ 21.

“Tôi cũng nhân dịp này nghiêng mình trước anh linh của 74 tử sĩ VNCH và tôi xin có lời hỏi thăm tới các gia đình tử sĩ và nhất là các chiến hữu còn ở lại Việt Nam cũng như các chiến hữu ở khắp năm châu đã tham dự hải chiến Hoàng Sa lời hỏi thăm và lời chúc chân thành nhất của tôi,” Cựu Phó Đề đốc nói thêm.

Cuộc phỏng vấn với ông Hồ Văn Kỳ Thoại, hiện ở Houston Texas Hoa Kỳ, do nhà báo kiêm đạo diễn Trần Nhật Phong, một cộng tác viên của BBC Việt ngữ đang sống làm việc tại Nam California.

Trần Nhật Phong
Theo BBC

Người Việt ở Nhật xuống đường nhân 40 năm “hải chiến Hoàng Sa”

(NCTG) Người Việt Nam ở Nhật cũng biểu tình tuần hành và gửi văn bản phản đối chính quyền Trung Quốc vì sự cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa, diễn ra cách đây tròn bốn thập niên.
clip_image001

Tờ “Sankei” (Sản Kinh) dẫn nguồn từ Hãng Thông tấn Nhật Kyodo cho hay, khoảng một trăm người, là những viên chức và lưu học sinh Việt Nam tại Nhật đã tổ chức diễu hành biểu tình ở khu Minato (nơi tập trung nhiều đại sứ quán nước ngoài ở thủ đô Tokyo), đồng thanh hô vang khẩu hiệu “Trung Quốc hãy cút khỏi Tây Sa, Hòa bình cho biển Đông” (*).

Những người tham dự đã tập trung lại qua lời kêu gọi trên mạng xã hội Facebook. Cuộc tuần hành khởi đầu lúc 10 giờ sáng ở đoạn đường gần ĐSQ Trung Quốc, và diễn ra trong khoảng 45 phút. Trên quãng đường dài chừng 1,7 km, biểu ngữ “Các bạn Nhật và các nước ASEAN, Việt Nam vì hòa bình trên biển Đông, sẽ cùng hành động với các bạn” đã được giơ cao.

Đoàn biểu tình cũng đã bỏ vào hộp thư trước cửa ĐSQ Trung Quốc văn bản phản đối việc Trung Quốc đưa ra luật cấm đánh bắt cá trên biển Đông. Trao đổi với báo chí, một thanh niên (29 tuổi) đang du học tại một trường đại học quốc lập ở Tokyo, đã chia sẻ: “Việt Nam là một đất nước nhỏ bé nhưng cả chúng tôi, thế hệ trẻ, muốn khẳng định với cộng đồng quốc tế rằng Hoàng Sa thuộc chủ quyền lãnh thổ của đất nước chúng tôi”.

*

Trở lại lịch sử, vào ngày này cách đây tròn bốn mươi năm, đã xảy ra một trận chiến giữa Hải quân Việt Nam Cộng hòa và Hải quân Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa, khi đó do Việt Nam Cộng hòa bảo vệ và thực hiện được chủ quyền. Trận chiến này, về sau được gọi bằng cái tên “Hải chiến Hoàng Sa 1974”, và gắn liền với tên tuổi của 74 quân nhân Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh khi bảo vệ tổ quốc.

Kể từ năm 1975, “Hải chiến Hoàng Sa” trở thành một “điểm trắng” trong lịch sử Việt Nam khi nó ít được nhắc tới trong sách vở và dần dần trở thành một đề tài “cấm kỵ” trong “chính sử”. Phải tới dịp hồi tưởng năm nay, nhân tưởng nhớ bốn mươi năm mất Hoàng Sa, báo chí trong nước mới có dịp đăng tải những chuỗi bài vở về sự kiện Quân đội Cộng sản Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19-1-1974.

Cuộc biểu tình của người Việt tại Nhật Bản nói trên là một trong số nhiều nỗ lực của người Việt trên toàn thế giới hướng về Hoàng Sa. Trong khuôn khổ chương trình “Nhịp cầu Hoàng Sa” do một số cá nhân chủ trương, chỉ sau 12 ngày, hơn 500 triệu đồng đã được quyên góp để ủng hộ phần nào “cho thân nhân những người lính đã hy sinh ở Hoàng Sa và cho những người lính từ Hoàng Sa trở về sống âm thầm suốt 40 năm qua”.

Bên cạnh đó, trong vòng 8 ngày, đã có hơn 16 ngàn người trên thế giới ký tênvào một lá thư gửi Liên Hiệp Quốc nhân 40 năm Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa. “Đây cũng là dịp để cả thế giới nhìn lại sự kiện này và cũng là dịp để Trung Quốc có thể sửa chữa sai lầm của mình trong quá khứ” – lá thư được soạn thảo bởi hai tổ chức dân sự độc lập Quỹ Nghiên cứu Biển Đông và Nhóm Biển Đông tại Pháp nhấn mạnh.

Với những tâm nguyện yêu nước mạnh mẽ như thế, người dân Việt Nam có quyền mong mỏi và đòi hỏi một thông điệp rõ ràng, cương quyết và trước sau như một hơn nữa từ phía chính quyền, nhất là khi đúng vào dịp tưởng niệm,Chương trình ca nhạc hát về biển đảo quê hương và Lễ thắp nến tri ân Hướng về Hoàng Sa ở Đà Nẵng đã bị hủy vào phút chót vì những lý do không được nêu rõ, loạt bài viết trên báo chí về “Hải chiến Hoàng Sa” thì đột ngột bị ngừng và cho “ẩn” vào trong những trang báo mạng…  (**)

Ghi chú:

(*) Tây Sa là tên mà chính quyền Trung Quốc gọi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

(**) Tham khảo clip một số hình ảnh trong lễ tưởng niệm bốn mươi năm Hoàng Sa bị Trung Quốc cưỡng chiếm bất hợp pháp (Hà Nội, ngày 19-1-2014).

NCTG
Nguồn: http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=4030

Xem thêm hình ảnh cuộc biểu tình tại Tokyo:

clip_image003
clip_image005
clip_image007
clip_image009
clip_image011
clip_image013
clip_image015
clip_image017
clip_image019
clip_image021
clip_image023
clip_image025
clip_image027
clip_image029
clip_image031
clip_image033
clip_image035
clip_image037
clip_image039
clip_image041
clip_image042
clip_image039[1]
clip_image044
clip_image046
clip_image048
clip_image050
clip_image052
clip_image054
Nguồn: dttl-nguoilotgach.blogspot.com

 

Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về báo chí

Đến tháng 1/2014, cả nước có 838 cơ quan báo chí in, tăng 25 cơ quan; 375 báo, tạp chí, trang thông tin điện tử; 67 đài phát thanh, truyền hình và một Hãng thông tấn quốc gia là ngân hàng tin đối nội, đối ngoại, chủ quản nhiều bản tin, báo, tạp chí, kênh truyền hình thông tấn.
Thứ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông Nguyễn Minh Hồng cho biết năm 2014, Bộ tập trung đẩy mạnh công tác quản lý Nhà nước về báo chí; tăng cường phổ biến Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí.
Cùng với việc khắc phục có hiệu quả hiện tượng một số tờ báo xa rời tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ, Bộ tập trung chấn chỉnh thông tin sai sự thật, thiếu chính xác, thông tin không phục vụ lợi ích đất nước, nhân dân.
Bộ cũng tăng cường quản lý, cung cấp thông tin, sử dụng dịch vụ Internet, đặc biệt là đưa thông tin trên các trang điện tử, blog, mạng xã hội vào nề nếp; tiếp tục triển khai chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011-2020, các nhiệm vụ thuộc chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở và Đề án Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển đảo Việt Nam.
Cùng với việc đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, các quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Bộ chỉ đạo các cơ quan báo chí tăng cường truyên truyền chủ trương của Đảng, Nhà nước và sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để định hướng, xây dựng lòng tin trong nhân dân, tạo sự đồng thuận trong xã hội, nhất là việc thực hiện Hiến pháp và Luật đất đai sửa đổi.
Năm 2013, công tác quản lý thông tin, tuyên truyền chủ chương, chính sách của Đảng, Nhà nước có nhiều tiến bộ.
Bộ Thông tin Truyền thông thường xuyên chỉ đạo các cơ quan báo chí thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích; bám sát sự kiện, chủ động thông tin rõ quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước; thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng.
Bộ cũng phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức tốt giao ban báo chí hàng tuần, các hội nghị báo chí toàn quốc; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý sai phạm trong hoạt động báo chí; kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh các thông tin sai lệch của một số cơ quan báo chí.
Các cơ quan báo chí đã tập trung truyền thông về những sự kiện hoạt động kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước; thông tin, phản ánh toàn diện về những vấn đề xã hội, dư luận quan tâm cũng như về cơ chế, chính sách, những mô hình, điển hình tiên tiến, những thành quả đạt được.
Đặc biệt, các cơ quan báo chí đã thông tin tốt về cuộc đời, sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Lễ quốc tang, tình cảm của nhân dân trong nước, bạn bè quốc tế dành cho Đại tướng.
Các cơ quan báo chí cũng tập trung thông tin, tuyên truyền về Nghị định của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng ở cả trong nước và quốc tế; phổ biến Quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí; triển khai hiệu quả các đề án tuyên truyền được Chính phủ giao như: an toàn giao thông, an toàn vệ sinh lao động, Cuộc vận động người Việt Nam dùng hàng Việt Nam… và các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo.
Tuy nhiên công tác chỉ đạo, quản lý báo chí thời gian qua vẫn đôi lúc chưa chủ động, lúng túng, chạy theo sự vụ.
Một bộ phận cán bộ quản lý hạn chế về năng lực, nhận thức chưa đầy đủ về các văn bản chỉ đạo, quy phạm pháp luật về báo chí. Vai trò của cơ quan chủ quản chưa được phát đầy đủ, còn có hiện tượng né tránh trách nhiệm với sai phạm của cơ quan báo chí thuộc quyền./.
(TTXVN)

Đại gia trốn nợ, mặc bố mẹ già tủi nhục đón Tết

Mang tiếng con rể làm giám đốc công ty BĐS trên Hà Nội nhưng cả năm nay ông bà Hải không thấy mặt con, những tháng cuối năm ông bà bấm bụng bỏ tiền tự mua quà gắn mác con rể tặng.
Sát Tết, đại gia nhập viện trốn nợ
Cách đây hai năm, đám cưới con gái ông bà Hải với cậu giám đốc công ty BĐS trên Hà Nội được cho là linh đình nhất làng. Cái làng quê nghèo được một phen bàn tán xôn xao bởi danh tính cậu rể mới làm ăn khấm khá, mấy nhà biệt thự trên Hà Nội, đi xe hơi, tiêu tiền quyển. Đây không chỉ là ước mơ của bao cô gái ở thôn quê cũng như không ít ông bố bà mẹ phải thèm thuồng. Con gái ông bà Hải lấy chồng ai cũng bảo như chuột sa chĩnh gạo. Ông bà Hải được nở mày nở mặt, ít ai có được cái vinh đự đó.
Ấy vậy mà trong lòng ông bà Hải đang phải ngậm cay đắng. Đám cưới tổ chức xong chưa được bao lâu, cô con gái đã nức nở gọi điện về báo tin chồng có nguy cơ vỡ nợ. Hai căn biệt thự thế chấp ngân hàng có nguy cơ bị thu hồi, còn lại mấy lô đất chưa kịp bán lại không có sổ đỏ. Trong lúc đang mang bầu, con gái ông bà Hải lúc nào cũng lo lắng vì có thể bị đuổi ra đường bất cứ lúc nào.Từ xe hơi nhà lầu, bỗng chốc, gia đình con rể đã trở về con số 0.
đại-gia, đại-gia, bất-động-sản, đại-gia-nhà-đất, vỡ-nợ, kinh-doanh, tết-bất-động-sản, buôn-đất
Không ít đại gia ngao ngán vì sắp Tết
Cái tin vỡ nợ khiến bà Hải nghẹn lòng, ông bà bàn nhau giữ kín bí mật này không chỉ giữ thể diện cho con mà cũng lo cho mình. Ở cái làng quê này, vỡ nợ vài chục triệu đã xôn xao khắp xóm, nay mà có tin vài chục tỷ đồng chắc chắn ông bà cũng muối mặt không dám ra đường.
Con gái sinh nở, bà lên trông cũng phải sống trong căn chung cư chật chội. Lắm lúc bà buồn rầu: “Con rể làm giám đốc nghe thì oai chứ giờ chẳng được nước non gì, lên chăm con còn phải mang đồ lên, rồi bỏ tiền lương ra mà nuôi cháu mình. Làm ăn có thời cũng không trách chúng nó được, bố mẹ nào mà không lo cho con cho cháu.”
Ông bà Hải mỗi tháng cũng trả nợ cho con vì vay mượn hơn bốn trăm triệu từ năm ngoái. Từ đó tới nay, ông bà Hải phải gồng sức mình vì phải lo thêm cho con. Thỉnh thoảng hàng xóm xung quanh vẫn thấy ông bà lên thủ đô vài ngày rồi về mang lỉnh kỉnh đồ đạc. Hàng xóm vẫn tin rằng, ông bà được nhờ con rể.
 
Tết không dám về quê
Tết đến ai cũng nghĩ về quê hương gia đình, nhưng đối với ông Trung đó lại là một nỗi ám ảnh. Lên Hà Nội lập nghiệp xa quê cũng chừng chục năm nhưng mấy năm gần đây ít thấy gia đình ông về. Cuối năm 2011, tình hình kinh doanh bết bát, số tài sản hàng chục tỷ đồng của gia đình ông vơi dần, giờ chỉ còn cái nhà trên tận Hòa Lạc. Cũng vì vậy mà gia đình không dám về quê bởi mỗi lần như vậy cũng tốn tiền triệu.
Hồi làm ăn khấm khá, từ 27 Tết, chiếc xe BMW đã về làng mang theo đủ thứ, từ việc mua sắm đồ ăn, rượu ngoại chưa kể cây cảnh quất đào, rồi tiền biếu ông bà, lì xì cho con trẻ. Nhà ông lúc nào cũng ăn uống nhậu nhẹt hát hò linh đình từ đó cho tới qua Tết.
Kinh tế khó khăn, ông Trung bắt đầu cắt giảm những khoản lễ nghi, từ việc ít về giỗ, đám cưới họ hàng nay thì Tết cũng không. “Tết quê về lắm thủ tục, mỗi lần tốn cả vài chục triệu ấy chứ, giờ không phải là lúc tiêu hoang. Năm nay lại cáo lỗi ông bà ở quê vì không về được”, ông Trung tâm sự.
Theo chia sẻ của ông Trung, so với nhiều bạn bè làm ăn cùng thời, ông cũng còn may bởi vẫn còn có nhà, tiền thì đang còn ở đất. Không ít đối tác của ông giờ còn đang ở nhà thuê, đi xe mượn.
Cũng như ông Trung, vợ chồng chị Thảo kết hôn mấy năm nay cũng chưa một lần về quê ăn Tết. Quê Nam Định, chị vào TP HCM học rồi lấy chồng. Tới nay, chỉ có bố mẹ chị biết mặt con rể và hiểu được gia cảnh. Người làng vẫn đồn nhau, chị lấy được chồng giàu, mải làm ăn không có thời gian về ngoại.
Thị trường BĐS gặp khó khăn, vẫn mác giám đốc nhưng chồng chị nợ nần đủ kiểu, mấy mảnh đất bán rẻ cũng không ai mua. Chính vì thế, bảo về quê ra mắt họ hàng nhà ngoại quả là một điều khó khăn, tốn kém. Chị Thảo tính sơ sơ: “Tiền vé máy bay cho ba người, rồi tiền quà cáp, chi tiêu cũng phải chục triệu, thôi đành không lễ nghĩa gì”.
Năm ngoái, gia đình chị kiếm cớ trời lạnh con nhỏ không về được ăn Tết bắc, vợ chồng chị cũng chỉ gửi cho ông bà ngoại một triệu sắm Tết. Tết này cũng đang tìm cách trì hoãn để về quê ngoại.
Làm ăn khó khăn, chính vì thế mà Tết vui bỗng trở thành nỗi ám ảnh của nhiều người. Đâu đó, có đại gia lấy lý do bận đi công tác, con nhỏ,… đó là những cách để trốn quê, trốn nợ.
Khánh Chi
(VEF)

Thượng tá công an trong clip “công an túm cổ cụ già” lên tiếng

(ĐSPL) – Đoạn clip xuất hiện trên mạng xã hội và đã có sự lan tỏa trên các trang báo. PV đã có buổi trao đổi với người có mặt trong clip và cũng như cơ quan nơi quản lý người Công an mặc sắc phục trong clip xuất hiện ngày 17/1 vừa qua.
Đoạn clip lan truyền trên mạng xã hội vào ngày 17/1 kéo dài hơn 1 phút đồng hồ với lời chú thích: “Công an Thanh Hóa… đánh bà già”. Ngay sau khi đoạn clip xuất hiện trên Facebook của người đăng tải, đã có hàng nghìn lượt chia sẻ và những bình luận trái chiều về đoạn clip.
 
Ngay sau khi đoạn clip trên xuất hiện, PV đã tìm hiểu thực tế, bà lão bị người Công an túm cổ áo tên là Nguyễn Thị Chút (sinh năm 1930), trú ở đội 8, thôn Quyết Thắng, xã Quảng Thịnh, huyện Quảng Xương, TP Thanh Hóa. Theo thông tin bà Chút cung cấp, bà giờ chỉ còn một mình, vì một số khúc mắc với chính quyền sở tại, nên bà vẫn chưa thể hưởng chế độ cho người có công. Hiện bà cụ rất khó khăn, đã nhiều năm nay bà luôn đi khiếu kiện ở nhiều nơi xong vẫn bị các ban ngành chức năng nơi đây từ chối không giải quyết cho bà với lý do là bà có vấn đề về sức khỏe.
Bà Nguyễn Thị Chút cùng chiến sĩ Công an đang giằng co ngay cổng Công an TP Thanh Hóa.
Theo những hình ảnh trong đoạn Clip thì bà Chút đứng trước cổng Công an TP Thanh Hóa thì bất ngờ một một người mặc sắc phục Công an với dáng dấp cao to từ trong trụ sở Công an TP Thanh Hóa đi ra. Bà Chút đã la lối và chửi bới người Công an này, sau lời la ó không mấy thiện cảm thì bất ngờ người Công an này đã túm cổ áo của cụ bà lôi thẳng ra ngoài khiến cụ ngã nhào xuống đường phố…
Sau khi clip này được báo chí đăng tải, chiều ngày 20/1, PV đã có cuộc trao đổi với Đại tá Trần Văn Thực, Chánh VP Công an tỉnh Thanh Hóa, đồng thời là người phát ngôn báo chí. Ông Thực xác nhận, sự việc xảy ra vào khoảng 16h ngày 17/1 vừa qua. Người trong clip là Thượng tá Nguyễn Văn Chung, Phó phòng cảnh sát bảo vệ cơ động của Công an Thanh Hóa. Hôm đó, anh Chung có đi tham dự một cuộc họp ở Công an TP Thanh Hóa, sau khi họp xong, khoảng tầm 16h anh Chung đi ra cổng thì gặp bà Chút đứng ở cổng Công an TP Thanh Hóa.
Cũng theo Đại tá Thực, bà Chút đã đến nhiều các ban ngành chức năng để đòi hỏi giải quyết chế độ cho con của bà đi bộ đội trước đây. Bà Chút là người có biểu hiện của bệnh tâm thần từ trước năm 1997, những năm đầu bà hay đến tỉnh đội, nhưng đến thời gian gần đây tất cả các cơ quan. Đã có lần cơ quan chức năng đưa bà vào trại giáo dưỡng nhưng rồi bà lại trốn về và tiếp tục đi khiếu kiện, hễ cứ thấy ai là người có tuổi ở các cơ quan công quyền là bà lại gọi và chửi bới lăng mạ. Còn anh Chung là phó phòng bảo vệ cơ động nên đã nhiều lần giải thích cho bà, nhưng bà vẫn không nghe và tiếp tục đến các cơ quan công quyền để đòi hỏi yêu sách của mình.
“Anh Chung là người rất hiền lành. Cho đến nay cơ quan Công an tỉnh Thanh Hóa vẫn chưa có ý kiến chỉ đạo gì đối với anh Chung nhưng đã có báo cáo bằng văn bản với văn phòng của Bộ Công an. Theo như anh em có báo cáo lại là hôm nay, anh em tập trung lực lượng của các ban ngành để vận động đưa bà Chút vào lại trung tâm giáo dưỡng”, người phát ngôn của Công an tỉnh Thanh Hóa cho biết.
Khi hỏi Đại tá Thực về người gốc của clip đó thì ông cho hay, vẫn chưa xác minh được nguồn gốc xuất xứ của clip.
Đại tá Trần Văn Thực, Chánh VP Công an tỉnh Thanh Hóa trao đổi với báo chí.    
Mang đoạn clip này đến gặp Thượng tá Nguyễn Văn Chung, Phó phòng cảnh sát bảo vệ cơ động tỉnh Thanh Hóa, là người trong clip cho biết, anh chỉ phản xạ theo tự nhiên chứ không có ý đồ xấu đối với bà Chút cả.
“Thật sự tôi rất bất ngờ trước vụ việc, thực ra tôi cũng không có ý đồ gì xấu xa, đó chỉ là phản xạ tự nhiên cảu tôi, khi cụ giơ tay đẩy vào ngực tôi. Đã nhiều lần tôi đưa cụ về nhà nhưng không hiểu sao cụ lại lang thang trên phố nhiều đến thế. Hôm ấy tôi vừa họp trong cơ quan ra thì bất ngờ cụ bà lao vào túm lấy cổ áo tôi rồi nói: “Đây! Thằng Chung đây rồi! Mi chạy đi mô?”. Do phản xạ theo bản tính tự nhiên nên tôi gạt tay cụ và vô tình làm ngã cụ chứ không có ý gì đâu. Họp xong tôi đang có công việc gấp nên phải đi ngay”, anh Chung phân trần.
Đã khoảng hai mươi năm nay cụ Chút thường đi đến các cơ quan, gặp ai cũng chửi bới. Trước kia, bà cụ có một người con đi quân đội bị kỷ luật đuổi ra khỏi nghành. Sau khi bị đuổi, người con này bỗng đi đâu mất tích bên Campuchia, đến nay chưa trở về nhà nên bà vẫn đi đến các công sở để thắc mắc.
Phong Trần

Những ‘hổ báo’ dũng mãnh trong đám đông

Khác với lúc đứng riêng rẽ một mình, cái vô danh trong đám đông đem lại cho người ta một sự an toàn và cảm giác được bảo vệ nhất định.
Cuối năm nhìn lại, ngỡ ngàng vì năm cũ đã qua với không ít câu chuyện giật mình.
Nào những người dân bình thường hiền lành, thân ái với nhau, lại trong tích tắc trở nên khác hẳn, hăm hở lao vào núi bia đổ, lễ mễ khuân ra mấy bịch, rồi háo hức quay lại làm đợt nữa. Điều gì đã xảy ra?
Điều gì làm cho một số thanh niên, đang đi chơi với bạn gái, bỗng hăng lên lao vào “đánh hôi” kẻ trộm chó như đi trẩy hội?
Lý do gì làm những người công dân xây dựng hàng ngày chăm chỉ mang cơm đi làm, bỗng trở nên hung hãn và đập phá chính ngay công việc đem lại miếng cơm manh áo cho họ?
Sẽ hời hợt nếu chỉ đưa ra những bình luận chung chung về sự xuống cấp của xã hội, về niềm tin bị đánh mất, về người Việt thiếu văn hoá.v.v…
Để hiểu được những hiện tượng này và truy tìm nguyên nhân, chúng ta cần nhìn sâu hơn vào tâm lý đám đông và xem họ vận hành.
Đám đông là… vô danh 
Một đám đông có những yếu tố đặc biệt.
Thứ nhất, trong đám đông, các thành viên của nó vô danh. Khác với lúc đứng riêng rẽ, cái vô danh trong đám đông đem lại cho người ta sự an toàn và cảm giác được bảo vệ nhất định.
Thứ hai, đám đông gây phấn khích. Những người đã từng ở trong một sân vận động khổng lồ đều biết cảm giác đó  khác với cảm giác khi xem trận bóng trước màn hình TV. Số đông cộng hưởng và tạo ra một năng lượng đặc biệt, sự hưng phấn có sức lây lan lớn. Lúc đó, cô gái nhút nhát nhất cũng có thể văng tục ngon ơ và cho ngón tay vào mồm, cùng huýt sáo la ó trọng tài.
Đám đông, thất nghiệp, xã hội, con người, tâm lý, đạo đức
Và cuối cùng, đám đông rùng rùng chuyển động và trăm người như một cùng làm một hành vi nào đấy, khi họ được một sự kiện bất ngờ châm ngòi.Ảnh VTC
Đám đông cũng đem lại cho các cá nhân trong nó cảm giác về quyền lực. Trong đám đông, những người vốn thấp cổ bé họng bỗng có cảm giác mình mạnh mẽ. Chúng ta hẳn còn nhớ một người đàn ông Đồng Nai vừa bê bia vừa trừng mắt quát người tài xế xe tải: “Báo công an đi, ông thách đấy!”
Không có gì nguy hiểm hơn là xây dựng một xã hội mà trong đó một nhóm lớn có cảm giác là họ không được can dự, rằng họ không có gì để mất. Nếu người ta có quyền lợi trong xã hội, người ta sẽ bảo vệ xã hội, nhưng nếu không, họ sẽ vô thức muốn phá huỷ nó.”
Và cuối cùng, đám đông rùng rùng chuyển động và trăm người như một cùng làm một hành vi nào đấy, khi họ được một sự kiện bất ngờ châm ngòi.
Giả sử như trăm thùng bia xếp ngay ngắn ven đường, thì kể cả chỉ có một người trông coi thôi, chắc cũng không ai nghĩ tới chuyện xông vào lấy. Bia đổ tung toé ra đường tạo ra một tình huống lạ, một điều bất thường, và sự kết hợp của sự vô danh, phấn chấn lây lan, cảm giác quyền lực và an toàn, làm giảm đáng kể ý thức trách nhiệm của mỗi người về hành vi của mình, biến một bà mẹ mẫu mực thành một người hớn hở gom bia mặc dù trong nhà không có ai uống, để tới lúc tỉnh cơn say mới hối hận về hành động của mình.
Trong đám đông, con người dễ đánh mất bản thân.
Nhưng, chen chúc lượm bia  hay bẻ mấy cành hoa trong một hội chợ vẫn khác xa với việc xông vào đánh tới chết một kẻ trộm chó, hay châm lửa đốt rụi hàng chục xe máy. Điều gì khiến đám đông trở thành sức mạnh phá huỷ – nhiều khi phá chính môi trường sống của họ?
Nguyên cớ có vẻ gần giống như chuyện các CĐV bóng đá ở Anh bỗng nhiên hỗn chiến và giật tung ghế của sân vận động, hay xa hơn là làn sóng đập phá và hôi của ở London năm 2011 làm toàn thế giới kinh ngạc, lý do của 6 ngày bạo lực và cướp bóc ở Los Angeles năm 1992 làm 53 người tử vong.
Đám đông ngoài lề? 
Có một điểm chung ở tất cả các sự kiện nói trên, đó là, tất cả đều là đám đông những người ngoài lề, những người thấp bé trong xã hội, thu nhập thấp hoặc thất nghiệp, và không có cơ hội.
Họ mang sẵn trong mình sự cáu kỉnh và chán nản. Họ bực bội với bản thân, với cuộc đời, với những thứ xung quanh. Khi họ nhập vào một đám đông, như Gustave Le Bon nhận xét trong Tâm lý học đám đông, họ đánh mất tính cá nhân, tính độc lập, khả năng đánh giá và phán xét đạo đức. Họ bị cuốn vào ảnh hưởng phi lý của xung quanh.
Đám đông có thể làm những việc mà mỗi cá nhân, nếu đứng riêng biệt, sẽ không bao giờ nghĩ là họ có thể làm. Chỉ cần một sự kiện nhỏ xảy ra…
Đám đông, thất nghiệp, xã hội, con người, tâm lý, đạo đức
Do đó, đám đông có thể làm những hành động phá huỷ và bạo lực mà mỗi cá nhân, nếu đứng riêng biệt, sẽ không bao giờ nghĩ là họ có thể làm. Ảnh VTC
Ở khía cạnh tâm lý, đó thực chất là cảm giá bất lực, đứng ngoài lề, không làm chủ cuộc đời mình. Họ thấy họ như những kẻ lạ trên chính mảnh đất của mình, bị bỏ rơi. Họ thấy họ kém cỏi, vô giá trị. Vì thế, họ dễ dàng ngấm cái say của một đám đông nổi loạn…
Ít nhất, trong khoảnh khắc đó, họ có cảm giác mình là người thắng, người mạnh, rằng cuộc sống thú vị, sôi động, làm họ quên đi cái mòn mỏi hàng ngày. Đám đông cho họ một bản sắc, cho họ một nơi để thuộc về.
Đám đông “mới” của ngày nay khác đám đông “cũ” năm xưa. Đám đông cũ, qua quá trình được “vận động” tham gia cách mạng, đã phát triển cho mình một nhận thức.
Còn ngày nay?
Những công nhân và người nghèo bây giờ đơn giản bị kẹt trong cái bẫy nghèo. Những người, mà như Oscar Lewis đã định nghĩa trong Văn hoá của nghèo khổ năm 1998, “có rất ít ý thức về lịch sử. Họ là những người bên lề, chỉ biết tới những vật lộn của bản thân, chỉ biết được hoàn cảnh của địa phương họ, thế giới hẹp của họ, cách sống riêng của họ. Thông thường, họ không có kiến thức, tầm nhìn hay ý thức hệ để nhận ra những điểm tương đồng giữa những vấn đề của họ và vấn đề của những người giống họ trên thế giới. Nói một cách khác, họ không có ý thức giai cấp, mặc dù họ rất nhạy cảm với sự phân biệt về đẳng cấp”.
Phải kinh ngạc để nói rằng, những đám đông nổi loạn bây giờ không có quan điểm xã hội hay thông điệp chính trị gì. Những công nhân đập phá ở Samsung không đưa ra một đòi hỏi cụ thể gì cho doanh nghiệp hay công đoàn; những người dân đánh trộm chó  không có yêu cầu gì với công an hay chính quyền.
Chính vì vậy, sự hung hãn bùng phát thường bất ngờ với các nhà bình luận xã hội và các nhà chức trách, lúc đó họ mới bối rối đi tìm lý do và lời giải thích.
Lời giải thích đơn giản nhất có lẽ đến từ Martin Luther King: “Không có gì nguy hiểm hơn là xây dựng một xã hội mà trong đó một nhóm lớn có cảm giác là họ không được can dự, rằng họ không có gì để mất. Nếu người ta có quyền lợi trong xã hội, người ta sẽ bảo vệ xã hội, nhưng nếu không, họ sẽ vô thức muốn phá huỷ nó.”
Một xã hội ổn định là xã hội không chỉ dành cho các nhóm lợi ích; những nhóm lớn cũng phải được tiếp cận một phần tử tế của miếng bánh, một cảm giác xã hội là của họ, phục vụ họ thực sự chứ không phải chỉ trên các khẩu hiệu và văn kiện.
(Phó giám đốc CECODES – Trung tâm Hỗ trợ Cộng đồng và Nghiên cứu Phát triển)
(VNN)

Ông Sam Rainsy trả lời BBC về Việt Nam

Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

https://i1.wp.com/images.alobacsi.vn/Images/Uploaded/Share/2013/7/31/Campuchia-thay-tu-lenh-quan-canh-Phnom-Penh-2.jpg

Quan hệ Việt Nam – Campuchia lần nữa lại vào tâm điểm chú ý của báo chí và giới quan sát sau các chuyến thăm hai bên của thủ tướng Campuchia và Việt Nam.

