30 THÁNG 4, NHỮNG PHỐ TÀU, THẮNG THUA, THUA THẮNG!


Chính trị – Xã hội

ASEAN họp với Trung Quốc về Biển Đông  -(RFA)   —  Trung Quốc không bao giờ nhường bộ chủ quyền và an ninh quốc gia  -(RFA)

‘Vinh dự đề cử’  -(BBC)   —    ‘Phong trào dân chủ ngày càng mạnh’  -(BBC /nghe) -BS. Nguyến đăng Quế.    —     Điều trần về tự do báo chí VN ở Hoa Kỳ  -(BBC)

Phó Thủ tướng: phải đối thoại công khai dân chủ với nhân dân  -(RFA)   —   Truyền thông lề phải, câu chuyện Tân cương và cà phê nhân quyền  -(RFA)

 Hai thành viên Hội Phụ nữ Nhân quyền bị câu lưu và hành hung ở Cần Thơ  -(RFI)   —    Hai phụ nữ hoạt động cho nhân quyền bị đánh đập  -(RFA)   —  Đình công tự phát vì không có tự do nghiệp đoàn  -(RFA)

Bắt đầu tái cưỡng chế đất Dương Nội  -(RFA)  >>>  Tiến hành cưỡng chế 19 hộ tại phường Dương Nội

Không đẩy công an làm thay chính quyền  -(TT)

Phải đi cấp cứu sau khi rời trụ sở công an -(TT)   >>>  Phúc thẩm vụ Dương Chí Dũng: Luật sư đề nghị tòa hủy án, điều tra lại   >>>   Đề nghị y án tử hình Dương Chí Dũng, Mai Văn Phúc   >>>    TP.HCM xử phạt gần 1.000 xe quá tải   >>>    An Giang: gần 200 nhà sập, tốc mái do lốc xoáy 

Đôi điều về bệnh sởi tại Hà Nội   -(RFA)   —   Đau sót vì bệnh sởi giết trẻ thơ VN  -(BBC)

CA Hà Nội càn quét, đàn áp khốc liệt nông dân Dương Nội [Cập nhật]  -(DLB)

 

Xử phúc thẩm đồng chí Dương Chí Dũng và đồng bọn – Nhìn sơ thấy gì? -(DLB)


“Còn quay lại Nha Trang là còn bị đánh” -(DLB)   >>>   Thuggish police declared: “Coming back to Nha Trang means getting beaten again”

 

Lời kêu gọi bất tín nhiệm chính quyền: Kết quả của 39 năm CS “giải phóng và xây dựng đất nước”!-(DLB)
Nước mắt tháng tư!-(DLB)   —   Này chị này anh hãy vùng lên   -(DLB)

Thư ngỏ gửi Mạng Lưới Blogger Việt Nam (phần 1)-(DLB) –Nguyễn Ngọc Già (Danlambao)

Nhà thầu Trung Quốc đội vốn gần 100%: Không thể chấp nhận được!  -(Datviet /DLB)

Đơn tố cáo ông Nguyễn Bá Thanh – Trưởng ban Nội chính Trung ương  -(DLB)  -Tôi là Nguyễn Thanh Hiếu, nhân viên văn thư của công ty Cổ phần tập đoàn Hà Bách Khoa, trụ sở tại số 90, Quang Trung, Đà Nẵng. Công ty chúng tôi đã gửi hồ sơ tố cáo hành vi tham nhũng, bao che, cố tình cướp đất của công ty chúng tôi của chính quyền Đà Nẵng, nhưng đơn gửi từ lâu vẫn không có bất kỳ động thái xử lý nào, chúng tôi nghi vấn vì có liên quan đến ông Nguyễn Bá Thanh, nay là Trưởng ban Nội chính Trung ương đã cố tình bao che. Xin gửi BBT Dân Làm Báo kính nhờ đăng tải toàn bộ bản scan hồ sơ của công ty chúng tôi lên Dân Làm Báo, trang mạng đại diện cho tiếng nói người dân về hành vi này:

Còn có luật pháp, mình không làm gì sai thì mình cứ khiếu nại -(DLB)
Hãy mở rộng vòng tay đón những người Duy Ngô Nhĩ Tân Cương (Uighur) -(DLB)
Mơ gặp Bác Hồ -(DLB)   —   Ai sẽ làm Tổng Bí thư năm 2016?  -(DLB)

 

Tập tài liệu về tình trạng công dân Việt Nam bị chết trong đồn công an  -(DLB)

 Việt gian chỉ đạo cướp đất, đánh đập dân oan Dương Nội  -(DLB)

 

30 THÁNG 4, NHỮNG PHỐ TÀU, THẮNG THUA, THUA THẮNG!  Trần minh Thảo -(Boxitvn)

 

“Đảng lãnh đạo…”  -Thiện Tùng –-(Boxitvn)
Nobel hòa bình, khoan dung, yêu thương và cảm thông  -Phạm chí Dũng –-(Boxitvn)

 Suy nghĩ tháng tư  -(Kami -RFA)   —    Những im lặng đáng khinh.  -(Canhco -RFA)

 Nhà báo Đoan Trang được tài trợ nghiên cứu ở USC  -(Trần đông Đức -RFA)

NGHỆ SĨ KIM CHI – THƯ TỪ NƯỚC MỸ GỬI BẠN BÈ  -(Huỳnh ngọc Chênh)

Chủ nhiệm UB Pháp luật Phan Trung Lý “chỉ mặt” những thủ phạm cản trở các dự luật mở rộng quyền tự do dân chủ cho dân  -(Chepsuviet)

Hở với báo chí nên làm Bộ chính trị bực mình – Thường vụ QH lại họp kín về phiếu tín nhiệm?
-(Chepsuviet)

Sinh nhật Lenin: mừng hay tưởng niệm, bằng lẵng hoa hay vòng hoa? -(Chepsuviet)   —  
  Kỷ niệm 144 năm ngày sinh Lenin: nghiêm khắc phê bình báo đảng của Thủ đô lạnh nhạt với Người -(Chepsuviet)

Hoan hô 3 báo của công an, quân đội loan tin kỷ niệm 20 năm Ngày tự do Nam Phi, trong khi rất nhiều báo khác im -(Chepsuviet)   —  Nền công vụ “4 xin” và “1 không xin” -(Chepsuviet)

Đòi Chính phủ Mỹ đóng cửa RFA: “Giấy chùi khu” quảng bá cho blog “ruồi bu không buồn đuổi” -(Chepsuviet)

61 thuyền viên bị giữ hơn 3 tháng ở Indonesia, sao không nghe hai bộ Ngoại giao, Nông nghiệp &PTNN vào cuộc? -(Chepsuviet)

Tái cưỡng chế đất ở Dương Nội ngày 22/4/2014    -(Nguyễn tường Thụy)

CHÍNH QUYỀN TÁI CHIẾM ĐẤT, TÌNH HÌNH DƯƠNG NỘI RẤT CĂNG THẲNG  -(Tễu)

” Tôi sống 3 chế độ, mà tôi chưa thấy chế độ nào lại khốn nạn như chế độ này”  -(Phương Bích)

 Hỗn và loạn trong văn hóa   -(Bùi Tín -VOA)

Vụ Vinalines: Ðề nghị y án tử hình Dương Chí Dũng, luật sư kêu gọi hủy án  -(VOA)

Ca sỹ Khánh Ly ‘hạnh phúc được gặp lại’ nhạc sỹ Trịnh Công Sơn   -(VOA)

Vì đâu bạo hành ‘lên ngôi’?  -(VOA) – Đoàn xuân Lộc.

Thu phí phố cổ Hội An: Mất tiền mua…sự bực mình?    -(ĐV)   >>>  Nghi án ăn bớt 1 cây cầu:Bộ chưa nắm được thông tin!  >>>  Tăng tuổi hưu để tránh vỡ quỹ là rất…không ổn!     >>>    GĐ nhận lương khủng trả lời “mập mờ” vụ xén chế độ    >>>   Lãnh đạo được từ chức nếu thấy không còn đủ uy tín    >>>    Nhật phát hiện đường dây ngầm chuyển tiền về Việt Nam 

Tuyên bố chống trả công an xong tử vong vì sức khỏe  -(ĐV)

Một người dân ở làng hoa Tây Tựu kiện Chủ tịch Hà Nội   – (GDVN)   >>>  Bí thư Thành ủy Hội An: Không có tiền trùng tu, di sản sẽ sụp đổ   >>>  Hà Nội chưa dập được dịch sởi

Buộc EVN, Petrolimex phải công khai lương lãnh đạo  -(DV)   >>>  Hà Nội: 30 điểm bắn pháo hoa mừng 60 năm giải phóng Thủ đô

Chiếc xe không chỉ chạy bằng xăng dầu   – (Dân trí)

 Bé gái tử vong bất thường sau khi tiêm vắc xin  -(VNN)

Lãnh đạo vạ miệng và bộ máy ‘đúng quy trình’  -(TVN)   >>>   Tiền khủng mà lòng tin thì… thủng

Quyền của dân mà cứ ‘tế nhị’   -(VNN)    >>>   Cố gắng giữ nghèo bền vững    >>>    Những thông tin bất ngờ về dịch sởi ở người lớn

 Bao giờ trình Quốc hội Luật Biểu tình?  -(VnEc)

Tăng thêm kỳ họp Quốc hội: Tốn kém, mệt mỏi!   -(DT)   —  Quốc hội Việt Nam “lo” đạt kỷ lục Guiness họp 3 kỳ/năm  -(LĐ)

Sẽ cấm JTC đấu thầu tại Việt Nam nếu việc hối lộ đường sắt không có thật  -(MTG)

Xét xử phúc thẩm vụ án Vinalines: Nóng vấn đề “ăn chia” 1,666 triệu USD  -(LĐ)

Tàu Trung Quốc chặn tàu cá Việt Nam và Philippines tại Trường Sa  -(NV)

Dân Mỹ bắt đầu ‘chê’ McDonald’s  -(NV)

Những dấu hỏi từ phiên tòa xử ‘bầu’ Kiên  -(Lê diễn Đức – NV) 

Ðồng Minh, Ðồng Tính và Ðồng An  -(Nguyễn xuân Nghĩa -NV) 

Ðiều đáng sợ về ông Putin   -(Lê Phan -NV)  

Shinzo Abe khiến Tập Cận Bình lo ngại  -(Ngô nhân Dụng -NV)

Kinh tế

Giá vàng thấp nhất 9 tuần qua, còn 35,32 triệu đồng/lượng    -(TT)   >>>  Người giàu khoái đất, dân nghèo thích giữ vàng

Kích Thích Kinh Tế  -(RFA)

 Nhà thầu Trung Quốc đội vốn gần 100%:Không thể chấp nhận được!    -(ĐV)   >>>   Nhà thầu TQ đội vốn:Xây dựng nói trách nhiệm Giao thông! >>>    Đặc sản đắp đống, gạo giá rẻ và “giấc mơ” xoài Nhật 

Vì sao Vietcombank dự kiến lợi nhuận giảm?  -(ĐV)

Nghi vấn có đường dây làm giả giấy tờ nhập khẩu phân bón số lượng lớn   -(GDVN)

3 sếp lớn Tập đoàn Bảo Việt “gây hậu quả nghiêm trọng”   -(GDVN)

Lãi thì giữ giá, chớm lỗ là tăng ngay  -(DV)

Dự án đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông đội vốn: Gần 70 triệu USD cho 1km!  -(DV)

Nhiều nhà băng vẫn “bên lề” định hướng của Thủ tướng  -(VnEc)   >>>  Chứng khoán chiều 23/4: Thanh khoản thấp giật mình

Sống khỏe re nhờ ‘tuyệt chiêu trộn gạo’  -(MTG)    >>>   Từ đầu năm đến 15.4: Xuất siêu 572 triệu USD

Thế giới

Châu Á – Thái Bình Dương ký kết thỏa thuận ngăn ngừa sự cố trên biển  -(RFI)

Obama bắt đầu công du châu Á  -(RFI)  —  Khởi đầu chuyến công du châu Á, Tổng Thống Hoa Kỳ đến Nhật Bản   -(RFA)   —    Công du châu Á : Những bài toán nan giải của Obama   -(RFI)
Tổng thống Obama đến Châu Á trấn an các nước đồng minh  -(VOA)

Nam Hàn nhờ TQ kêu gọi Bắc Hàn ngưng thử nghiệm hạt nhân  -(RFA)   —    Theo chuyên gia Mỹ, Bình Nhưỡng chưa thử hạt nhân   -(RFI)

Úc mua 58 chiến đấu cơ F-35 của Hoa Kỳ -(RFA)   —  Các quốc gia vùng TBD ký kết thỏa thuận liên lạc hàng hải -(RFA)

Nga tuyên bố đủ khả năng đối phó với cấm vận -(RFA)   —   Nga hãy ‘bớt gây hấn và tăng nỗ lực’   -(BBC)   >>>  Kiev cảnh giác sau ám sát ở miền Đông     —   Kiev mở lại chiến dịch “chống khủng bố” ở miền đông Ukraina  -(RFI)

Nga bất ngờ tiến hành tập trận ở vùng Biển Caspi -(RFI)   —    Nga trục xuất một nhà ngoại giao Canada  -(VOA)

Một nhà đấu tranh cho quyền lợi công nhân Trung Quốc bị mất tích   -(RFI)   —60% mạch nước ngầm của Trung Quốc bị ô nhiễm -(RFI)
 Trung Quốc lên án ca sĩ Justin Bieber thăm đền Yasukuni  -(VOA)   —   TQ phản đối tuyên bố của TT Obama về tranh chấp biển đảo với Nhật  -(VOA)    —   Các nhà lập pháp Nhật Bản lại đến thăm đền Yasukuni   -(VOA)

Obama: Senkaku được bảo trợ bởi Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật   -(ĐV)

Thủ tướng Thái phải giải trình trong 1 vụ kiện mới -(RFI)   —  Ân xá Quốc tế : Lao động nước ngoài bị bóc lột ở Qatar  -(RFI)    —  Một con tin người Pháp qua đời tại Mali -(RFI)

Dân Miến Điện tiễn đưa lần cuối nhà dân chủ Win Tin -(RFI)

Ðức Giáo Hoàng hy vọng việc phong thánh kép sẽ hòa giải Giáo hội  -(VOA)

Số tử vong trong vụ chìm phà Hàn Quốc tăng lên tới 146 người  -(VOA)

Sinh viên quốc tế học sản xuất phim tại thủ đô điện ảnh thế giới   -(VOA)

Khó tin khu biệt thự siêu sang 6 năm không có người ở tại TQ  -(GDVN)

An ninh Ukraine tịch thu 12 tấn đạn xuất xứ nước ngoài  -(DV)

Văn hóa – Giáo dục – Khoa học – Xã hội

Cãi nhau với cha, nữ sinh lớp 12 nhảy cầu tự vẫn   -(TT)   >>>   Tài xế đốt lửa vượt trạm cân, lực lượng chức năng “cố thủ”

Nam sinh lớp 7 giết bà ngoại vì không được cho tiền chơi game  -(DV)

Bắt ‘nóng’ 4 kẻ bắt cóc trẻ em, đòi chuộc 1 tỷ đồng  -(DV)    >>>  Bị phát hiện, tên trộm tuổi teen truy sát dã man 2 vợ chồng già    >>>  Nam thanh niên bị chém trọng thương trước ngày hầu tòa

“Đảng lãnh đạo…”

Boxitvn

Thiện Tùng
Cách đây vài tuần, ngồi chung trong bàn ăn ở một tiệc cưới, một quan chức đương quyền nói với những người trong bàn: “Ở Mỹ, ở Nga, ở Đức… bao giờ cũng đều do một đảng lãnh đạo. Vậy là Đảng lãnh đạo đâu phải chỉ riêng ở Việt Nam, sao cứ nhằm vào Đảng CSVN mà chôm chỉa châm chích…?”.
Một câu nói đánh đồng, đánh lận con đen, xảo biện vụng về thốt ra từ cửa miệng của một quan chức. Thật là thiển cận và ngụy biện.