Mới đây, đặc phái viên nhân quyền của Liên Hiệp Quốc phát biểu quan ngại về ngôn từ bài Việt Nam của lãnh đạo đối lập Campuchia. Chiêu bài chống Việt Nam thực ra đã được các đảng phái ở nước này sử dụng nhiều lần.

Hồng Nga của BBC vừa có chuyến đi Campuchia và phỏng vấn riêng lãnh đạo đảng Cứu nguy Dân tộc đối lập Sam Rainsy.

(BBC)

Tham nhũng Việt Nam từ chuẩn triệu đô – Diệt mối tận gốc – Ngọn gió lành đầu năm mang lại hy vọng cho dân chủ ở Việt Nam


Tham nhũng Việt Nam từ chuẩn triệu đô

Dư luận Việt Nam hiện đang bị hút vào vụ đại án kép Dương Chí Dũng-Dương Tự Trọng.

Cho đến thời điểm sau ngày tòa án Hà Nội tuyên án, guồng máy thông tin quốc doanh và cả những trang mạng lề trái vẫn tiếp tục giật tin nóng về hậu trường xử án cũng như dự đoán chuyện bắt bớ, thanh toán nhau ở trung tâm quyền lực chế độ.

 

Thứ trưởng công an Phạm Quý Ngọ, người dính nghi án nhận 510 ngàn đôla của Dương Chí Dũng và 1 triệu đôla của bà Trương Mỹ Lan, chủ tịch tập đoàn Vạn Thịnh Phát. (Hình: VNE) 

Với người bình dân Sài Gòn, họ quan tâm gì. Một ông xe ôm đậu ở góc Trần Quốc Thảo-Ngô Thời Nhiệm đưa ra nhận xét rất gọn. “Vụ này, số lượng tiền Dương Chí Dũng hối lộ, chạy án chỗ ‘ông anh’ Phạm Quý Ngọ tui nghe khá lọt lỗ tai. Mấy cái vali trị giá năm trăm ngàn đô, triệu đô đó ít ra cũng cho thấy đúng giá mua cán bộ cao cấp.”

Từ cột mốc đại án tham nhũng trước Tết con Ngựa có liên can đến trung tâm quyền lực của đế chế công an trị Hà Nội, một định mức tiền tham nhũng mà giới cán bộ cao cấp ra giá được người bình dân Sài Gòn biết tới là: Một triệu đôla.

Bà Trương Mỹ Lan, chủ tịch tập đoàn Vạn Thịnh Phát nhờ Dương Chí Dũng lót tay số tiền một triệu đôla cho thứ trưởng công an Phạm Quý Ngọ để hốt khu đất béo bở Cảng Sài Gòn-Bến Nhà Rồng, và vì ông thứ trưởng công an Phạm Quý Ngọ chỉ là con sói tầm tầm trong bấy sói lớn và hổ báo, nên hẳn nhiên ai cũng biết đã có nhiều triệu đô khác hối lộ cho cán bộ cấp cao khác để giành dự án đất vàng bậc nhất Sài Gòn.

Nếu ông công an Ngọ được phần một triệu đô thì những ông to hơn ông Ngọ thì hẳn phải được triệu triệu đô. Ở Việt Nam hiện nay đâu chỉ có mỗi bà cả đỏ Trương Mỹ Lan và cũng đâu chỉ có mỗi một dự án đất vàng Cảng Sài Gòn-Bến Nhà Rồng. Tư bản đỏ cỡ bà Lan và những nhóm lợi ích đỏ sẵn sàng chi đúng giá mua cán bộ cấp cao lúc nào mà chẳng xếp hàng chờ tới lượt.

Ông Trần, người sáng sáng ngồi đọc báo ở quán cà phê sân sau dinh Ðộc Lập đưa ra một phép so sánh “Mấy chú công an giao thông hễ huýt còi là có chuẩn tiền hối lộ tối thiểu một trăm ngàn đút túi. Mấy mợ cán bộ ở ủy ban phường cứ kiếm chuyện bắt nạt dân đen là tối thiểu cũng hốt liền một trăm.”

“Ðể phân biệt cán bộ Việt cộng thời đại mới không cần phải dựa theo quân hàm hay chức vụ gì hết; dân đen chỉ cần biết là chuẩn tối thiểu hối lộ tham nhũng của họ là tiền trăm Việt Nam đồng hay một triệu đôla Mỹ là lòi ra hết.”

Khi mức lương căn bản của hàng triệu người lao động Việt Nam hiện nay chỉ khoảng trên dưới một trăm ngàn đồng một ngày thì những diễn biến từ phiên tòa này cho thấy thể chế công an trị chế độ đã triệt để khai thác nguồn lợi tham nhũng như thế nào.

Một sinh viên luật đưa ra nhận xét. “Em bất ngờ trước cái giá mười ngàn, hai mươi ngàn đôla chi cho các công an thụ lý vụ án này; thử hỏi trong cả nước hiện nay có biết bao là chuyên án.”

Trở lại chuyện đại án kép Dương Chí Dũng-Dương Tự Trọng và tình tiết khai giữa tòa rằng Dương Chí Dũng đã cầm giúp tiền tham nhũng của bà Trương Mỹ Lan đưa cho thứ trưởng công an Phạm Quý Ngọ; một ông tập thể dục sáng ở Tao Ðàn nhận định hóm hỉnh: “Báo giấy, báo mạng cứ ồn ào chuyện Dương Chí Dũng khui ra là nhằm đánh ông to này ông bự kia. Hí hửng để chúng gạt hoài mà cũng không tỉnh được ra chút nào sao. Theo tui, chuyện Dương Chí Dũng đưa bà Lan ra giữa tòa là có ý công bố với quốc dân rằng ở khắp Việt Nam hiện nay và tương lai, hễ là đất vàng nếu không là của tập đoàn Trương Mỹ Lan, thì cũng là của Phạm Nhật Vượng hay của Nguyễn Thanh Phượng…”

Ở tình tiết khai ra chuyện bà Lan đút lót triệu đô, nhiều bà con Việt kiều thật thà ở hải ngoại hẳn sẽ bớt thắc mắc là vì sao ở Việt Nam hiện nay có lắm kẻ giàu ghê gớm. Chuyện chơi xe siêu sang, nhà hoành tráng, máy bay riêng, du thuyền… mà bà con nghe thấy chỉ là chuyện nhỏ so với khối tài sản bất minh của hệ thống cấu kết biến hóa như ma trận giữa cán bộ cộng sản cấp cao và các tập đoàn tư sản đỏ.

  Khai Phong
  (Người Việt)

Diệt mối tận gốc

Nhất Phương

Mấy ngày nay vở kịch Vinalines được đưa ra công diễn sau nhiều lần tập dượt điều chỉnh kịch bản với Dương Chí Dũng (DCD) là diễn viên chính. Tuy thừa biết đây chủ yếu là chuyện tranh giành nội bộ của giới chóp bu ĐCS, người dân vẫn được mua vui vài trống canh, nhưng rồi chợt thắc mắc khi diệt bọn DCD này rồi thì bọn DCD khác lại xuất hiện, vì cái guồng máy sinh ra chúng vẫn còn nguyên.

Chuyện này tương tự như chuyện diệt mối. Nhà ai đã bị mối xông mới thấy đó là lũ khốn nạn và vô cùng khó chịu – gần với từ của ông Tổng “ngứa ghẻ”. Chúng đục rỗng cửa nhà đến mức có thể sập. Những kẻ phá hoại đất nước này hệt như bọn mối chuyên đục khoét, nhưng chúng ngênh ngang, trắng trợn và ngạo mạn hơn bọn mối đất, vì chúng đều là những đảng viên ĐCSVN đầy quyền lực. Nếu không bị “trắng phớ” ra như vậy do nội bộ đánh nhau thì nếu người dân ai bảo họ tham nhũng ắt sẽ  được nhận ngay những cái mũ “phản động”, “thù địch”, … chụp vào đến tận mắt.

Tuy nhiên, DCD và những kẻ tương tự vẫn chỉ là những con mối thợ. Diệt được con nào hay con ấy, nhưng diệt đến bao nhiêu cho xuể khi con mối chúa vẫn còn sống? Con mối chúa ấy chính là cái bộ máy sinh ra những DCD, Phạm Quý Ngọ, … Nếu con mối chúa ấy còn, nó sẽ tiếp tục sinh ra những đoàn mối thợ khác đi đục khoét. Mối chúa chính là cái thể chế và bộ máy chính trị độc tài, độc đoán toàn trị, đẻ ra quốc nạn tham nhũng này.

Người dân cũng không ngây thơ cho rằng chỉ có Dũng hay Ngọ tham nhũng. Không tham nhũng, không trộm cắp của dân thì bọn chúng lấy đâu ra biệt thự triệu đô, lấy đâu ra tiền cho con đi học ở xứ sở của “CNTB giãy chết”? Vì lương Thủ tướng mới được trên 10 triệu!

“Không tham nhũng lấy đâu ra tiền chạy chức?” ông CT Quốc hội đã bảo rồi.

Diệt mối không diệt tận gốc thì chỉ là trò đùa mị dân.

N.P.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN 

Mặt thật

Kông Kông (Danlambao) – Mấy ngày nay báo chí trong nước và bên ngoài đều thỏa mãn được đôi chút tò mò từ lâu về sự giàu có của giới chức đang cầm quyền chế độ CHXHCNVN do đảng CSVN lãnh đạo. Nay mới có cơ hội thấy rõ hơn được phần nào hệ thống độc quyền tham nhũng và cũng chỉ biết thêm chút ít về thế giới bí ẩn đó mà thôi! Nên chắc chắn đây không phải là cái gì quá to tát hay ngạc nhiên đến độ ngoài dự đoán!

Chi tiết về lời khai của tử tù Dương Chí Dũng về tình trạng liên kết tham ô của giới chức quyền lực cũng không có gì lạ lắm, chỉ có cái lạ là lượng tiền mặt đô la chứa đầy trong bao tải! Cứ hình dung ông Dương Chí Dũng phải ôm cả bao 500.000 đô la đến nhà ông Thượng tướng Thứ trưởng công an, Ủy viên Trung ương đảng, Trưởng ban chuyên án, Phạm Quý Ngọ đã thấy rất buồn cười! Chưa thể hình dung được là với 500.000 đô la tiền mặt nặng cỡ bao nhiêu nhưng một người ôm một túi tiền như thế ắt hẳn không thể đi thẳng lưng(!) Như vậy dù muốn hay không ông Dương Chí Dũng cũng phải cong lưng (còn cong nhiều hay ít là chuyện khác!) giao nộp cho ông Phạm Quý Ngọ, hình ảnh nầy không thấy vui thì là gì nữa? Ấy thế mà ông Phạm Quý Ngọ dám ăn quỵt ngoài việc chỉ thông báo “nên tránh đi một thời gian” còn chẳng giúp được gì khác hơn thì trách chi việc ông Dương Chí Dũng ôm hận nên phải tìm mọi cách để khai ra tất cả sự thật trong vai trò nhân chứng?

Rồi hình dung lúc ông Dương Chí Dũng còn tại chức đang ngồi ở văn phòng “hoành tráng” mà trên tường chắc có không ít bảng ghi công trạng hay khen thưởng cấp nhà nước và những hình ảnh ông rạng rỡ chụp chung với các lãnh tụ cao cấp nhất, lại có cả tượng ông Hồ Chí Minh bên trên nữa! Lúc đó ông chỉ khẻ cau đôi mày ngài thì những người đang khúm núm vào trình diện ông phải hồn phi phách tán, lại càng vui hơn!

Bây giờ cũng những hình ảnh tương tự như vậy với ông Thứ trưởng công an, đặc trách chuyên án Phạm Quý Ngọ! Ông Thứ trưởng cũng đang ôm bao tiền đô la khác, chắc phải nặng gấp mấy lần bao tiền của ông Dương Chí Dũng nộp trước kia, lại khúm núm đến nhà ai đó, ở đâu đó và… cứ thế, cứ thế… là đủ thấy hết chuyện vui rất thời sự trong thời đại chế độ XHCNVN!

Cho nên nếu các ông/bà cao nhất nước có cả tỉ đô la tiền mặt trong nhà chắc không còn là chuyện lạ nữa! Vì tiền nhiều quá không biết cất giấu ở đâu mà cũng không dám đem gửi thêm tại các ngân hàng nước ngoài vì sợ bị lộ!

Bây giờ đến cảnh nghi can Dương Chí Dũng với chấp pháp.

Bao nhiêu hoạt cảnh “trốn mà không thoát” sau 4 tháng đào tẩu, ông Dương Chí Dũng phải vò đầu bóp trán suy nghĩ để đối chất với người khảo cung. Khi ông bị tóm và dẫn độ từ Campuchia về hẳn ông đã biết thân phận ra sao rồi và tại sao cấp trên làm ngơ! Bây giờ ông phải khai như thế nào để bảo toàn được mạng sống là ưu tiên số một, chứ chưa nói đến chuyện phải đối diện với pháp luật! Nếu ông khai không khéo thì chuyện “nghi can vì ân hận nên tự tử” tại nhà giam là điều rất dễ xảy ra, vì chuyện nầy đã trở thành “chuyện thường này ở huyện” trên cả nước! Nên trước hết ông Dương Chí Dũng phải thoát được cảnh “tự tử vì ân hận” để chờ dịp tố cáo trước công luận và nhờ công luận bảo vệ mạng sống! Vì thế hôm tòa xử vụ án của ông, khuôn mặt ông có vẻ như bình thường! Nhưng mới đây, khi ra tòa với tư cách nhân chứng trong vụ án xử em ông, cựu Đại tá Phó giám đốc công an Hải Phòng, Dương Tự Trọng, ông mới khai ra hết vì “tử tù thì chẳng còn gì để sợ mà giấu giếm nên phải nói ra tất cả sự thật” (!) Và ông đã nói! Bây giờ thì ông Dương Chí Dũng có thể yên tâm được đôi chút khỏi sợ bị “tự tử vì ân hận” trong nhà giam!

Toàn cảnh cho thấy ngay trong giới chóp bu quyền lực cũng chẳng còn ai tin ai! Mỗi người đều đang ngồi trên cả núi tiền mặt và có cùng tâm trạng như nhau, là nơm nớp lo sợ “không biết bao giờ đến lượt mình”?

Hết ông Dương Chí Dũng bây giờ đến phiên ông Thứ trưởng công an Phạm Quý Ngọ ngồi trên chão lửa mà chỉ cách đây mấy hôm ngôn ngữ của ông vẫn là loại ngôn ngữ của kẻ đang cầm chịch! Với lời khai thẳng thừng của ông Dương Chí Dũng như thế thì liệu ông Phạm Quý Ngọ sẽ nói gì?

Dĩ nhiên, chối bay chối biến là điều trước tiên! [1]

Và ông nào đã được ông Phạm Quý Ngọ thăm viếng gần đây cũng phải thấp thỏm dây chuyền! [2] 

Cứ như thế không mấy chốc các ông/bà chóp bu của chế độ đều cùng nhau bơi trong chão nước… sôi!

Cũng không thể làm ngơ, trước khi xử 2 vụ án nầy ông Nguyễn Bá Thanh, Trưởng ban nội chính Trung ương đảng, đã đi Bắc Kinh! Và Bắc Kinh cũng đang xử tham nhũng qua câu nói của Chủ tịch Tập Cận Bình “bắt cả hổ lẫn ruồi’!

Như vậy ông Nguyễn Bá Thanh qua đó không thể không có lý do!

Chỉ biết, ngay trong phiên xử vụ án Ụ nổi 83M Dương Chí Dũng, ông Nguyễn Bá Thanh, một mình, thình lình xuất hiện tại tòa! Còn vụ xử Phó giám đốc công an Hải Phòng Dương Tự Trọng về tội “tổ chức cho người trốn ra nước ngoài” thì báo chí cho biết là ông Trưởng ban nội chính trung ương đảng ngồi một mình xem qua TV! Điều nầy quan tòa đang ngồi xử không thể không biết!

Có thể võ đoán là chính ông Nguyễn Bá Thanh đã biết là các cán bộ cỡ các ông Dương Chí Dũng, Dương Tự Trọng, dù chỉ ở cấp trung trong triều đình đảng CSVN, nhưng cũng đã thuộc quyền chỉ đạo từ Bắc Kinh nên trước khi đem xử phải sang thỉnh ý! Và đã được Bắc Kinh bật đèn xanh!

Với Bắc Kinh thì xử mấy “chú ruồi” trong 2 vụ án nầy chỉ là lời nhắn khéo đến các “chú hổ” trong nội bộ VN là: “Ngộ đang nắm bằng chứng trong tay nên các nị liệu hồn đấy!”

Như vậy thì bảng Thông điệp đầu năm của ông Thủ tướng mà dư luận đang còn râm ran sẽ đi về đâu? [3]

Còn nhớ trong thời điểm uy tín của ông Nguyễn Tấn Dũng xuống thấp nhất và chiếc ghế Thủ tướng đang lung lay dữ dội thì nhân cơ hội tham dự Hội chợ Thương mại tại Trung Quốc, ông Nguyễn Tấn Dũng đã tìm gặp và nhận được cái bắt tay “lịch sử” của ông Tập Cận Bình, lúc đó ông Tập Cận Bình đang chuẩn bị nhận chức lãnh đạo cao nhất Trung Quốc, nên mới giữ lại được chiếc ghế Thủ tướng!

Vì thế vận mạng chính trị của chế độ CSVN không phải do chính đảng CSVN tự quyết định mà phải ở một tầng cao hơn, xa hơn rất nhiều!

Rất tiếc là thân phận của người VN, của đất nước VN lại bị nằm trong vòng xoáy nghiệt ngã của cơn thác lũ đó! Hoa Kỳ trong chiến lược quay lại Biển Đông, và là người đã bỏ rơi “đồng minh” VNCH chỉ vì quyền lợi của chính nước Mỹ, còn Tàu cộng thì đang chủ trương xé lẻ khối Asian để bẻ gãy từng chiếc đũa thì cho dù Thái Bình dương đang dậy sóng, trông rất dữ dội, nhưng chính những cơn sóng ngầm từ đáy đại dương kia của các siêu cường xúm lại trong khu vực, mới quyết định dòng chuyển lịch sử!

Trong hoàn cảnh như vậy mà chế độ vong thân CSVN chỉ lo phe cánh, thối nát, tham nhũng, không đặt nền tảng tổ quốc dân tộc là tất yếu, đoàn kết người VN thành một khối hòng tạo sức mạnh để đối phó với biến động lớn tại biển Đông thì tương lai VN sẽ về đâu?

Và liệu khối tài sản các quan chức CSVN đang thâu tóm, có thể giữ được không? Rất mong các ông/bà đảng viên nhớ lại hình ảnh cha con ông Saddam Hussein của xứ Iraq trong những ngày cuối cùng!

Trên đường chạy thoát thân, tiền đô la đã vung vãi, bay tứ tán như giấy vụn và cuối cùng mạng sống cũng không còn!

(Jan 8th, 2014)

_______________________________

Chú thích:

 

Nguyễn Bá Thanh ở ‘hậu trường vụ Án’

            

Ông Nguyễn Bá Thanh rời trụ sở TAND TP Hà Nội chiều 8/1

* XUÂN HẢI

Sau khi phiên tòa xét xử Dương Tự Trọng và đồng phạm phạm tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài” kết thúc khoảng 15 phút, ông Nguyễn Bá Thanh đã lặng lẽ rời khỏi trụ sở TAND TP Hà Nội.

Chiều qua 8/1, sau khi phiên tòa xét xử Dương Tự Trọng và đồng phạm kết thúc khoảng 15 phút, ông Nguyễn Bá Thanh, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng lặng lẽ ra xe ô tô rời khỏi phiên tòa.

Trong buổi chiều ngày 7/1, khi tòa xét xử vụ án Dương Tự Trọng và đồng phạm phạm tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài”, ông Nguyễn Bá Thanh cũng có mặt để theo dõi phiên tòa tại phòng khách dành cho cán bộ tòa án theo dõi phiên xử qua màn hình.

Trước đó trong phiên tòa xét xử anh trai cựu Phó Giám đốc Công an Hải Phòng, cựu Chủ tịch Vinalines Dương Chí Dũng và các đồng phạm tại Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam (Vinalines), Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng cũng ngày ngày một mình đến tòa Hà Nội tham dự.

Sau 2 ngày xét xử Dương Tự Trọng và đồng phạm phạm tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài” vào lúc 16g 20 chiều 8/1, Chủ tọa Trương Việt Toàn đã thay mặt Hội đồng xét xử công bố quyết định khởi tố vụ án làm lộ bí mật nhà nước theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự.

Theo ông Toàn, căn cứ vào lời khai của bị cáo Vũ Tiến Sơn, Dương Chí Dũng và các tài liệu khác của vụ án tổ chức cho người trốn đi nước ngoài trái phép, kết quả xét hỏi tại phiên tòa, đề nghị của đại diện VKSND TP Hà Nội giữ quyền công tố tại tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy có dấu hiệu của tội làm lộ bí mật nhà nước. “Quyết định khởi tố vụ án sẽ được gửi tới VKSND TP Hà Nội”- ông Toàn nói.

HĐXX cũng tuyên Dương Tự Trọng 18 năm tù; Vũ Tiến Sơn 13 năm tù; Hoàng Văn Thắng 5 năm tù; Đồng Xuân Phong 7 năm tù; Trần Văn Dũng (tức Dũng “Bắc Kạn”) 8 năm tù; Nguyễn Trọng Ánh 6 năm tù và Phạm Minh Tuấn 5 năm tù.

Ngoài ra Hội đồng xét xử còn đề nghị VKSND TP Hà Nội có yêu cầu đề nghị đối với VKSND Tối cao điều tra hành vi nhận 500.000 USD và 20 tỉ đồng của một cán bộ cấp cao để thực hiện dự án chuyển đổi công năng của Cảng Sài Gòn của Công ty Vạn Thịnh Phát (TPHCM); nếu đủ căn cứ phải xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

X.H (Infonet)

Nặc danh 07:34 Ngày 10 tháng 01 năm 2014

Đơn kiện:

Kính thưa ông Bá Thanh. Chúng tôi là những Chiến sỹ CSGT đang bị ngồi tù mỗi người 2 năm rưỡi đến 3 năm rưỡi , phải trả lại tiền cho người đưa hối lộ để khắc phục hậu quả. Chỉ vì nhận hối lộ 5 triệu VNĐ của 1 chủ hàng buôn lậu gỗ . Nếu vụ thượng tướng Phạm Quý Ngọ ăn hối lộ 35 tỷ đồng = 1 triệu rưỡi đô la Mỹ.(hai con số mày vênh nhau quá lớn, một bên đi tù tổng thời gian công lại cho 3 người là 9 năm tù giam, so với ông Ngọ ăn 35 tỷ VNĐ khác chi con voi và con kiến. Nếu ông Ngọ không bị khởi tố, không bị bỏ tù thì quá bất công …Nói cho cùng thì 3 chú CSGT thanh Hóa cũng làm gì có bằng chứng rõ rằng mà cơ quan Điều tra bộ công an chỉ căn cứ vào đơn tố cáo và thông tin báo chí để kết luận điều tra chuyển viện KSND truy tố về tội hối lộ. (Vụ này ông Phạm Quý Ngọ biết rõ) vì ông là ban chỉ đạo vụ án. Ta hãy nhớ lại câu “Không có lửa làm sao có khói” hay “Bỗng dưng ai nỡ đặt điều cho ai” việc ông Dương Chí Dũng khai trước tòa đã đưa hối lộ cho ông Ngọ 3 lần với tổng số tiền là 1.51 triêụ đô la là hoàn toàn có cơ sở và LOGIC.

Rõ là :

Con hùm cõng lơn không sao

Con mèo ăn vụng thì tao bóp hầu

Công bằng, công lý ở đâu.?