Về mặt lý luận, cạnh tranh là xu thế phát triển mọi mặt đời sống xã hội, chính trị là một mặt thiết yếu của đời sống xã hội, chính trị cũng phải cạnh tranh – nhất nguyên, độc đảng là thủ tiêu cạnh tranh.
Về mặt chính trị, muốn có xã hội dân chủ thật sự nhất thiết phải đa nguyên, đa đảng. Nhưng “Quý hồ tinh bất quí hồ đa”, nhiều đảng phái quá cũng dễ gây rối loạn xã hội, chỉ cần vài ba đảng “danh chánh ngôn thuận” do Hiến định ra cạnh tranh trên “thương trường” chính trị là đủ.

Chính danh, ngụy danh
Nói đảng lãnh đạo là chưa rõ. Phải nói rõ lãnh đạo đối tượng nào, diện rộng hẹp ra sao … mới xác định xem sự lãnh đạo ấy có chính danh hay không. Nếu đảng nào đó lãnh đạo với đối tượng đảng viên trong phạm vi đảng của mình là chính danh, không có chi bàn luận. Việc cần luận bàn ở đây là đảng lãnh đạo “Nhà nước và Xã hội” – lãnh đạo quốc gia dân tộc.
Bất kỳ đảng nào lãnh đạo “Nhà nước và Xã hội” mà không thông qua cạnh tranh (thi đấu) theo thể thức trưng cầu dân ý (bầu cử) xem là không chính danh (ngụy danh).
Một quốc gia mà nhất nguyên, độc đảng là thiếu hẳn sự cạnh tranh – chẳng lẽ mình tranh với mình? Thế là sa vào độc tôn, chuyên chính…, tha hồ tự tung tự tác.
Ở những nước dân chủ, đa nguyên, đa đảng, đảng lãnh đạo do dân phong: những đảng ra tranh cử phải chấp nhận cử đại diện “thi đấu” với nhau theo thể thức trưng cầu dân ý (bầu cử). Đảng nào thắng sẽ chấp chính theo nhiệm kỳ do Hiến định. Đảng chấp chính được quyền thành lập chính phủ để thực hiện những gì mình đã hứa với cử tri. Khi đã chấp chính, không được lấy tư cách đảng mình, mà phải lấy tư cách Nhà nước dân cử quản lý xã hội theo pháp luật (Hiến pháp và Luật). Ai tham gia bộ máy Nhà nước thì được hưởng lương từ ngân sách quốc gia, ngoài ra là tự túc. Nếu làm đủ “thủ tục”: chấp nhận thi đấu, chấp nhận trưng cầu dân ý thì phải công nhận sự lãnh đạo của họ là chính danh.
Ở các nước nhất nguyên, độc đảng, chuyên chính, đảng lãnh đạo do tự phong, không “thi đấu” – chẳng lẽ mình đấu với mình, không thông qua trưng cầu dân ý (bầu cử), tự đặt cho mình “sứ mệnh lịch sử” lãnh đạo Nhà nước và Xã hội muôn năm . Với quyền hành tự xem như trời ban ấy, Đảng tha hồ mà “độc”. Vì “nhận lớp” như thế nên bị xem là không chính danh.
Những cái “độc” dưới chuyên chính nói chung, chuyên chính vô sản nói riêng
Lãnh đạo theo kiểu tự phong, “danh không chính, ngôn không thuận” không tránh khỏi “trống đánh xuôi kèn thổi ngược”. Để giữ địa vị thống trị của mình, không còn cách nào khác phải “độc”. Chính quyền chuyên chính bất kỳ đều chứa đựng trong đó những yếu tố tàn độc như độc tôn, độc quyền, độc đoán, độc tài… Nhiều cái độc như vậy thì mong gì có xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, xã hội tránh sao khỏi phân chia hai giai tầng cai trị và bị trị. Chuyên chính là khái niệm chung, chuyên chính vô sản là khái niệm riêng. Chuyên chính bất kỳ đều có chung một thuộc tính, dầu có cố đến đâu cũng không tránh khỏi rơi vào những cái độc và phân chia giai tầng như đã nói. Độc tôn là tuân theo một chủ thuyết; Độc quyền là đảng lãnh đạo Nhà nước và Xã hội một cách trực tiếp, toàn diện và tuyệt đối; Độc đoán là đảng trọn quyền nhận định và phán quyết mọi mặt đời sống xã hội; Độc tài là đảng luôn xem mình tài ba xuất chúng, vạn sự thông, nói cho người ta nghe chớ ít chịu nghe người ta nói, thích được tán dương, ghét phản biện – phản biện bị xem là phạm thượng, bị liệt vào loại chống đối, thù địch…
Một số dẫn chứng về những tệ nạn dưới chuyên chính
Bịnh bảo thủ chủ quan: Luôn xem mình là xuất chúng, ra vẻ thầy đời, vạn sự thông… Những gì mình nghĩ và ban ra xem là chuẩn mực, thuộc hạ chỉ phải thi hành, chẳng khác vua chúa thời xưa “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” , kẻ nào nghịch ý thì “trảm”.
Bè phái thân hữu, gia đình gia tộc trị: Hễ hữu thì hảo gom vào, bất hữu thì bất hảo thải ra; “món ngon, vật lạ” dành cho gia đình, gia tộc theo kiểu “thừa trong nhà mới ra người ngoài”.
Độc chiếm quyền sở hữu: Dưới chuyên chính vô sản, đảng xem đất nước là của riêng mình, không cần hỏi ý dân, muốn cho không, cho thuê, cho khai khoáng, cho xây dựng, cho cư trú… gì đó thuộc quyền của đảng. Đảng như vua, xung quanh vua có quần thần, dưới quần thần là thần dân – tất cả là của “trẫm” (đảng), cai trị bằng nghị quyết, chỉ thị theo kiểu xin – cho. Hiến pháp, luật để trị dân chớ đảng thì sống ngoài vòng pháp luật. Lực lượng vũ trang là của chung biến thành của riêng “công cụ bảo vệ chuyên chính vô sản”…
-“Vừa hồng vừa chuyên: Việc kén chọn quan chức theo tiêu chuẩn “vừa hồng vừa chuyên” dưới chuyên chính vô sản cũng là một đặc thù. Nói nôm na cho dễ hiểu, chọn quan chức dựa vào 2 chứng chỉ: một là thẻ đảng viên (cạt đỏ), hai là bằng cấp học vị (cạt xanh) – Cạt đỏ là ưu tiên số 1, xếp vào đội ngũ lãnh đạo, cạt xanh thì xếp vào đội ngũ chấp hành. “Cạt đỏ” chủ trương “cạt xanh” thực hiện.
Vậy là phấn đấu để trở thành quan chức dưới chuyên chính vô sản phải đạt 2 chuẩn là quá khó?! Nhưng nếu biết luồn lách thì vượt qua tất cả. Cái gì cũng có cái giá của nó, phải đứng góc độ lợi ích cá nhân mà tính thiệt hơn, muốn thu thì phải chi. Xin minh họa bằng bài thơ “Tự sự” do tôi sáng tác cách đây cũng hơi lâu:
Lúc trẻ lưng tôi luôn thẳng ngay,
Ngẫng đầu, ưỡn ngực… trông thật oai,
Hai chân đứng thẳng, không chùn gối,
Phải trái phân minh, đáng mặt trai.
Đứng thẳng, nói ngay… chuốc đắng cay:
Chức y, lương đứng… chẳng bằng ai,
Vợ con nheo nhóc… không tiền của,
Biết cậy vào đâu, gay thật gay!
Chấp nhận bon chen… lưng phải “tôm”:
Khi luồn, khi cúi, lúc lom khom,
Quyền cao lộc cả = tài luồn lách,
Ấm cật, phì da = dẽo cái mồm.
Đầu cúi, lưng khom… ngẫm cũng hay:
Chức thăng, lương vọt… chẳng kém ai ,
Vinh thê, ấm tử… thừa tiền của,
Nhưng mất cả rồi tính thẳng ngay!
Đành rằng cũng đảng lãnh đạo, nhưng khác nhau ở chỗ chính danh hay ngụy danh mà tôi đã phân tích ở phần trên.
Theo tôi, phản biện câu nói trên như thế là đủ. Nếu nói nữa độc giả sẽ tặng cho câu chán đời “Biết rồi, nói mãi, khổ quá !”.
20/04/2014
T.T.
Tác giả gửi BVN

Gia hạn đăng ký giữ quốc tịch VN

BBC

Giới chức sẽ gia hạn thời gian đăng ký giữ quốc tịch đối với người Việt định cư ở nước ngoài thêm năm năm nữa so với hạn chót được luật định.

Với thời hạn 1/7/2014 đang đến gần trong lúc số người đăng ký tới nay mới đạt chừng 6.000, đây là bước đi không mấy bất ngờ của giới chức nhằm “chữa cháy” chính sách được cho là nhắm tới cộng đồng chừng 4,5 triệu người Việt đang sống ở nước ngoài.

Lời phát biểu “kiều bào nếu không đăng ký thì sẽ mất quốc tịch” của Thứ trưởng Ngoại giao, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn hồi đầu tháng Tư đã khiến chủ đề đăng ký quốc tịch được bàn luận sôi nổi.
“Thông tin ban đầu do Thứ trưởng Sơn đưa ra không rõ ràng, gây phản cảm,” nhà văn Nguyễn Văn Thọ, một người định cư tại Đức nói với BBC Tiếng Việt.
“Sau ý kiến không rõ ràng của Thứ trưởng Sơn, người ta mới rộ lên quan tâm, lo lắng,” ông Thọ nói thêm.
Các quy định pháp lý liên quan đã được đưa ra từ trước đó gần năm năm mà không mấy thu hút sự chú ý của cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

Cách hiểu đúng

Theo giải thích của Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường, việc mất quốc tịch hay không chỉ hướng tới những ai đã ra nước ngoài trước tháng 7/2009.
Những người rời khỏi Việt Nam sau thời điểm đó thì “đương nhiên mang quốc tịch Việt Nam mà không phải đăng ký”, ngay cả khi nhập quốc tịch nước ngoài, trang tin VnExpress dẫn lời ông Bộ trưởng.
Một số các quan chức khác của Bộ Tư pháp cũng lên tiếng sau lời phát biểu của Thứ trưởng Sơn.
Cục trưởng Hộ tịch, Quốc tịch và Chứng thực thuộc Bộ Tư pháp giải thích những người không định cư ở nước ngoài hoặc định cư nhưng vẫn còn hộ chiếu Việt Nam có hiệu lực đều không cần phải đăng ký.

Người Việt ở nước ngoài vẫn giữ nguyên nhiều nét sinh hoạt truyền thống

Tuy nhiên, những giải thích của Cục trưởng Nguyễn Công Khanh trong cuộc họp báo tại Hà Nội hôm 8/4 dường như không đủ trấn an dư luận, và cũng không đủ để cải thiện con số 6.000 hồ sơ đăng ký giữ quốc tịch.

Điều luật phục vụ ai?

Mong muốn của giới chức khi ra điều luật trên là nhằm “làm rõ tình trạng quốc tịch của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về quốc tịch và bảo hộ công dân”, theo lời Cục trưởng Cục Lãnh sự thuộc Bộ Ngoại giao Nguyễn Hữu Tráng tại một cuộc họp báo.
Thế nhưng sự “phục vụ cho công tác quản lý nhà nước” đó dường như chưa thể hiện vai trò phục vụ quyền lợi người dân, mà trong trường hợp này là những người đang định cư ở nước ngoài.
Đăng ký hay không đăng ký, thì người ta được gì, mất gì?
Nếu làm, thì ngoài việc được cấp giấy xác nhận, người đăng ký không có được lợi ích thiết thực gì khác.
Trong lúc đó, bản thân tờ giấy xác nhận đó lại không phải là điều kiện cần và đủ để một người được thừa nhận là công dân Việt Nam hay được cấp hộ chiếu Việt Nam, theo giải thích của Cục trưởng Lãnh sự.
Ông Tráng nói: “Giấy xác nhận không có giá trị pháp lý cho việc cấp phát hộ chiếu, giấy thông hành hoặc các giấy tờ khác [của Việt Nam],” tạp chí Quê hương thuộc Bộ Ngoại giao dẫn lời.
Giấy này cũng “không khẳng định về quốc tịch Việt Nam của họ”, ông Tráng giải thích thêm.

Giấy xác nhận đã đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam chỉ có giá trị chứng minh người này đã thực hiện thủ tục đăng ký chứ không khẳng định về quốc tịch Việt Nam của họ. Gấy xác nhận không có giá trị pháp lý cho việc cấp phát hộ chiếu, giấy thông hành hoặc các giấy tờ khác.