Để cho tướng cướp mọt sâu kết bè…

Chúng tôi và toàn dân đang mong chờ sự ra tay của Ông Bá Thanh và Ban Nội chính trung ương kịp thời chấn áp trừng trị các tướng tá như ông Tự Trọng và ông Quý Ngọ để dân được nhờ, cũng vì những lãnh đạo như mấy ông đó mà chúng tôi mới phải ép người dân.

Ông là khắc tinh của các tướng CA bất lương tham nhũng. ông hày làm với ông Phạm Quý Ngọ cũng như từng làm với thiếu tướng Trần Văn Thanh (nguyên giám đốc CA TP Đà Nẵng, nguyên chánh Thanh Tra Bộ CA) để thực hiện Luật pháp bất vị thân , mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Như các ông vẫn thường nói, Luật pháp không có vùng cấm.

Những người lính CSGT đang bị tù đày. 

Nhà Dương Chí Dũng quyết bán hết để cứu anh cả

Em gái cựu Cục trưởng Hàng hải Dương Chí Dũng cho biết, vợ ông Dũng và người trong gia đình thống nhất “dù có bán nhà, cầm cố tất cả tài sản cũng phải cứu anh ấy”.

Tối 1/1, trò chuyện qua điện thoại, bà Dương Thị Băng Tâm (em gái Dương Chí Dũng) cho biết: “Đọc được thông tin về Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cho thấy tội phạm bị tuyên án tử hình hoàn toàn có thể được giảm xuống chung thân hoặc giam giữ có thời hạn nếu tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả. Thông tin này khiến tôi cũng như nhiều người thân khác trong gia đình bớt đi sự lo sợ về bản án tử hình dành cho anh Dũng tới đây”.

Cuộc trò chuyện liên tục bị đứt quãng vì tiếng nấc và nước mắt của bà Tâm khi nhắc đến quá trình rơi vào vòng lao lý của người anh trai mà bà đã đặt trọn niềm tin.

Theo lời bà, ông Dũng sống tình cảm, hiếu thảo với bố mẹ và luôn nhường nhịn em gái. “Sau khi tòa tuyên án tử hình đối với anh Dũng, gia đình tôi phải giấu bố vì sợ ông sốc quá mà đột tử. Còn mẹ tôi, ban ngày thì viết đơn gửi đến các cơ quan chức năng xin xem xét công – tội để dành cho con trai bà một đặc ân, tối đến bà lại khóc gọi tên con, chẳng màng chuyện ăn uống. Phận con cái chúng tôi nhìn thấy cảnh này cũng không cầm được nước mắt”, bà Tâm khóc nghẹn.

Cũng theo lời bà Tâm, sau khi bà và nhiều thành viên trong gia đình đọc được thông tin đầy đủ về Nghị quyết 01/2001 của TAND Tối cao thì như có thêm niềm tin vào vào đặc ân của pháp luật dành cho ông Dũng.

“Cám ơn mọi người đã chia sẻ với gia đình tôi lúc khó khăn hoạn nạn. Nói thật là có bệnh vái tứ phương, tôi cũng từng nghe nói về việc bồi thường để xin ân giảm nhưng không dám tin là anh mình có may mắn đó. Nay báo chí đã đăng tải rõ ràng nghị quyết này, gia đình cũng có thêm chút niềm tin”

Trả lời về việc gia đình có bồi thường thiệt hại để được xem xét ân giảm hay không, bà Tâm cho biết: “Hiện nay, chị Phạm Thị Mai Phương, vợ anh Dũng đang lâm vào tình trạng khó khăn, kinh tế kiệt quệ. Đến tiền thuê luật sư bào chữa cho anh Dũng chị ấy cũng phải đi vay mượn của nhiều người”.

Bà Tâm cho hay, trong những ngày tới gia đình sẽ họp bàn về việc khắc phục hậu quả trong vụ án Vinalines như Nghị quyết 01/2001 đã nêu. “Trước mắt phải cứu anh Dũng thoát bản án tử hình để anh có cơ hội được chứng minh phải trái cũng như khắc phục sai lầm. Tôi cũng đã nói chuyện với vợ anh Dũng và mọi người đều thống nhất: Dù có bán nhà, cầm cố tất cả tài sản chúng tôi cũng phải cứu anh ấy. Chúng tôi tin và có niềm hy vọng vào đặc ân của luật pháp”, bà chia sẻ.

Dương-Chí-Dũng,  mẹ-đẻ,  kết-án,  điều-tra,  Dương-Tự-Trọng,  tập-đoàn,  hàng-hải,  tinh-thân,  vào-tù,  trốn-chạy,  bồ-nhí
Gia đình muốn bồi thường để cứu Dương Chí Dũng
Do chủ mưu giúp Dương Chí Dũng bỏ trốn ra nước ngoài, bị can Dương Tự Trọng (bên trái, em ông Dũng) sẽ bị xét xử vào ngày 7/1.
Bà Tâm năm nay 47 tuổi, trú tại quận Ngô Quyền, Hải Phòng. Bà là con thứ ba trong gia đình họ Dương nổi tiếng đất Cảng. Bố bà là thiếu tướng, cựu giám đốc Công an Hải Phòng.
Theo chia sẻ của bà Băng Tâm, gia đình bà đang trong cơn bĩ cực, đau đớn và ảm đạm. Nếu chỉ mới hơn một năm về trước, nhà họ Dương vẫn còn được coi một “danh gia vọng tộc” nhất nhì đất Cảng thì nay mọi thứ đã sụp đổ một cách chóng vánh.
Khi ông Dũng vừa được bổ nhiệm là Cục trưởng Hàng hải Việt Nam thì lúc này người em là đại tá Dương Tự Trọng đang giữ chức Phó giám đốc Công an Hải Phòng, rồi làm Cục phó Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (Bộ Công an). Em rể ông Dũng là Nguyễn Bình Kiên (chồng bà Băng Tâm) – Phó giám đốc Công an Hải Phòng. Mới đây, ông Kiên cũng đã bị khai trừ khỏi Đảng do vi phạm quy định công tác và mất chức.
Ngày 16/12/2013, ông Dũng bị TAND Hà Nội tuyên án tử hình do tham ô 10 tỷ đồng, 18 năm tù về tội Cố ý làm trái quy định nhà nước. Tổng hợp hình phạt cho 2 tội là tử hình.

Nghị quyết 01/2001/NQ-HĐTP của TAND Tối cao
… Khi áp dụng điểm a khoản 4 Điều 278 Bộ luật Hình sự về tội Tham ô tài sản cần chú ý:
4.1. Trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng và không có tình tiết giảm nhẹ hoặc vừa có tình tiết tăng nặng, vừa có tình tiết giảm nhẹ, nhưng đánh giá tính chất tăng nặng và tính chất giảm nhẹ tương đương nhau thì xử phạt người phạm tội mức án tương ứng với giá trị tài sản bị chiếm đoạt như sau:
a. Xử phạt hai mươi năm tù nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ;
b. Xử phạt tù chung thân nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ một tỷ đồng đến dưới ba tỷ đồng;
c. Xử phạt tử hình nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ ba tỷ đồng trở lên.
4.2. Trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không có tình tiết tăng nặng hoặc có ít tình tiết tăng nặng hơn, đồng thời đánh giá tính chất giảm nhẹ và tính chất tăng nặng xét thấy có thể giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội, thì có thể xử phạt người phạm tội mức án nhẹ hơn mức án được hướng dẫn tại tiểu mục 4.1 Mục 4 này như sau:
a. Xử phạt tù từ mười lăm năm đến dưới hai mươi năm nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ đồng (trường hợp này phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS);
b. Xử phạt hai mươi năm tù nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ một tỷ đồng đến dưới ba tỷ đồng;
c. Xử phạt tù chung thân nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ ba tỷ đồng trở lên.
4.3. Trong trường hợp có nhiều tình tiết tăng nặng mà không có tình tiết giảm nhẹ hoặc có ít tình tiết giảm nhẹ hơn, đồng thời đánh giá tính chất tăng nặng và tính chất giảm nhẹ xét thấy cần tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, thì có thể xử phạt người phạm tội mức án nặng hơn mức án được hướng dẫn tại tiểu mục 4.1 Mục 4 này như sau:
a. Xử phạt tù chung thân nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ đồng;
b. Xử phạt tử hình nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ một tỷ đồng trở lên.
4.4. Trong trường hợp theo hướng dẫn tại các tiểu mục 4.1 và 4.3 Mục 4 này thì người phạm tội phải bị xử phạt tử hình, nhưng người phạm tội đã bồi thường được một phần đáng kể giá trị tài sản bị chiếm đoạt (hoặc người thân thích, ruột thịt… của người phạm tội đã bồi thường thay cho người phạm tội) thì có thể không xử phạt tử hình người phạm tội và tuỳ vào số tiền đã bồi thường được mà có thể xử phạt người phạm tội tù chung thân hoặc tù có thời hạn.
Được coi là đã bồi thường được một phần đáng kể giá trị tài sản bị chiếm đoạt nếu:
a. Đã bồi thường được ít nhất một phần hai giá trị tài sản bị chiếm đoạt;
b. Đã bồi thường được từ một phần ba đến dưới một phần hai giá trị tài sản bị chiếm đoạt, nếu có căn cứ chứng minh rằng người phạm tội (hoặc người thân thích, ruột thịt… của người phạm tội) đã thực hiện mọi biện pháp để bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt (đã bán hết nhà ở, tài sản có giá trị; cố gắng vay, mượn… đến mức tối đa).

Theo Petrotimes  

Giáo sư Tương Lai : Ngọn gió lành đầu năm mang lại hy vọng cho dân chủ ở Việt Nam

Năm mới 2014 bắt đầu với nhiều sự kiện dồn dập, từ thông điệp đầu năm của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng được đón nhận với nhiều ý kiến khác nhau, cho đến vụ án Dương Chí Dũng, và việc rục rịch kỷ niệm 40 năm hải chiến Hoàng Sa. Những dấu hiệu này nói lên điều gì ? RFI Việt ngữ đã trao đổi với giáo sư Tương Lai ở Thành phố Hồ Chí Minh về những vấn đề trên.
Biểu tình tại Hà Nội chống các hành động gây hấn của Trung Quốc trên Biển Đông.

RFI : Kính chào giáo sư Tương Lai, trước hết xin rất cám ơn giáo sư đã nhận trả lời phỏng vấn. Cách đây một tuần, chính xác là ngày 2 tháng Giêng, giáo sư đã cho rằng thông điệp đầu năm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là « một ngọn gió lành ». Vì sao giáo sư có nhận xét này ?

Giáo sư Tương Lai : Phải nói là tuần vừa qua mở đầu cho năm 2014 dồn dập rất nhiều sự kiện lớn. Cứ như một đợt sóng trào, mà những con sóng dội lên trên bề mặt thực ra do sự vận động ngầm của sức nước ở bên dưới. Những điều bộc lộ trên bề mặt cuộc sống, thì tôi cứ suy nghĩ, tôi cảm thấy rằng nó cũng thể hiện được một cách khá cô đọng những vấn đề ấp ủ trong lòng xã hội Việt Nam suốt thời gian vừa qua.

Những vấn đề bức xúc mà tôi chỉ muốn nói thông qua lăng kính của một người giàu suy tư về vận nước. Tôi cảm nhận được rằng mở đầu năm 2014, thông điệp của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có một ý nghĩa động viên rất lớn, như một ngọn gió lành.

Vì sao tôi nói như thế ? Vì ở thông điệp này nói lên được những điều bức xúc nhất, khát vọng mạnh mẽ nhất mà xã hội ấp ủ bấy lâu nay, bây giờ người đứng đầu chính phủ nói ra. Đương nhiên là trong thông điệp, ông ta không thể nói hết tất cả các vấn đề được. Nhưng những vấn đề ông đã nói, thì trong suy nghĩ của tôi, đó là những vấn đề cốt lõi nhất.

Và một tuần trôi qua, phải nói rằng dư luận cũng có rất nhiều ý kiến tranh cãi khác nhau, chứ không phải như nhận định của tôi đâu. Nhưng cho dù có bất cứ tranh cãi gì đi chăng nữa, sau một tuần lễ suy ngẫm, tôi vẫn khẳng định điều đã nói. Vẫn khẳng định rằng thông điệp này có một ý nghĩa rất lớn.

Vì ở đây ông ấy đặt vấn đề là nguồn động lực tạo nên sự khởi sắc của sự nghiệp đổi mới, và từ đó đẩy tới những vấn đề về kinh tế, xã hội, thì đến bây giờ gần như đã cạn kiệt rồi. Ông ấy dùng từ « không còn đủ mạnh để thúc đẩy phát triển », tôi thì tôi nói mạnh hơn – nó cạn kiệt rồi.

Bây giờ phải tạo nên nguồn động lực mới. Cách đặt vấn đề của ông Thủ tướng, tôi cho đó là cách đặt vấn đề trúng, và đúng. Đây là lúc chúng ta cần có thêm động lực để lấy lại đà, mà nguồn động lực đó phải đến từ đổi mới thể chế và phát huy dân chủ. Ông nhắc lại dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dân chủ cũng là xu thế khách quan trong tiến trình phát triển của xã hội loài người.

RFI : Bên cạnh đó, là vấn đề Nhà nước pháp quyền…

Điều cần chú ý hơn nữa, là ông nói rằng dân chủ gắn với Nhà nước pháp quyền. Ông cho rằng dân chủ và Nhà nước pháp quyền là cặp song sinh trong một thể chế chính trị hiện đại.

Đây là một tuyên bố rất dứt khoát và mạnh mẽ. Trước đó tôi chưa hề thấy. Trước đó, tôi chưa nghe !

Từ lâu người ta cũng đã nói nhiều, nhưng khi viết về Nhà nước pháp quyền, thì báo chí thế nào cũng thêm cái đuôi « Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ». Trong nhận thức của tôi, đã là Nhà nước pháp quyền thì phải mang ý nghĩa đích thực của nó. Không cần mang cái đuôi » xã hội chủ nghĩa » làm gì cả.

Nhưng trong một thời gian dài người ta không thể chịu nổi điều đó, có nghĩa là người ta không chịu đựng nổi Nhà nước pháp quyền. Cho nên ông Tổng bí thư nói thẳng : Chúng ta không chấp nhận tam quyền phân lập. Mang cái đuôi « Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa », có nghĩa là không có tam quyền phân lập. Mà đã không tam quyền phân lập thì vừa đá bóng vừa thổi còi, không có cơ chế kiểm soát quyền lực.

Một khi quyền lực không được kiểm soát, thì làm sao tránh khỏi chuyện làm bậy được. Vì xu hướng chung là quyền lực đẻ ra quyền lực. Người đang nắm được quyền lực luôn muốn mở ra vô hạn độ, và quyền lực thì gắn liền với tham nhũng. Quyền lực có xu hướng tham nhũng, và quyền lực tuyệt đối thì tham nhũng cũng tuyệt đối.

Cho nên cứ hô hào chống tham nhũng, xem đó là một món võ để động viên nhân dân – và các cụ, nhất là các cụ lão thành khi nghe nói điều này là đáp trúng ý của các cụ lắm. Nhưng căn nguyên của tham nhũng ở chỗ nào ? Chính là thể chế – thể chế chính trị độc quyền toàn trị.

Vì vậy bây giờ muốn tạo nên một nguồn động lực thì phải đổi mới thể chế và phát huy dân chủ ; gắn cái ý này với cái ý « dân chủ và Nhà nước pháp quyền là cặp song sinh của một thể chế chính trị hiện đại ». Tôi cho rằng đấy là ý tưởng lớn nhất, quan trọng nhất cho sự phát triển hiện nay. Chỉ cần nhấn vào một điểm nút ấy thì sẽ bật lên như là một nút khởi động, cả một bộ máy sẽ chuyển động theo.

Sở dĩ tôi cho là ngọn gió lành, chính là vì ông Thủ tướng nói được điểm này. Đây là điểm cơ bản nhất mà từ trước đến nay tôi chưa nghe nói.

RFI : Như vậy theo giáo sư thông điệp lần này đã đi vào căn nguyên của vấn đề. Nhưng cũng có những ý kiến ngờ vực, vì lâu nay Thủ tướng Việt Nam vẫn thường bị chỉ trích về tham nhũng, nên có thể chỉ là một tuyên bố mị dân ?

Cũng có người hỏi tôi, thì tôi trả lời thế này. Giữa mị dân và thân dân là một lằn ranh rất mỏng manh, và lằn ranh đó tùy thuộc vào tầm nhìn, cách nhìn để phát hiện ra lúc nào là mị dân, lúc nào là thân dân. Nếu chỉ căn cứ vào lời nói, và cảm tính thì rất dễ đi đến quy kết không có cơ sở. Phải dựa vào thực tế.

Ở đây, những vấn đề mà ông nêu lên, trước hết chúng ta phải xem đó có phải là những nguyện vọng bức xúc nhất của người dân hiện nay không. Nếu ông nêu đúng bức xúc của dân, thì trước hết người dân lấy đó làm gậy chống đi đường.

Để xem lời ông nói có đi đôi với việc ông làm hay không, thì người dân phải kiểm tra. Trong thông điệp ông đã nói rất rõ, mọi hạn chế quyền tự do của công dân phải được xem xét cẩn trọng, và chủ yếu nhằm bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội…Người dân có quyền làm những gì pháp luật không cấm, và sử dụng pháp luật để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. Và mọi quyết định quản lý của Nhà nước đều phải minh bạch.

Rồi đây người dân phải nắm lấy quyền này để mà đòi thực thi. Ví dụ quyền tự do lập hội, tự do báo chí, quyền được biểu tình…đã được ghi trong Hiến pháp nhưng thực tế lâu nay bị treo vì người ta không ban hành những luật cụ thể kèm theo.

Ông ấy nói rất rõ là phải mở rộng dân chủ trực tiếp và hoàn thiện cơ chế bầu cử Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp. Có nghĩa là bằng dân chủ trực tiếp, người dân phải thực thi quyền làm chủ của mình. Quyền này phải đấu tranh mà giành lấy, chứ đừng có tưởng cứ ngồi đấy mà xin được. Bất cứ chính quyền nào cũng đều muốn có lợi về phía mình.

Phải cố « hoàn thiện thể chế, tăng cường dân chủ », thì đây là điều người dân có thể bám vào đó để đấu tranh. « Hoàn thiện cơ chế phản biện xã hội », « tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng chính sách và lựa chọn cán bộ. Đấy là những điều mà rồi đây người dân phải tự nâng cao trình độ và nhận thức của mình lên để tham gia vào.

Nhất là một ý hết sức quan trọng mà lần đầu tiên trong bản thông điệp này đặt vấn đề, là phải « kiến tạo phát triển ». Tức là Nhà nước tạo điều kiện để mọi người dân tham gia, và xã hội thực hiện những chức năng mà xã hội có thể làm tốt hơn Nhà nước. « Kiến tạo phát triển » theo tôi là một khái niệm mới, mở đường cho hoạt động của xã hội dân sự mà lâu nay người ta kiêng kỵ.

Đấy là những vấn đề khá cụ thể, và đi vào những vấn đề cụ thể đó thì mới thấy được đó là mị dân hay thân dân. Chứ còn chỉ căn cứ vào lời nói, thì hiện nay có tình trạng cảm nhận của mỗi người có khác nhau. Khi đã nói cảm nhận tức là nhìn nhận một cách cảm tính, yêu ghét, thích ông A hay ông B, ông X hay ông Y.

Dưới con mắt của tôi, tôi không quan tâm đây là ông A, B, C hay X,Y,Z. Không ! Tôi quan tâm tư tưởng của ông ấy, đề xuất của ông ấy, cái chính sách mà ông nêu lên, chủ trương ông đề ra, giải pháp ông kiến tạo có tiến bộ không, có thúc đẩy phát triển không.

Nhưng có một số người – đó là quyền của người ta thôi – theo cảm tính. Khi đã có định kiến rồi, n thì gười đó nói có hay mấy cũng có thể bảo, không, nó bịp đấy ! Chuyện đó dễ hiểu thôi. Rồi đây phải quay trở lại với một nguyên lý có tính chất sơ đẳng : thực tiễn sẽ là tiêu chuẩn. Thực tiễn sẽ là thước đo đúng sai của một chính sách, một giải pháp. Nếu nói ngôn từ văn vẻ : Thực tiễn là thước đo của chân lý !

Trong thông điệp ông Thủ tướng, tôi nghĩ có những điều người dân đang rất trông đợi. Ví dụ năm hết Tết đến, thì hãy bắt chước một nước đang có bước phát triển ngoạn mục : thay đổi luật bầu cử, thay đổi Hiến pháp để cho bà Aung San Suu Kyi là người trước đây đã bị quản thúc gần hai chục năm, bây giờ có thể tham gia ứng cử tổng thống. Rồi họ thả tù chính trị hàng loạt.

Dân đang chờ xem những người vì bất đồng chính kiến – người ta chỉ phát biểu ý tưởng thôi, một cách hòa bình, bất bạo động nhưng bị tống giam – thì bây giờ nên thả họ ra. Đương nhiên về vĩ mô, trong một thông điệp chỉ có thể nói những vấn đề cơ bản lớn. Nhưng một ví dụ cụ thể như tôi vừa nói, tuy rất nhỏ nhưng mang tính biểu tượng rất lớn. Thế thì căn cứ vào đó mà chúng ta đo, chứ không thể nói đúng sai theo lối cảm tính được.

RFI : Nếu đây là một chuyển biến thực sự về hướng dân chủ và Nhà nước pháp quyền thì rất đáng mừng. Theo giáo sư, nguyên nhân của sự thay đổi này từ đâu, và liệu có thể thực hiện được không dù có muốn cải cách ?

Đây cũng là một câu hỏi rất cụ thể, đòi hỏi một đáp số rõ ràng. Trong vụ xử Dương Chí Dũng, ông ta đã khai ra những nhân vật cộm cán cấp rất to, thì bây giờ phải làm thế nào công khai và minh bạch như Thủ tướng đã nói. Cho nên tôi mới nói trong chỉ một tuần lễ đầu năm 2014 thôi, mà đã nổi lên rất nhiều đợt sóng mạnh.

Điểm thứ ba là vụ Hoàng Sa và Trường Sa. Vừa qua đã có kỷ niệm chiến tranh biên giới tây nam, như thế là một bước khẳng định trở lại đường lối, và vấn đề hòa giải hòa hợp dân tộc. Sắp tới đây kỷ niệm ngày mà Trung Quốc chiếm Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa. Hiện nay Nhà nước đã có chủ trương chuẩn bị kỷ niệm sự kiện đó, và Đài truyền hình Đồng Nai đã truyền đi bộ phim « Hải chiến Hoàng Sa » do Việt Nam Cộng Hòa quay trước 1975.

Đấy là những động thái theo tôi có ý nghĩa cực kỳ lớn. Vì nếu làm sáng tỏ những điều này ra, thì như tôi đã trả lời, phải gắn kết vấn đề dân chủ với động lực lòng yêu nước chống kẻ thù xâm lược. Khi hai yếu tố này gắn kết lại với nhau, sẽ tạo nên nguồn động lực rất lớn, không gì có thể ngăn cản được.

Về Hoàng Sa, khi ông Thủ tướng tuyên bố lịch sử là lịch sử, sự thật là sự thật, phải đưa vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa vào sách giáo khoa, tôi cho đó là một thái độ rất rành rọt, rõ ràng. Để xem rồi đây thực hiện như thế nào. Nếu làm được điều này, sẽ chứng tỏ chúng ta có một bước tiến rất mới trong thái độ đối với bọn xâm lược.

Không phải vì đấu tranh ngoại giao mà lại bẻ queo sự thật đi được, như lâu nay vẫn làm. Đó là một đường lối sai lầm, không thể chấp nhận được. Vì vậy nếu bây giờ gắn yêu nước với dân chủ thì rất hay.

Như vậy chỉ trong bảy ngày đầu tháng Giêng của năm mới, có ba sự kiện lớn như tôi vừa nói, và ba sự kiện này quy tụ lại những vấn đề khá cơ bản trong đời sống Việt Nam thời gian qua.

RFI : Vừa rồi báo chí Việt Nam có những cái tựa đáng kinh ngạc, chẳng hạn « Địch đông ta ít, Việt Nam Cộng Hòa thay đổi kế hoạch tái chiếm Hoàng Sa » thì trên mạng người ta bình luận bây giờ Việt Nam Cộng Hòa cũng là « ta » rồi. Và như giáo sư vừa nói, gần đây đã nhắc đến chuyện Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, kỷ niệm tử sĩ Hoàng Sa…Những chuyển biến này có liên quan gì đến việc gần đây Trung Quốc liên tục gây hấn với Việt Nam ở Biển Đông hay không ?

Rõ ràng với thời gian trôi qua, có những vấn đề của lịch sử sẽ được nhìn nhận trở lại một cách đúng đắn hơn. Phải nói rằng dân đi trước Nhà nước, đi trước Đảng nhiều lắm trong việc hòa hợp, hòa giải dân tộc.

Vấn đề này đã đặt ra từ lâu rồi, và người đầu tiên đặt vấn đề một cách trực diện là ông Thủ tướng Võ Văn Kiệt, khi ông nói trong những ngày kỷ niệm, có một triệu người vui thì cũng có một triệu người buồn. Ông nói, nếu không làm lành những vết thương đó, thì đừng có khoét sâu thêm nữa – nhưng chưa được thực hiện.

Về phía dân, cũng đã làm được nhiều – tôi không nói sâu vì không được biết nhiều. Nhưng riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 27/07/2011, chúng tôi có tổ chức một buổi kỷ niệm, trong đó nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu nói rõ về vấn đề chiến tranh và Hoàng Sa.

Còn tôi có nói cái ý : đã đến lúc phải có một thái độ đúng đắn tuyên dương những người đã ngã xuống trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, và dũng cảm hy sinh tại Hoàng Sa. Tôi có dẫn ra cái câu của Phật nói rằng, tất cả nước mắt đều có vị mặn, tất cả máu đều có màu đỏ. Máu Việt Nam không phân biệt ở bên này hay bên kia giới tuyến. Đã đến lúc phải có một chính sách hòa giải và hòa hợp dân tộc, mới có thể tạo nên động lực mới để xây dựng đất nước.

Như vậy cách đây ba năm, vấn đề đó được chính thức công khai trong buổi mít-tinh do chúng tôi tự tổ chức lấy với nhau tại Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình ở đường Nguyễn Thông, Thành phố Hồ Chí Minh. Bây giờ sau ba năm, Nhà nước mới đặt lại vấn đề Hoàng Sa. Nhà nước đi sau dân, và như vậy là đáp ứng một nguyện vọng đã chín muồi lắm rồi trong nhân dân.

Trước đây liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa, thì kiêng dè khi nói về thực thể Việt Nam Cộng Hòa. Dù muốn hay không, đó là một trong bốn bên ngồi vào bàn đàm phán Hiệp định Paris, làm sao mà vứt bỏ thực thể ấy được. Và nếu dùng thực thể đó mà đấu tranh thì mới nói rằng Hoàng Sa là của Việt Nam, bị Trung Quốc xâm lược.

Gần đây người ta mới bạch hóa vấn đề công hàm của Phạm Văn Đồng, báo chí đã có đưa lên. Khi công nhận hồi ấy nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không có trách nhiệm pháp lý nào để nói về Hoàng Sa cả, vì theo Hiệp định Genève thì Hoàng Sa nằm ở bên kia vĩ tuyến 17, thuộc về Việt Nam Cộng Hòa. Do hồi ấy tránh nhắc lại điều đó, mà chúng ta gặp khó khăn trong việc lập luận, đấu tranh vạch mặt Trung Quốc xâm lược để giành lấy chủ quyền Hoàng Sa. Bây giờ vấn đề ấy rõ rồi thì phải nói lại.

Đài truyền hình Đồng Nai đã đưa tin – người ta chưa dám cho làm trên Đài Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng thôi thì cứ bắt đầu ở Đồng Nai cũng được, rồi từ đó tiến dần lên. Thế mà không phải mọi việc đã ổn đâu. Báo chí đưa lên rồi nhưng sau đó có chỉ thị phải gỡ xuống !

Nhiều thế lực đan xen vào nhau trong những vấn đề về đường lối chính sách, cũng như trong việc nhìn nhận thông điệp của Thủ tướng, có nhiều luồng ý kiến đánh giá rất khác nhau. Đó là một thực tế, và là một nỗi đau của dân tộc!

Một nỗi đau của đất nước, khi không tạo được đồng thuận giữa những người lãnh đạo. Chừng nào chưa gạt bỏ những mắc mứu cá nhân, gạt bỏ vấn đề ý thức hệ một cách khiên cưỡng và sai lầm để đặt lợi ích của dân tộc, Tổ quốc trên hết, thì chừng ấy chưa thể rảnh tay đối phó với kẻ thù được. Đấy là chưa nói lại còn có khi mượn kẻ thù tiếp tay để mà đấu lẫn nhau, để mà thanh toán lẫn nhau nhân danh ý thức hệ.

Vì vậy nguyện vọng của người dân lúc này là tạo nên đồng thuận để mọi người cùng chung sức xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh.

RFI : Chúng tôi xin chân thành cảm ơn giáo sư Tương Lai ở Thành phố Hồ Chí Minh đã vui lòng dành thì giờ trao đổi với RFI Việt ngữ.

(Thụy My)

 

Trung Quốc ‘soán ngôi’ Mỹ về thương mại

Bên cạnh xuất khẩu, tổng kim ngạch nhập khẩu của Trung Quốc cũng đã tăng cao nhờ nhu cầu nội địa
Trung Quốc cho biết nước này “rất có thể” đã vượt qua Hoa Kỳ để trở thành quốc gia có tổng kim ngạch thương mại lớn nhất thế giới.
Theo thống kê mới nhất, tổng kim ngạch thương mại của Trung Quốc đã tăng 7,6% trong năm ngoái, đạt 4,16 nghìn tỷ đôla.

Hoa Kỳ chưa công bố thống kê kinh tế cho cả năm 2013, nhưng tổng kim ngạch thương mại của nước này trong 11 tháng đầu năm 2013 chỉ đạt 3,5 nghìn tỷ đôla.

Trung Quốc đã trở thành nước xuất khẩu lớn nhất thế giới vào năm 2009. Tổng giá trị nhập khẩu của nước này cũng đã tăng mạnh trong những năm qua nhờ kinh tế phát triển.

“Rất có thể Trung Quốc đã vượt qua Hoa Kỳ để trở thành quốc gia giao thương lớn nhất thế giới,” người phát ngôn của Tổng Cục Hải quan Trung Quốc, ông Trịnh Dược Thanh, cho biết.

Thống kê kinh tế cho cả năm 2013 sẽ được Hoa Kỳ công bố vào tháng Hai.

Quan ngại về số liệu

Tuy nhiên, cũng đã có quan ngại trong những tháng qua về độ chính xác trong thống kê xuất khẩu của Trung Quốc.

Giới quan sát cho rằng nhiều nhà xuất khẩu của nước này đã nâng khống tổng giá trị hàng xuất để luồn lách quy định về ngoại hối.

Về phía mình, chính quyền Trung Quốc cũng đã có nhiều biện pháp để giải quyết vấn đề này.

Hồi tháng 5 năm ngoái, Cơ quan quản lý Ngoại hối Trung Quốc (SAFE) cho biết sẽ thắt chặt công tác quản lý hóa đơn xuất khẩu và phạt nặng tay những doanh nghiệp cung cấp số liệu sai lệch.

Sun Junwei, một kinh tế gia tại ngân hàng HSBC ở Bắc Kinh, nói “những biện pháp gần đây có thể giúp giảm bớt các hoạt động giao thương trá hình.”

“Chúng tôi nghĩ rằng những hoạt động này sẽ bị hạn chế đáng kể trong năm nay so với năm ngoái,” bà nói.

Một số nhà phân tích cho rằng bất kể thống kê của Trung Quốc có bị thổi phồng đi chăng nữa, nước này cũng vẫn sẽ soán ngôi Hoa Kỳ.

“Khoảng cách về tổng kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ có thể đã lên đến 250 tỷ đôla trong năm 2013,” ông Rajiv Biswas, kinh tế gia tại hãng IHS, nói với BBC.

“Đây là một khoản khá lớn và khó có khả năng bất kỳ sự điều chỉnh về số liệu nào có thể thay đổi vị trí của hai nước.”

Ông Biswas cũng nói thêm rằng khoảng cách thương mại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ có khả năng sẽ gia tăng trong năm nay.

Trong cả năm 2013, tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng trưởng 7,9%, trong khi nhập khẩu tăng 7,3%.

(BBC)

 

Những ngày đáng lo ngại năm 2014 – Ý đồ xấu của Nguyễn Như Phong – Khởi tố Thứ trưởng Công an: Vấn đề là có quyết liệt hay không?


Người Buôn Gió – Những ngày đáng lo ngại năm 2014

1) Lo ngại Thái Nguyên

Vụ bạo động Thái Nguyên cho thấy mầm mống bức xúc, nóng giận tích tụ trong đám đông dân chúng Việt Nam rất cao. Nguyên nhân của sự bức xúc này không chỉ phải là vụ việc xô xát giữa bảo vệ và một công nhân. Mà sự bức xúc khiến người dân cáu giận nổi cơn như vậy còn do nhiều thứ tích sẵn trong người,  chẳng hạn như giá cả leo thang, bất công giàu nghèo, pháp luật thiếu minh bạch..thậm chí là cả tình trạng tắc đường, những nhiễu hành chính…. Những thứ này theo ngày tháng sống cứ tích tụ lại trong người dân thành những phẫn uất và bùng nổ thành bạo động có khi chỉ một lý do vu vơ.

Hẳn ai trong chúng ta đều không lạ gì những câu chửi thề thốt ra khi ai đó xem ti vi, báo chí hay chứng kiến cảnh nào đó diễn ra trước mắt, hoặc nghe kể lại. Sự bực bội đập vào mắt, vào thần kinh mỗi người dân hàng ngày, hàng giờ ở đủ mọi nơi. Từ bếp ăn cho đến nhà trường, công sở, ngoài đường..

Công an như thường lệ vào cuộc điều tra khởi tố vụ án ” gây rối trật tự công cộng ”. Thường ở nước ta , vấn đề thường hay giải quyết phần ngọn như vậy. Cho nên hết đám đông này đốt xe, phá nhà máy, ủy ban, chặn đường, khiếu kiện, chở quan tài….cứ xảy ra liên miên. Cho dù sẽ tìm ra được thủ phạm trong vụ này,có đưa ra xét xử làm gương, làm điểm gì đi chăng nữa . Thì sự cảnh cáo của bản án trong vụ này cũng chẳng khiến được những vụ khác xảy ra, bởi như đã nói. Nguyên nhân của cơn nóng giận nó thâm nhập vào người dân qua quá nhiều ngả. Có khi người dân Việt Nam không những được xếp hạng hạnh phúc nhất nhì thế giới, mà còn đáng được xếp hạng nóng tính nhất nhì thế giới.

Một điều thật đáng buồn hay đáng lo ngại nữa ở vụ việc này. Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư, phải khó khăn lắm mới kéo được một nhà đầu tư lớn như Samsung vào VN để đầu tư ngành công nghệ cao như điện thoại. Sự việc xảy ra này chắc sẽ để trong đầu những nhà đầu tư mối lo ngại về tình trạng bất ổn có thể bùng phát bạo động bất cứ lúc nào. Không ai dám đầu tư vào vùng đất mà người dân không thuần tính , dễ nổi nóng như vậy. Thông tin về sự việc, số người chết, bị thương, tài sản bị phá có thể được nói cách khác cho dân chúng yên tâm. Nhưng với người đầu tư là chủ nhà máy, khu công nghiệp thì không thể nói họ không có thông tin trung thực. Thử hỏi sự hấp dẫn về nhân công giá rẻ, cần cù, chịu khó…có làm át mỗi lo ngại về một đám đông sẵn sàng nổi khùng đập phá hết, tấn công hết mọi thứ bất cứ lúc nào, bất cứ lý do gì. ?

Bài toán giải đáp để không tái diễn cảnh này không phải chỉ xử tù người gây rối là xong. Án tù cho người gây rối cũng không thể làm yên lòng những nhà đầu tư nước ngoài, cũng như những người có lương tri, tấm huyết thực sự với tiền đồ đất nước.

2) Lo ngại ngân hàng

Vụ án nhân viên ngân hàng Huyền Như lấy hàng ngàn tỷ đồng. Ngân hàng Viettinbank phủi tay chịu trách nhiệm. Tòa án mở phiên tòa xét Huyền Như lừa của người gửi tiền, người gửi tiền cho ngân hàng phải gánh chịu hậu quả.

Nếu thế thì sẽ còn ai dám đến ngân hàng gửi tiền. Một người dân bước vào ngân hàng, gặp nhân viên ngân hàng để làm thủ tục gửi số tiền tiết kiệm. Nhân viên ngân hàng đưa giấy chứng nhận giả, có con dấu giả và thu tiền tại quầy giao dịch ngân hàng. Sau đó nhân viên đó cuỗm tiền biến mất, ngân hàng bảo chưa thấy tiền vào ngân hàng nên không chịu trách nhiệm, đi tìm nhân viên đó mà đòi. Nếu việc này được xử cho Viettinbank vô trách nhiệm thì người dân nào dám mang sổ đỏ đến ủy ban làm công chứng, mang giấy tờ, mang vàng đến ngân hàng để hưởng ứng lời kêu gọi của chính phủ mới đây.? Làm sao người dân biết được vàng, tiền, sổ đỏ của mình đã nhập vào trong số tài khoản của ngân hàng, ủy ban….? Có cấp trên thông báo à, cấp trên cũng té nốt thì sao, có giấy chứng nhận của xyz à, giấy chứng nhận cũng giả nốt thì sao.?

Bài toán nào để lấy được lòng tin của những người đến ngân hàng giao dịch sau vụ Viettinbank chối phắt trách nhiệm của mình.?

Mất niềm tin là một nguyên nhân lớn dẫn đến phẫn uất. Một xã hội ở đâu cũng thấy không có niềm tin thì chắc hẳn ở đâu cũng có sự phẫn uất là điều đương nhiên. Và con người không thể hiền lành, thuần chất trong một bối cảnh mà mọi sự trắng đen , điên đảo không biết đâu mà lần, mà xác định.

3) Lo ngại pháp luật.

Cứ ngỡ rằng vụ án Dương Chí Dũng tố Phạm Quý Ngọ báo tin để trốn thoát. Lời khai rành rọt tại tòa. Tất nhiên đúng sai thì còn phải điều tra. Nhưng việc tòa thấy đủ dấu hiệu căn cứ để khởi tố là đương nhiên đúng luật. Và khi nào có lệnh khởi tố, có quá trình điều tra, có kết luận điều tra thì mới rõ Phạm Quý Ngọ có tội hay không.?  Thế nhưng lời đề nghị khởi tố vụ án này mới được đưa ra đã gặp những phản ứng không hề đúng luật từ phía báo chí, cơ quan an ninh điều tra.

Niềm tin của người dân đang lên bỗng nhiên khựng lại. Khi báo CAND vào cuộc đăng lời ông quyền thủ trưởng cơ quan an ninh điều tra trung tướng Hoàng Công Tư. Ông Tư khẳng định quá trình điều tra trước đó mà cơ quan ông phụ trách phối hợp vụ án cho thấy Dương Chí Dũng khai không đúng về ông Ngọ.

Ông Hoàng Công Tư như thế đã làm lộ bị mật điều tra chưa.? Đã làm lộ bí mật những vụ án do Ban Nội Chính, Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng trương ương thụ lý chưa.? Vụ án đang được đề nghị khởi tố, đúng sai phải để xác minh. Ông Tư dựa vào điều nào của luật tố tụng hình sự mà bỗng dưng kể quá trình Dương Chí Dũng khai tại cơ quan ông thế nào, ông đã xác minh điện thoại gọi đi gọi lại ra sao.?

Hay luật có khoản nào quy định cho ông Hoàng Công Tư tiết lộ điều tra như vậy. Có vụ án đã khởi tố , đã điều tra, đã đưa ra tòa. Nhưng tòa bác bỏ hồ sơ, đề nghị điều tra lại, những vụ án như thế là thường. Đã có vụ án nào mà bên điều tra nhảy lên mặt báo cự nự rằng quá trình điều tra trước đó thấy kẻ này có tội, người kia không có tội chưa.? Cự nự kiểu đó thì còn gì là tòa án, còn gì là pháp luật nghiêm minh nữa.?

4) Lo ngại truyền thông.

Tiếp đến ông nhà báo Nguyễn Như Phong. Bài báo mới đây của ông Nguyễn Như Phong có nhan đề ” Suy ngẫm lời khai của Dương Chí Dũng về cho tướng  Phạm Quý Ngọ” đã lên tiếng bênh vực cho ông Ngọ khi mà vụ án còn đang chưa có điều tra. Nhờ bài báo này đã lộ ra một Nguyễn Như Phong thực sự.

Nếu ai tinh ý, đọc phong cách viết bài báo này, sẽ thấy nó trùng lặp với phong cách của các trang mạng điện tử có tên NTD và một vài trang Dư Luận Viên khác. Một thói quen cầm đèn định hướng ô tô, coi mình là đỉnh cao của pháp luật vẫn thường thấy đầy trịch thượng y hệt nhau. Chính những trang này và những bài viết dạng định hướng áp tội cho người khác trong các vụ án của những nhà đấu tranh dân chủ như Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Hải, Lê Quốc Quân . Và trong vụ án này, vẫn giọng văn đấy, vẫn lối viết ấy, kiểu áp đặp , định hướng tòa án ấy. Khác cái là bênh vực Phạm Quý Ngọ vô tội.

Có lẽ sự việc Dương Chí Dũng khiến Nguyễn Như Phong mất bình tĩnh. Bộc lộ dấu vết  ngòi bút của mình.

Qua đó người dân cảm nhận được ai là kẻ đứng đầu đám dư luận viên hay áp tội cho những người yêu nước , trước khi phiên tòa xảy ra. Cảm nhận được những bài viết đả kích, kết tội người đấu tranh yêu nước do kẻ nào chấp bút , kẻ nào chỉ đạo, phong cách viết của ai.

Lời khai của Dương Chí Dũng để lộ ra tướng Phạm Quý Ngọ báo tin, nhận tiền. Tướng Phạm Quý Ngọ có tội hay không còn phải điều tra, điều tra có lộ ra gì nữa không là điều còn phải chờ đợi. Thế nhưng mới chỉ lời đề nghị khởi tố vụ án. Ít nhất đã có hai người mất bình tĩnh để lộ mình. Người thứ nhất là ông trung tướng Hoàng Công Tư , người thứ hai là nhà báo đại tá Nguyễn Như Phong.

Có thể một vài bản tin thời sự tối nữa, Trần Bình Minh sẽ vào cuộc.

Một điều rất lạ, đang trong lúc dư luận trong ngoài, cả các thế lực mà nhà nước ta hay gọi là ”phản động ” thu hút vào vụ đại án Dương Chí Dũng, Huyền Như. Thì đột ngột im ắng lâu ngày, ông Đinh Thế Huynh UVBCT đột ngột xuất hiện nói về đề tài mà dường như dư luận đã quên . Đề tài gì đó về hiến pháp, chống xuyên tạc và gì gì đó. Một đề tài rất lạc lõng trong lúc cả dư luận đang hướng về phía khác.

Tại sao ông Đinh Thế Huynh xuất hiện thời điểm này. Các dư luận viên sẽ nói là đó là chuyện bình thường, việc ông ấy vẫn làm. Chỉ được cái suy diễn lung tung.

Một UVBCT, một người lõi đời làm truyền thông, tuyên huấn như ông Đinh Thế Huynh xuất hiện vào lúc này không phải là điều bình thường tí nào. Mà ông muốn nhân cơ hội này để đưa thông điệp cá nhân mình. Cho dư luận nhớ tới trong lúc truyền thông hỗn chiến gay gắt này, ông là người quản lý đấy. Và giữa một bên đang định khởi tố vụ án ” mật báo tin ” và một bên phản bác (nghe như phản bác 258 hay diễn đàn XHDS ý nhở) ….bên nào có ông Huynh bên đó sẽ nắm được dư luận.

Đó chẳng phải là điều đáng lo ngại nữa hay sao.?

Người Buôn Gió 
 (Yêu quê hương Việt Nam)

Ý đồ xấu của Nguyễn Như Phong

Ngay sau khi nhân chứng Dương Chí Dũng khai Thứ trưởng Bộ Công an Phạm Quý Ngọ là người gọi điện báo “hung tin” cho Dương Chí Dũng và khuyên nên lánh đi, báo PetroTimes của Đại tá-Tổng Biên tập Nguyễn Như Phong đã ngay lập tức có một loạt bài bày tỏ sự thông cảm, nuối tiếc và thương xót đối với Thượng tướng công an Phạm Quý Ngọ (Cựu đại tá Công an Dương Tự Trọng): “Vẫn còn là Dương Tự Trọng!”, “18 năm sau, còn ai nhớ đến Dương Tự Trọng”, và sự bênh vực ra mặt thể hiện ở bài thứ ba “Suy ngẫm về lời khai của Dương Chí Dũng cho Tướng Phạm Quý Ngọ”.
Ông Nguyễn Như Phong, tổng biên tập Năng lượng mới
Đầy mùi ngụy biện
Ba bài tràn ngập những lỗi ngụy biện vốn thường thấy trong các bài báo “tuyên truyền”, “định hướng dư luận” của ngành công an. Chẳng hạn, đó là chiêu đánh vào tình cảm (appeal to emotion): “Người ta vẫn nói người sống nặng tình thường hay chịu khổ. Và quả thật, ở tuổi 52, đến nửa bên kia cuộc đời, Dương Tự Trọng mới thấm thía được… Ít ai biết, ngoài tài đánh án, Dương Tự Trọng còn đam mê nghệ thuật và thích làm thơ…”.
Độc giả chẳng biết thế nào, nhưng cứ nghe giọng văn sến mượt mà của các nhà báo khoác áo công an – hay là công an khoác áo nhà báo – là dễ mủi lòng lắm, vì nói chung người đọc Việt Nam vốn nặng tình, ít duy lý, lại thiếu thông tin đa chiều từ lâu nay. Họ không biết đến, hoặc sẽ nhanh chóng quên đi, rằng Dương Tự Trọng có mặt và đã trực tiếp cầm loa chỉ huy “trận đánh đẹp” đầm Tiên Lãng ngày 5/1/2012. Họ sẽ nhanh chóng quên đi việc Dương Tự Trọng đã bỏ ra hàng núi tiền để giúp anh mình thoát tội, mà tiền đó, nếu chỉ dựa vào mức lương thưởng của một viên công an, mười kiếp nữa Dương Tự Trọng cũng không kiếm ra được. Họ sẽ nhanh chóng quên đi việc Dương Tự Trọng dung nạp cả tội phạm làm đệ tử. Họ sẽ chỉ còn thấy một đại tá công an anh hùng, oai phong, nghĩa hiệp, trong công việc thì anh xả thân tận tụy, trong tình cảm thì anh cao cả, trong đời thường thì anh bay bổng lãng mạn và nhiều ưu tư như một nghệ sĩ v.v.
Đó là chiêu viện dẫn quyền lực (appeal to authority): “Việc ông Ngọ vẫn được Chủ tịch nước phong cấp hàm Thượng tướng là minh chứng rõ nhất cho việc ông không ăn hối lộ của Dương Chí Dũng”. Chủ tịch nước không phải là người có thẩm quyền (authority) chính đáng để nói rằng công dân X. là kẻ tham nhũng còn công dân Y. thì không. Áp dụng đúng cái lập luận tạm gọi là “ngụy biện Như Phong” này thì có thể tuyên bố: “Việc ông Dương Chí Dũng vẫn được phong Cục trưởng là minh chứng rõ nhất cho việc ông là một cán bộ có năng lực”.
Song, bỏ qua tất cả những ngụy biện trắng trợn của Petrotimes và đặc biệt là của Đại tá-Tổng Biên tập Nguyễn Như Phong, cái cần nói ở đây là một ý đồ nguy hiểm của Nguyễn Như Phong trong việc dùng phương tiện truyền thông “nhà trồng được” để quật lại phe đối thủ. Ít nhất thì, căn cứ bài viết Suy ngẫm về lời khai của Dương Chí Dũng cho Tướng Phạm Quý Ngọ, cũng có thể nói rằng ông Như Phong có ý đồ xấu đối với các đồng nghiệp báo chí của ông.
 
Đe dọa báo chí?
Nguyễn Như Phong viết: “Đã có những tờ báo giật tít với giọng điệu hả hê, khoái chí khi thấy có một lãnh đạo cao cấp của lực lượng công an “dính chàm”. Người ta đang chờ đợi Tòa sẽ xử lý ra sao trước những thông tin này”. Sau câu đá đồng nghiệp (như vẫn thường làm thế), ông ta vạch đường chỉ lối luôn: “Như vậy, bước tiếp theo là Tòa sẽ chuyển hết hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát. Cơ quan này sẽ nghiên cứu hồ sơ, củng cố chứng cứ và sẽ có quyết định: Hoặc là kháng nghị quyết định khởi tố điều tra vụ án của Tòa, hoặc giao cho một cơ quan điều tra tiến hành điều tra… Nói tóm lại là “còn tốn thời gian lắm”.
Sao Như Phong lại đưa khả năng Viện Kiểm sát kháng nghị quyết định khởi tố điều tra vụ án của Tòa (tức là bác bỏ quan điểm của Tòa) lên trước, coi như một khả năng cao? Trong khi trên thực tế, chuyện cơ quan công tố bác kháng nghị của tòa, cũng đồng nghĩa với phủ nhận toàn bộ quá trình điều tra, là gần như không xảy ra. Đặt một chuyện gần như không xảy ra vào vị trí “khả năng cao”, ông định dọa các nhà báo đã đưa tin “chống lại đại ca Ngọ” hay sao, ông Nguyễn Như Phong?
Hàm ý đe dọa còn lộ liễu hơn ở vế sau: “hoặc giao cho một cơ quan điều tra tiến hành điều tra… Nói tóm lại là “còn tốn thời gian lắm”. Ý ông Nguyễn Như Phong hẳn là vụ việc này trước sau cũng thuộc thẩm quyền của Bộ Công an (cơ quan đang cần bị/được điều tra thì lại trở thành cơ quan điều tra) và thời gian sẽ còn kéo dài…
Cũng trong bài viết này, Đại tá Nguyễn Như Phong phân tích (nghe có vẻ rất hợp lý):

“Ngay khi bị bắt ở Campuchia, Dương Chí Dũng đã khai ra việc biếu ông Ngọ 500.000 đô la. Khi đưa Dương Chí Dũng về tới TP Hồ Chí Minh, Dũng vẫn khai như vậy. Nhưng rồi ít ngày sau, Dương Chí Dũng đã viết bản khai lại và xin lỗi ông Ngọ vì đã vu oan cho ông. Nguyên nhân tại sao lại vu oan cho ông Ngọ thì được Dương Chí Dũng nói trong bản khai ấy rằng do hoảng loạn tâm thần và căm tức ông Ngọ về việc chỉ huy quân lùng bắt Dương Chí Dũng ở khắp nơi. (Chẳng hiểu vì sao trước Tòa, khi Dương Chí Dũng khai ra việc này mà Tòa lại không đưa lời khai và lời xin lỗi của Dũng trước đó ra?)”.
Vậy, ông Nguyễn Như Phong sao lại lờ đi chi tiết là, Dương Chí Dũng đã khai tại tòa rằng trong quá trình điều tra bị ép cung, lo sợ bị giết hại nên Dương Chí Dũng mới phải làm theo lời điều tra viên – viết thư xin lỗi ông Ngọ.
Ý đồ nhằm vào Chủ tịch nước
Mới đọc qua, phép ngụy biện “Và việc ông Ngọ vẫn được Chủ tịch nước phong cấp hàm Thượng tướng là minh chứng rõ nhất cho việc ông không ăn hối lộ của Dương Chí Dũng” có thể chi cho ta thấy dụng ý xu nịnh của Nguyễn Như Phong. Nhưng thật ra ngụy biện Như Phong này có một dụng ý thâm hiểm hơn thế chứ không chỉ đơn giản là xu nịnh: Đại tá đang khéo léo đổ trách nhiệm sang cho Chủ tịch nước, người được cho là thuộc “phe tấn công” trong vụ án này.
Có một chi tiết (mà độc giả đã biết qua báo chí nhưng chưa kiểm chứng được), là Chủ tịch nước trước đây đã từ chối gặp Dương Chí Dũng. Nghĩa là dù thế nào, trước mắt công chúng, ông cũng ít nhiều thể hiện mình là người kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Cái cách “lôi Chủ tịch nước vào cuộc” của Nguyễn Như Phong chỉ là sự chia rẽ, phân hóa nội bộ “phe tấn công”, tách Chủ tịch nước ra khỏi những người ủng hộ ông, hay nói đúng hơn, khỏi những người đang muốn chống tham nhũng.
 
Ra sức bao biện cho đồng nghiệp công an…
Nguyễn Như Phong phán xét độc giả – người ngoài: “Nhưng họ không hiểu rằng, ông Phạm Quý Ngọ khi ấy là Trưởng ban Chuyên án Vinalines, là người đề xuất các biện pháp nghiệp vụ đặc biệt để giám sát Dương Chí Dũng, đảm bảo nhất cử nhất động của Dũng đều được biết. Không đời nào ông lại dại dột dùng điện thoại của mình hoặc mượn điện thoại ai đó gọi cho Dương Chí Dũng. Và chính ông là người ký lệnh bắt Dương Chí Dũng, rồi cũng chính ông chỉ huy việc lùng bắt”. 
Việc ông Phạm Quý Ngọ là Trưởng ban Chuyên án không phải là chứng cớ ngoại phạm để chứng tỏ ông Ngọ không báo tin cho Dương Chí Dũng. Tương tự, coi việc ông Ngọ ký lệnh bắt và chỉ huy lùng bắt Dương Chí Dũng là bằng chứng bảo đảm ông này “không đời nào” cấu kết bảo vệ Dương Chí Dũng, là một lập luận thật ngây thơ… không thể có ở công an!
Còn “ngây thơ cụ” hơn nữa là lập luận “xách một túi tiền nặng 5kg không phải là chuyện đùa”. Một người đàn ông khỏe mạnh hồng hào như Dương Chí Dũng nhấc một chiếc valy (cặp công tác) nặng 5k, có gì buồn cười và trinh thám không?
Cuối bài viết bênh vực đại ca ra mặt, ông Nguyễn Như Phong nhận định: “Từ xưa đến nay, chuyện bị cáo ra Tòa khai vấy theo kiểu “trâu lấm vẩy bùn” cho người khác là không hiếm. Còn trong nghề công an, chuyện trinh sát bị đối tượng cho “leo cây”, cũng là chuyện chẳng hiếm. Chỉ có điều rằng nếu chỉ căn cứ theo những lời khai ấy mà suy diễn, rồi đặt ra những dấu hỏi rằng thế này, rằng thế khác thì xem ra chưa phải là công tâm!”. Rồi ông kết luận: “Rất mong các cơ quan tố tụng khẩn trương vào cuộc, điều tra cho ra sự thực”.
 
Là người trong ngành, ông Nguyễn Như Phong tất nhiên biết rõ những chuyện bị cáo ra tòa khai lung tung, đổ vấy tội cho người này người khác. Đó là chuyện có thật. Nhưng ông muốn “các cơ quan tố tụng khẩn trương vào cuộc điều tra”, là các cơ quan nào? Nói cách khác, ai sẽ là người điều tra khi chính cơ quan điều tra phạm pháp? Ông không định cùng các đồng nghiệp công an của ông – dưới trướng Thứ trưởng Phạm Quý Ngọ – đứng ra “thầu” vụ này đấy chứ? Cái đó người ta gọi là “xung đột lợi ích” ông ạ, không được đâu.
 