Cục trưởng Cục Lãnh sự Nguyễn Hữu Tráng

Nói cách khác, thì việc đăng ký không làm một người được tức khắc công nhận là công dân Việt Nam và do đó không đem lại cho họ quyền được xin cấp hộ chiếu Việt Nam, cũng không tạo trách nhiệm bảo hộ của nhà nước đối với cá nhân đó.
Điều nhìn thấy đầu tiên, có lẽ mới chỉ là việc nó trao cho giới chức những thông tin về người tự nhận thấy mình là người Việt Nam.
Tương tự, việc đăng ký cũng không làm thay đổi quy chế pháp lý về quyền cư trú của người đó ở nước sở tại, nơi mà hệ thống công quyền chỉ xét tới các loại giấy tờ được công nhận rộng rãi theo luật quốc tế như hộ chiếu, giấy thông hành, hay thẻ cư trú.
Nếu không làm, thì một người Việt sẽ không được nhà nước coi là công dân Việt Nam và do đó, sẽ không làm phát sinh nghĩa vụ bảo hộ từ phía nhà nước.
Tuy nhiên, nghĩa vụ bảo hộ này trên thực tế đã là không tồn tại khi mà họ không còn tấm hộ chiếu Việt Nam còn hiệu lực. Do vậy, việc không đăng ký về căn bản không làm thay đổi quan hệ pháp lý giữa cá nhân đó với nhà nước Việt Nam.
Mặt khách, việc “mất quốc tịch” này lại không được thể hiện trên bất kỳ văn bản nào.
Cũng không có hướng dẫn nào nói rằng một người sau hạn chót đăng ký có quyền tới một cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam để xin cấp giấy “mất quốc tịch”.
Tức là nhà nước Việt Nam bảo họ mất quốc tịch, nhưng họ không biết làm sao để lấy được tờ giấy xác nhận nội dung đó.
Cho nên, với nước sở tại thì việc “mất quốc tịch” dựa theo điều luật này không được coi là cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề liên quan tới quyền cư trú, định cư hay nhập tịch của người đó, đặc biệt là ở các quốc gia chỉ chấp nhận một quốc tịch và đòi người xin nhập tịch phải có giấy chứng nhận đã được cho thôi quốc tịch hoặc đã bị tước bỏ quốc tịch gốc.
Việc bị tước bỏ quốc tịch theo quy định này cũng sẽ dẫn đến tình trạng thiếu vắng cơ sở pháp lý để một người sau này làm thủ tục xin thôi quốc tịch.
Chưa kể nếu họ không đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam trước hạn chót trong lúc chưa đăng ký nhập tịch, hoặc chưa đủ điều kiện nhập tịch vào quốc gia đang sinh sống, thì việc pháp luật Việt Nam đương nhiên lấy đi quốc tịch Việt Nam sẽ đẩy họ về mặt lý thuyết trở thành những người không có quốc tịch, một điều tối kỵ, cần tránh trong luật pháp quốc tế.
Như vậy, việc đăng ký hay không đăng ký trên thực tế không hề giúp “làm rõ tình trạng quốc tịch của người Việt Nam định cư ở nước ngoài”, cũng không đạt mục tiêu “phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về quốc tịch và bảo hộ công dân”, trong lúc không giúp cho việc giấy tờ của người dân được xử lý một cách thuận lợi hơn.

Thiếu tính nhân văn?

“Trên thực tế, quyền của con người, muốn có một tổ quốc, một đất nước, nơi người ta đã sinh ra, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, là nhu cầu hợp lý mà nhà nước Việt Nam phải suy nghĩ tới,” nhà văn Nguyễn Văn Thọ nói.
“Đây là tình cảm rất thiêng liêng, nằm trong tâm khảm mỗi người. Vì một lý do gì đó mà tôi không đăng ký đúng ngày mà lại bị tước bỏ quyền đó đi, tôi thấy về mặt nhân tính là chưa ổn.”
Thay vì tìm lời đáp cho những vấn đề trên, thì giới chức lại tìm cách “hoãn binh” với việc kéo dài thời hạn đăng ký.
Nay, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng quyết định theo đuổi phương án sửa đổi luật nhằm kéo dài thời hạn đăng ký thêm năm năm nữa, với hạn mới sẽ kết thúc vào ngày 1/7/2019, theo thông báo của Văn phòng Chính phủ hôm 21/4.
Một loạt các thủ tục pháp lý sẽ cần được thực hiện nhằm luật hóa phương án gia hạn này, với việc Bộ Tư pháp, được ủy quyền từ Thủ tướng, phải trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiến hành điều chỉnh Luật Quốc tịch 2009 trong kỳ họp tới đây.
Câu hỏi đặt ra là sau năm năm nữa, nếu số người đăng ký giữ quốc tịch vẫn ở mức rất khiêm tốn, thì liệu chính phủ có định đề xuất Quốc hội điều chỉnh luật để tiếp tục gia hạn nữa, hay sẽ tìm một giải pháp khác?
Và nếu như một điều luật đã ra đời, tồn tại được năm năm mà không thể hiện tính khả thi, tính thực tiễn, thì liệu có nên tiếp tục gia hạn cho nó hay không?

Phải đi cấp cứu sau khi rời trụ sở công an

23/04/2014 08:02 (GMT + 7)
TT – Đến chiều 22-4, anh Trần Văn Minh (tổ dân phố 2, thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi, Kon Tum) đã được chuyển lên Bệnh viện Quân y 211 (TP Pleiku, Gia Lai) để tiếp tục điều trị trong tình trạng sức khỏe yếu.

Kết quả chẩn đoán của Bệnh viện Quân y cho thấy anh Minh bị chấn thương ngực kín, đa chấn thương phần mềm do bị đánh.
Anh Trần Văn Minh cho biết sáng 21-4, khi anh đang ở nhà thì Công an huyện Ngọc Hồi mời anh lên làm việc về vụ ẩu đả giữa hai nhà xe.
Anh được đưa vào một căn phòng nhỏ, một điều tra viên tên Tuấn trực tiếp đưa tờ giấy cho anh viết lời khai. Anh Minh cho rằng sự việc hôm xảy ra ẩu đả anh có đến hiện trường nhưng khi đó tất cả đã xong xuôi, anh không tham gia đánh nhau với ai nên anh khai trong tờ khai mình không liên quan.
Tuy nhiên, điều tra viên liên tiếp ép anh phải “khai thật”. Hơn một tiếng sau, có một điều tra viên khác đến và cầm trên tay roi điện dọa nạt, yêu cầu anh phải khai nhận đã tham gia ẩu đả.
“Tôi nói là tôi có đến nhưng không có đánh nhau với ai, nhưng hai điều tra viên liên tiếp ép cung, rồi một người cầm roi điện gí thẳng vào cánh tay khiến tôi ngất xỉu. Sau đó, người này còn nhảy qua thúc mạnh vào hông, dùng chân tay đấm đá khiến tôi choáng váng” – anh Minh kể.
Chị Lê Thị Kim Phượng – vợ của anh Minh – cho biết đến khoảng 13g cùng ngày, chị nhận được điện thoại của cán bộ điều tra Công an Ngọc Hồi yêu cầu lên đưa anh Minh về.
Khi lên đến nơi thì thấy anh Minh rã rời, thân thể bầm giập, vừa rời trụ sở công an thì anh Minh ngất lịm, phải cấp tốc đưa đến Bệnh viện huyện Ngọc Hồi cấp cứu. Đến tối thì bệnh viện yêu cầu phải chuyển lên tuyến trên.
Chiều qua, đại tá Lê Văn Minh – trưởng Công an huyện Ngọc Hồi – cho biết công an huyện có nhận được phản ảnh của gia đình anh Minh về việc anh bị đánh trong khi được mời lên làm việc. Công an huyện đã cử hai cán bộ tới bệnh viện thăm hỏi, nói chuyện với gia đình và xác minh thêm thông tin.
“Anh Minh có tiền sử bệnh tụt canxi đường huyết. Tuy nhiên hiện chúng tôi cũng đang yêu cầu hai cán bộ có liên quan tường trình, đơn vị sẽ xác minh có hay không việc đánh anh Minh khi lấy lời khai, nếu có thì chúng tôi sẽ xử lý nghiêm” – ông Minh nói.
THÁI BÁ DŨNG

“Còn quay lại Nha Trang là còn bị đánh”

Sếp an ninh Trần Hoàng Hà
CTV Danlambao“Còn quay lại Nha Trang là còn bị đánh nữa”, đó là nguyên văn tuyên bố đe dọa của một viên an ninh tên Trần Hoàng Hà đối với blogger Nguyễn Hồ Nhật Thành (Paulo Thành Nguyễn) hôm 19/4/2014, tại trụ sở côn an phường Lộc Thọ (TP. Nha Trang).
Ngày 19/4/2014, buổi cà phê Nhân Quyền lần 3 do Mạng Lưới Blogger Việt Nam tổ chức tại Nha Trang đã bị côn an kéo quân phá hoại và đàn áp. 4 blogger tham gia tổ chức sự kiện gồm có Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm Gấu), Phạm Văn Hải (Viet Man), Nguyễn Hồ Nhật Thành (Paulo Thành Nguyễn) và Trịnh Kim Tiến (Trinh Kim Kim) đã bị lực lượng CA đánh đập hết sức dã man và thô bạo.
Thông tin chi tiết về vụ việc đã được Danlambao tường thuật tại bài viết: Nha Trang: CA triệt phá cà-phê Nhân Quyền, đánh người tàn bạo.
 
Cả 4 blogger sau đó bị đưa về giam giữ tại trụ sở CA phường Lộc Thọ, tiếp tục bị an ninh thường phục đánh đập.
Blogger Nguyễn Hồ Nhật Thành (Paulo Thành Nguyễn) bèn lên tiếng: “Nha Trang là thành phố du lịch, tôi nghĩ là văn minh lịch sự lắm. Ai ngờ công an lại côn đồ kiểu này”.
Một viên an ninh thường phục tên Trần Hoàng Hà liền tuyên bố đầy vẻ đe dọa và thách thức: “Còn quay lại Nha Trang là còn bị đánh nữa”.
An ninh Trần Hoàng Hà
Bức ảnh trên được chụp vào năm 2008, khi cán bộ an ninh Trần Hoàng Hà tham gia vụ cưỡng chiếm câu lạc bộ của người khuyết tật tại Vĩnh Hải, Nha Trang.
Vào thời điểm cách đây 6 năm, ông Trần Hoàng Hà đã đeo hàm trung tá an ninh, nhiệm vụ chính là quay phim để cắt ghép, bịa đặt thông tin.
6 năm sau, năm 2014, ông Trần Hoàng Hà nay đã là sếp lớn với hàm đại tá, tiếp tục xuất hiện trong buổi đàn áp cà phê Nhân Quyền với một thái độ rất hống hách và côn đồ.

Sự kiện ngày 19/4 ngày càng làm lộ rõ bộ mặt lừa đảo những kẻ luôn tự xưng là “công an nhân dân, chỉ biết còn đảng còn mình”.

 

30 THÁNG 4, NHỮNG PHỐ TÀU, THẮNG THUA, THUA THẮNG!

Boxitvn

Trần Minh Thảo
Ta cùng lên Đường đi xây lại Việt Nam
(Lời bài hát : “Dựng lại người, dựng lại nhà”- Trịnh công Sơn)
Không phải là năm chẵn, nhưng ngày 30/4 năm nay vẫn là ngày lễ trọng đứng đầu bảng các lễ lạt trong năm. Do đó đã có những bài viết, những phát biểu về 30/4 của “bên thắng cuộc” , “bên thua cuộc”, lề phải, lề trái, không lề. Đáng chú ý là nhân sắp đến ngày 30/4, quan chức ngoại giao và truyền thông chính thống của Việt Nam lại nói về hoà hợp hoà giải.

Rất nhiều sách báo, tiểu luận, ý kiến về ngày 30/4. Thế nhưng gọi ngày 30/4 là ngày gì thì người Việt Nam trong và ngoài nước chưa hề thống nhất dù cả hai đều có những lễ hội kỷ niệm ngày 30/4. (Cũng như vậy, GS Lê xuân Khoa đã từng hỏi: Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến? khi bàn về chiến tranh Việt Nam).