Nếu có những lời khai cho rằng cả Bộ trưởng Trần Đại Quang lẫn Thứ trưởng Phạm Quý Ngọ – nghĩa là hai quan chức đầu ngành của Bộ Công an, riêng Trần Đại Quang còn là ủy viên Bộ Chính trị – đều có liên quan đến chạy án, tham nhũng, làm lộ bí mật công tác, v.v., thì cơ quan nào có thể đứng ra khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử Bộ trưởng Công an? Câu trả lời, trong điều kiện lý tưởng, là Quốc hội sớm lập Ủy ban Điều tra Lâm thời độc lập. Kết quả điều tra và những người tiến hành sẽ ra điều trần trước Quốc hội trong một phiên công khai cho bàn dân thiên hạ cùng xem xét.
… và chơi xấu đồng nghiệp báo chí

Bài viết của Nguyễn Như Phong, ngoài lời lẽ bênh vực ra mặt cho Thứ trưởng Phạm Quý Ngọ, bất chấp tính khách quan – độc lập của báo chí, còn gửi thông điệp đe dọa đến các nhà báo, các tờ báo đã cả gan đưa tin và “hả hê, khoái chí” khi thấy đại ca Ngọ dính chàm.
Cho đến nay, các nhà báo trong mảng nội chính chắc chưa ai quên được vụ PMU 18 và việc “phe bị đánh” đã phản đòn ngoạn mục và tàn bạo như thế nào. Vụ án Dương Chí Dũng-Dương Tự Trọng là một vụ án động chạm đến toàn ngành công an, vì vậy, chuyện phe này quật lại là hoàn toàn có thể. Hiện tại, có dấu hiệu cho thấy phe công an đang phản công, khi mà cả CAND, Petrotimes, trandaiquang.net, nguyentandung.net… đều đang đầu tư công sức, ngày đêm khẩn trương viết bài bảo vệ ngành, bảo vệ nhân quyền của các đồng chí đã và chưa bị lộ. Còn tệ hơn thế nữa là khả năng thỏa hiệp giữa các phe phái…

Chỉ còn biết mong các nhà báo (Một Thế Giới, Pháp luật TP.HCM, Thanh Niên, Tuổi Trẻ…) hãy cẩn thận, và độc giả hãy tỉnh táo…
Nguyễn Anh Tuấn – Trịnh Hữu Long – Phạm Đoan Trang
(Blog Phạm Đoan Trang )

Khởi tố Thứ trưởng Công an: Vấn đề là có quyết liệt hay không?

Phiên tòa 7/1/2014, Dương Chí Dũng khai Phạm Quý Ngọ là người đã mật báo cho Dũng bỏ trốn và Dũng đã đưa cho Ngọ hơn 500 ngàn USD ….Trả lời các báo Ngọ phủ nhận tất cả, đại ý “Dũng khai là chuyện của Dũng, vấn đề là phải có chứng cứ chứng minh về việc này. Tôi không biết, không liên quan. Chấm hết”. Sau đó Tòa đã khởi tố vụ án này để tiếp tục xử lý. Dư luân sướng rêm nhưng ….không dễ à nha (?)

“Không dễ” là vì  ngay khi bị bắt,  Dũng đã khai ra Ngọ. Nhưng sau đó, Dũng được hướng dẫn phải đổi lời khai, thậm chí có đơn xin lỗi Ngọ. Theo Dũng, Dũng buộc phải làm như vậy vì lời hứa sẽ được “ giải cứu thần chết” nhưng  kết quả vẫn bị tử hình. Nay đành phải huỵch toẹt .

Với diễn biến này, dễ dàng suy ra ván cờ “Dũng – Ngọ”đang ở thế giằng co. Nếu Dũng thắng thế ( lời tố cáo là đúng) , thì cơ quan chức năng đã “bóp mũi” Ngọ lâu rồi. Đâu cần chờ đến hôm nay ? Rất có thể thời điểm đó, thế cờ Ngọ đang thắng nên ….Nay mượn dư luận ồn ào, “gió sẽ đổi chiều” chăng?  Kết quả đành phải chờ, nhưng khả năng thế cờ tàn ….và tỉ số hòa cả làng là rất cao. ( Trong thực tế, khởi tố và sau đó “đình chỉ” là chuyện thường ngày ở huyện của VN).

Trở lại câu chuyện “phủ nhận” của Ngọ. OK, quả không sai, vậy mới xứng là “thứ trưởng”, bởi hơn ai hết Ngọ hiểu rằng “làm quái gì có chứng cứ, phen này thì đã làm gì được nhau ? Không biên nhận giao tiền, không nhân chứng? Không hình ảnh, không video, không ghi âm? Không danh sách  điện thoại thể hiện hai người gọi cho nhau?….Tất cả đều không .Botay.com thôi ?!

Xin thưa, vẫn có cách, cuộc đời không thể giản đơn như thế. Vấn đề là các “sếp trên”có quyết liệt hay không?

Hãy truy lùng ngay về tất cả số tài sản của Ngọ và người thân  đang có (vợ , con, cha, mẹ, anh chị em, bà con thân thích, bạn bè tâm giao…. ) Sau khi xác minh được số tài sản đó do ai đang nắm giữ, buộc họ chứng minh nguồn gốc số tiền ở đâu ra ? Nếu Ngọ đứng tên số tài sản đó ( không lẻ ngu đến thế sao? ) thì sau khi “cân – đo- đong –đếm” mức lương của thứ trưởng thì đến vài kiếp sau Ngọ mới đủ số tiền đó. Nếu người thân đứng tên thì cũng phương pháp tương tự, đặc biết chú ý thời điểm  phát sinh số tiền khổng lồ đó có trùng với thời điểm Dũng đưa cho Ngọ ?

Giả sử, những người đang giữ giùm số tiền trên ngoan cố không khai của Ngọ. Họ nói rằng, do trúng số, hoặc lượm được. OK, cũng có thể, nhưng nếu trúng số thì phải có chứng từ của công ty trả thưởng, làm sao có ? Còn lượm được thì theo luật, buộc họ phải thông báo với chính quyền địa phương, để trả lại cho người mất, họ có làm động thái này không ? Nếu không thì xử lý hình sự luôn về tội “chiếm giữ tài sản trái phép” (Điều 141 Bộ luật hình sự) Truy một hồi thì sẽ ra hết thôi.
Chuyện khó mà dễ, dễ mà khó. Phải vậy không ?

  Luật sư  Trương Sỏi
  (Quê choa)

Ban Nội chính giám sát điều tra vụ tham nhũng phức tạp

Năm 2014, Ban Nội chính TƯ sẽ lập các đoàn công tác của BCĐ TƯ phòng chống tham nhũng giám sát việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng phức tạp.
ban nội chính, Huỳnh Thị Huyền Như, Nguyễn Bá Thanh, tham nhũng, Dương Chí Dũng
Trưởng Ban Nội chính TƯ Nguyễn Bá Thanh. Ảnh: TTXVN
Phát biểu sáng 9/1 tại hội nghị tổng kết công tác năm 2013, triển khai nhiệm vụ 2014 của Ban Nội chính TƯ, Trưởng Ban Nguyễn Bá Thanh nhận định sau gần 1 năm tái lập, Ban đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy công tác phòng chống tham nhũng lên một bước phát triển mới..
Ban Nội chính TƯ đã thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc tiến trình tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử một số vụ án trọng điểm được dư luận quan tâm trong thời gian qua; khắc phục tình trạng áp dụng án treo tùy tiện tại các địa phương trong xét xử các vụ án có các tội danh tham nhũng.
Tuy nhiên, các mặt hoạt động của Ban chưa đồng đều; chưa chủ động, kịp thời phát hiện, đề xuất BCĐ TƯ phòng chống tham nhũng xem xét, theo dõi, giám sát những vụ việc mới có dấu hiệu tham nhũng; chưa kịp thời cập nhật những khó khăn, vướng mắc trong việc theo dõi, đôn đốc các vụ án trọng điểm.
Ông Nguyễn Bá Thanh cũng đề nghị Ban Nội chính TƯ rà soát việc xây dựng, thực thi pháp luật để tìm hiểu những tồn tại, “kẽ hở” của pháp luật là cơ hội phát sinh hành vi tham nhũng để tham mưu cho các cơ quan chức năng kịp thời sửa đổi, bổ sung, khắc phục, ngăn ngừa, nâng cao hiệu quả phòng chống tham nhũng.
Tập thể Ban cũng cần tăng cường đoàn kết nội bộ, tích cực tuyển dụng cán bộ có đầy đủ năng lực, trí tuệ, phẩm chất đạo đức để bổ sung vào đội ngũ cán bộ của Ban, góp phần thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.
Nhấn mạnh đến những nhiệm vụ trọng tâm năm 2014, ông Nguyễn Bá Thanh đề nghị Ban cần làm tốt vai trò cơ quan thường trực BCĐ; Tiếp tục chỉ đạo nghiên cứu, hoàn thiện xây dựng thể chế về phòng chống tham nhũng, nhất là việc rà soát, sửa đổi các văn bản pháp luật liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng phù hợp với Hiến pháp mới..
Năm 2014, Ban sẽ tham mưu, thành lập và phục vụ các đoàn công tác của BCĐ kiểm tra, giám sát việc thanh tra các vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp theo Kế hoạch 08-KH/TW của Bộ Chính trị.
Ban cũng sẽ khảo sát tình hình tham nhũng, vi phạm pháp luật và tội phạm liên quan đến hoạt động của một số tổ chức tài chính, tín dụng, ngân hàng tại một số ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần.
Năm 2013, Ban Nội chính TƯ đã theo dõi, đôn đốc cơ quan chức năng đẩy nhanh tiến độ xử lý 8 vụ án, 2 vụ việc thuộc diện BCĐ theo dõi, chỉ đạo gồm: Vụ án xảy ra tại Công ty cho thuê tài chính II; Vụ án Dương Chí Dũng và đồng phạm; Vụ án Huỳnh Thị Huyền Như và đồng phạm; Vũ Việt Hùng và đồng phạm; Vụ án Dương Thanh Cường; Vụ án Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm; Vụ án Phạm Thị Bích Lương cùng đồng phạm; Vụ án Lâm Ngọc Khuân; Vụ việc sai phạm tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần xăng dầu Petrolimex (PG Bank); Vụ việc sai phạm tại Công ty dịch vụ Ngân hàng Agribank. Đến nay tòa án đã xét xử 3 vụ.
Theo TTXVN

Đang làm rõ số tiền 20 tỉ đồng bà Lan – Vạn Thịnh Phát đưa cho Thứ trưởng Ngọ

https://i0.wp.com/static.ringring.vn/news/0/0/45/46962.jpg
Chủ tọa Trương Việt Toàn, người ký quyết định khởi tố vụ án cố ý làm lộ bí mật của Nhà nước nhận định việc có người báo tin để Dương Chí Dũng trốn trước khi có quyết định khởi tố vụ án 1 ngày đã gây khó khăn cho công tác điều tra, gây sự hoài nghi, ảnh hưởng rất lớn trong dư luận nhân dân.
Yêu cầu Viện Kiểm sát làm rõ số tiền chạy án
Bản án của Toà án Nhân dân TP Hà Nội ghi nhận: “Về lời khai của Dương Chí Dũng, tại phiên tòa anh khẳng định một lần nữa số tiền đã đưa cho đồng chí Phạm Quý Ngọ là 510.000 USD, đồng chí Thanh – Cục trưởng Cục C48 Bộ Công an 20.000 USD, đồng chí Sơn – Phó phòng C48 10.000 USD. Đồng thời, Dũng khai thêm trước đó đã đưa cho đồng chí Phạm Quý Ngọ 20 tỉ đồng để công ty Vạn Thịnh Phát do bà Lan làm chủ tịch được thực hiện dự án chuyển đổi công năng cảng Sài Gòn”.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân TP Hà Nội đề nghị hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố vụ án về hành vi làm lộ bí mật công tác. Đồng thời đề nghị hội đồng xét xử kiến nghị cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ số tiền Dương Chí Dũng khai đã đưa cho những người nêu trên, nếu có căn cứ thì xử lý theo pháp luật.
Bị cáo Dương Tự Trọng tươi cười rời tòa.
Theo Hội đồng xét xử, xét lời khai của anh Dương Chí Dũng về các tình tiết liên quan đến vụ án này thấy rằng, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, Dương Chí Dũng một lần nữa khẳng định có nhận được thông tin sẽ bị khởi tố và sẽ bị bắt tạm giam đồng thời nghe lời khuyên lánh đi một thời gian nên Dũng đã bỏ trốn đúng vào thời điểm nhận thông báo.

Lời khai đó phù hợp với cuốn nhật ký mà Dũng đã ghi trong sổ theo dõi hành trình bỏ trốn, phù hợp với lời khai của Vũ Tiến Sơn tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa rằng “Dương Tự Trọng đã nói với bị cáo là: “Có sếp to trên bộ Công an bảo lánh đi”.

“Xét lời khai và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đây là chuyên án được cơ quan có thẩm quyền đang xem xét điều tra, khởi tố, thuộc loại thông tin tuyệt mật của Nhà nước nhưng đã có sự lộ thông tin để Dương Chí Dũng trốn khỏi Việt Nam. Thực tế, Dương Chí Dũng đã trốn trước khi có quyết định khởi tố vụ án một ngày, gây khó khăn cho công tác điều tra, gây sự hoài nghi, ảnh hưởng rất lớn trong dư luận nhân dân”, Hội đồng xét xử nhận định.

Mặt khác, Hội đồng xét xử đề nghị khởi tố vụ án của VKS là có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy có dấu hiệu và cần thiết khởi tố vụ án hình sự về hành vi làm lộ bí mật của nhà nước theo điều 263 Bộ Luật hình sự và giao cho Viện Kiểm sát Hà Nội tổ chức, báo cáo với Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao để xử lý theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các quy định và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử yêu cầu Viểm sát điều tra làm rõ hành vi nhận 510.000 USD để chạy tội cho Dương Chí Dũng trong vụ án Vinalines, hành vi nhận 20 tỉ đồng để được làm dự án chuyển đổi công năng Cảng Sài Gòn của công ty Vạn Thịnh Phát và dấu hiệu làm sai lệch hồ sơ vụ án. Nếu có căn cứ vi phạm thì xử lý theo quy định của pháp luật.

Gây khó khăn cho công tác chống tham nhũng
Về yêu yêu cầu của luật sư cho rằng Dương Tự Trọng không phải là người chủ mưu và yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung, Hội đồng xét xử thấy rằng giữa hành vi của người tiết lộ thông tin của người tiết lộ thông tin để Dũng bỏ trốn và hành vi tổ chức cho Dũng trốn ra nước ngoài của Dương Tự Trọng là hai mối quan hệ hoàn toàn khác nhau.
Căn cứ vào các lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa và các tài liệu trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận Dương Tự Trọng là người chủ mưu cầm đầu các bị cáo trong vụ án giúp đỡ anh trai của mình trốn khỏi Việt Nam. Các hành vi phạm tội đã thể hiện đầy đủ trong hồ sơ nên không cần thiết phải trả hồ sơ điều tra bổ sung. Do đó, quan điểm của luật sư bào chữa cho Dương Tự Trọng không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Hội đồng xét xử cho rằng việc Dương Chí Dũng trốn trót lọt sang Campuchia không những gây khó khăn cho công tác điều tra mà còn gây khó khăn cho công tác phòng chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước, gây dư luận hoài nghi trong nhân dân đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Nếu như không bắt được Dương Chí Dũng thì những khoản tiền tham ô và tiền thất thoát sẽ không thu hồi được cho nhà nước. Đồng thời gây tốn kém không ít tiền của, sức lực của cơ quan điều tra trong việc tổ chức bắt lại Dương Chí Dũng nên hậu quả xảy ra là đặc biệt nghiêm trọng.
Sau khi tuyên xong bản án, chủ tọa Trương Việt Toàn đã công bố quyết định khởi tố vụ án hình sự về hành vi cố ý làm lộ bí mật của nhà nước. Quyết định này cũng được Viện Kiểm sát cung cấp theo đúng trình tự của pháp luật.
Thanh Lưu
(Một thế giới)

‘Sự thối nát không thể tưởng tượng nổi’ ở Việt Nam

1

Ông Dương Chí Dũng tố cáo thứ trưởng công an lộ tin mật
Tiến sỹ Nguyễn Quang A, một nhà bình luận ở Hà Nội, nói lời khai của ông Dương Chí Dũng cho thấy ‘sự thối nát không thể tưởng tượng nổi’ ở Việt Nam.

Nhưng ông cũng nói đó là điều tất yếu khi mà Đảng Cộng sản có đường lối như hiện nay mà một trong những ưu tiên của họ là phát triển kinh tế nhà nước.

Ông Quang A nói với BBC hôm 8/1:

“Lời khai của ông Dũng tại tòa có thể nói sẽ là một bước đầy kịch tính và sẽ làm cho rất nhiều người đau đầu.

“Nó bộc lộ ra một sự thối nát không thể tưởng tượng được trong đội ngũ quan chức của Việt Nam hiện nay.

“Từ chuyện những người lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước ăn cắp, ăn trộm tiền, rồi đi hối lộ, đút lót để chạy án, cho đến chuyện lập âm mưu để chạy trốn.

“Những tình tiết đấy thực sự dư luận đã biết cũng khá lâu rồi, trước cả khi ông [Phạm Quý] Ngọ lên Thượng tướng.

“Những người nghe được thông tin đồn đoán … và thấy khi mà ông ấy lên Thượng tướng cách đây hơn 5, 6 tháng thôi thì thấy có thể vụ này đã được dàn xếp mọi thứ rồi.

“Nhưng mà đến lời khai của ông Dũng trước tòa thì có thể những tính toán đấy sẽ vỡ và thực sự người dân sẽ được chứng kiến một màn kịch rất là gay cấn.”

Mặc dù vậy ông Quang A cũng nói trong hệ thống tư pháp “không minh bạch” ở Việt Nam khó biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.

“Nếu người ta muốn làm, nếu người ta muốn điều tra cặn kẽ thì có thể tìm ra vô vàn bằng chứng.”

Vị Tiến sỹ nói các công ty viễn thông có thể có những dữ liệu về các cuộc gọi kể cả khi gọi bằng ‘sim rác’ và có thể có các nhân chứng khác nữa.

Nhưng ông Quang A nói thêm một người từng đứng đầu cơ quan điều tra sẽ là “bậc thầy” về xóa mọi dấu vết.

‘Trâu bò húc nhau’

Dù không nói cụ thể nhưng ông Quang A cho rằng các phiên tòa như phiên xử anh em ông Dương Chí Dũng liên quan tới cuộc đấu tranh giành quyền lực chính trị ở Việt Nam:

“Trong trường hợp này thì trâu bò húc nhau không phải là ruồi muỗi mà có thể là nhặng cũng chết.”

Vị tiến sỹ cũng cho rằng sự xuất hiện những nhân vật như Dương Chí Dũng hay Dương Tự Trọng là không tránh khỏi trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam.

Ông nói: “Tôi đã nhiều lần nói rằng loại trừ ông Dương Chí Dũng này thì sẽ có dăm ba ông Dương Chí Dũng khác bởi vì cái cơ chế nó đẻ ra các ông Dương Chí Dũng như vậy.

“Cho nên là nếu Việt Nam có muốn học Tập Cận Bình để ‘đả cả hổ lẫn đả cả ruồi’ thì có đả đến đâu đi nữa nó vẫn sinh ra cả hổ và ruồi.

“…Nếu không đặt kinh tế nhà nước làm chủ đạo, mà chính vì chủ đạo nên mới phải có những ‘quả đấm sắt’ [các tổng công ty lớn] mà biến thành những bọc rẻ như Vinashin, Vinalines thì sẽ không có Phạm Thanh Bình của Vinashin và Dương Chí Dũng của Vinalines.

“Nếu mà muốn truy như thế, tất nhiên là không thể truy cứu trách nhiệm hình sự của những người ra đường lối, nhưng mà thực sự những người đấy là những người sinh ra nguồn gốc của tất cả những cái này.”

Ông Quang A nói Đảng Cộng sản cần chấm dứt chính sách có nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp nhà nước và thậm chí sửa lại Hiến pháp một lần nữa để đi đúng hướng:

“… Chỉ có một cách giải quyết tận gốc rễ là đến năm 2016 này Đảng Cộng sản Việt Nam có đại hội và nếu họ khôn thì họ thay đổi đường lối của họ.”

Ông Quang A nói “hoàn toàn có khả năng” lại sửa đổi Hiến pháp một lần nữa sau kỳ đại hội tới của Đảng.

—–

Dưới đây là phần bóc tiếng toàn bộ cuộc phỏng vấn, do DĐXHDS thực hiện:

TS Nguyễn Quang A (NQA): Lời khai của ông Dũng tại tòa có thể nói sẽ là một cái bước đầy kịch tính và sẽ làm cho rất nhiều người đau đầu. Nó bộc lộ ra một cái sự thối nát không thể tưởng tượng được trong cái đội ngũ quan chức của Việt Nam hiện nay. Từ cái chuyện là những người lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước ăn cắp, ăn trộm tiền rồi đi hối lộ đút lót để chạy án cho đến những cái chuyện lập ra cái âm mưu để chạy trốn. Những tình tiết đấy thực sự dư luận đã biết cũng khá lâu lâu rồi. Trước cả khi mà ông Ngọ được lên thượng tướng và những người mà nghe được thông tin đồn đoán các thứ này khác và thấy khi mà ông ý lên thượng tướng cách đây độ khoảng hơn 5-6 tháng thôi đấy thì thấy rằng có thể cái vụ này nó đã được dàn xếp mọi thứ rồi. Nhưng mà đến cái lúc mà lời khai của ông Dũng trước tòa thì có thể những cái tính toán đấy sẽ vỡ và thực sự người dân sẽ được chứng kiến một cái màn kịch rất là gay cấn.

PV: Theo thông tin mới nhất mà tôi có đọc trên báo Công an nhân dân thì Trung tướng Hoàng Kông Tư, tức là người cao nhất về mặt điều tra của ngành công an thì vừa mới nói rằng là ông Dương Chí Dũng cũng có khai như vậy trong quá trình điều tra thế nhưng mà Bộ công an rồi những cơ quan điều tra thì lại không tìm thấy bằng chứng nào cả, tức là cũng giống như ông Phạm Quý Ngọ ông nói ngày hôm qua tức là không có một cái bằng chứng cụ thể nào, chẳng hạn như không có một cái cuộc điện thoại nào gọi đến những cái danh sách mà ông Dương Chí Dũng ông ý đưa ra chẳng hạn. Thì liệu phải chăng là những cái chuyện mà người dân nghĩ rằng là có thể sẽ có một cái gay cấn nào đó thì có quá sớm không ạ?

NQA: Tôi nghĩ rằng là cũng có thể quá sớm bởi vì trong hệ thống tư pháp của Việt Nam mà rất là không minh bạch này thì không có thể dự đoán được cái gì cả. Tôi nói ví dụ là… tất nhiên là người ta phải nói không có bằng chứng nào cả. Nhưng mà tôi nghĩ nếu mà người ta muốn làm, nếu người ta muốn điều tra cặn kẽ thì có thể tìm ra vô vàn bằng chứng. Còn người ta không muốn làm thì hiển nhiên tức là gì, ông Dũng nói rằng gọi vào giờ đấy bằng một cái sim rác chẳng hạn tức là đấy một sim điện thoại mà không phải mang tên của chính chủ người đấy. Nhưng mà tôi nghĩ rằng với những dữ liệu mà các nhà mạng cung cấp viễn thông thì vẫn có thể lần ra được những bằng chứng thuyết phục để mà luận xem là có cái chuyện như vậy xảy ra hay không! Rồi nhân chứng, tất nhiên đi như thế thì luôn luôn phải có cái ông lái xe chẳng hạn, có những người này người kia biết chẳng hạn thì tôi nghĩ rằng là nếu mà khớp tất cả những cái bằng chứng có thể là bằng chứng rồi tìm cách để lấy cái đấy làm cái việc chứng minh thì tôi nghĩ rằng chắc không thiếu bằng chứng nếu người ta muốn làm. Còn người ta không muốn làm thì nói rất là dễ không có bằng chứng nào cả. Và như thế là như vậy ông Dũng Vinalines còn phạm thêm một cái tội nữa là vu khống đấy chẳng hạn, thì cũng không biết thế nào cả.

PV: Khi mà nghe tin ông Dương Chí Dũng ông ý khai đấy, tức là thứ trưởng Phạm Quý Ngọ chính là người báo tin thế rồi lại còn nhận hơn 500 ngàn đô la từ ông Dương Chí Dũng. Mặc dù cho tới giờ phút này thì ông Ngọ kiên quyết bác bỏ những cáo buộc đó và nói rằng là nó không có cơ sở gì cả. Thì cái độ ngạc nhiên của ông tới đâu khi mà ông nghe thấy cái số tiền như vậy và một quan chức gọi là đã từng đứng đầu cái cơ quan điều tra của cả một ngành công an ạ?

NQA: Đối với tôi thì tôi không ngạc nhiên nhiều lắm bởi vì những cái chuyện như thế là những cái chuyện cơm bữa ở Việt Nam còn có bằng chứng lôi ra được cụ thể một trường hợp như thế nào thì cũng không phải là dễ bởi vì như vậy đấy là trường hợp chính những người gọi là chịu trách nhiệm về toàn bộ bộ máy điều tra xét hỏi như thế thì họ có rất nhiều kinh nghiệm, đầy đủ các kinh nghiệm nghiệp vụ để làm phá bỏ mọi các cái dấu hiệu bằng chứng hoặc là bằng chứng hoặc là… họ là chuyên gia, là bậc thầy trong cái chuyện này mà.

PV: Ở đây thì theo ông mọi chuyện nó sẽ dừng lại ở đâu, chẳng hạn như là trong cái quá trình điều tra ông… chẳng hạn như bây giờ giả sử có cái cuộc điều tra ông thứ trưởng Phạm Quý Ngọ chẳng hạn thì ông có nghĩ rằng nó sẽ còn liên quan tới những người khác thậm chí ở những cái cấp cao hơn. Chẳng hạn như bên Trung Quốc họ sờ tới cả Ủy viên Bộ Chính trị, tức là một trong mười mấy người quyền lực nhất cả nước thì ở Việt Nam liệu có thể xảy ra tình huống đó không ạ?

NQA: Tôi không dám dự đoán cái gì cả nhưng mà rõ ràng ở trong trường hợp này tôi suy đoán trâu bò húc nhau thì không phải là ruồi muỗi mà có thể là nhặng cũng chết.

PV: Khi mà theo dõi vụ án này ý thì tôi cũng một cái câu hỏi của một người phóng viên thôi, tức là giả sử như không có một người nào đó, bây giờ chưa thể khẳng định là ai làm lộ cái tin là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chấp nhận khởi tố và bắt giam ông Dương Chí Dũng thì sẽ không có vụ án mà họ vừa xử 2 ngày qua là Dương Tự Trọng đúng không ạ, tức là không có chuyện bỏ trốn mà sẽ bị bắt luôn (NQA: Chắc chắn! Chắc chắn!). Thế mà bây giờ nếu mà lần ngược trở lại các cái diễn biến ở Việt Nam thì tôi cũng đặt câu hỏi là nếu như mà không có một cái chủ trương thành lập các cái đại công ty như vậy, trong đó có Vinalines thì liệu ông Dương Chí Dũng có bị lâm vào cái tình trạng như hiện nay không ạ? Đặt một cái chữ “nếu” như vậy thì ông nghĩ sao?

NQA: Không, không… chắc chắn là không. Tôi đã nói nhiều lần rằng trừ ông Dương Chí Dũng này thì sẽ có dăm ba ông Dương Chí Dũng khác bởi vì cái cơ chế nó đẻ ra những Dương Chí Dũng như vậy. Cho nên là vấn đề, nếu mà Việt Nam có muốn học Tập Cận Bình để mà đả cả hổ lẫn đả cả ruồi thì có đả đến đâu chăng nữa thì nó vẫn sinh ra hổ và sinh ra ruồi. Vấn đề của nó chính là ở chỗ đó! Nếu mà không có cái chuyện mà đặt gọi là “khu vực kinh tế – nhà nước làm chủ đạo”, vì chính vì cái chủ đạo đó mà phải có những cái quả đấm sắt mà biến thành gọi là những bọc giẻ như là Vinashine, Vinalines thì sẽ không có ông Phạm Thanh Bình của Vinashine, cũng không có ông Dương Chí Dũng của Vinalines. Và cái đấy nếu mà muốn truy như thế tất nhiên không thể truy cứu trách nhiệm hình sự của những người ra đường lối cả, nhưng mà thực sự những người đấy là những người sinh ra nguồn gốc của tất cả những cái này.

PV: Tức là ông nói rằng chính những cái chính sách kinh tế của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì mang lại những cái hậu quả, những cái hệ lụy mà các cái nhân vật như là Phạm Thanh Bình, Dương Chí Dũng phải gánh chịu?

NQA: Đường lối đấy là của ĐCSVN, không phải là một mình ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là một người thi hành cái đường lối đấy mà thôi, cho nên phải truy lên đến tận đó.

PV: Thế nhưng mà khi nói về ĐCS tức là mọi thứ nó lại mù mờ bởi vì đảng nó không có một cái khuôn mặt rõ ràng nào cả, đúng không ạ?

NQA: Xin lỗi, có một khuôn mặt là mười mấy ông trong Bộ Chính trị chứ, và có khuôn mặt là ông Tổng Bí thư chứ. Cái người mà gọi là kiên quyết giữ vững cái đường lối đấy phải là ông Tổng Bí thư chứ.

PV: Thế nhưng mà chính ông Tổng Bí thư và các tùy tùng của ông đó trong đó có cái chuyện ông lập ra Ban Nội chính thì lại có vẻ như được dư luận xem là đang thúc đẩy những vụ án như thế này thì phải chăng nó cũng có những cái mâu thuẫn?

NQA: Tôi nghĩ rằng dư luận, người dân cũng phải tìm cách học, cũng phải tìm cách hiệu chỉnh và cũng phải hiểu thấu đáo vấn đề chứ không phải như vậy là theo cảm tính. Và như vậy mình đang ghét tham nhũng chẳng hạn, thấy làm mạnh chống tham nhũng thì lúc đấy ủng hộ. Nhiều khi vì cái ngộ nhận của chúng ta, chúng ta ủng hộ những cái hết sức là dở. Nếu mà cái chủ trương chống tham nhũng đấy mà lại đưa đến một cái chuyện hành xử coi thường cái hệ thống tư pháp, có một người ra lệnh “hốt”, “nhốt” bất kể ai. Tôi nghĩ chẳng hạn như vậy có cái … ông Ngọ chẳng hạn, dẫu sao cái đấy cũng là một cái lời mà Viện kiểm sát có thể khởi tố nhưng mà phải để cho ông ý cái quyền để ông ý chứng minh. Ông ấy buộc cơ quan điều tra phải … ông ấy phản đối lại, v..v… chứ không thể theo một kiểu là có một ý chí của ông nào đấy, quyết thế này, tất cả mọi thứ đều là những cái phiên tòa trình diễn cả thì đấy lại là một bước đi hoàn toàn là ngược.

PV: Nếu như mà như ông nói thì tình hình trong những cái thời gian tới nó sẽ ra sao bởi vì cái Hiến pháp đó thì nó đã lại khẳng định một lần nữa doanh nghiệp nhà nước thì vẫn cứ là chủ đạo và các cái vấn đề đất đai vẫn y như cũ cả thì cái đó theo ông trong thời gian tới liệu nó lại có xuất hiện thêm những nhân vật như vừa bị xét xử hay không ạ?

NQA: Chắc chắn là sẽ xuất hiện và chỉ có một cách giải quyết tận gốc rễ là đến năm 2016 này, ĐCSVN có một cái Đại hội và nếu mà họ khôn thì họ thay đổi cái đường lối của họ và cũng rất may là cái Hiến pháp vừa rồi được coi là một cái sự sửa đổi Hiến pháp năm 1992 thôi chứ thực sự nó vẫn được gọi là “Hiến pháp năm 1992 sửa đổi” cho nên cũng hoàn toàn có khả năng vì là giữa 2016 hay là 2017 chẳng hạn thì lại sửa lại lần nữa.

PV: Qua theo dõi diễn biến mấy phiên tòa gần đây đấy thì ông có thấy nó có cái gì khác đi so với cái hồi mà chuyện chống tham nhũng nó còn thuộc quyền của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng so với bây giờ nó thuộc quyền của Bộ Chính trị, tức là của ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và những cái người mà người ta gọi là ở phe của ĐCS?

NQA: Nó chỉ phản ánh mỗi một cái… về cơ bản là không có gì khác. Nó chỉ khác mỗi cái là cái phe nào, cái người nào là thúc đẩy đứng đằng sau và tạo ra một cái động cơ để mà làm thôi chứ còn nó không thay đổi bởi vì trước… về cơ bản là nó cũng như thế.

PV: Dạ, và như cái ý của ông nói mà tôi có thể hiểu được là nếu như cơ chế vẫn cứ như hiện nay thì những cái nhân vật như là Dương Chí Dũng, Dương Tự Trọng sẽ vẫn cứ tồn tại và có thể mọc ra ở đâu đó trong cả cái hệ thống đó.

NQA: Hoàn toàn chính xác!

  (Diễn đàn XHDS)

Cập nhật vụ Dương Chí Dũng khai Phạm Quý Ngọ


Cần đọc báo tỉnh táo

Trong biển thông tin bát nháo, lề trái, lề phải và không lề, làm sao để biết đâu là thông tin đáng tin cậy là một câu hỏi lớn. Mỗi bài viết, mỗi tác giả đều có một chủ đích nào đó khi cầm bút. Chính vì vậy, bạn đọc phải đánh giá, chắt lọc và thẩm thấu thông tin cho mình để tránh bị hiểu sai hoặc bị “dắt mũi”.

Ảnh: đưa tin đúng sự thật, khách quan là đạo đức làm báo (nguồn: internet)

Ảnh: đưa tin đúng sự thật, khách quan là đạo đức làm báo (nguồn: internet)

Về cơ bản, khi đọc một bài viết, chúng ta cần phải phân biệt giữa “bằng chứng khách quan” “quan điểm chủ quan”. Bằng chứng là những thông tin, số liệu đã được chứng minh, còn quan điểm chỉ là đánh giá, diễn giải hoặc niềm tin của tác giả. Ví dụ, bằng chứng là tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2013 đạt khoảng 5,3%, thấp hơn các năm trước đây. Còn quan điểm chủ quan là nền kinh tế Việt Nam đã chạm đáy và bắt đầu tăng trưởng trở lại trong các năm tiếp theo. Một độc giả thông minh là độc giả phân biệt được bằng chứng và ý kiến chủ quan, và phải đánh giá được ý kiến chủ quan đó có đáng tin cậy hay không (ví dụ như có bằng chứng để củng cố quan điểm của tác giả hay không).

Để đọc báo tỉnh táo, có lẽ một số lưu ý sau cần được áp dụng.

Thứ nhất, phải đánh giá những bằng chứng thực tế có thực sự là bằng chứng không, hay tác giả chỉ “đánh tráo” gọi quan điểm của họ là bằng chứng. Ví dụ, một tác giả viết “thực tế đã chứng minh tư tưởng của chúng ta là tiến bộ, vượt trội, là đích đến không thể bàn cãi” hoặc “kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới cho thấy, do dân trí thấp nên chúng ta chưa thể thực hành dân chủ vì sẽ dẫn đến rối loạn xã hội”. Rõ ràng, đây chỉ là quan điểm cá nhân của tác giả chứ không phải là “thực tế khách quan” vì thiếu các bằng chứng củng cố cho tuyên bố này. Dù tác giả gọi quan điểm cá nhân của mình là “thực tế đã chứng minh” không biến quan điểm của ông ta/bà ta thành thực tế được. Tất nhiên, quan điểm của chuyên gia uy tín, nhà khoa học lỗi lạc trong lĩnh vực của họ có thể khác, nhưng những người như vậy thường đưa ra bằng chứng cho nhận định của mình, chứ không chỉ tuyên bố xanh rờn “thực tế đã chứng minh”.

Thứ hai, khi đọc cần để nhiều người đưa ra “lý luận sai” để dẫn dụ đến một “kết luận sai”. Lỗi này có cả cố ý hoặc vô ý. Ví dụ, nhiều người khái quát hóa một sự vật hiện tượng đơn lẻ thành hiện tượng chung như “nông dân Việt Nam phun thuốc bảo vệ thực vật và chất tăng trưởng rồi bán cho khách hàng, còn rau mình ăn được trồng ở một vạt vườn riêng”. Rõ ràng, chỉ một số người nông dân làm vậy, chứ không phải tất cả người nông dân đều làm vậy. Hoặc nhiều người đơn giản hóa vấn đề như “nếu chính phủ tử hình tất cả những người buôn ma túy, thì không còn ai mắc nghiện”. Đây không phải là một vấn đề đơn giản như thế. Để dẹp nạn buôn bán, sử dụng ma túy không chỉ liên quan đến việc tử hình kẻ buôn lậu, mà còn liên quan đến hệ thống luật pháp, văn hóa, xã hội, và quyền được sống.

Thứ ba, cần phải cảnh giác với những khái niệm tương đối hoặc mang tính áp đặt cá nhân trong các bài viết. Ví dụ, “giới trẻ thường ít kinh nghiệm, đua đòi, không tự xác định được cho mình đâu là tốt và xấu” là một câu có nhiều lỗi dạng này. Cụ thể, thế nào là “giới trẻ” và liệu “trẻ” có gắn với “ít kinh nghiệm”. Bên cạnh đó, những câu như “những người ủng hộ hợp pháp hóa mại dâm là những kẻ không tôn trọng giá trị gia đình, thuần phong mỹ tục của dân tộc” cũng mắc lỗi này. Việc “lợi” và “hại” của hợp pháp hóa mại dâm không liên quan đến người ủng hộ hay phản đối nó.

Thứ tư, người viết hay sử dụng hệ nhị phân trong cảnh báo, hoặc kinh nghiệm quá khứ để áp đặt ý kiến chủ quan của mình. Một ví dụ điển hình là “nếu chúng ta tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước, chính phủ chắc chắn sẽ mất khả năng để điều hành nền kinh tế”. Trên thực tế, có nhiều giải pháp khác, ví dụ như sử dụng thuế, đầu tư công, hoặc quy định vê môi trường, công nghệ hoặc phúc lợi xã hội để điều hành nền kinh tế, chứ không chỉ bằng sở hữu nhà nước. Một ví dụ khác, nhiều tác giả viết “các thế hệ cha ông đã hy sinh và chịu đựng gian khổ, lẽ nào thế hệ trẻ lại không trân trọng cuộc sống ngày nay?”. Rõ ràng, cha ông sống trong một giai đoạn lịch sử, xã hội khác, và thế hệ ngày nay đã sống trong một điều kiện khác, không thể lấy giai đoạn của cha ông làm thước đo áp vào giai đoạn bây giờ.

Thứ năm, nhiều người sử dụng câu “ai cũng biết” hoặc “rõ ràng là” để đánh lừa người đọc. Ví dụ, có người viết “tất cả chúng ta đều biết ngân sách nhà nước là tiền của dân, để phục vụ nhân dân” là không đúng, không phải người dân nào cũng biết các công trình cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội được xây dựng bằng tiền của họ chứ không phải là do cấp trên ban phát. Hoặc “bất cứ ai cũng biêt rằng kỳ thị người có HIV chỉ làm cho dịch bệnh lan tràn hơn mà thôi” cũng vậy, không phải ai cũng hiểu khi bị kỳ thị, người có HIV sẽ phải che dấu, không dám tiếp cận thông tin, thuốc chữa, và tiếp tục quan hệ không an toàn với người khác, và kỳ thị là một nguyên nhân lan truyền HIV.

Đọc báo cần phân biệt đâu là thực tế đã được chứng minh, đâu là lý thuyết hoặc nguyên lý khoa học, và đâu là ý kiến chủ quan áp đặt của tác giả. Nếu không phân biệt được, chúng ta dễ dàng bị “lừa” bởi những quan điểm mang tính tuyên truyền một chiều, xa rời thực tế. Nói cách khác, đọc báo tỉnh táo là chúng ta có trách nhiệm với bản thân, và đặc biệt để không bị dẫn dụ bởi người khác làm những việc không đúng.

Thu Hiền
  (Diễn ngôn)

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước: ‘Cần tôn vinh những quân nhân VNCH chống ngoại xâm’

(TNO) Chia sẻ cảm nhận về sự hy sinh của những người lính Việt Nam Cộng hòa (VNCH) tháng 1.1974, trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, cho rằng cần thiết phải tôn vinh tinh thần yêu nước của người lính VNCH chống ngoại xâm.

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước: ‘Cần tôn vinh những quân nhân VNCH chống ngoại xâm’
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tư lệnh quân khu 4 – Ảnh: M.H
Tướng Thước cho biết Bác Hồ đã nói “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, đó là tư tưởng xuyên suốt. Sau 30 năm thống nhất đất nước, những người sau năm 1975 di tản đa phần đã từng trở về, vì họ hiểu thế nào là ý nghĩa của Tổ quốc.

Theo ông, lên án chế độ VNCH là chuyện khác, nhưng tôn vinh tinh thần yêu nước của người lính VNCH chống ngoại xâm là cần thiết, hai điều này hoàn toàn khác nhau.

Tướng Thước cho rằng, hành động của người lính VNCH bảo vệ chủ quyền, đưa người ra chiến đấu giữ Hoàng Sa tháng 1.1974, không để một thế lực nước ngoài nào vào xâm lược mảnh đất của Tổ quốc là hành động yêu nước, hành động chính nghĩa và cần được nhân dân ghi nhận.

“Tổ quốc chúng ta có đất, có biển, có trời. Việt Nam giải phóng Campuchia khỏi nạn diệt chủng Pol Pot, và rút quân về, đó là hành động chính nghĩa. Nhưng bất kỳ thế lực nào lấy danh nghĩa giúp chúng ta, chiếm đất, đảo của chúng ta và không trả lại đó là hành động phi nghĩa”, trung tướng Nguyễn Quốc Thước nhấn mạnh.

Nói thêm về công cuộc bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền Việt Nam, trung tướng cho biết: Lãnh đạo của chúng ta cũng rất nhạy cảm, năm 1975 đang đánh trong đất liền để giải phóng đất nước, nhưng đã cho quân ra lấy lại Trường Sa. Nếu giống như năm 1974, thì tình hình Trường Sa cực kỳ phức tạp.

Đảng ta đã thấy: “Không ai giải phóng cho ta bằng chính sức của ta” và hành động rất đúng. Bài học lịch sử từ trước tới nay, một mặt giải phóng trên đất liền, một mặt phải giải phóng ngoài biển. Sự thật lịch sử phải được ghi nhận. Những gì hôm nay chưa nói được thì ngày mai phải nói cho rõ.
Mai Hà(ghi)

 (Thanh niên)

Triệu Tử Dương, Hoa Quốc Phong và Vinh Nghị Nhân về cuối đời đã nhiều lần xin ra khỏi đảng

Ảnh bên:Ông Triệu Tử Dương cầm loa kêu gọi sinh viên ngừng biểu tình ở Thiên An Môn. Phía Sau ông là trợ lý Ôn Gia Bảo.
Theo The Epochtimes ( Xem tại đây!), ba cựu lãnh đạo của Trung Quốc là Triệu Tử Dương, Hoa Quốc Phong và Vinh Nghị Nhân đã từng nhiều lần xin ra khỏi Đảng CSTQ, nhưng đều bị bác bỏ.

Trường hợp ông Triệu Tử Dương
Triệu Tử Dương là Thủ tướng và là một kiến trúc sư cải cách dưới thời Đặng Tiểu Bình từ năm 1980 đấn 1987, và là Tổng bí thư Đảng CSTQ từ 1987 đến 1989.
Ông bị cách chức tháng 5-1989 và bị quản thúc tại nhà suốt gần 16 năm sau đó cho đến khi qua đời vào tháng 1-2005, lý do là ông đã biểu lộ tình cảm của mình với các sinh viên biểu tình tại Thiên An Môn.
Theo trang web Kan Zhong Gui, một nguồn tiếp cận với các cấp cao nhất của Đảng CSTQ, ông Triệu Tử Dương đã hai lần nộp đơn (xin ra khỏi Đảng) lên Giang Trạch Dân, người đã thay ông làm Tổng bí thư.
Giang Trạch Dân, người ủng hộ chủ trương đàn áp các sinh viên Thiên An Môn và truy nã những người bất đồng chính kiến sau vụ thảm sát Thiên An Môn, đã không bao giờ chấp nhận đơn của Triệu Tử Dương.
Trường hợp ông Hoa Quốc Phong
Ảnh bên:  Mao Trạch Đông nói với Hoa Quốc Phong:”Chú làm việc, tôi yên tâm”
Năm 1978, Hoa Quốc Phong là Tổng bí thư Đảng CSTQ, Chủ tịch quân ủy trung ương, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa.
Ông được cho là con của Mao Trạch Đông và lên hàng ngũ lãnh đạo với sự bảo trợ của Mao.
Theo tạp chí Chengming của Hong Kong, năm 2001, Hoa Quốc Phong là ủy viên Trung ương, đã không tham dự Đại hội lần thứ 16 Đảng CSTQ. Sau đó Hoa Quốc Phong nộp đơn yêu cầu ra khỏi Đảng CSTQ lần đầu tiên.
Trong cuộc họp báo của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 6-11-2001, một nhà báo Nhật Bản đã hỏi người phát ngôn Zhu Bangzao: “Có phải ông Hoa Quốc Phong đã yêu cầu được ra khỏi Đảng CSTQ?”
Zhu trả lời rằng: “Đây là việc vượt quá phạm vi nhiệm vụ của tôi. Đề nghị quí vị không bao giờ hỏi những câu hỏi loại này trong các cuộc họp báo tương lai của Bộ Ngoại giao”. Sự né tránh của Zhu cho thấy việc Hoa Quốc Phong yêu cầu được ra khỏi Đảng là đúng.
Năm 2005, một số phương tiện truyền thông báo cáo rằng Hoa Quốc Phong đã gủi yêu cầu tương tự cho Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào, và cáo buộc Đảng CSTQ đã phản bội quyền lợi chính đáng của nông dân và công nhân, trong khi đó lại phục vụ cho lợi ích của quan chức tham nhũng và tư bản.
Cũng theo các báo cáo trên, tất cả quản lý văn phòng, vệ sĩ, thư ký, tài xế của Hoa Quốc Phong cũng đều nộp đơn xin ra khỏi Đảng.
Trường hợp ông Vinh Nghị Nhân
Ảnh bên: Vinh Nghị Nhân đang tranh luận với Giang Trạch Dân trong một phiên họp
Theo tạp chí Trend tháng 11 năm 2005 của Hong Kong, Vinh Nghị Nhân đã bốn lần xin vào Đảng. Ba lần đầu ông bị từ chối vì Đảng  CSTQ cho rằng nếu không phải là đảng viên, ông Vinh sẽ làm được nhiều việc hơn cho Đảng. Ông Vinh là một doanh nhân giàu có và là một cố vấn kinh tế trung thành với Đảng. Năm 1978, theo quyết định của Đạng Tiểu Bình mở cửa nền kinh tế, ông Vinh đã thành lập các tổ chức giúp mang lại các nguồn đầu tư lớn của phương Tây vào Trung Quốc.
Tháng 4-1985, sau khi nộp đơn lần thứ tư, cuối cùng ông Vinh cũng được chấp nhận trở thành đảng viên.
Sau đó, ông Vinh yêu cầu thoái Đảng ba lần.
Lần đầu tiên là để phản đối vụ thảm sát Thiên An Môn ngày 4-6-1989. Trước đó ông đã yêu cầu lãnh đạo Đảng cần phải đàm phán với sinh viên.
Thay vì trừng phạt Vinh Nghị Nhân vì đã phá vỡ qui tắc của Đảng, năm 1993, ông được cử giữ chức Phó Chủ tịch nước CHND Trung Hoa.
Lần thứ hai ông yêu cầu ra khỏi Đảng là vào năm 1996, sau một cuộc cãi nhau với Giang Trạch Dân. Trong một cuộc họp Bộ chính trị, ông Vinh đã chỉ trích tham nhũng trong Đảng, và nhận xét của ông đã làm cho Giang Trạch Dân cảm thấy bị xúc phạm.
Cũng sau một cuộc tranh luận với Giang Trạch Dân vào tháng 6-2000, ông Vinh lần thứ ba yêu cầu được ra khỏi Đảng.
Buổi sáng ngày 19-11-2005, trước khi qua đời, Vinh Nghị Nhân đã đưa ra tuyên bố cuối cùng. Ông nói rằng: không thể hy vọng gì vào một đảng chính trị đã đánh mất nguyên tắc của mình, chỉ biết theo đuổi tiền và lợi nhuận, và nhất là khi đảng đó không bị kiểm soát bởi luật pháp được xây dựng từ nhân dân.
(Tâm sự Y Giáo)

Thứ trưởng Phạm Quý Ngọ bị khai ở tòa đã báo tin cho Dương Chí Dũng chạy trốn

Đến lượt thẩm vấn, nguyên phó trưởng Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội – PC45, Công an Hải Phòng, Vũ Tiến Sơn đã khai rằng “Anh Dũng nói với tôi rằng người báo tin cho anh ấy biết để chạy trốn trước khi bị bắt là thứ trưởng Bộ Công an Phạm Quý Ngọ”.
Tòa thẩm vấn Dương Chí Dũng (DCD): “Anh có nghe các bị cáo khác khai tại phiên tòa không?” 
 
DCD: “Dạ tôi đã nghe rõ.” 
 
Tòa: “Anh biết việc Tổng công ty Hàng hải bị khởi tố vụ án và anh là chủ tịch HĐQT khi nào?” 
 
DCD: Ngày 17.5.2012, buổi trưa tôi có điện cho anh Phạm Quý Ngọ, thứ trưởng Bộ Công an hỏi thăm xem anh Ngọ đã về Hà Nội chưa vì anh Ngọ có nói với tôi là anh ấy đi công tác tại TP HCM. Anh Ngọ nói đang trên đường từ sân bay Nội Bài về Hà Nội và anh ấy nói luôn là chiều nay Thủ tướng nghe cái vụ của chú. Thế thì chiều 17.5 tôi loanh quanh ở trung tâm thành phố, gần nhà anh Ngọ để chờ anh Ngọ và nói với anh Ngọ: “Tối em đến anh”. Đến khoảng 17 đến 18h tối ngày 17.5, tôi đang loanh quanh trên xe thì anh Ngọ điện cho tôi thông báo Thủ tướng chấp thuận bắt tạm giam chú, chú tránh đi một thời gian. Sau đó anh ấy nói tiếp là chú tắt điện thoại đi. Sau đó, tôi trốn trong tối 17.5.”

11h30, tòa tạm nghỉ và sẽ tiếp tục xét xử vào giờ làm việc buổi chiều

Khi được tòa gọi lên để xét hỏi, Dương Tự Trọng cho rằng mình không có ý kiến gì với lời khai của Vũ Tiến Sơn.
 
“Tôi không công nhận và cũng không phủ nhận lời khai của tất cả các bị cáo khác. Mọi việc tôi đã khai tại cơ quan điều tra nên không khai gì thêm”, bị cáo Trọng kiên quyết.
Cũng theo bị cáo Trọng, gia đình bị cáo này gặp quá nhiều việc, quá nhiều chuyện nên không thể nhớ hết và bảo lưu những lời khai tại cơ quan điều tra.
Dương Chí Dũng khai: Chiều ngày 17.5.2012, thứ trưởng bộ Công an gọi điện cho tôi và bảo tôi đã bị khởi tố, tạm lánh đi một thời gian.
Trước đó, 8h sáng 7.1, tại TAND TP Hà Nội đã khai mạc phiên tòa xét xử nguyên phó Giám đốc công an TP Hải Phòng Dương Tự Trọng cùng 6 đồng phạm trong vụ án tổ chức cho Dương Chí Dũng trốn ra nước ngoài.
Bị cáo Dương Tự Trọng không thừa nhận cáo trạng. Ảnh chụp màn hình: Thanh Lưu.
 
Dương Chí Dũng và vợ đã được tòa triệu tập với tư cách nhân chứng. Kết thúc phần thủ tục, đại diện VKSND TP Hà Nội đã đọc bản cáo trạng truy tố 7 bị cáo.
 

 Dương Chí Dũng và vợ được tòa triệu tập với tư cách nhân chứng.

Sau khi nghe cáo trạng, trừ Dương Tự Trọng, tất cả các bị cáo đều cho rằng cáo trạng truy tố mình là đúng. Do đó, chủ tọa cho các bị cáo khai trước và để bị cáo Trọng trình bày quan điểm của mình về cáo trạng sau.

Trong vụ án này, viện KSND tối cao xác định bị can Dương Tự Trọng là người chủ mưu, cầm đầu, Vũ Tiến Sơn (nguyên Phó phòng cảnh sát điều tra về trật tự xã hội, công an TP Hải Phòng) tổ chức thực hiện theo chỉ đạo của bị can Trọng với nhiều thủ đoạn tinh vi như sử dụng điện thoại mới và sim rác, gọi nhau bằng mật danh…

Hành vi của các bị can đã cản trở, gây khó khăn rất lớn đến quá trình điều tra vụ án tham nhũng lớn tại Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam mà Dương Chí Dũng là bị can chính trong vụ án này.

 Đại diện VKS công bố bản cáo trạng truy tố các bị cáo.
Quá trình điều tra, cơ quan An ninh điều tra, Bộ Công an xác định Dương Tự Trọng đã có hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ còn khi che giấu, không tổ chức truy bắt Đồng Xuân Phong (đối tượng truy nã của Công an TP HCM).
Bên cạnh đó, Dũng còn chỉ đạo thuộc cấp làm giả 2 Giấy CMND. Do đó, cơ quan An ninh điều tra, Bộ Công an đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can để điều tra xử lý trong một vụ án khác.
Bị cáo Sơn (áo trắng) cho rằng Trọng là chủ mưu và chỉ đạo toàn bộ vụ án.
Mở đầu phần xét hỏi, bị cáo Sơn và các bị cáo khác đều cho rằng bị cáo Trọng là chỉ huy và chủ mưu trong việc đưa Dương Chí Dũng. Các bị cáo thực hiện theo chỉ đạo của trọng do là cấp dưới hoặc quan hệ tình cảm.
Các bị cáo cũng lần lượt khai quá trình đưa Dương Chí Dũng từ Hà Nội, đi Quảng Ninh, sau đó vào TP HCM bằng xe ô tô và trốn qua Campuchia qua cửa khẩu Mộc Bài (Tây Ninh).
Tương tự vụ án xét xử Dương Chí Dũng và đồng phạm, phóng viên các báo đài theo dõi vụ án này qua ti vi trong một căn phòng riêng và phải kiểm tra an ninh trước khi vào tác nghiệp. Khu vực xung quanh tòa án được phong tỏa.
  Thanh Lưu

Dương Tự Trọng ‘không nhớ gì’ trước tòa

Hôm nay (7/1), TAND Thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử vụ đưa Dương Chí Dũng bỏ trốn ra nước ngoài.
Bị cáo Dương Tự Trọng xuất hiện trước tòa với áo len cao cổ bên trong, áo khoác tối màu bên ngoài.
Trên gương mặt người từng giữ cương vị Phó giám đốc Công an Hải Phòng lộ rõ vẻ lo lắng.
Dương Tự Trọng

Dương Tự Trọng
Bị cáo Dương Tự Trọng xuất hiện trước tòa. Ảnh: X.Đ
Dương Tự Trọng

Anh trai bị cáo Dương Tự Trọng cũng có mặt với tư cách là nhân chứng. Ảnh: Nhị Tiến

Tại phiên tòa hôm nay, ông Dương Chí Dũng cũng xuất hiện trước tòa với tư cách nhân chứng.
Một số người khác cũng được tòa triệu tập với tư cách nhân chứng nhưng đã vắng mặt là cô bạn gái tên Hoàng Kim N. của ông Dương Tự Trọng và bố của cô này là ông Hoàng Văn C.