Phía này (Huy Đức đặt tên là “bên thắng cuộc”) có nhiều tên gọi cho ngày 30/4: ngày chiến thắng Mỹ Nguỵ; ngày giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc; ngày chiến thắng của sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc; ngày chiến thắng của chiến lược 2 ngọn cờ: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; ngày chiến thắng của cuộc đấu tranh ai thắng ai giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; ngày chiến thắng của chủ nghĩa quốc tế vô sản – tức là liên minh Việt-Trung-Xô ở tầm thế giới, liên minh Việt-Miên-Lào ở tầm khu vực, v.v.
Phía kia (Huy Đức đặt tên là “bên thua cuộc”) thì gọi ngày 30/4 là ngày quốc hận, ngày đen tối, ngày mất nước (vong quốc), tháng 4 đen…
Gọi là gì thì ngày 30/4 cũng đã gây phấn khích, vui mừng cho nhiều người Việt phía này và lo âu, phẫn uất cho nhiều người Việt phía kia. Thủ tướng Võ văn Kiệt nói triệu người vui, triệu người buồn. (Có ý kiến cần sửa lại: triệu người vui và nhiều triệu người buồn do những gì từ 30/4 mang lại sau gần 40 năm?).
Sau đây là mấy ý kiến trái chiều, cần xem xét về một số cách đặt tên cho ngày 30/4.
1/ Thắng thua, thua thắng
Ngày 30 tháng 4 lâu nay được gọi là ngày chiến thắng của đường lối độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (2 ngọn cờ), là chiến thắng của cuộc đấu tranh ai thắng ai giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Bằng chứng là Mỹ (chủ nghĩa tư bản) thua nên Mỹ phải tìm cách rút quân với hiệp định Paris 1973, Việt Nam cộng hoà sụp đổ năm 1975. (Cũng cần nói thêm là đối phương của VNCH khi ấy vẫn có nguồn tiếp liệu chiến tranh rất đầy đủ).
40 năm sau nhìn lại thấy thế nào? Có thật chủ nghĩa tư bản thua chủ nghĩa xã hội? Miền Nam tư bản thua miền Bắc xã hội chủ nghĩa? Có những lập luận cho là Mỹ thua về quân sự nhưng thắng về kinh tế, miền Nam thua về quân sự nhưng thắng về văn hoá, giáo dục, kinh tế.
Lại có lập luận cho rằng: Mỹ rút vì Mỹ thắng. Lập luận trái chiều này nói Mỹ đưa quân vào miền Nam không phải để đối đầu với cuộc kháng chiến do đảng cộng sản lãnh đạo (thực chất là cuộc khởi nghĩa nông dân khoác áo Mácxit). Cuộc chiến đó là việc nội bộ của người Việt Nam. Đối thủ chính của Mỹ ở Việt Nam là khối cộng sản đang có sự tranh giành quyền lãnh đạo giữa hai nước lớn Liên xô – Trung quốc. Khi người Mỹ, bằng cuộc chiến Việt Nam khoét sâu mâu thuẫn trong khối cộng sản, làm suy kiệt kinh tế, xã hội của các nước lớn cộng sản, làm bộc lộ tử huyệt của phe XHCN thì Mỹ rút. Cuộc chiến Việt Nam giao lại cho người Việt tự giải quyết với nhau, ai thắng ai không ảnh hưởng đến địa vị siêu cường của Mỹ, rộng ra là phe tư bản chủ nghĩa, thế giới tự do. Thế chiến lược người Mỹ cài đặt từ cuộc chiến Việt Nam sau 40 năm vẫn làm cho các nước cộng sản, vốn là cộng sản vẫn còn lâm trận, gỡ chưa ra, có nguy cơ tan vỡ tiếp nếu không chịu cải tổ triệt để.
Đế quốc tư bản chủ nghĩa Hoa kỳ rút khỏi Việt Nam vì đã nắm chắc phần thắng khối cộng sản chủ nghĩa (chỉ với hơn 50.000 tử sĩ và mấy trăm tỉ đô la)? Dẫn chứng cho lập luận này là: sau 30/4/1975, Campuchia cộng sản đánh Việt Nam cộng sản; 4 năm sau, Trung quốc cộng sản đánh Việt Nam cộng sản. Chẳng có chủ nghĩa, tinh thần quốc tế vô sản nào ở đây cả! Năm 1983 Tổng bí thư Leonid Brezhnev của Liên xô hùng hồn tuyên bố: Liên xô đã có những tiền đề của chủ nghĩa cộng sản (làm tuỳ sức, hưởng tuỳ cầu). Vài năm sau Tổng bí thư Gorbachev tuyên bố cải tổ và đến 1991 thì Liên xô sụp đổ (trước đó là sự tan rã của khối xã hội chủ nghĩa). Tư bản Mỹ thua Việt Nam nhưng sau đó khối cộng sản khổng lồ tan tành, ngọn cờ xã hội chủ nghĩa rách nát. Mỹ thua hay Mỹ thắng?
Ở góc nhìn này cũng có thể nói miền Nam tư bản không thua miền Bắc xã hội chủ nghĩa mà là thua cuộc khởi nghĩa nông dân trong cả nước do đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa nông dân này là sự tiếp nối các cuộc khởi nghĩa nông dân từ thời nhà Nguyễn diễn ra trước khi người Pháp chiếm Việt Nam làm thuộc địa. Nét độc đáo của cuộc khởi nghĩa này là có một đảng chính trị lãnh đạo thay vì do một hào trưởng, một giòng họ như các cuộc khởi nghĩa nông dân truyền thống.
Tại sao lại có khởi nghĩa nông dân? Điều kiện nổ ra khởi nghĩa nông dân là quyền lực cai trị ngu hèn, bạc nhược nhưng hung ác, tham lam vô độ, dung túng tay chân, cường hào ác bá chèn ép, ức hiếp, nhũng nhiễu, cướp bóc, giết hại dân nghèo (chủ yếu là nông dân). Tài sản vô giá của nông dân là ruộng đất rơi hết vào tay quan lại, cường hào. Dân nghèo tán gia bại sản, đói rách, tha phương cầu thực, lưu lạc nơi đất khách quê người, bán thân nuôi miệng, con cái nheo nhóc. Mồ mả tổ tiên không người nhang khói lại bị vua quan, côn đồ xúc phạm, huỷ hoại, hài cốt ông cha bị quạ mổ diều tha…
Điều kiện tất thắng của một cuộc khởi nghĩa nông dân là gì? Trong hơn một nghìn năm độc lập tự chủ, Việt Nam có ba cuộc khởi nghĩa nông dân giành thắng lợi vang dội: Khởi nghĩa Lam Sơn (Lê Lợi), khởi nghĩa Tây Sơn (anh em Nguyễn Huệ), khởi nghĩa 1945 (Hồ chí Minh). Điểm giống nhau góp phần cho ba cuộc khởi nghĩa dành được thắng lợi là “chống ngoại xâm”. Một cuộc khởi nghĩa nông dân chống cường quyền áp bức có thêm chính nghĩa chống ngoại xâm thì tất yếu sẽ chiến thắng vì khởi nghĩa nông dân đã biến thành khởi nghĩa toàn dân chống cướp nước và bán nước.
Đặc thù khác của cuộc chiến tranh vừa qua là ở hai bên chiến tuyến, những người cầm súng phần lớn thuộc thành phần nông dân nghèo. Một bên, tầng lớp lãnh đạo tuy có đặc quyền đặc lợi nhưng vẫn còn nghèo, xã hội chưa có đại gia. Một bên thì lãnh đạo, chỉ huy cấp cao là nhà giàu, xã hội có nhiều đại gia. Đó là thế tất bại của một bên: hy sinh bản thân, giết đội quân nhà nghèo như mình để bảo vệ gia tài kếch sù cho các đại gia ư?
Khi đảng, nhà nước thành lập lực lượng cơ động, có ý kiến nói: Có lẽ rút bài học sinh tử trong chiến tranh, đảng, nhà nước Việt Nam đã cho thành lập các đội võ trang nhà giàu (bản thân người cầm súng-cảnh sát- là nhà giàu), trang bị hiện đại, cho phép bắn vào người gây rối chống người thi hành công vụ. Đội vũ trang này chiến đấu cho chính của cải của mình nên sẽ rất hăng hái bắn giết. Ý kiến này phải tìm hiểu sâu mới khẳng định được thật hư thế nào.
2/ Giải phóng, thống nhất
Là cuộc khởi nghĩa nông dân, chiến thắng 30/4/1975 (2 năm sau khi miền Nam không còn lính Mỹ) không giải phóng ai khỏi cái gì cả. Đặc điểm của mỗi cuộc khởi nghĩa nông dân là giành lại ruộng đất (rộng ra là lãnh thổ), chuyển ruộng đất từ tay thế lực cai trị cũ sang tay thế lực cai trị mới, người dân vẫn cứ trắng tay. Đó là sự tước đoạt của cải từ tay tầng lớp cai trị cũ sang tay tầng lớp cai trị mới. Nhân dân, nhất là dân nghèo (giai cấp vô sản) vẫn trắng tay từ chính trị, kinh tế, văn hoá… Có cuộc khởi nghĩa nông dân nào (Nga, Trung quốc, Việt Nam…) khi thành công lại giao lãnh thổ (cụ thể là ruộng đất), của cải, tài sản cho người dân làm chủ? Đất đai là của vua, không phải của dân!
Nhà nước hình thành từ cuộc khởi nghĩa nông dân dù có khoác áo vô sản, xã hội chủ nghĩa, thì vẫn là nhà nước nông dân truyền thống. Nhà nước nông dân truyền thống coi việc chiếm đoạt đất đai, làm chủ lãnh thổ là mục đích. Nó không có mục đích xây dựng một nhà nước pháp quyền, nhà nước dân chủ. Trong khi một đặc điểm quan trọng của nhà nước thống nhất là nhà nước pháp quyền: mọi người dân, mọi miền đất nước đều bị điều tiết theo luật pháp thống nhất. Nhà nước cai trị theo nghị quyết của đảng chính trị, theo quan điểm lập trường giai cấp mà thực chất là theo lợi ích, ý thích chủ quan của người lãnh đạo, của nhà cai trị thì đó là nước sứ quân, nhà nước lãnh chúa, vùng miền. Từng địa phương bẻ queo luật cho phù hợp với lợi ích của nhà cai trị địa phương, của nhóm lợi ích địa phương nhân danh quan điểm, đường lối, nghị quyết của đảng quang vinh, của liên minh công nông. Luật pháp không thực thi thống nhất thì không thể có nhà nước thống nhất.
Là một quốc gia đa dân tộc, đa văn hoá nhưng nhà nước nông dân sau 30/4 lại thực hiện chính sách dân tộc như là một quốc gia độc chủng có chung một ông tổ, gây ra sự kỳ thị, hoài nghi ngấm ngầm, mãnh liệt có nguy cơ xảy ra xung đột sắc tộc.
Do đó khó thể nói 30/4 là ngày giải phóng, thống nhất đất nước (dù vĩ tuyến 17 không còn là giới tuyến chia hai đất nước).
3/ Kết thúc và khởi đầu
Đảng nói: ngày 30/4 là ngày kết thúc của cuộc cách mạng vô sản do lãnh tụ Hồ chí Minh vĩ đại và đảng cộng sản Việt Nam quang vinh lãnh đạo, cũng là ngày khởi đầu kỷ nguyên cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội phồn vinh.
Lại có nhận định nói: ngày 30 tháng 4/1975 là ngày kết thúc của cuộc khởi nghĩa nông dân do đảng cộng sản lãnh đạo cũng là ngày khởi phát của một cuộc khởi nghĩa nông dân khác mà nguyên nhân có sẵn trong chế độ, trong hệ thống chính trị, xã hội.
Các nhà nước hình thành từ thắng lợi của các cuộc khởi nghĩa nông dân như Nga, Trung quốc, Cuba thì sao? Nhà nước mật vụ Nga của ông Putin phát triển dựa vào tài nguyên khoáng sản mà khi còn là Liên xô được cho là “một Thượng Vôn-ta, nay là Burkina Farso (một quốc gia nông nghiệp chậm phát triển của châu Phi) có bom nguyên tử”, nhà nước cộng hoà nhân dân của Tập Cận Bình hay nhà nước Cuba của anh em ông Fidel Castro cũng có khối thuốc súng chờ nổ trong lòng chế độ.
Khởi nghĩa nông dân là nguy cơ hay đã thành hiện thực ở Việt Nam và cả ở nước đàn anh Trung quốc? Các cuộc khởi nghĩa nông dân ở Việt Nam có thêm tính chính nghĩa, tăng thêm sức mạnh chính trị do các phố Tàu, các nhượng địa Tàu mọc lên khắp nơi, Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cho là mất nước từng phần (Thực ra là mất nước đa phần vì bộ máy cai trị bị ngoại bang lũng đoạn, ý thức hệ, mô hình nhà nước, mô hình tổ chức bộ máy quản lý xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, hoạt động kinh tế, chế độ sở hữu, hình thái chiếm hữu của cải xã hội… đã hoàn toàn giống Trung quốc rồi).
Việt Nam đang bị đô hộ bởi thứ chủ nghĩa thực dân cũ (di dân, khai thác tài nguyên) lẫn thực dân mới (bộ máy cai trị là người bản địa phục tùng lợi ích của chính quốc)?
Đấy là nhân tố tất thắng của khởi nghĩa nông dân. Nói 30/4 là ngày kết thúc cuộc khởi nghĩa nông dân này và cũng là ngày khởi đầu của cuộc khởi nghĩa nông dân khác có đúng không?
Có cách nào không để xảy ra khởi nghĩa nông dân?
4/ Hoà giải hoà hợp dân tộc?
Ở miền Nam, sau hiệp định Paris 1973, công cuộc hoà hợp hoà giải dân tộc gắn với một tổ chức chính trị có tên là lực lượng thứ ba. Theo lý, lực lượng thứ ba là thành phần trung gian hoà giải hai phe đối kháng là Việt Nam cộng hoà và Việt Nam dân chủ cộng hoà cùng Mặt trận giải phóng miền Nam. Nếu công cuộc hoà giải của lực lượng thứ ba thành công thì chẳng có ngày 30 tháng 4 nào cả. (Có ý kiến nói: công cuộc hoà giải không thành vì phe thứ ba cũng cùng phe với một trong hai phe kia. Phê phán đó chưa đúng hẳn. Có người của phe này, phe kia cài vào lực lượng thứ ba nhưng cũng rất thật là nhiều người Việt tham gia lực lượng thứ ba vì lòng tin chân thành về một viễn cảnh hoà bình, không còn chiến tranh tương tàn, anh em đồng bào cả nước cùng chung sức xây dựng lại ngôi nhà Việt Nam đổ nát, tan hoang, xây dựng lại con người Việt Nam biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau).
Từ sau 30/4/1975, thỉnh thoảng lại có người hô hào xoá bỏ hận thù, hoà giải, hoà hợp dân tộc. Thành phần này có cả người của đảng, nhà nước Việt Nam và một số nhà hoạt động dân chủ trong ngoài nước. Những nhà hoạt động dân chủ hô hào hoà giải hoà hợp lại bị một số người Việt kể cả người Việt lưu vong gán cho cái nhãn cộng sản nằm vùng, cò mồi, tay sai… ngược lại số người Việt này bị gán cho cái nhãn chống cộng cực đoan vì không tán thành hoà hợp hoà giải.
Những phát biểu, bài viết của quan chức, báo chí Việt Nam về hoà hợp hoà giải nhân 30/4 năm nay cũng bị ‘ném đá’. Trong cách nói của đảng và nhà nước VN về thế lực thù địch thì đảng và nhà nước VN vẫn coi người Việt lưu vong là kẻ địch. Hoà hợp hoà giải được hiểu là người Việt lưu vong không nên chống phá đảng và nhà nước nữa mà nên hợp tác cùng đảng nhà nước, cống hiến tài năng trí tuệ, của cải cho công cuộc xây dựng đất nước. Có cách nói rất ‘hoà hợp hoà giải’ là: đảng nhà nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng vòng tay đón Việt kiều về nước xây dựng tổ quốc.
Dĩ nhiên người Việt lưu vong vẫn không hưởng ứng chủ trương hoà hợp hoà giải để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy họ vẫn cứ là ‘thế lực thù địch phá hoại cách mạng Việt Nam’.
Khi một số người được cho là nhà hoạt động dân chủ nói về hoà hợp hoà giải, xoá bỏ hận thù trong ngoài thì cũng bị đả kích, bị cho là tay sai của đảng làm nhiệm vụ chiêu hồi, phân hoá người Việt ở nước ngoài. Sự đả kích này cũng có lý nếu nhà dân chủ nào đó chỉ hô hào xoá bỏ hận thù trong ngoài, coi hoà hợp hoà giải chỉ là việc xoá bỏ hận thù giữa người chiến thắng và người thua cuộc lưu vong. Việc hoà giải trong ngoài này cũng cần thiết nhưng không có tính quyết định, không có tác dụng gì lớn trong việc giữ ổn định để phát triển. Cháy trong nhà lại phun nước ra bên ngoài mà bị chê trách thì có oan không?
Dụng ý thực của cách nói, cách hiểu về hoà hợp hoà giải nói ở trên chỉ nhằm cáo buộc, đối phó với phong trào dân chủ ở trong nước và để gán tội cho người Việt lưu vong: nhận tiền của thế lực thù địch nước ngoài để chống phá cách mạng, nội bộ Việt Nam không có mâu thuẫn. Hoà hợp hoà giải là không gửi tiền về nước tài trợ cho các hoạt động chống phá cách mạng nữa. Không chịu hoà hợp hoà giải là còn hận thù, là thế lực thù địch, là chuyển lửa về đốt nhà.
Nhưng nếu người Việt lưu vong chịu xoá bỏ hận thù, hoà hợp hoà giải, tuyên bố không chống phá cách mạng Việt Nam nữa thì thật ra là lại làm khó cho quyền lực cai trị trong nước. Khi đó thế lực thù địch tài trợ cho phong trào dân chủ, phong trào chống Bắc xâm trong nước là ai? Mỹ hay Pháp? Đó là vấn đề chính trị, ngoại giao rất phức tạp, vì khi đó Pháp hay Mỹ bị coi kẻ thù của cách mạng Việt Nam. Hô hào xoá bỏ hận thù, hoà hợp hoà giải nhưng phải duy trì một thế lực thù địch để trấn áp phong trào đấu tranh trong nước đã làm cho nhiều người Việt không tin hô hào đó có thực tâm.
Giả định, chủ trương hoà hợp hoà giải quốc cộng thành công thì có thủ tiêu được các phong trào đấu tranh dân chủ, yêu nước ở quốc nội?
Theo thiển ý, nếu không nhìn xa trông rộng, không thực lòng, cứ tham lam vô độ thì đảng cộng sản Việt Nam sẽ phải đối mặt với ‘thù địch’ ngày càng tăng và bạo loạn, khởi nghĩa ngày càng nhiều ở tầm quốc gia, không lẻ tẻ, cục bộ, ô hợp (đám cháy nhỏ) như hiện nay, vì mâu thuẫn đối kháng giữa nhà nước và nhân dân có sẵn trong chế độ chính trị, trong hệ thống cai trị ngày càng phát triển gay gắt, do có thêm yếu tố “bán nước buôn dân”, chứ không phải do người Việt lưu vong không chịu xoá bỏ hận thù, không chịu hoà hợp hoà giải. (Chỉ riêng ở Hà Tĩnh, hai vụ ‘gây rối’ mới đây, một ở Cửa Lò, một ở Bắc Sơn đã hội đủ yếu tố “khởi nghĩa nông dân chống ngoại xâm” rồi. Hơi lạ là đảng, nhà nước chưa cho biết thế lực thù địch nào đưa tiền cho hai vụ ‘gây rối’ này làm cho dân liều chết gây thương tích cho một chủ tịch huyện và 4 công an bị bắt trói, 11 công an phải nhập viện).
Mâu thuẫn đối kháng mất còn chủ yếu là giữa quyền lực cai trị và nhân dân trong nước. Mâu thuẫn cai trị- bị trị khi nào cũng có, nước nào cũng có, nhưng do thế lực thù địch chống phá cách mạng, gửi tiền tài trợ, xúi dục nên mâu thuẫn bình thường trở thành mâu thuẫn đối kháng? Nói như vậy nghe cũng có lý, nhưng nhìn vào quyết tâm của đảng, chính quyền Hà Tĩnh: khởi tố vụ án, bắt giam nhiều người ‘gây rối’, tiếp tục dự án lấy đất của dân, và có thể liệt kê vào đây nhiều vụ khác nữa như vụ đảng quyết tâm bỏ tù anh em Đoàn Văn Vươn chẳng hạn thì ai là thủ phạm đào sâu mâu thuẫn đối kháng nhà nước-nhân dân?
Như vậy, hoà hợp hoà giải chủ yếu, cấp bách là hoà hợp hoà giải giữa quyền lực cai trị và người dân trong nước: thủ tiêu mâu thuẫn đối kháng, xoá bỏ các yếu tố “bạo loạn” nằm vùng trong hệ thống chính trị, xã hội. Lửa đang cháy trong nhà thì phải phun nước vào trong chứ.
Có thể do không đủ năng lực, trí tuệ, thiếu dũng khí, tầm nhìn ngắn, tham mà hèn, lại phục tùng lợi ích của ngoại bang, quyền lực cai trị đã bỏ qua một cơ hội rất tốt để hoà hợp hoà giải: sửa đổi hiến pháp. Vì cam kết phục tùng chủ nghĩa bành trướng Đại Hán mà quyền lực cai trị vẫn ‘ấn nút’ kiên định chủ nghĩa, vẫn toàn diện tuyệt đối, vẫn quốc doanh chủ đạo, vẫn sở hữu toàn dân… Tức là quyền lực cai trị vẫn kiên định tước đoạt mọi quyền và lợi ích cơ bản của người dân.
Bước đầu tiên, quyết định, rất hoà bình của hoà hợp hoà giải là sửa đổi hiến pháp đã bị bỏ qua. Hô hào hoà hợp hoà giải trong ngoài nhân 30/4 phải chăng là trò lừa đảo? Không đủ ý chí chính trị để thủ tiêu các nguyên nhân gốc rễ đẻ ra bạo loạn, khởi nghĩa nông dân? Có Trung quốc vĩ đại hậu thuẫn thì sá gì các cuộc khởi nghĩa. Trung quốc vĩ đại cũng đang lâm trận với với các cuộc khởi nghĩa nông dân thì Việt Nam phải làm gì để tự cứu?
Nếu quyền lực cai trị thấy được nguy cơ và thời cơ hoà hợp hoà giải thì nhân 30/4 nên cùng với nhân dân đồng ca với Trịnh công sơn: Ta cùng lên đường Đi xây lại Việt Nam… Đi xây lại tự do. Không cùng đồng ca với nhân dân thì phải chấp nhận đối đầu với nhân dân trong cuộc khởi nghĩa toàn dân chống ngoại xâm giống với cuộc khởi nghĩa trước đây do đảng lãnh đạo.
Nếu còn ý chí chính trị vì một Việt Nam độc lập, thống nhất, tự chủ, phú cường, văn minh, dân chủ thì nên cấp tốc tu chính hiến pháp lần nữa (theo đề xướng của Kiến nghị 72) nhằm thủ tiêu mâu thuẫn đối kháng, mất còn giữa nhà nước và nhân dân, thoát ly sự khống chế của bành trướng đại Hán để ngày 30 tháng 4 không bị đặt thêm cho cái tên là ngày mở đầu cho quá trình Bắc thuộc lần thứ hai, và vĩnh viễn không còn ngày 30/4 nào nữa.
Do nóng lòng vì hiện tình đất nước, bài viết có những từ ngữ không được lịch sự, xin cáo lỗi.
T.M.T.
Tác giả gửi BVN