Dương Tự Trọng
Bị cáo Thắng (trái) và Tuấn tại tòa. Ảnh: Nhị Tiến
Ngoài ra, ông Nguyễn Hồng Vinh (em vợ của Dương Tự Trọng, Giám đốc Công ty Cổ phần tiếp vận Suối Nắng) dù được tòa triệu tập đến với tư cách nhân chứng cũng đã không có mặt tại tòa.
Chị N., ông C. và ông Vinh có tham gia quá trình đưa Dương Chí Dũng bỏ trốn, nhưng xét tính chất hành vi của 3 người trên, CQĐT đã miễn truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ông Dương Tự Trọng, nguyên Phó giám đốc Công an Hải Phòng được coi là người khởi xướng, chủ mưu, chỉ đạo các bị can khác tổ chức cho anh trai là Dương Chí Dũng trốn.
Nhiều bị cáo bày tỏ kính trọng với bị cáo Trọng
Ngay cả khi phải ra đứng trước vành móng ngựa, trình bày trước tòa, nhiều bị cáo đã không ngại ngần bày tỏ tình cảm, sự kính trọng, ngưỡng mộ của mình đối với bị cáo Dương Tự Trọng.
Trong buổi sáng ngày 7/1, HĐXX tập trung thẩm vấn các bị cáo để làm rõ vai trò của từng người trong việc đưa Dương Chí Dũng bỏ trốn.
Hầu hết các bị cáo đều khai rằng, được nhờ việc thì giúp chứ họ không ý thức hết việc làm của mình và trong quá trình thực hiện có thấy sự bất thường cũng không tò mò hỏi chuyện.
Tại tòa, bị cáo Phạm Minh Tuấn (nguyên Giám đốc xí nghiệp Bạch Đằng), người từng gắn bó với bị cáo Dương Tự Trọng suốt thời gian học ở Đại học Bách khoa và cả quãng thời gian dài sau đó khai nhận, khi được ông Trọng nhờ giúp đỡ đã không từ chối.
Vì mối thân tình, bị cáo Tuấn và bị cáo Trọng coi nhau như anh em một nhà và theo lời khai của bị cáo Tuấn: “Anh em chơi với nhau, cần thì giúp, không bao giờ tôi hỏi.”
Bị cáo Tuấn cho biết, khi xe chạy đến phố Nối, ông ta mới biết mục đích chuyến đi.
“Chị N. là người quen của mấy anh em nên bị cáo biết nhà chị N. Tôi dẫn đường đến nhà chị N. Khi đón anh Dũng ở Quảng Ninh, anh Trọng không nói gì và tôi cũng không hỏi.
Coi là thành viên của gia đình nên được đề nghị giúp là tôi làm, không bao giờ hỏi. Có chuyện riêng tư, là bạn thân của anh Trọng, tôi không thóc mách”, lời khai của bị cáo Tuấn tại tòa.
Cũng theo bị cáo Tuấn, ông ta không biết gì về việc ông Dương Chí Dũng bị bắt, cho đến khi xem ti vi và biết ông Dũng đang bị truy nã.
“Bị cáo chỉ coi trọng anh Trọng, làm đúng bổn phận người em trong gia đình, bị cáo không có việc gì nhờ vả anh Dũng, và không quan tâm đến cương vị của anh Dũng”, bị cáo Tuấn khai.
Mở đầu phần trả lời thẩm vấn của mình, bị cáo Nguyễn Trọng Ánh (nguyên cán bộ Phòng CSĐT tội phạm về trật tự xã hội, CA TP Hải Phòng) bày tỏ: “Trong công việc, bị cáo ngưỡng mộ anh Trọng về cách sống và với cách anh í đối xử với mọi người trong gia đình.”
Nguyên cán bộ Công an Hải Phòng cho rằng mình không hề vụ lợi trong việc này, bản thân bị cáo là “lính mới”, lại được sếp tin tưởng nhờ cậy nên đã không thể từ chối. Bị cáo này cũng mong HĐXX xem xét cho anh ta về hoàn cảnh khiến mình phạm tội như đã nêu.
Tại tòa, bị cáo Sơn cho hay, bị cáo này cùng cơ quan với Dương Tự Trọng, bị cáo Trọng là cấp trên, bị cáo Sơn là cấp dưới. Ngoài ra họ còn là anh em, coi nhau như ruột thịt.
“Tại phòng làm việc anh Trọng bảo bị cáo đi Hà Nội. Bị cáo biết đó là để lo việc cho anh Dũng”, lời khai của bị cáo Sơn.
Bị cáo có nói chuyện với Dũng Bắc Kạn và Phong. Bị cáo biết rằng đưa anh Dũng là không quay về Việt Nam. Bị cáo đã đưa cho Dũng Bắc Kạn và Phong điện thoại và sim rác. Trong việc liên lạc, muốn là giữ bí mật, nếu dùng điện thoại bình thường dễ bị phát hiện.
Anh Trọng giao cho mỗi người một việc, không biết mà nói là bị cáo giao việc cho người khác. Tại nhà của bố mẹ bị cáo không phân công công việc gì cho những người khác .
Đến phần trả lời thẩm vấn của mình, bị cáo Trọng nhiều lần nói rằng thời gian gần đây ông ta không nhớ được nhiều.
– Bị cáo có nghe rõ lời khai của bị cáo Sơn không?
Tôi không có ý kiến gì.
-Có phủ nhận không?
Tôi không công nhận cũng không phủ nhận.
– Ai là người báo tin cho bị cáo việc anh Dũng bị khởi tố?
Ngay từ đầu với cơ quan điều tra tôi nói không biết việc này. Khi gia đình tôi có chuyện như thế, tôi không thể nhớ được nhiều. Gần đây tôi không nhớ được nhiều.
– Bị cáo không suy nghĩ gì khi bị cáo là người được sinh ra trong gia đình như thế, bị cáo là người đã lập nhiều thành tích công tác, các bị cáo khác khai hành vi liên quan, bị cáo nhận thức gì?
Tôi không nghĩ gì.
– Bị cáo có quen biết anh Cường, chị Nhung?
Có ạ. Tôi không có ý kiến gì cũng không nhớ gì.
– Bị cáo không muốn khai thì đúng hơn. Gia đình bị cáo và bản thân bị cáo có nhiều thành tích. Bị cáo có muốn khai gì không?
Không ạ.
Tòa tạm nghỉ phiên buổi sáng, chiều 1h30′ tòa tiếp tục.

Dương Tự Trọng và 6 bị can khác cùng bị truy tố tội Tổ chức đưa người khác đi nước ngoài gồm: Vũ Tiến Sơn (SN 1966, nguyên Phó phòng CSĐT tội phạm về trật tự – xã hội, CA TP Hải Phòng), Hoàng Văn Thắng (SN 1970, nguyên cán bộ Phòng CSĐT tội phạm về môi trường, CA TP Hải Phòng), Đồng Xuân Phong (SN 1974, kẻ đang trốn nã và được ông Trọng bao che), Trần Văn Dũng (SN 1968, tức Dũng “Bắc Kạn”, kẻ từng bị phạt tù án treo về tội buôn lậu, bị phạt tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích), Nguyễn Trọng Ánh (SN 1985, nguyên cán bộ Phòng CSĐT tội phạm về trật tự xã hội, CA TP Hải Phòng), Phạm Minh Tuấn (SN 1961, nguyên Giám đốc xí nghiệp Bạch Đằng).

(VNN)

Thứ trưởng Công an Phạm Quý Ngọ chối tội

Ông Phạm Quý Ngọ vừa được thăng hàm thượng tướng hồi tháng Bảy năm ngoái
Trong phiên tòa xét xử Dương Tự Trọng, cựu phó giám đốc Công an Hải Phòng, về tội ‘Tổ chức cho người khác trốn ra nước ngoài’, nhân chứng Dương Chí Dũng được cho là đã khai ra danh tính người mật báo tin cho ông bỏ trốn.
Một số báo đưa tin người này là Thứ trưởng Công an Phạm Quý Ngọ, nhưng sau đó đa số đã gỡ bỏ thông tin.

Về phần mình, trưa thứ Ba 7/1, ông Phạm Quý Ngọ đã phủ nhận liên quan đến việc ông Dương Chí Dũng bỏ trốn với báo điện tử VnExpress.

Báo này dẫn lời ông Ngọ nói: “Tôi không liên quan đến việc bỏ trốn của Dương Chí Dũng. Dũng khai là chuyện của anh ta, trách nhiệm của cơ quan điều tra là phải làm rõ việc này”.

Phiên tòa xử ông Dương Tự Trọng tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài” theo quy định tại khoản 3 Điều 275 Bộ Luật hình sự đã khai mạc sáng 7/1 tại Hà Nội.

Ông Trọng ra tòa cùng sáu bị cáo khác nguyên là cán bộ công an tại Hải Phòng cùng một đối tượng được cho là ‘giang hồ cộm cán’.

Ông Dương Chí Dũng, cựu chủ tịch Hội đồng quản trị Vinalines, người đã bị tuyên án tử hình cách nay ba tuần về tội ‘Tham ô’ và ‘Cố ý làm trái gây hậu quả kinh tế nghiêm trọng’, xuất hiện cùng với vợ trong phiên tòa xử em trai với tư cách nhân chứng.

Theo tường thuật từ các báo trong nước, ông Dương Tự Trọng một mực chối tội trong khi tất cả các bị cáo khác trong vụ án đều đã nhận tội.

Ai báo tin?

Tuy nhiên, thông tin được chú ý nhất trong phiên xử Dương Tự Trọng lại là lời khai của ông Dương Chí Dũng về danh tính người đã báo tin ông bị khởi tố bắt tạm giam dẫn đến hành trình trốn chạy kéo dài gần bốn tháng của ông sau đó.

Tại phiên tòa xét xử bản thân mình hồi tháng 12, ông Dũng không khai ra người báo tin này mặc dù được quan tòa truy hỏi với lý do ‘nhạy cảm’ và ‘đã khai với cơ quan điều tra rồi’.

Các báo mạng tường thuật trực tiếp về phiên tòa Dương Tự Trọng như VnExpress chạy tít ‘Dương Chí Dũng đã khai ra người báo tin khởi tố’ còn Dân Trí viết tiêu đề ‘Dương Chí Dũng khai được ‘ông anh’ mật báo’.

Đáng lưu ý là báo mạng Một Thế Giới trực thuộc Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã chạy tiêu đề: “Dương Chí Dũng khai Thứ trưởng (Công an) Phạm Quý Ngọ đã báo tin để chạy trốn”.

Đến khoảng 17 đến 18h tối ngày 17/5, tôi đang loanh quanh trên xe thì anh Ngọ (Phạm Quý Ngọ) gọi điện cho tôi thông báo ‘Thủ tướng chấp thuận bắt tạm giam chú, chú tránh đi một thời gian’. Sau đó anh ấy nói tiếp là ‘chú tắt điện thoại đi’. – Dương Chí Dũng khai trước Tòa

Nhưng ngay sau đó, cái tên Phạm Quý Ngọ đã được đưa ra khỏi tiêu đề, được sửa thành ‘một ông anh’, và cũng biến mất trong bài tường thuật.

Tuy nhiên, tên Phạm Quý Ngọ vẫn còn lưu lại trong đường dẫn của bài viết http://motthegioi.vn/xa-hoi/duong-chi-dung-khai-thu-truong-pham-quy-ngo-da-bao-tin-de-chay-tron-37061.html

Ông Phạm Quý Ngọ là ủy viên Trung ương Đảng, thượng tướng, thứ trưởng Bộ Công an và từng giữ tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Phòng chống Tội phạm.

Một Thế Giới dẫn lời ông Dương Chí Dũng khai như sau: “Đến khoảng 17 đến 18h tối ngày 17/5, tôi đang loanh quanh trên xe thì anh Ngọ gọi điện cho tôi thông báo ‘Thủ tướng chấp thuận bắt tạm giam chú, chú tránh đi một thời gian’. Sau đó anh ấy nói tiếp là ‘chú tắt điện thoại đi’. Sau đó, tôi trốn trong tối 17/5.”

Báo Tuổi Trẻ đưa chi tiết hơn là ông Dũng ‘loanh quanh ở gần nhà ‘ông anh’ ở đường Lý Thường Kiệt, Hai Bà Trưng’ nhưng không đề cập danh tính ‘ông anh’ này.

Hình chụp bài viết của Một Thế Giới lúc 11 giờ 8 phút ngày 7/1

‘Chối tội’

Về phần mình, bị cáo Dương Tự Trọng, nguyên Phó cục trưởng Cục Cảnh sát Quản lý Hành chính về trật tự xã hội (Bộ Công an), nguyên Phó giám đốc Công an Hải Phòng, đã một mực phủ nhận tội danh như cáo trạng nêu, các báo trong nước cho biết.

Theo cáo trạng thì sau khi được anh trai là Dương Chí Dũng báo tin sắp bị khởi tố, ông Trọng đã cùng những thuộc hạ thân tín của ông ở Sở Công an Hải Phòng như Vũ Tiến Sơn, phó trưởng Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội và Nguyễn Trọng Ánh, cán bộ phòng này, Hoàng Văn Thắng, cán bộ Phòng cảnh sát điều tra tội phạm môi trường đã bàn bạc kế hoạch tổ chức cho ông Dũng bỏ trốn.

Các cán bộ công an này sau đó đã phối hợp với các bị cáo khác, trong đó có người đang bị truy nã về tội buôn lậu như Đồng Xuân Phong, cán bộ Cục Hải quan Hải Phong, và có cả một ‘trùm giang hồ’ đất Cảng Trần Văn Dũng, hay còn gọi là Dũng Bắc Cạn, để thực hiện kế hoạch đưa Dương Chí Dũng vào TP Hồ Chí Minh, từ đó trốn sang Campuchia để tìm đường đi Mỹ.

Cáo trạng nhận định hành vi phạm tội của các bị cáo là ‘đặc biệt nghiêm trọng’, ‘phạm tội có tổ chức’ và ‘gây khó khăn lớn’ cho việc điều tra vụ án Vinalines.

Theo VnExpress thì ngoài bị cáo Trọng ra, tất cả các bị cáo còn lại đều ‘thừa nhận nội dung truy tố là đúng’.

Ngoài ra, các bị cáo đều khai chi tiết quá trình ông Trọng chỉ đạo tổ chức cho ông Dương Chí Dũng tổ chức như thế nào.

Tuy nhiên, bị cáo Trọng được cho là ‘không phủ nhận cũng không thừa nhận’ lời khai của bị cáo Vũ Tiến Sơn, người khai được ông Trọng giao làm đầu mối xử lý việc bỏ trốn của ông Dũng.

Nếu bị xử là có tội, ông Dương Tự Trọng phải đối diện khung hình phạt từ 12 đến 20 năm tù.

(BBC)

Dương Chí Dũng tìm gặp Chủ tịch nước nhưng không được tiếp

“Đang nói chuyện thì vị cán bộ cấp cao Bộ Công an có điện thoại. Nghe hết cuộc điện thoại, ông này quay ra nói là Chủ tịch nước nói làm sớm, làm nghiêm vụ Vinalines trước kỳ họp Quốc hội cuối tháng 5.2012. Chủ tịch nước trước đó không đồng ý gặp Dương Chí Dũng”.

Dương Chí Dũng tìm gặp Chủ tịch nước nhưng không được tiếp

* 13 giờ 30 phút ngày 7.1, Hội đồng xét xử Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội tiếp tục làm việc sau giờ nghỉ trưa. Tiếp phần xét hỏi, bị cáo Dương Chí Dũng nói: “Tôi là bị cáo trong một vụ án khác và phải chịu mức án cao nhất nên tôi chẳng có gì phải giấu giếm và sẽ khai thật”. Trong khi đó Chủ tọa phiên tòa Trương Việt Toàn cho biết, toàn bộ lời khai của nhân chứng Dương Chí Dũng tòa ghi nhận và không ngăn cản trình bày.

Theo đó Dương Chí Dũng khai nhận, chiều 29.4.2012, hai vợ chồng Dương Chí Dũng xuống thăm một cán bộ cấp cao của Bộ Công an tại Tuần Châu (tỉnh Quảng Ninh). Khoảng 14 giờ chiều thì gặp được vị này và trình bày hoàn cảnh về vụ việc xảy ra tại Tổng công ty Hàng hải Việt Nam rằng mình không trực tiếp ký bất kỳ văn bản quan trọng nào. Tại nơi nghỉ của ông cán bộ cấp cao này, Dương Chí Dũng biếu quà 10.000 USD.

Tối ngày 2.5.2012, Dương Chí Dũng điện cho vị cán bộ cấp cao trên và được người này cho biết đang ở nhà. Khi đến nhà gặp thì vị này bảo xuống quán nước dưới tầng 1 của tòa nhà Pacific trên đường Lý Thường Kiệt, sau đó lại được bảo lên trên nhà. Lần này Dương Chí Dũng có mang theo 500.000 USD. Khi lên nhà thì vợ vị cán bộ cấp cao dẫn vào phòng khách và pha nước mời uống. Sau đó vị cán bộ cấp cao gợi ý Dương Chí Dũng mua một cái sim rác để liên lạc. Theo lời Dương Chí Dũng, toàn bộ số tiền 500.000 USD đều là tiền vay mượn của một số người quen để biếu ông cán bộ cấp cao Bộ Công an. Ông Dũng cho biết, việc đến gặp và biếu quà này để vị cán bộ cấp cao giúp chạy án.

Lúc đang ngồi, vị cán bộ cấp cao đã điện thoại cho Cục trưởng C48 nhưng không thấy nghe máy. Dương Chí Dũng đề nghị xin số của Cục trưởng C48 để liên lạc. Sau đó, Dương Chí Dũng nhờ người dẫn đến nhà Cục trưởng C48.

Tới ngày 6.5.2012, Dương Chí Dũng lại đến nhà vị cán bộ cấp cao trên rồi điện thoại cho con trai ông này, nhưng người con trai này bảo đang dự tiệc sinh nhật tại nhà một người tên Thiều (Bộ Công an).

Ngày 7.8.2012, Dương Chí Dũng đến làm việc với C48 và chiều tối lại điện thoại cho vị cán bộ cấp cao Bộ Công an để báo cáo tình hình. Ngày 13.5, Dũng đi công tác Hà Tĩnh. Hôm sau ra có điện cho vị cán bộ cấp cao nhưng thấy tắt máy, điện lại vào số cũ thì người này nghe máy và đồng ý tới đến nhà ông này. Tại đây vị cán bộ cấp cao Bộ Công an nói tình hình có căng thẳng, nhất là khi T.Ư vừa họp, C48 đề nghị khởi tố 3 người, trong đó có Dũng là người đứng đầu.

Đang nói chuyện thì vị cán bộ cấp cao Bộ Công an có điện thoại. Nghe hết cuộc điện thoại, ông này quay ra nói là Chủ tịch nước nói làm sớm, làm nghiêm vụ Vinalines trước kỳ họp Quốc hội cuối tháng 5.2012. Chủ tịch nước trước đó không đồng ý gặp Dương Chí Dũng.

  (Một thế giới)

Báo Thanh Niên: Dương Chí Dũng khai đã mang 500.000 USD tới nhà ông Phạm Quý Ngọ

Dương Chí Dũng khai đã mang 500.000 USD tới nhà ông Phạm Quý Ngọ
(TNO) 13 giờ 30 phút, phiên tòa xét xử Dương Tự Trọng và 6 bị cáo khác tiếp tục làm việc.
13 giờ 30 phút ngày 7.1, Hội đồng xét xử Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội tiếp tục làm việc sau giờ nghỉ trưa. Tiếp phần xét hỏi, bị cáo Dương Chí Dũng nói: “Tôi là bị cáo trong một vụ án khác và phải chịu mức án cao nhất nên tôi chẳng có gì phải giấu giếm và sẽ khai thật”. Trong khi đó Chủ tọa phiên tòa Trương Việt Toàn cho biết, toàn bộ lời khai của nhân chứng Dương Chí Dũng tòa ghi nhận và không ngăn cản trình bày.
Theo đó Dương Chí Dũng khai nhận, chiều 29.4.2012, hai vợ chồng Dương Chí Dũng xuống thăm một cán bộ cấp cao của Bộ Công an tại Tuần Châu (tỉnh Quảng Ninh). Khoảng 14 giờ chiều thì gặp được vị này và trình bày hoàn cảnh về vụ việc xảy ra tại Tổng công ty Hàng hải Việt Nam rằng mình không trực tiếp ký bất kỳ văn bản quan trọng nào. Tại nơi nghỉ của ông cán bộ cấp cao này, Dương Chí Dũng biếu quà 10.000 USD.
Tối ngày 2.5.2012, Dương Chí Dũng điện cho vị cán bộ cấp cao trên và được người này cho biết đang ở nhà. Khi đến nhà gặp thì vị này bảo xuống quán nước dưới tầng 1 của tòa nhà Pacific trên đường Lý Thường Kiệt, sau đó lại được bảo lên trên nhà. Lần này Dương Chí Dũng có mang theo 500.000 USD. Khi lên nhà thì vợ vị cán bộ cấp cao dẫn vào phòng khách và pha nước mời uống. Sau đó vị cán bộ cấp cao gợi ý Dương Chí Dũng mua một cái sim rác để liên lạc. Theo lời Dương Chí Dũng, toàn bộ số tiền 500.000 USD đều là tiền vay mượn của một số người quen để biếu ông cán bộ cấp cao Bộ Công an. Ông Dũng cho biết, việc đến gặp và biếu quà này để vị cán bộ cấp cao giúp chạy án.
Lúc đang ngồi, vị cán bộ cấp cao đã điện thoại cho Cục trưởng C48 nhưng không thấy nghe máy. Dương Chí Dũng đề nghị xin số của Cục trưởng C48 để liên lạc. Sau đó, Dương Chí Dũng nhờ người dẫn đến nhà Cục trưởng C48.
Tới ngày 6.5.2012, Dương Chí Dũng lại đến nhà vị cán bộ cấp cao trên rồi điện thoại cho con trai ông này, nhưng người con trai này bảo đang dự tiệc sinh nhật tại nhà một người tên Thiều (Bộ Công an).
Ngày 7.8, Dương Chí Dũng đến làm việc với C48 và chiều tối lại điện thoại cho vị cán bộ cấp cao Bộ Công an để báo cáo tình hình. Ngày 13.5, Dũng đi công tác Hà Tĩnh. Hôm sau ra có điện cho vị cán bộ cấp cao nhưng thấy tắt máy, điện lại vào số cũ thì người này nghe máy và đồng ý tới đến nhà ông này. Tại đây vị cán bộ cấp cao Bộ Công an nói tình hình có căng thẳng, nhất là khi T.Ư vừa họp, C48 đề nghị khởi tố 3 người, trong đó có Dũng là người đứng đầu.
Đang nói chuyện thì vị cán bộ cấp cao Bộ Công an có điện thoại. Nghe hết cuộc điện thoại, ông này quay ra nói là Chủ tịch nước nói làm sớm, làm nghiêm vụ Vinalines trước kỳ họp Quốc hội cuối tháng 5.2012. Chủ tịch nước trước đó không đồng ý gặp Dương Chí Dũng.

Tường thuật trên Vnexpress: 
Dương Chí Dũng khai tên người báo tin khởi tố

Trưa nay, Dương Chí Dũng đã khai ông Phạm Quý Ngọ, Thứ trưởng Bộ Công an, là người báo tin khởi tố. Trao đổi với VnExpress, tướng Ngọ đã phủ nhận.

Cựu phó giám đốc Công an Hải Phòng có hai luật sư bào chữa
Hành trình trốn truy nã của Dương Chí Dũng
11h20, với vai trò nhân chứng, Dương Chí Dũng khai trưa ngày 17/5/2012 gọi điện cho Thứ trưởng Bộ Công an Phạm Quý Ngọ. Chiều cùng ngày, ông Dũng đến gần nhà ông Ngọ và sau đó được hẹn tối đến. Khoảng 18h, ông Dũng nhận được điện thoại của vị thứ trưởng nói quyết định khởi tố, bắt tạm giam đã được phê chuẩn. “Ông Ngọ bảo tôi rằng chú tránh đi một thời gian”, ông Dũng khai.

Dương Chí Dũng nói thêm: “Tôi đã bị tuyên án tử hình nên ra đây tôi chỉ khai sự thật. Nghe em trai khai tại tòa, tôi rất thương”.

12h20, khi VnExpress liên lạc qua điện thoại, Thứ trưởng Phạm Quý Ngọ phủ nhận  liên quan đến việc Dương Chí Dũng bỏ trốn. Ông Ngọ cho hay: “Tôi không liên quan đến việc bỏ trốn của Dương Chí Dũng. Dũng khai là chuyện của anh ta, trách nhiệm của cơ quan điều tra là phải làm rõ việc này”.

Dưới đây là lời phủ nhận của Thứ trưởng Phạm Quý Ngọ:

Ông Ngọ là Trưởng ban chuyên án điều tra các sai phạm tại Vinalines. Hiện ông Ngọ đang trong giai đoạn điều trị bệnh.

TAND Hà Nội sau đó dừng việc thẩm vấn, thông báo nghỉ trưa và phiên tòa sẽ tiếp tục vào đầu giờ chiều.

Dưới đây là những diễn biến chính trong phiên xử buổi sáng:

8h, TAND Hà Nội bắt đầu xét xử Dương Tự Trọng (nguyên Phó giám đốc Công an Hải Phòng, nguyên Cục phó Cảnh sát quản lý hành chính, Bộ Công an) về hành vi tổ chức cho anh trai Dương Chí Dũng (cựu Cục trưởng Hàng hải) trốn ra nước ngoài. Bị cáo Trọng, người từng một thời là “khắc tinh” của tội phạm hình sự đất Cảng, hầu tòa trong chiếc áo khoác thể thao màu đen.

Trước khi HĐXX vào phòng xử, ông Trọng bình thản trò chuyện với người thân. Cựu cục trưởng Hàng hải Dương Chí Dũng, người đã lĩnh án tử hình trong vụ tiêu cực xảy ra tại Vinalines, bị đưa đến tòa với tư cách người làm chứng.

Nhấn vào đây hoặc vào ảnh để xem đồ họa chi tiết. Đồ họa: Đồng Nguyên Anh.
8h10, trước khi bắt đầu phần thẩm vấn căn cước, thẩm phán chủ tọa Trương Việt Toàn đề nghị tháo còng tay cho các bị cáo.

Ông Trọng bị xét xử về tội Tổ chức cho người khác trốn ra nước ngoài với khung hình phạt truy tố từ 12 đến 20 năm tù. Cùng hầu toà với ông Trọng có các đồng phạm: bị cáo Vũ Tiến Sơn (48 tuổi, nguyên phó trưởng Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Công an Hải Phòng); Hoàng Văn Thắng (44 tuổi, nguyên cán bộ Phòng cảnh sát điều tra các tội phạm về môi trường, Công an Hải Phòng); Nguyễn Trọng Ánh (29 tuổi, nguyên cán bộ Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Công an Hải Phòng); Đồng Xuân Phong (40 tuổi, nguyên cán bộ Cục Hải quan Hải Phòng); Trần Văn Dũng (Dũng “Bắc Kạn”, 46 tuổi, giang hồ đất Cảng) và Phạm Minh Tuấn (53 tuổi, giám đốc xí nghiệp Bạch Đằng).