Nobel hòa bình, khoan dung, yêu thương và cảm thông

Boxitvn

Phạm Chí Dũng
Buổi thăm người được đề cử giải Nobel hòa bình không ngờ lại hiện ra một tinh thần khoan hòa không kém: Khoan dung, Yêu thương, Cảm thông.
Nguyễn Đan Quế – vị bác sĩ lội ngược dòng đến bệnh viện Chợ Rẫy vào ngày 30/4/1975 thay cho câu chuyện lên máy bay di tản, là người nêu ra tinh thần trên. Ông thực sự bức xúc về câu hỏi vì sao đã mấy chục năm trôi qua, những tù nhân lương tâm như Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Chí Thiện, Trần Khải Thanh Thủy… vẫn bị một số dư luận người Việt ở hải ngoại dành cho cái nhìn không mấy thiện cảm. Cũng từ nhiều năm qua, những săm soi và nghi vấn về động cơ, xét lại về nhân thân, thậm chí quy kết về “người của cộng sản” vẫn còn dai dẳng.


Hòa thượng Thích Không Tánh – người trụ trì ngôi chùa duy nhất còn chơ vơ trên bãi đất trống Thủ Thiêm đã bị giải tỏa trắng để xây “chùm đô thị hiện đại của Đông Nam Á” – cũng thật đồng cảm với bác sĩ Nguyễn Đan Quế. Vị chân tu đã từng ba lần chịu cảnh tù giam chế độ với thời gian lên đến 15 năm này cảm thấy khó hiểu khi ngay cả Cù Huy Hà Vũ, một trong những nhân vật đấu tranh nhiệt thành để loại trừ dự án boxit từ Trung Quốc và đã phải chịu án tù, song chỉ mới vài ngày được trả tự do đã bị một số ai đó thẳng tay phán xét.
“Họ đang tranh đấu cho con đường dân chủ, thế nhưng họ lại cho rằng ra tù rồi phải ở lại trong nước mới là người đấu tranh, còn đi Mỹ như luật gia Cù Huy Hà Vũ là chạy trốn. Chỉ mới những bước đi đầu tiên của dân chủ mà đã suy nghĩ có phần cực đoan như thế, thử hỏi làm sao xây dựng được một nền dân chủ đúng nghĩa?” – ngôi nhà nhỏ bé của bác sĩ Nguyễn Đan Quế chợt xao động bởi lời trần thuật ruột rà thẳng tuột này.
Nguyễn Đan Quế và Thích Không Tánh – cả hai ông đều đã trở thành những người thụ án tù chính trị kỷ lục ở Việt Nam. Cả hai người cũng đều nhìn thấy một vận hội mới đang len lén đến với đất nước kể từ năm 2013 đến giờ. “Phải bỏ qua tất cả những cái nhỏ nhặt để đồng lòng hướng về con đường chung” – Thầy Không Tánh xác quyết.
Còn với bác sĩ Nguyễn Đan Quế, sự bỏ qua đó chính là tinh thần vừa khoan dung, bày tỏ lòng yêu thương và ngay trước mắt là sự cảm thông cần có của những người chưa từng ở tù đối với những nạn nhân vừa thoát khỏi chốn lao tù.
Mọi người Việt Nam đến là đến với đường lối mới Tự Do – Dân Chủ, chứ không phải đến với một cá nhân hay một phe đảng nào. Tại mỗi địa bàn bất cứ cá nhân nào có khả năng nhất và tích cực nhất, thì người đó phải hướng dẫn các anh chị em khác cùng hoạt động để biến đường lối mới thành hiện thực. Và quần chúng sẽ đánh giá ai là người xứng đáng lãnh đạo họ ở cấp địa phương cũng như trên toàn quốc” – bác sĩ Nguyễn Đan Quế bộc bạch.
Từng một số lần được đề cử giải Nobel, Nguyễn Đan Quế là một trong số ít tiếng nói trong nước có ảnh hưởng đến quốc tế. Vào lần này, ông được chính giới Hoa Kỳ, Canada, một số tổ chức phi chính phủ trên thế giới và một bộ phận cộng đồng người Việt ở hải ngoại tiếp tục tri ân bằng danh hiệu ứng viên Nobel hòa bình.
Song đặc biệt hơn, năm nay bác Sĩ Nguyễn Đan Quế còn được Ủy Ban Nhân Quyền các Hàn Lâm Viện Hoa Kỳ (Committee on Human Rights of the National Academies) và Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam đề cử nhận Giải Nhân Quyền Gwangju. Đây là một giải nhân quyền cao quý của Đại Hàn, do Quỹ Tưởng Niệm biến cố 18 tháng Năm thành lập, để tưởng niệm các nạn nhân, phần đông là sinh viên, bị nhà độc tài Chun Doo-hwan ra lệnh sát hại trong cuộc biểu tình đòi tự do dân chủ năm 1980. Vào năm 2004, một nhân vật nổi tiếng quốc tế đã được tặng giải này – nữ lãnh tụ đảng đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi.
Riêng với bác sĩ Nguyễn Đan Quế, ông tâm tình: mọi giải thưởng đều cao quý, nhưng dân tộc mới là trên hết.
Ngôi nhà nhỏ ấm cúng của ông vụt rộn tiếng cười. Ngày hôm nay 22/4/2014, những người đồng cảnh và đồng cảm trong Hội Cựu tù nhân lương tâm đến thăm ông. Bó hoa lan tím nồng nàn tình thủy chung được trao cho bác sĩ Nguyễn Đan Quế lại đến từ tay chị Dương Thị Tân – người bạn đời của một tù nhân lương tâm nổi bật vẫn còn chìm lặng giữa bốn bức tường đen đúa không biết đến bao giờ: Điếu Cày Nguyễn Văn Hải.
clip_image002
Vợ chồng bác sĩ Nguyễn Đan Quế và các thành viên Hội Cựu tù nhân lương tâm Việt Nam: Hòa thượng Thích Không Tánh, chị Dương Thị Tân, nhà báo Phạm Chí Dũng
Khoan dung, Yêu thương, Cảm thông – bất cứ ai khi được tự do và hòa mình vào ánh sáng vinh quang, xin hãy nhớ đến những người thân còn lại.
Nhớ để hành động.
P.C.D.
Tác giả gửi BVN
clip_image004

‘Trung Quốc chỉ là voi ăn cỏ’

Tàu sân bay Liêu Ninh là niềm tự hào của hải quân Trung Quốc

“Không ai phải sợ chúng tôi cả vì Trung Quốc chỉ là người khổng lồ ăn cỏ.”

Đó là câu trả lời của ông Từ Quang Dư, một viên tướng về hưu của Trung Quốc, trước câu hỏi về sức mạnh quân sự ngày càng tăng của nước này.

Tướng Từ năm nay đã 80 tuổi và đã phục vụ trong Giải phóng Quân từ năm 16 tuổi.
Các nhà báo nước ngoài không được cho vào các doanh trại quân đội nên chúng tôi gặp nhau ở một quán cà phê ở Bắc Kinh để nói chuyện về chuyến công du châu Á của Tổng thống Mỹ Barack Obama.

‘Voi không ăn thỏ’

“Dĩ nhiên voi thì không thể biến thành thỏ được nữa như cái cách thỏ biến thành voi,” ông nói, “Nhưng voi thì không ăn thỏ. Nguy cơ duy nhất là nó có thể giẫm lên thỏ mà thôi.”
Đây là thông điệp của Tướng Từ đối với Philippines trong bối cảnh Bắc Kinh và Manila có tranh chấp với một quần đảo trên Biển Đông.
Nhưng đối với ông Từ, điều đáng ngại hơn là tranh chấp với Nhật Bản trên Biển Hoa Đông.

Nhưng voi thì không ăn thỏ. Nguy cơ duy nhất là nó có thể giẫm lên thỏ mà thôi.

Từ Quang Dư, một viên tướng về hưu của Trung Quốc

Theo quan điểm của ông, Nhật nên xem xét thực tế về dân số hai nước.
“Trung Quốc có dân đông gấp 10 lần Nhật Bản nên Nhật Bản cần ghĩ rằng Trung Quốc mạnh hơn 10 lần,” ông nói.
Bắc Kinh không nằm trong nghị trình chuyến công du này của ông Obama.
Tuy nhiên trong lúc ông bàn bạc về các chủ đề kinh tế và an ninh với các đồng minh ở Nhật Bản, Nam Hàn và Philippines,Trung Quốc sẽ giống như con voi trong phòng đang dõi theo chặt chẽ mọi diễn biến.
Chính quyền của Tổng thống Obama đã cam kết cái mà họ gọi là ‘xoay trục sang châu Á’ mà trong nghĩa an ninh có nghĩa là thay đổi cán cân lực lượng của Mỹ.
Thay vì phân bổ lực lượng cân bằng 50:50 giữa Thái Bình Dương và Đại Tây Dương thì mục tiêu sẽ là 40:60 nghiêng về phía châu Á.

Tướng Từ chỉ trích việc Mỹ tăng cường quân ở châu Á

“Họ có cảm thấy thích thú không nếu chúng tôi đưa 60% lực lượng của mình và đi qua đi lại trước cửa nhà họ?” ông Từ đặt vấn đề.
“Chúng tôi muốn có sự tương xứng vì chúng tôi không muốn bị ức hiếp. Chúng tôi sẽ cần thêm 30 năm nữa.”
Điều trớ trêu là kể từ khi Chủ tịch Mao Trạch Đông gặp Tổng thống Richard Nixon hồi năm 1972, sự thống trị của quân đội Mỹ ở Á châu đã tạo điều kiện cho Trung Quốc trỗi dậy giúp nước này có được an ninh để trở nên thịnh vượng và mạnh mẽ.

Trung Quốc đã bừng tỉnh?

Đó là lúc trước. Còn giờ đây, với ngân sách quốc phòng ở mức hai con số và giọng điệu mạnh mẽ từ Chủ tịch Tập Cận Bình trở xuống, Trung Quốc đang cho thế giới thấy họ muốn thay đổi luật lệ và vẽ một bản đồ mới.

Ông Ôn nói ông muốn cháu nội ông nhìn thấy đất nước hùng cường

Nói như Tướng Từ: “Cũng như Napoleon đã nói: khi Trung Quốc bừng tỉnh họ sẽ làm rung chuyển thế giới. Và người Mỹ không thể nào chấp nhận được. Chúng tôi đã bừng tỉnh và chúng tôi sẽ khôi phục sức mạnh của mình.”
Một ông lão 80 khác đi ủng lội nước và đội mũ lưỡi trai ngâm mình dưới nước biển và đẩy một mô hình hàng không mẫu hạm dài 12 mét ra Biển Hoa Đông.
“Tôi làm cái này cho cháu nội tôi,” ông Ôn Dư Chuẩn nói trong khi ông đang kéo một mô hình máy bay chiến đấu lên trên boong mô hình hàng không mẫu hạm.
‘Thanh Đảo là căn cứ của hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc nhưng chúng tôi lại không thể đến gần để xem được,” ông nói.

Một chiếc hàng không mẫu hạm thì chưa đủ. Mười chiếc cũng chưa đủ. Hãy xem chuyện gì đang xảy ra: Nhật Bản đang bắt nạt Trung Quốc. Họ xem Trung Quốc không đủ mạnh trong khi chúng ta thì không thể làm gì.

Ôn Dư Chuẩn, 80 tuổi, một người dân Trung Quốc

Ở tuổi 80, ông Ôn nói ông không còn sống lâu bao nhiêu để thấy Trung Quốc trở thành một cường quốc trên biển, nhưng ông hy vọng rằng cháu nội ông sẽ thấy được.
“Một chiếc hàng không mẫu hạm thì chưa đủ. Mười chiếc cũng chưa đủ. Hãy xem chuyện gì đang xảy ra: Nhật Bản đang bắt nạt Trung Quốc. Họ xem Trung Quốc không đủ mạnh trong khi chúng ta thì không thể làm gì,” ông nói.
Ông Ôn, cũng như ông Từ, sẽ chăm chú lắng nghe ông Obama nói gì ở châu Á để xem có dấu hiệu nào cho thấy Mỹ muốn khích lệ tuyên bố chủ quyền của các nước láng giềng với Trung Quốc.
Cùng với chính phủ và nhiều người dân Trung Quốc khác, những ông lão này đang mơ đến một ngày Trung Quốc sẽ đủ sức mạnh để đảm bảo những đòi hỏi chủ quyền của mình trên biển.

VIỆT NAM: 39 NĂM ĐẢNG TRỊ – MỘT QUỐC GIA, HAI QUỐC DÂN


VIỆT NAM: 39 NĂM ĐẢNG TRỊ – MỘT QUỐC GIA, HAI QUỐC DÂN

Trinhanmedia

Phan Văn Song

Viết cho tháng Tư đen

Loay hoay tháng Tư lại trở về.

 

Đó chỉ là lịch, đó chỉ là một cái mốc của thời gian. Nhưng đối với đa số người Việt chúng ta, nhứt là những người gốc miền Nam Việt Nam, hay đã từng cư ngụ tại miền Nam, tháng Tư là tháng của những kỷ niệm đầy tang tóc, của một quá khứ hãi hùng, của một cái vết thương không thành sẹo được. Miền Nam Việt Nam và dân chúng đã thua cuộc, và đã lãnh cái giá rất đắt của một sự trả thù cho sự lựa chọn một cách sống của mình.

 

Đây là một cuộc nội chiến, cũng như tất cả những cuộc nội chiến, huynh đệ tương tàn chỉ tranh chấp trong một cái nhìn, một quan niệm về cuộc sống.

 

1/ Cuộc chiến giữa hai quan niệm chánh trị:

 

Phải, đây là một cuộc đụng độ không đội trời chung của của hai nhơn sanh quan, của hai luồng tư tưởng. Một bên là cuộc chiến đấu của phe những con tim, của những đạo đức, của những đức tin vào tâm linh nhơn bản, tình tự dân tộc, tình tự gia đình, chống bọn phe của những người bị một lý thuyết mỵ dân, lường gạt, hứa một thiên đàng không bao giờ có, hứa những của cải, những ruộng vườn không bao giờ cho, hoàn toàn Cộng sản hóa, những người đang tâm nhận làm thầy những ông râu xồm ngoại bang với những lý thuyết vô thần, vô đạo, mơ tạo một thế giới lấy người thay máy móc, lấy con người làm công cụ sản xuất, lấy nhu cầu xác thịt làm cứu cánh phục vụ cho một tổ chức cầm quyền quốc tế.

 

Đảng Cộng sản được tổ chức như một tôn giáo, để thay thế tôn giáo, thay đạo đức tâm linh bằng những bổn phận ngụy danh như cách mạng, nhơn dân, thay thần quyền bằng đảng quyền. Những Các Mác, những Lê Nin dùng những lời sấm giảng như những Ma-thi-ơ, Giăng, Mác hay Luca…Xì Ta lin thì khác chi Phao lồ…

 

Đảng Cộng sản quốc tế tổ chức rập khuôn theo tổ chức Giáo hội Thiên Chúa Giáo La mã, với Điện Cẩm Linh tương tự Điện Vatican. Khi có những tư tưởng Mao ít hay Titô ít bất đồng với Cẩm Linh thì như trong Giáo hội Thiên Chúa Giáo cũng có những dòng tư tưởng bất đồng tương tự. Tư tưởng con người, với sức tiến hóa, với sức phát triển của khoa học, mọi lý thuyết đều phải biết biến cải để hòa hợp với thời đại. Phật Giáo Tây Tạng cũng nhiều phái, Mũ Vàng, Mũ Đỏ,… Phật Giáo cũng phải chia Tiểu Thừa Đại Thừa, Thiên Chúa Giáo cũng nào Chánh Thống, nào Copte, nào Roma, cũng Tin lành …

 

Nhưng với Cộng sản tất cả phải về một mối. Cộng sản không chấp nhận những tư tưởng khác: Đệ tam đã tiêu diệt các bạn đồng hành đệ tứ chỉ vì bất đồng quan điểm, với Cộng sản không thể có đối thoại, không thể có tranh chấp, tranh cải dân chủ …Chẳng những ở Nga, ở Tàu mà còn cả ở Việt Nam. Hồ Chí Minh và đệ tử nhơn danh chủ nghĩa Cộng sản Đệ tam đã đưa đất nước vào 30 năm chinh chiến chỉ để áp dụng chủ nghĩa Cộng sản thôi ! Chống Pháp dành Độc Lập chỉ là một cái cớ, Những bánh vẽ như Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc chỉ là những từ ngữ trống không, vô nghĩa.

 

69 năm sau (1945-2014):

 

Độc Lập ?

Việt Nam đang bị Hán Hóa, Hoàng Sa Trường Sa hai quần đảo cách bờ dưới 200 hải lý không còn thuộc đất nước nữa, chưa kể trên đất liền từng hàng ngàn mẫu đất rừng nay đã bán đứt cho Tàu trồng cây hay khai thác mõ. Từng mẫu đất trồng cây kỹ nghệ đẵ giao cho Tàu để đào xới khai thác mõ Bô Xít hay khoánh sản.

 

Tự Do ?

mỗi mỗi cử chỉ hành động ngoại giao đều phải qua Tàu hỏi ý kiến, ấy là chánh phủ . Còn người dân ? chỉ trích bị đi tù, biểu tình đòi Tàu trả đảo bị đàn áp đánh đập, hàng chục tờ báo không có một tờ báo tư…

 

Hạnh Phúc ?

ai sống hạnh phúc ? thành phần cán bộ, đảng viên… thế giới của kẻ cầm quyền, của một nomenklatura.  Sài gòn Hà nội nhan nhản em bé bán vé số, chị bán hàng rong, cảnh những hàng người chuyên nghề cửu vạn, cu li sắp hàng buổi sáng chờ người thuê vẫn còn như thời Pháp thuộc.

 

Chiến tranh giải phóng ? giải phóng gì ? giải phóng ai ? 

 

Khi Vua Bảo Đại đã hai lần lấy lại Độc lập, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục đánh, không chấp nhận chánh phủ Bảo Đại;  lần đầu năm 45 khi Nhựt đánh Pháp giao trả Việt Nam lại, và lần thứ hai năm 1949 khi Pháp trả Độc lập vĩnh viễn cho Việt Nam. Cuộc chiến tranh do Hô Chí Minh xúi dục là một cuộc xâm chiếm, chiến tranh xâm lược nầy đã nướng hai thế hệ thanh niên thanh nữ việt nam, cuộc chiến Bắc Nam đã buộc thanh niên nam nữ miền Bắc vượt Trường Sơn chết cho xâm chiếm, buộc  thanh niên nam nữ  miền Nam chết cho tự vệ; và chẳng chốc biến hai miền thành hai nước khác nhau, với hai nguồn tư tưởng khác nhau, với hai nền văn hóa khác nhau :

 

Một bên phóng khoáng, dân tộc, nhơn bản đặt con người làm trọng tâm, đặt đất nước và lịch sử đất nước làm căn bản, lấy tâm linh tôn giáo làm đạo đức, lấy tình thương lân bang láng giềng, anh em gia đình làm lễ nghĩa, ra đường biết thưa vâng, về nhà biết thưa gởi, khi nhận biết cám ơn, khi đưa biết xin phép.

 

Còn một bên, không tình không nghĩa, tất cả quan hệ chỉ là tranh chấp, lấy lường gạt làm nền tảng, lấy cướp đoạt  làm khí cụ, bé xin, lớn ban, thấp cổ xưng con, lớn mình xưng ông, ra đường chen lấn, về nhà nói trổng nói ngang, chữ thưa không còn, chữ cám ơn không có, quan trên xài của công, cấp dưới xài của cắp. Ra đường thấy hàng đẹp thì chôm, vào nhà thấy hàng ngon thì đớp.

 

Trong hai mươi năm mặc dù  chiến tranh,mặc dù bị quấy phá, mặc dù nội bị công ngoại bị kích, nhưng với chế độ Cộng hòa của miền Nam, nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa vẫn phát triển mạnh, dân trí người công dân Việt Nam Cộng hòa vẫn đàng hoàng, dân tình người Việt miền Nam vẫn tử tế…Ngày ba mươi tháng tư 1975 đến, trên toàn đất nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tuy từ nay đã hết chiến tranh, tuy từ nay người dân hết chạy nạn, nhưng khi kiểm điểm lại, ba mươi  chín năm sau, nền kinh tế vãn èo uộc, rối loạn, cuộc sống người dân Việt chụp giựt, quan trên bằng giả, cấp dưới bằng chôm, ra đường hàng dổm, vào nhà hàng dơ…Biên giới mất đất, bị Trung Cộng lấn dần, Biển Đông mất đảo, Hoàng Sa, Trường Sa nay thuộc Huyên Tam Sa do Trung Cộng quản nhiệm. Núi cao do Tàu quản, khai thác Bô Xít, tàn phá môi trường, biển sâu do Tàu chiếm, cấm ngư phủ ta đánh cá xa bờ…Công trường xây dựng giao cả cho Tàu, công ty thương mãi giao luôn cho Chệt, còn dân Việt ta, can phận nghèo hèn, bán buôn quan gánh, thuốc lá bán lẻ, thuốc tây bán viên, ăn uống vĩa hè, sống sanh đường hẻm…

 

Tại sao phải vấn nạn như vậy ?:

 

Cũng chỉ lựa sai con đường. Đem một học thuyết phá hoại của ngoại bang nhập cảng vào nhà. Một học thuyết bắt đầu bằng một cuộc sang đoạt cướp của, xóa bỏ cương thường, vứt bỏ đạo lý, dẹp xóa tâm linh. Năm 1917, Đảng Cộng sản Nga đã cướp chánh quyền, sát hại cả gia đình Nga Hoàng Nicolas Đệ Nhị, tàn sát toàn bộ giòng họ Romanov, các giai cấp quý tộc, địa chủ, doanh thương Nga để lập một nhà cầm quyền độc tài chuyên chính vô sản. Lénine, và tiếp theo Staline đã phải giết, tàn sát, bắt giam, đày đọa hàng chục ngàn thường dân Nga vô tội, giết và bỏ tù các nhà trí thức, các kẻ viết văn. Những trại giam, những goulag mọc đầy toàn nước Nga. Dưới danh nghĩa Liên bang Sô Viết, Nga đã Nga hóa cả chục dân tộc khác nhau, cùng chủng tộc Slave như Belarus, hay khác chủng tộc, như Ukraine hay Georgie, cùng gia đình ngôn ngữ hay khác gia đình ngôn ngữ cũng mặc, thậm chí cả các quốc gia và dân tộc hồi giáo nói ngôn ngữ Thổ nhỉ Kỳ nằm dọc con đường Tơ lụa xưa kia, từ Kazhastan đến Kirghistan đến tận biên giới Tàu và Thái Bình Dương.

 

Và Hồ Chí Minh và Việt Nam ? Cũng vậy, Công sản Quốc tế Komintern sai Hồ Chí Minh cùng các đồ đệ tiếp nhiệm vụ nhuộm đỏ thế giới, không ngại ngùng làm tai sai, phản dân tộc, đi tiếp con đường chinh phục thế giới, đem màu Sô Viết nhuộm toàn Đông dương thuộc Pháp. Điển hình không chối cải được là trong một thời gian dài, trên bức tường các đại sảnh đường của nhà cầm quyền đỏ Hà nội, đệ tử và lâu la Đảng Cộng sản Đông dương và Việt Nam đều họp hành sanh hoạt chánh trí dưới hình ảnh của ba ông râu xồm cộng sản ngoại bang tây phương Cạc Mác Lê Nin và Xì ta lin! Khi đã chấp nhận và đưa vào văn hóa Việt Nam một bài thơ khóc Xì ta lin của tay tổ tuyên truyền trưởng ban Văn hóa Việt Nam Cộng sản Tố Hữu là đã mặc nhiên xóa bỏ văn hóa gia đình Việt Nam rồi ! Khi đặt tình thương một tên lãnh tụ một Đảng ngoại bang trên tình thương cha mẹ trên tình thương con mình (thương cha mẹ con thương một, thương ông thương mười !) thì xin miễn bàn, và hết ý kiến ! Ngày nay, với những vướng víu, sai trái như vậy, Tố Hữu vẫn có tên đường. Vua Gia Long có công thống nhứt dựng nước mở mang bờ cỏi về phía Nam không có tên đường. Ôi tháng tư lần thứ 39, đất nước Việt Nam đang tiếp tục đi vào ngõ cụt !