Theo chủ toạ, tòa triệu tập 6 nhân chứng nhưng chỉ 3 người có mặt. Ngoài một trường hợp vắng mặt có giấy nằm viện, những người không có lý do sẽ bị dẫn giải tới toà. Hai luật sư bảo vệ cựu phó giám đốc Công an Hải Phòng là ông Nguyễn Đình Hưng và bà Vũ Thị Kim Ngọc, thuộc Đoàn luật sư Hà Nội. Bị cáo Sơn có luật sư Đặng Viết Hùng bào chữa. Bị cáo Tuấn mời luật sư Nguyễn Thái Hoà và Trần Thiện Thuật. 4 bị cáo còn lại tự bào chữa.

8h30, sau nửa tiếng kiểm tra căn cước, ông Vũ Đăng Hiếu, đại diện VKS đã đọc bản cáo trạng.

Theo truy tố của VKSND Tối cao, chiều 17/5/2012, được mật báo qua điện thoại về việc bị Cơ quan Cảnh sát điều tra (Bộ Công an) khởi tố bị can, ra lệnh bắt tạm giam về tội Cố ý làm trái quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng trong thời gian lãnh đạo Vinalines, ông Dương Chí Dũng vội gọi điện thoại báo cho em trai Dương Tự Trọng.

Để cứu anh, ông Trọng giao thuộc cấp thân tín là Sơn thay mặt đứng ra tổ chức cho ông Dũng bỏ trốn. Trong tối 17/5/2012, Thắng, Ánh, Tuấn, Phong, Dũng “Bắc Kạn” và một số người khác sử dụng ôtô đưa ông Dũng trốn về Quảng Ninh. Tối 23/5/2012, Phong và Dũng “Bắc Kạn” đưa ông Dũng từ TP HCM vào cửa khẩu Mộc Bài, tỉnh Tây Ninh, trốn sang Campuchia bằng đường tiểu ngạch.

(Blog Huỳnh Ngọc Chênh)

Tòa án cần triệu tập ngay ông Phạm Quý Ngọ – nghi can số 1 báo tin cho Dương Chí Dũng

Tại phiên tòa sáng ngày 07/01/2014 xét xử sơ thẩm vụ án Dương Tự Trọng và đồng bọn tổ chức cho Dương Chí Dũng trốn ra nước ngoài, Vũ Tiến Sơn –  nguyên phó trưởng Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội – PC45, Công an Hải Phòng đã khai ông Dương Chí Dũng thông báo cho Sơn biết vào tháng 5/2012 ông Phạm Quý Ngọ – Thứ trưởng Bộ Công an là người đã báo tin có lệnh khởi tố và bắt tạm giam đối với Dũng  cho Dũng biết ngay chiều ngày 17/5/2012 . Dương Chí Dũng cũng đã thừa nhận miêu tả chi tiết trước Tòa việc Phạm Quý Ngọ là người báo tin cho mình.
Như vậy, đã có ít nhất hai nhân chứng xác nhận Phạm Quý Ngọ là người báo tin cho Dương Chí Dũng. Tuy nhiên, đến nay chưa thấy có quyết định khởi tố hình sự nào về hành vi tiết lộ bí mật trong công tác của vị quan chức cấp cao này. Thậm chí, nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng, với việc xui ông Dũng bỏ trốn, vị quan chức này có thể được đánh giá là người chủ mưu hoặc xúi giục trong vụ án  tổ chức cho Dương Chí Dũng chạy trốn.
Mặc dù có khuyến cáo của chúng tôi trong bài “Lời khuyên cho nghi can số 1 báo tin cho Dương Chí Dũng”, nghi can số 1 này (mà đến nay ai cũng biết là ai) đã chưa công khai phủ nhận là người báo tin cho Dương Chí Dũng, gián tiếp thừa nhận trước dư luận thông tin ông này là nghi can số 1 có cơ sở.
Với những diễn biến tại phiên tòa xử Dương Tự Trọng và đồng bọn, dư luận đòi hỏi cần làm rõ ngay vấn đề nghiêm trọng này tại phiên tòa này. Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội cần triệu tập ngay ông Phạm Quý Ngọ đến phiên tòa để xác định lời khai của Dương Chí Dũng và Vũ Tiến Sơn có cơ sở không? Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao cần yêu cầu Bộ Công an khởi tố ngay vụ án tiết lộ bí mật công tác theo điều 286 Bộ luật Hình sự. Ban Nội chính Trung ương cần báo cáo khẩn cấp cho Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, yêu cầu Thủ tướng Chính phủ đình chỉ chức vụ Thứ trưởng Bộ Công an đối với ông Phạm  Quý Ngọ. Để điều tra với một đối tượng cộm cán trong nghề điều tra như ông Phạm Quý Ngọ, Bộ Công an cần trưng dụng những tướng lĩnh công an phải có bản lĩnh như tướng Nguyễn Việt Thành (chỉ huy điều tra vụ án Năm Can, đã từng lôi tướng Bùi Quốc Huy – Thứ trưởng Bộ Công an ra tòa) hoặc tướng Phạm Xuân Quắc (chỉ huy điều tra vụ án PMU 18). Việt Nam hiện nay có hàng trăm tướng công an, chắc chắc sẽ tìm ra ít nhất một vị tướng có bản lĩnh như hai vị tướng trên để điều tra vụ án này, lấy lại niềm tin cho nhân dân đối với lực lượng công an nhân dân. Trách nhiệm nặng nề đặt lên vai Đại tướng Trần Đại Quang và ông Nguyễn Bá Thanh. Thử thách này hai ông này có vượt qua không? Câu trả lời ở phía trước, nhân dân sẵn sàng đứng đằng sau hai ông.
  Trần Dân
  (Diễn đàn XHDS)

Bẫy Việt Vị của Thủ Tướng

September 6, 2012 at 4:26pm

Osin Huy Đức

 

Ủy ban Tài chính của Quốc hội cần yêu cầu Ngân hàng Nhà nước công bố danh sách các tổng công ty, tập đoàn nhà nước đã mở tài khoản và ồ ạt chuyển một lượng tiền lớn vào VietCapital Bank ngay sau khi con gái của Thủ tướng, bà Nguyễn Thanh Phượng, thôn tính ngân hàng này từ tên gốc của nó là Gia Định. Những con số ấy có thể là một ví dụ thú vị về “lợi ích nhóm” mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc tới trong đợt kiểm điểm theo Nghị quyết Trung ương Bốn. Nhưng, quan trọng hơn, Quốc hội cần biết công cụ chủ đạo của nền kinh tế đang được sử dụng như thế nào.

 

Kinh Doanh Đa Ngành

 

Ý tưởng thành lập tập đoàn không chỉ đến từ thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng, cần có đủ thông tin để phân biệt mô hình tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng với mô hình tập đoàn áp dụng từ những người tiền nhiệm.

 

Năm 1994, khi những nỗ lực phát triển kinh tế tư nhân chững lại vì bị các nhà lý luận “cánh tay phải” của ông Đỗ Mười như Đào Duy Tùng, Nguyễn Hà Phan, Nguyễn Đức Bình, coi là chệch hướng. Sau Hội nghị giữa nhiệm kỳ, 1-1994, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký hai quyết định thành lập tổng công ty 90, 91. Trong đó, quyết định 91 có nói đến “thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh”.

 

Ý tưởng thành lập tập đoàn là từ ông Đỗ Mười với quan niệm nền kinh tế cần những quả đấm thép. Nhưng cả ông Kiệt và nhiều ủy viên bộ chính trị đều tán thành. Lúc ấy, hơn một nửa ủy viên bộ chính trị đã được đưa tới Hàn Quốc tham quan và gần như ai cũng choáng ngợp mô hình Cheabol của họ.

 

Nhưng, từ 1994 cho đến 2005, chưa có tập đoàn nào được thành lập theo quyết định 91. Cuối nhiệm kỳ thứ II, Thủ tướng Phan Văn Khải cho lập 3 tập đoàn: Ngày 26-12-2005, tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam; Ngày 09-01-2006, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông; Ngày 15-5-2006, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin.

 

Thủ tướng Phan Văn Khải thừa nhận, ông là người quyết định cho Vinashin vay 700 triệu USD từ tiền bán trái phiếu chính phủ. Ông Khải cho rằng, Việt Nam, một nước có hơn 3000 km bờ biển không thể không phát triển ngành vận tải biển. Suy nghĩ về tiềm lực biển của ông Phan Văn Khải không sai nhưng đầu tư bằng tiền cho quốc doanh không phải là một cách làm tốt. Nhưng, sự sụp đổ của Vinashin bắt đầu từ khi tập đoàn này được phép kinh doanh đa ngành.

 

Trước Đại hội Đảng lần thứ X, ông Nguyễn Tấn Dũng được giao làm Tổ trưởng biên tập báo cáo kinh tế của Ban chấp hành Trung ương trước Đại hội. Ông đòi ghi vào báo cáo chủ trương cho doanh nghiệp nhà nước được kinh doanh đa ngành. Các thành viên trong tổ phản đối vì điều này ngược với quan điểm phát triển doanh nghiệp nhà nước xác lập từ thời thủ tướng Võ Văn Kiệt.

 

Thay vì tiếp thu, ông Nguyễn Tấn Dũng đã viết ra giấy, buộc các thành viên trong tổ phải ghi vào Báo cáo kinh tế nguyên văn: “Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có một số ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối”.

 

Nguyễn Tấn Dũng nhận chức thủ tướng ngày 27-6-2006. Ngày 29-8-2006, ông cho ngành dầu khí được nâng lên quy mô tập đoàn; Ngày 30-10-2006 ông cho thành lập thêm Tập đoàn Công nghiệp Cao su… Tốc độ thành lập tập đoàn có chững lại sau khi ông Võ Văn Kiệt khuyến cáo tính ít hiệu quả của mô hình này trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số ra ngày 26-7-2007.

 

Ông Võ Văn Kiệt mất gần 11 tháng sau đó và từ đó cho đến năm 2011, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đẩy con số tập đoàn từ 5 lên tới 13. Nhưng, không phải số lượng các tập đoàn mà số lượng ngành nghề mà các tập đoàn này được làm mới là nguyên nhân đẩy các doanh nghiệp nhà nước và nền kinh tế đến bên bờ vực. Rất nhiều tập đoàn có ngân hàng, công ty tài chính và chúng ta có thể nhìn thấy đất của Vinashin ở sâu trong đất liền và hầu như không có tỉnh nào không có một tòa PetroLand mọc lên dưới thời Đinh La Thăng.

 

Đại Nhảy Vọt

 

Không có một vị thủ tướng nào thừa kế một cơ ngơi có thể ngồi mát ăn bát vàng như Nguyễn Tấn Dũng: Tốc độ tăng trưởng cao, lạm phát thấp; lần đầu tiên Việt Nam có dự trữ ngoại tệ lên tới 23 tỷ đô la; đặc biệt, chính phủ Phan Văn Khải đã hoàn tất đàm phán để Việt Nam chỉ cần làm thủ tục kết nạp là trở thành thành viên WTO. Nhưng, ngôi nhà tưởng là vững chãi ấy đã bị đốt cháy chỉ hơn một năm rưỡi sau đó.

 

Thoạt tiên, khu vực kinh tế nhà nước được Nguyễn Tấn Dũng sử dụng như một công cụ để thúc đẩy tăng trưởng. Ông Phan Văn Khải nói: “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng muốn tạo ra một thành tích nổi bật ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, muốn hoàn thành kế hoạch 5 năm chỉ trong 4 năm. Ngay trong năm 2007, ông đầu tư ồ ạt. Tiền đổ ra từ ngân sách, từ ngân hàng. Thậm chí, để có vốn lớn, dự trữ quốc gia, dự trữ ngoại tệ cũng được đưa ra. Bội chi ngân sách lớn, bất ổn vĩ mô bắt đầu”.

 

Thời Thủ tướng Phan Văn Khải, mỗi khi tổng đầu tư lên tới trên 30% GDP là lập tức Thủ tướng được báo động. Trước năm 2006, năm có tổng đầu tư lớn nhất cũng chỉ đạt 36%. Trong khi, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ngay sau khi nhận chức đã đưa tổng mức đầu tư lên 42% và đạt tới 44% GDP trong năm 2007. Năm 2006, tăng trưởng tín dụng ở mức 21,4% nhưng con số này lên tới 38,7% trong năm 2007. Kết quả, lạm phát cả năm ở mức 12,6%. Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã gần như hốt hoảng. Những cú shock được áp dụng sau đó đã làm cho nền kinh tế trở nên vô phương cứu chữa.

 

Đầu quý I-2008, khi con số lạm phát lên tới gần 3% mỗi tháng, thay vì chẩn bệnh để có phương thuốc đúng, Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã buộc các ngân hàng nâng mức dự trữ bắt buộc từ 10 lên 11%, các ngân hàng nháo nhào tìm kiếm thêm 20.000 tỷ khiến lãi suất qua đêm thị trường liên ngân hàng mấy ngày cuối tháng 1-2008 tăng vọt lên tới 27%, trong khi đầu tháng, con số này chỉ là 6,52%.

 

Ngày 13-2-2008, Ngân hàng Nhà nước lại ra quyết định, buộc các ngân hàng thương mại phải mua một lượng tín phiếu trị giá 20.300 tỉ đồng. Áp lực tiền bạc của các ngân hàng lên tới hơn 40.000 tỉ đồng đã làm náo loạn các tổ chức tín dụng. Các ngân hàng cổ phần buộc lòng phải tăng lãi suất huy động. Sự chênh lệch về lãi suất đã khiến cho các tổng công ty nhà nước rút tiền, đang cho vay lãi suất thấp ở các ngân hàng quốc doanh, gửi sang ngân hàng cổ phần.

 

Chỉ trong ngày 18-2-2008, các tổng công ty nhà nước đã rút ra hơn 4.000 tỉ đồng. Các ngân hàng quốc doanh, vốn vẫn dùng những nguồn tiền lãi suất thấp từ nhà nước đem cho các ngân hàng nhỏ vay lại. Nay thiếu tiền đột ngột, vội vàng ép các ngân hàng này, rút về. “Cơn khát” tiền mặt toàn hệ thống đã đẩy lãi suất thị trường liên ngân hàng trong những ngày này có khi lên tới trên 40%.

 

Lãi suất huy động tăng, đã khiến cho các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay. Nhiều ngân hàng buộc khách hàng chấp nhận lãi suất cho vay 24 – 25%. Các biện pháp chống lạm phát của Chính phủ đã làm cho lạm phát ba tháng đầu năm 2008 lên tới 9,19%. Ngày 25-3-2008, ngân hàng Nhà nước lại khiến cho tình trạng khan hiếm tiền mặt thêm nghiêm trọng khi yêu cầu thu về 52.000 tỉ đồng của ngân sách đang được đem cho các ngân hàng quốc doanh vay với lãi suất 3%/năm.

 

Từ mức trên 1000, ngày 6-3-2008, chỉ số VN-index xuống còn 611. Cho dù Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cố dùng uy tín chính trị của mình để cứu vãn bằng cách tuyên bố rằng, “đầu tư vào chứng khoán bây giờ là thắng” vì VN-index đã xuống đến đáy. Nhưng, những ngày sau đó, VN-index liên tục lập đáy mới: Ngày 25-3-2008, 492 điểm; Ngày 5-12-2008, 299 điểm.

 

Chính những “đại gia” gần gũi thủ tướng nhất lại “chết” đau thương nhất vì họ đã từng được vay tiền dễ dàng, có dự án dễ dàng, kể cả các dự án trong khu vực chuẩn bị sáp nhập về Hà Nội. Từ năm 2008, mỗi năm các đại gia này đã phải chịu lãi suất 24-25%/ năm chưa kể những khoản lót tay, trong khi giá trị các dự án chỉ có thể bán được phân nửa so với thời 2007. Thay vì tìm một lối thoát cho nền kinh tế, đặc biệt là khu vực tài chính ngân hàng, giai đoạn tái cấu trúc ngân hàng, tái cấu trúc nợ lại là một cơ hội kiếm tiền cho nhiều đại gia thân hữu mới.

 

Tham nhũng chưa phải là vấn đề lớn nhất dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Chính phủ Thủ tướng Phan Văn Khải đã từng rất nỗ lực để tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng. Ban nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải đã sát cánh nhiều năm với Tổ thi hành Luật Doanh nghiệp. Hơn 500 loại giấy phép đã bị Thủ tướng Phan Văn Khải bãi bỏ. Khi ông Khải rời nhiệm sở, Tổ công tác tiếp tục đề nghị bãi bỏ thêm hàng trăm giấy phép con. Nhưng, thay vì ra quyết định, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã giải tán Ban nghiên cứu và để cho các loại giấy phép lại mọc lên như nấm.

 

Có lẽ một người được coi là bảo thủ như ông Đỗ Mười cũng không thể nào ngờ có ngày “hậu duệ” của mình lại ký lệnh tái độc quyền nhà nước đối với vàng. Nhà nước đã từng độc quyền vàng, những người sở hữu từ 2 chỉ trở lên từng bị coi là bất hợp pháp. Ngày 24-5-1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười ký Quyết định 139, cho phép tư nhân mở tiệm vàng với điều kiện chỉ cần ký quỹ 5 lượng. Chỉ sau hai tháng cả nước có tới 400 tiệm vàng. Quyết định của ông Đỗ Mười được đưa ra như là một giải pháp cộng hưởng để chống lạm phát.

 

Trong suốt 23 năm tồn tại của Quyết định 139 nền kinh tế chưa bao giờ đổ tội lạm phát cho vàng. Vậy mà bất lực trước khủng hoảng kinh tế, ngày 25-5-2012, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký nghị định 24, giành lấy quyền sản xuất vàng miếng cho nhà nước và buộc doanh nghiệp kinh doanh vàng miếng phải có vốn trên 100 tỷ đồng.

 

Lẽ ra ông Trương Đình Tuyển phải từ chức đứng đầu nhóm 13 người tư vấn sau khi một quyết định như thế ra đời. Bỏ qua các động cơ trục lợi, Nghị định 24 là vi hiến vì nó làm cho vàng miếng không phải SJC của người dân tự nhiên mất giá. Đặc biệt, nó đi ngược lại các cam kết WTO mà ông Tuyển đóng vai trò quyết định trong đàm phán.

 

Bẫy Việt Vị

 

Ngày 2-8-2011, trung tướng Nguyễn Đức Nhanh khẳng định trong một buổi họp báo: “Hà Nội không có chủ trương trấn áp người biểu tình”. Để rồi, ngày 18-11-2011, từ chỗ coi những người biểu tình chống Trung Quốc là yêu nước, Hà Nội ra thông báo vu cho người biểu tình là “gây rối Thủ đô”, là có “các thế lực chống đối trong và ngoài nước”.

 

Dân chúng nào biết, tác giả bản thông báo này là thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Phái viên của thủ tướng đặc trách an ninh, tôn giáo. Buổi tối trước khi bản thông báo được đưa xuống Hà Nội, Tướng Hưởng đã đưa đến nhà để Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp đọc duyệt. Cho dù không có quan chức nào ở Hà Nội chịu ký, bản thông báo và những “tác phẩm báo chí” bôi nhọ người biểu tình khác vẫn được phát trên các phương tiện truyền thông của Hà Nội. Từ đó, các vụ bắt bớ người biểu tình diễn ra khốc liệt liên tục vào các ngày chủ nhật.

 

Mấy tháng sau, trong khi chính quyền Thủ đô bị kiện và phải mang một gương mặt xấu trong mắt dân chúng, ngày 25-11-2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Quốc hội “sớm có luật biểu tình để nhân dân thực hiện quyền đã được ghi trong Hiến pháp”.

 

Cũng thời gian đó, trong khi chính phủ đang đứng trước nguy cơ bị truy vấn bởi món nợ tới hạn không trả được của Vinashin và nguy cơ sụp đổ của các ngân hàng, ông Nguyễn Tấn Dũng đã việt vị Quốc hội khi đăng đàn nói về biển đảo. Nguyễn Tấn Dũng đã khiến cho dân chúng tạm quên đi những vết thương kinh tế do ông gây ra khi trở thành chính trị gia đầu tiên của Hà Nội nói “Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa từ năm 1974”. Ngay cả Bộ chính trị cũng bị bất ngờ. Ông Dũng đã bí mật soạn bài diễn văn này, diễn đi diễn lại nhiều lần trước khi xuất hiện ngày 25-11-2011 trong phiên họp toàn thể được truyền hình trực tiếp.

 

Sau bài phát biểu ấy, nhằm chuẩn bị dư luận chống đỡ những đợt kiểm điểm trong nội bộ, thông tin bắt đầu được rỉ tai, “phe thân Tàu đang tìm cách chống ông Tấn Dũng”. Nhóm “13” hiện đã chuẩn bị theo đơn đặt hàng của ông Nguyễn Tấn Dũng một bài phát biểu về nhà nước pháp quyền.

 

Sau khi các đại gia gần gũi ông như Nguyễn Đức Kiên, Dương Chí Dũng, bị bắt; Trầm Bê ở trong tầm ngắm…, những ai nghĩ rằng ông Dũng đang hoảng sợ rất có thể sẽ mắc bẫy việt vị. Ông Nguyễn Tấn Dũng rất có thể lại xuất hiện như một nhà cải cách.

Chiếc ôtô và cái “bệnh sĩ” của người Việt

Trong cái thời buổi khốn khó này, người Việt dường như vẫn không bớt được cái tính sĩ diện. Điều nhìn thấy rõ là chuyện sắm xe hơi, nhiều người “cố sống, cố chết”, nhịn ăn mua cho được một chiếc ôtô chỉ để đi cho oai.

Tôi không dám đánh đồng khẳng định, không dám “vơ đũa cả nắm”, nhưng phần đông người Việt ta trước nay vẫn hay mang cái tính sĩ diện trong người. Người Việt “sĩ” từ chuyện ăn, chuyện mặc đến chuyện lớn hơn là sắm cái xe, làm cái nhà, tổ chức tiệc tùng hay đám cưới.

Tôi nhớ có anh bạn nước ngoài sang ta công tác. Dù đến từ một nước giàu hơn ta đến vài chục bậc nhưng anh ta cũng phải trợn tròn mắt vì cái cách ăn uống của người Việt. “Ăn ít nhưng gọi nhiều”, bỏ bê, lãng phí cũng chỉ vì cái tính sĩ diện mà ra.

autodaily-kiengio (4).jpgMột đám cưới toàn xế sang của người Việt

Tôi cũng nhớ đến mấy ông láng giềng ở quê. Quanh năm bữa ăn chỉ rau với gạo, nhưng bán được miếng đất là phải làm cho bằng được cái nhà to nhất xóm. Nhà rộng thênh thang nhưng cũng chỉ để chứa thóc, lúc định sắm đồ bên trong thì hết tiền. Mà đến lạ, chả rõ kinh tế thế nào, nhưng hễ cứ nhà xây sau là phải to, phải cao hơn nhà xây trước. Ta cứ vất vả, vật vã chạy đua theo những cái hào nhoáng bên ngoài cũng chỉ vì sĩ diện.

Người Việt sĩ diện đủ đường, đủ kiểu, nếu lấy ví dụ ra thì có kể cả ngày không hết. Thôi thì cũng chỉ ví dụ về chuyện ăn, chuyện ở để nói về cái chuyện đi. Ở ta, việc mua chiếc xe bốn bánh xem ra cũng nặng tính sĩ diện lắm.

Một nhà phân tích kinh tế của châu Âu khi so sánh về cách mua, sắm xe hơi của người tiêu dùng giữa hai nước Đức và Việt đã chỉ ra rằng: “Một người Đức bình thường có 30.000 USD trong tay và đang có ý định mua xe hơi, họ sẽ chỉ mua một chiếc xe giá khoảng 20.000 USD, số còn lại họ dùng vào việc khác hoặc tích lũy. Người Việt thì ngược lại, không phải là tất cả, nhưng rất nhiều người nếu có khoảng 30 ngàn đô, họ sẽ sẵn sàng đi vay thêm cả chục ngàn đô nữa để mua bằng được chiếc xe họ thích”. Hai cách mua xe thể hiện tính sĩ diện của người Việt và tính thực dụng của người Đức, nghĩ đến mà thấy ngược đời.

autodaily-kiengio (3).jpgKinh tế khó khăn nhưng người Việt vẫn “sắm” những chiếc xe siêu sang

Cái bệnh sĩ nó sinh ra cái bệnh lãng phí. Có ông mua xe rõ to, rõ sang chỉ để chở con đi học hay đi làm trong thành phố. Mua một chiếc xe nhỏ, tiết kiệm thì phù hợp quá nhưng mà lại sợ người ta khinh. Lại có ông đã sắm xe thì phải “rước” về cái xe hiện đại cơ, nhiều tính năng cơ. Mà mấy tính năng đó thì ở Việt Nam ta chả bao giờ dùng đến, chả làm gì sất, như hệ thống cảnh báo làn đường chẳng hạn.

Vừa rồi tôi có chuyến công tác sang Nhật. Đúng là được “mở mắt”. Sang đất nước của những hãng xe hơi lớn, một đất nước văn minh và giàu có, nhưng tôi thấy người dân họ phần lớn đi những chiếc xe bé tí tẹo, giá độ chục ngàn đô. Những chiếc xe trông vuông vức, mũi ngắn và thô kệch này mà về Việt Nam thì kiểu gì cũng bị chê ỏng, chê eo. Xe xấu, kém sang trọng nhưng người dân của đất nước – mà ở đó có những Toyota, Nissan, Mazda… lại rất “chuộng”. Hỏi ra mới biết, họ đi xe nhỏ vì giảm được phí đỗ, phí nhiên liệu và đủ thứ phì khác. Và quan trọng nhất, yếu tố cốt lõi tạo ra cách tiêu dùng này là người Nhật không xem ôtô là biểu tượng của địa vị xã hội như ở ta, họ không sĩ như ta.

autodaily-kiengio (1).jpgMột góc gara toàn xế sang của đại gia Việt

Đấy là chuyện của mấy ông thường thường, có tiền rồi “cố thêm tí” để sắm xe. Mấy ông đại gia Việt thì còn “sĩ” hơn. Mấy năm nay tài chính chết, đất cát chết nhưng đi là cứ phải siêu xe, xe sang trị giá cả triệu đô chứ không ít. Họ có tiền, họ mua xe là việc của họ, ta chẳng quan tâm, thậm chí là không được quyền quan tâm. Nhưng có người đi siêu xe, hay tổ chức hẳn một đại hội siêu xe mà ôm cả đống nợ như một đại gia trẻ đất Hà Thành nào đó thì đúng là nực cười cho cái tính sĩ diện.

Tôi cứ liên tưởng tới ông Warren Buffett, người giàu có nổi tiếng của thế giới hiện có tới 39 tỉ USD nhưng vẫn đi chiếc xe mua 15 năm trước với giá 18.000 USD. Hay một người trẻ như Mark Zuckerberg – “ông chủ” Facebook – một tỉ phú vừa “bỏ” thêm vào “túi” mình 12,4 tỉ USD trong năm 2013 cũng chỉ sử dụng một chiếc Acura TSX giá 30.000 USD. Dòng xe này được vị CEO 29 tuổi quan niệm một cách rất thực tế là nó an toàn, tiện nghi và không phô trương.

Và nếu đem ông Warren Buffett hay anh chàng nằm trong top những người giàu nhất thế giới – Mark Zuckerbergđứng cạnh các đại gia Việt chơi siêu xe như báo chí hay đưa tin, thì các vị tỉ phú nước Mỹ kia cũng phải chào thua về độ chịu chơi.
Kiến Gió (TTTĐ)