 

4/ Apocalypse-Hồ Chí Minh :

 

Hôm qua, đài Truyền hình 2 Pháp cho chiếu đoạn 3 của tập phim Apocalyse kỷ niệm 100 Thế chiến thứ Nhứt. Thật kinh hoàng, cuộc chiến 1914-1918 được đặt tên là Cuộc Đại Chiến La Grande Guerre. Được đặt tên như vậy là lần đầu tiên trong lịch sử âu châu và thế giới có một cuộc chiến với nhiều quốc gia tham gia như vậy.

 

Ngoài hai đồng minh Đức-Phổ/Áo-Hung phía đông chống hai cường quốc Pháp Anh, hai đế quốc phía tây âu châu với sự góp mặt của các thuộc địa, Anh với Ấn độ, Úc, Tân tây Lan, Nam Phi, Canada …, Pháp với các thuộc địa Bắc Phi, Tây Phi hay Đông dương, lại thêm có Nga, Ý, Thổ nhỉ Kỳ, Nhựt bổn. Mặt trận trải dài hàng ngày cây số, thoạt đầu lưu động, sau đó, đào hào lập chiến lủy ngó nhau và hằng ngày nướng mỗi bên hằng trăm binh sĩ (Pháp trung bình 900 mỗi ngày, khi có các  lần xung phong át xô).

 

Lần đầu tiên, đại bác được sử dụng tối đa, đại bác Grande Bertha 400 ly bắn trên trăm dặm, không chiến cũng được biết tới với những anh hùng nổi tiếng như Hầu tước Đỏ-Le Baron Rouge, với 80 chiến công  Hầu tước Đại Úy Phi công Manfred Von Richthofen với chiếc khu trục ba cánh Fokker sơn mầu đỏ và hai khẩu đại liên. Không chiến thời ấy, các phi công như những hiệp sỉ thời xưa, một mình một ngựa, xông vào địch vừa lái vừa nhào lộn tránh đạn vừa bắn để hạ địch thủ. Ngày 21 tháng tư năm 1918, Hầu tước Đỏ vì quá ham rượt địch bay quá thấp nên lãnh đạn do các binh sĩ Úc bắn từ phía dưới. Anh đáp được máy bay, chỉ nói được một chữ « Kaput-xong đời rồi ! » với anh trung sĩ y tá người Úc Ted Smout trước khi tắt thở. Quân sĩ lực lượng Úc châu rất anh hùng trân trọng làm lễ quân táng tay hiệp sĩ phi công người Phổ nầy. Sáu Đại úy phi công mang quan tài đi trước giàn lính chào, một loạt súng bắn chỉ thiên tiển chưn người anh hùng quá cố. Mộ của vị phi công Hầu tước Đỏ được ai đó ghi dòng chữ « : À notre ennemi vaillant et digne –Tặng người địch thủ can trường và xứng đáng. ».

 

Kể chuyện người, lại nghĩ đến ta :

 

Càng khen lòng hào hiệp người phương tây, càng khóc cho lòng ty tiện tiểu nhơn của người Cộng sản phương đông mình. Hãy so sánh chuyện vừa kể trên, với cảnh giựt sập Tượng Thương tiếc của Nghĩa trang Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Hay những cảnh hôi của tài sản toàn dân Nam Việt sau ngày thắng trận của quân đội cộng sản Bắc Việt ; hãy nhớ lại những cảnh phe Bắc Việt thắng cuộc chẳng những làm nhục các địch thủ Nam Việt thua cuộc, mà còn đày đọa gia đình vợ con đồng bào miền Nam, mà còn trả thù cả đến những địch thủ đã đền xong nợ nước, chả biết đạo lý, chả biết thế nào là nghĩa tử nghĩa tận : từ những nghĩa trang, đến những góa phụ những con côi dòng dỏi gia đình phe miền Nam gọi với một tôi danh mạ lỵ là « ngụy » cũng bị mang tôi danh ấy như một bảng án lý lịch, bị đuổi nhà, tịch thu tài sản, bị mất chổ làm, bị không được đi học , bị cấm nầy, cấm nọ…

 

Và đến cả ngày nay, sau 39 năm,  hận thù vẫn còn đó, tội danh ấy vẫn còn, cả miền Nam vẫn là đất Ngụy bị chiếm, con em dân ngụy vẫn là một thứ phó dân.

 

Nước Việt Nam được gọi là thống nhứt, là một, với một quốc gia lấy tên là Công hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nhưng trong nước vẫn là hai thế giới của hai quốc dân, hai loại người Việt :

 

1/ thế giới của phe nhà cầm quyền, đảng viên hay thân thuộc đảng viên Đảng Cộng sản, cùng với công dân là những người gốc miền Bắc gốc gia đình có công với cuộc chiến xâm lược, loại ấy là công dân, công nhơn viên cao cấp, quân nhơn, công an, hành chánh phủ huyện.. và

 

2/ thế giới của thứ dân, phó dân, của dân Ngụy của nước Ngụy Nam Việt đất đang bị chiếm..  của anh thợ, của chị bán hàng rong, của anh đạp xích lô, của em bé bán thuốc lá mía ghim…

 

…………….

Chúng ta đừng bao giờ  quên tuyên truyền Cộng sản Bắc Việt lúc thời chiến tranh xâm lược là đi vào Nam đánh Mỹ Ngụy., ..Chứ có bao giờ Bắc Việt gọi chúng ta người miền Nam là người Việt đâu ? Trong lúc ấy dân chúng miền Nam gọi dân quân Bắc Việt là Việt Cộng (người Việt Cộng sản). Chúng ta lúc nào cũng vẫn nhận họ là người Việt, nhưng họ không nhận chúng ta là người Việt !

Ôi tháng tư đen tối ! Đánh dấu từ đấy những  điển hình của tình trạng pháp lý Việt Nam. Apocalyse-Hồ Chí Minh ! Khủng khiếp ! có thua chi apocalypse Hitler, có thua chi apocalypse Đại Thế Chiến 1.

Hai cái kia cho cả nhơn loại, còn Hồ Chí Minh là đại họa chỉ giáng vào đầu dân tộc Việt Nam.

 

Khúc Khải Huyền  khủng khiếp nầy chỉ chấp dứt khi vấn nạn Cộng sản Việt Nam không còn nữa !

 

Apocalypse Đại Thế chiến chỉ vỏn vẹn trên dưới 4 năm 1914-1918 ; Apocalypse Hitler đại họa Đen chỉ từ 1938 đến 1945 ; Apocalypse Đỏ đại nạn Cộng sản Quốc tế gần 100 năm rồi (1917 – 2014) ngày nay vẫn chưa dứt, với cái đuôi Poutin và họa Đại Nga, với cái đuôi Trung Cộng và họa Đại Hán, với cái đuôi Triều tiên và cái họa do gia đình họ Kim.

 

Và riêng về Việt Nam ta Đại Nạn Cộng sản do Hồ Chí Minh mang đến, ngày nay vẫn chưa dứt ! Và ngày mai ? Với Trung Cộng hung hãn, với Việt Cộng yếu hèn, họa mất nước chắc cũng gần kề …

Phan Văn Song

Trí Nhân Media

Tình tiết mới trước phiên phúc thẩm ông Dương Chí Dũng

Ông Dương Chí Dũng tại phiên xử ở Tòa án nhân dân Hà Nội ngày 16 tháng 12 năm 2013.
Nghe tường trình

Ngày hôm nay phiên tòa phúc thẩm xử vụ án Dương Chí Dũng sẽ được mở ra tại Hà Nội, luật sự Trần Đình Triển người bảo vệ quyền lợi của Dương Chí Dũng đã sang tận Singapore để lấy lời khai của ông Goh Hoon Seow, giám đốc điều hành công ty AP nơi có liên quan đến số tiền 1 triệu 660 ngàn đô trong hợp đồng mua ụ nổi với giá 83 triệu đô la trước đây. 

Xác định chứng cứ từ Singapore

Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn với luật sư Trần Đình Triển trước tiên ông cho biết:

LS Trần Đình Triển:Việc tôi sang Singapore tôi đánh giá rất cao phương pháp làm việc thu thập chứng cứ và xác định chứng cứ từ trình tự tố tụng của Singapore. Tôi đánh giá rất cao sự phối hợp của luật sư phía Singapore rất chân tình và sự ngay thẳng của ông Goh. Trong văn bản đó ông Goh nói rằng việc liên hệ với Nga do phía Việt Nam và ông Trần Hải Sơn. Tại sao có việc chuyển tài sản về công ty Phú Hà thì ông Goh cho biết tài sản công ty Phú Hà tại Việt Nam và tên công ty Phú Hà là do phía Nga đưa cho ông và yêu cầu ông chuyển số tiền đó và trên hóa đơn ghi là phí vận chuyển hải quan bảo hiểm về cho công ty Phú Hà tại tài khoản của ngân hàng UOB có chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh.

Mặc Lâm:Thưa luật sư, sự có mặt của ông Goh rất quan trọng đối với vụ án nó có thể chứng minh trước đây các cáo buộc chống lại ông Dương Chí Dũng đều không đáng tin cậy, tại sao luật sư không mời ông làm chứng trước tòa mà phải dùng biện pháp công chứng trên tờ khai rất phiền phức?

Để mời ông Goh về VN ra trước tòa theo quy định pháp luật của VN phải do cơ quan tiến hành tố tụng, phải là tòa án và phải phối hợp với cơ quan thẩm quyền của Singapore.
-LS Trần Đình Triển

LS Trần Đình Triển:Để mời ông Goh về Việt Nam ra trước tòa theo quy định pháp luật của Việt Nam phải do cơ quan tiến hành tố tụng, phải là tòa án và phải phối hợp với cơ quan thẩm quyền của Singapore cũng như sự chấp thuận của ông Goh nữa thì ông Goh mới có thể về làm chứng. Nhưng tôi cho rằng việc làm đó rất khó bởi vì bản thân họ rất bận công việc, hai nữa tôi làm văn bản này thì cũng đã đủ chứng cứ để được chấp nhận rồi.

Thứ nhất là lời tuyên thệ của ông Goh trước pháp luật. Trích dẫn điều luật tuyên thệ của Singapore về người làm chứng. Văn bản cũng được công chứng tại Singapore thị thực lời trình bảy của ông Goh. Ngoài ra viện Luật thuộc Pháp viện Tối cao của Singapore cũng chứng thực trên đó. Trên cơ sở hai văn bản giá trị của hai cơ quan công chứng đã được Bộ ngoại giao ký xác định và tôi đã đưa văn bản cho sứ quán Việt Nam tại Singapore hợp pháp hóa về lãnh sự.
Như vậy đây là một chứng cứ thu thập hợp pháp có giá trị sử dụng trước pháp luật. Tôi cho rằng về phía Việt Nam đây là lần đầu tiên mà một luật sư ra nước ngoài để căn cứ luật pháp quốc tế, luật pháp các nước, luật pháp Việt Nam, và quyền của luật sư để chứng minh hành vi và vượt qua khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Có thể có tình tiết giảm nhẹ?

Mặc Lâm:Thưa luật sư như chúng ta cũng biết về lời khai của ông Dương Chí Dũng tố cáo ông Phạm Quý Ngọ cũng rất quan trọng, tuy nhiên do ông Ngọ đã chết nên luật sư nghĩ là trong phiên phúc thẩm có thể đem những tình tiết ấy ra kêu gọi tòa giảm án cho ông Dũng được hay không?

LS Trần Đình Triển:Tôi cho rằng lời khai của ông Dũng là một vấn đề và bây giờ thì ông Ngọ đã mất đi thì cũng cần phải được làm rõ và tôi tin rằng đảng nhà nước và các cơ quan pháp luật Việt Nam cũng đang tiếp tục làm rõ. Bây giờ nó có vấn đề là phải chứng minh. Giả sử nếu như có mật báo đó từ phía ông Ngọ và vài ba người khác thì cái tội tổ chức người người trốn ra nước ngoài không phải là ông Dương Tự Trọng, người đứng đầu là người phải được giảm án.

Lời khai của ông Dũng là một vấn đề và bây giờ thì ông Ngọ đã mất đi thì cũng cần phải được làm rõ và tôi tin rằng đảng nhà nước và các cơ quan pháp luật VN cũng đang tiếp tục làm rõ.
-LS Trần Đình Triển

Cái thứ hai liên quan đến việc nhận hối lộ để rồi lảng tránh đi thì trong luật hình sự Việt Nam về phòng chống tham nhũng có quy định nếu người đưa hối lộ mà tố cáo trước các cơ quan có thẩm quyền trước khi khởi tố vụ án thì có thể được xem xét. Trong trường họp này nếu làm rõ thì khẳng định đây là một thành tích của ông Dũng và sẽ được coi là một tình tiết giảm nhẹ cho ông Dương Chí Dũng.

Mặc Lâm:Thưa luật sư cách đây vài giờ chúng tôi thấy trên VietnamNet có đưa tin là ông Dương Chí Dung đã ký giấy nhận tội, việc này phải giải thích thế nào thưa ông?

LS Trần Đình Triển:Tôi không hiểu báo VietnamNet đưa thông tin đó như thế nào vì chiều hôm qua khi làm việc với VietnamNet tôi đã nói rất rõ việc này. Bởi vì trước khi tôi về tôi đã thẩm tra qua luật sự Trần Đại Thắng vào chiều Thứ Sáu đã vào gặp ông Dũng, đã nói rõ nội dung không phải như vậy.

Tức là báo có giật cái title là ông Dũng xin nhận lỗi và xin khắc phục hậu quả gửi các cơ quan thẩm quyền. Tuy nhiên trong nội dung thì ông nói rõ ông là người đứng đầu cơ quan là chủ tịch của Tổng công ty Vinalines và cũng là bí thư đảng ủy dẫn đẩn việc mua ụ nổi như vậy, chi phí lớn lên gây thiệt hại cho nhà nước thì đấy là có tội của ông, ông nhận cái lỗi đó.

Việc thứ hai ông đề nghị đảng và nhà nước và nhân dân làm rõ, minh oan cho ông vì ông không liên quan đến số tiền 1 triệu 660 ngàn đô la. Ông xác nhận không hề nhận số tiền 10 tỷ bạc đó nên mong rằng được minh oan. Tuy nhiên với vai trò người đứng đầu cơ quan thì ông cũng có trách nhiệm về mặt hành chính trong công tác quản lý cán bộ để cho cán bộ tham ô. Nội dung thứ ba là trong những sai sót của ông ông sẵn sàng có tài sản gì thì bán để giảm mức thiệt hại tối đa cho nhà nước.

Mặc Lâm:Xin cám ơn luật sư Trần Đình Triển.

Mặc Lâm,
biên tập viên RFA
Theo RFA

Lấy phiếu tín nhiệm, sửa hướng nào? – Từ Trung Nam Hải đến Ba Đình


Chính trị – Xã hội

Chiến công của công an, bộ đội VN ở Quảng Ninh: bạn vàng Trung Quốc sẽ tưởng thưởng bằng … tiền giả? -(Chepsuviet)

Chết bởi dân Trung Quốc – như anh hùng, chết bởi quân Trung Quốc – như tội phạm  -(Chepsuviet)  -Trường hợp thứ nhất được thể hiện ngay trong 2 bài báo dưới đây.
Trường hợp thứ hai là với bao chiến sĩ quân đội Việt Nam đã hy sinh trong những cuộc chiến đấu chống quân Trung Cộng xâm lược biên giới, biển đảo trong 40 năm qua. Họ đã chết âm thầm, chết mất xác, chết mà người thân không biết vì sao chết, người dân không được đặt lên mộ tấm bia vinh danh, thậm chí còn bị những kẻ được coi như đồng bào đục phá bia mộ, …

Chỉ có điều nói cho rõ thêm, là “chết bởi dân Trung Quốc” nhưng phải là thứ dân không yêu quý chế độ, từ loại bỏ nước ra đi cho tới loại chống đối. Với cái chết này, thì sẽ được vinh danh mau mắn, trang trọng đến lạ thường.
Chắc chẳng bao giờ mà sự hy sinh của người chiến sĩ Việt Nam lại phải bị quyết định giá trị bởi ngoại bang theo kiểu như vậy.
Liệu có phải nó đang minh chứng cho những bước đi tích cực để trở thành thuộc quốc?

115 nữ sinh Nigeria và khoảng 200 học sinh Hàn Quốc vẫn mất tích, hơn 100 trẻ em Việt Nam tử vong vì sởi  -(Chepsuviet)

Chuyện “Vũ đi, Ly về”  -(Hiệu Minh)   —   AI MỚI LÀ CÔN ĐỒ?  -(CTNLT)

 Công an Vấp lò Đồng Tháp ngồi xổm lên pháp luật.  -(XuanVN)

Cần minh bạch: Vấn đề “nhận tiền nước ngoài” và dự án Những tiếng nói ngầm  -Nhã Thuyên – (Junglepoetry)
 Những câu hỏi đảng Cộng Sản Việt Nam phải trả lời trước lịch sử dân tộc:  –(Diễn Đàn Sinh Viên Việt Nam FB)


Theo đầy tớ định hướng  -Hoàng đức Doanh -(BVB)   >>>  Lại phải nói về ‘VĂN HÓA’ TỪ CHỨC

LỐI QUAN  -(Butnguyentu)  —  Mau quên  -(Nguyễn vạn Phú)   >>>   Kiến tạo và điều hành

MỘT TRÒ HỀ! BÍ THƯ TỈNH ỦY MÀ NHẢY LÊN TẾ ĐÀN NAM GIAO LÀ RẤT BỐ LÁO -Trấn đức Anh Sơn -(Tễu)   >>>   FESTIVAL HUẾ: XA LẠ, THA HÓA, LAI CĂNG, HỖN TẠP VÀ MẤT PHƯƠNG HƯỚNG   >>>     TS. VŨ ĐỨC KHIỂN ĐỀ NGHỊ XỬ LÝ BỘ TRƯỞNG VĂN HÓA HOÀNG TUẤN ANH  >>>    Nguyễn Trung Thuần: VÀI NÉT VỀ NGUỒN GỐC CỦA KINH DỊCH   >>>   Trần Quang Đức: KHẢO VỀ LUẬT XỬ TỘI TRỘM CẮP QUA CÁC TRIỀU ĐẠI
  >>>    ‘LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM” LẠI NHẤP NHỔM NHƯ TRÔN CON CHÍCH CHÒE
 Hoàng Nhất Phương – Đi Và Về   -(DL)   — Indonesia, biển Đông và các đường 11/10/9 vạch-(DL)
 Giáp Văn Dương – Khai tâm – Khai trí-(DL)   —  Trà Giang – Cám ơn trung ương -(DL)
 Thuốc Đắng – Chúc văn Giỗ tổ Hùng Vương của Đại văn xào Vũ Khiêu -(DL)
 Biên bản phiên tòa phúc thẩm vụ án Lê Quốc Quân-(DL)

Phùng Cung – Truyện và Thơ – Dạ Ký   -(DL)

Sau Cộng Sản, sẽ có tự do dân chủ? (Phần 2) -Từ Thức (Danlambao)   >>>     Sau Cộng Sản, sẽ có tự do dân chủ  -(Bài 1)
10 điều giống nhau “ngẫu nhiên” của bộ ba “lãnh tụ con” Đồng-Chinh-Giáp    -(DLB)
Đôi dép tháng tư   -(DLB)   —  Cuộc chiến không bom đạn    -(DLB
Tiến sĩ Phạm Chí Dũng buộc nhà nước CSVN phải xin lỗi: Chuyện nhỏ như con thỏ?!    -(DLB
Vấn nạn về Y Tế của Việt Nam hiện nay   -(DLB)   —Lá chắn lẫm liệt?  -(DLB)
Từ Trung Nam Hải đến Ba Đình   -(DLB)

Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế được đề cử nhận giải Nobel Hoà Bình và Giải Gwangju năm 2014  -(DTD)


 Nghi án hối lộ ODA: VKSND Tối cao đề nghị Nhật Bản cung cấp thông tin  -(NLĐ)

Gia hạn thêm 5 năm để Việt kiều đăng ký giữ quốc tịch (TBKTSG )

Miền Nam lo thiếu điện  -(Thiennhien)   >>>   Quỹ tài nguyên thất thoát vì tham nhũng    >>>  Tính đường đắp đập, ngăn sông    >>>  Quảng Trị: Dân mất đất vì nạn hút cát sạn    >>>  Cần Thơ: Hàng trăm dân bức bối vì bãi rác ‘khổng lồ’ ô nhiễm nặng  >>>    Thái Lan tịch thu 22kg ngà voi được khai nhận sẽ chuyển về Việt Nam   >>>   Rừng phòng hộ ở Tú Nang – Sơn La đang kiệt quệ 
 Bà Tiến :  Dịch sởi bùng phát do dân… không tiêm vắc xin (?!)  -(TP)   >>>   Đề nghị Bộ trưởng Bộ Y tế lắng nghe nhân dân
 Hà Nội chi 75 tỷ, sởi ‘cơ bản được khống chế’  -(VNN)  —  Phụ huynh dồn dập đưa trẻ đi tiêm phòng sởi miễn phí   -(VnEx)   >>>  95% trẻ tử vong do sởi tập trung ở viện Nhi    >>>    Đừng để thêm những cái chết vô tội   —   Chùm ca sởi thương tâm trước giờ Bộ trưởng vào thăm  -(DT)

Nhiều gia đình sơ tán con khỏi thủ đô vì… “dịch sởi”  -(Dân trí)

 Sao lại xây nhà tình thương trên đất của tôi? audio  -(TT)   —  Bị tù oan, doanh nhân Thái Bình đòi bồi thường 1 triệu USD  -(VEF)
 Chủ tịch QH: Cấm thế này thì cấm hết à?  -(VNN) – Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng muốn luật Doanh nghiệp sửa đổi ghi rõ ngành nghề kinh doanh nào bị cấm và có điều kiện để bảo đảm quyền tự do kinh doanh của người dân.   >> Luật Doanh nghiệp không nói DNNN thì nói ở đâu?
 Nhảm nhí thì chấp nhận, tử tế lại không  -(TVN)

Bài 48: “Thủ quỹ Cục thi hành án lấy 5 tỷ của gia đình 194 phố Huế trả ngân hàng”  -(Dân trí)   >>>   Quận Đống Đa kết luận cả một tòa cao ốc được xây bằng giấy phép giả

Hà Nội cho “đại gia” Lã Vọng thuê đất rẻ mạt như thế nào?  -(GDVN)   >>>   Hầm đường bộ Hà Nội – những công trình… vô tích sự

Người Nhật Bản nghĩ gì về “những người Việt Nam xấu xí”?  -(GDVN)

Philippines tố Trung Quốc theo dõi quân sự ở Biển Đông    -(DV)   —   Trung Quốc nghe trộm, chặn thông tin quân sự Philippines ở Biển Đông?  -(GDVN)   >>>   “Nhật dễ dàng xuất khẩu vũ khí cho Việt Nam, Philippines, Indonesia”

Đề nghị công khai lãnh đạo địa phương “phớt lờ” ý kiến Thủ tướng  -(VnEc)   >>>   Thường vụ Quốc hội lưu ý hai bộ trưởng Công Thương, Y tế

https://scontent-b-lax.xx.fbcdn.net/hphotos-prn1/t1.0-9/p235x350/10298897_10152300936458808_7253547915359994209_n.jpgNguyễn lân Thắng FB :   Chúc mừng anh Anthony Le, người thứ năm sau bác Tô Oanh đã phá được vòng vây và đang trên đường sang Mỹ tham dự các hoạt động nhân ngày Tự do báo chí thế giới 

Nguyễn lân Thắng và Anthony Le  ===>>>

Đọc báo Khánh Hòa mà ngỡ như báo Công an Nhân dân hay Công an TP.  -(Tin không lề FB)

Một câu chuyện kể nhân 30-4 -(SongNews)

 CUỘC GIẢI CỨU TÁO BẠO 105 NGƯỜI VIỆT CỦA JOHN RIORDON VÀO CUỐI THÁNG 4 NĂM 1975.  -(SongNews)

Gốc rễ lối ứng xử hiện nay của Nga  -(Boxitvn)
Đánh mất quyền tài phán là đánh mất chủ quyền quốc gia  -(Boxitvn)
 
 

Vài dân biểu muốn điều tra ông Gorbachev về sự tan vỡ của Sô Viết  – Gabriela Baczynska- (DCVOnline)

Vương Quế Phương – Từ kỉ niệm về biểu tình xứ Mặt Trời Mọc, ngẫm về những người dân oan Việt Nam  -(DL)   —   Yamano – Nỗi khổ người khi là Việt!   -(DL)

Rose Tang – Thân xác của một cuộc Cách mạng-(DL)   —  Hy Văn – Dưới bóng ông trùm   -(DL)

Quang Trung – Dịch sởi: Sự vô trách nhiệm của ngành y tế hay sự bất lực của hệ thống chính trị?   -(DL)

Khi tâm thế yếu hèn  – (Trần kinh Nghị)

Việt Nam có thể mua vũ khí của Nhật?  -(RFA)   —  Vì sao chính quyền ‘sợ’ xã hội dân sự?   -(BBC)

‘Bỏ qua đau thương xây dựng đất nước’  -(BBC)  – TS Nguyễn Nhã nói người Việt cần bỏ qua nỗi đau của ngày 30/4 để xây dựng đất nước hùng cường.

‘Cà phê nhân quyền sẽ kiện CA Nha Trang’ -(BBC)

Giới học thuật phản đối vụ thu hồi bằng thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan  -(RFI)

WHO: Khó dự đoán bao giờ chấm dứt dịch sởi ở VN  -(RFA)   >>>  Bộ y tế: số người bệnh sởi có dấu hiệu giảm

Nữ sinh viên bán thân để tồn tại  -(RFA)   >>>  Tình tiết mới trước phiên phúc thẩm ông Dương Chí Dũng

Những cái chết ở Bắc Phong Sinh  -(RFA) >>>   RENEW và Dự án khắc phục hậu quả chiến tranh ở Quảng Trị

Nhớ lại ngày 30 tháng Tư  -(RFA)

 Thách thức của một nền báo chí tự do?  -(Kami – RFA)

 Bệnh sởi, đường cong và những chiếc lưỡi không xương  -(J.B Nguyễn hữu Vinh -RFA)

 Thư ngỏ gửi bà Loretta Sanchez  -(Nguyễn lân Thắng -RFA)

Kinh tế

FDI vào bất động sản: Cuộc chơi của kẻ mạnh  -(NCĐT)   >>>   Đầu tư ra nước ngoài: Đừng đùa với rủi ro môi trường

Cao su thất sủng  -(NCĐT) – Giá cao su thế giới đã giảm 60-70% kể từ tháng 3.2011, khiến doanh nghiệp ngành này lao đao.   >>>   Xuất khẩu gạo sang Trung Quốc: Số lượng lớn, rủi ro cao   >>>  Cá tra bị ngộp

Du lịch 30-4 và 1-5: Nghỉ lễ dài ngày, khách vẫn đìu hiu  -(PLTP)   —  Phát triển nhà ở xã hội còn nhiều khó khăn  -(PT)

BQL Khu Kinh tế Nhơn Hội: Bộ Tài chính nói chưa đúng về thuế  -(TBKTSG)   >>>   Không nhiều ưu đãi cho dự án lọc dầu Nhơn Hội    —  Bác đề xuất ưu đãi cho siêu dự án lọc hóa dầu 27 tỷ USD  -(TP)

 TPHCM: Trên 70% nợ xấu có khả năng mất vốn  -(TBKTSG)   >>>   Loạn phí và người thu phí 

Tuần này chứng khoán giảm mạnh nhất kể từ 2012  -(TBKTSG)   >>>    Tạm trữ gạo: Nhà nước thiệt, nông dân cũng không được lợi   >>>   Ai đang gây náo loạn thị trường cà phê?   >>>    Đổi mới thể chế để thu hút đầu tư cho Campuchia-Lào-Việt Nam

Điềm lạ đầu năm của nhà đất  -(VEF)   >>>  Đại gia Đặng Văn Thành đã… ớn ngân hàng

Triển vọng kinh doanh tại Nga ngày càng u ám  -(VnEx)

Hàng Việt Nam chất lượng cao cũng khó tiêu thụ  -(TN)  >>>   20 ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Trà Vinh mạnh tay với người Trung Quốc lao động “chui”  -(SM)   —  Lúa đặc sản ùn ứ, nông dân lao đao  -(DV)

Đại gia BĐS Israel đầu tư khu nghỉ dưỡng cao cấp cho người Việt  -(GDVN)   >>>    Hành trình “trốn” 95,2 tỷ đồng tiền thuế của Keangnam Vina

Khám xét nhà nhiều lãnh đạo Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt  –(Gafin)   >>>   Giới đầu tư tháo chạy khỏi vàng trước dấu hiệu kinh tế Mỹ tăng tốc    >>>    Giá vàng SJC giảm 130.000 đồng/lượng chiều bán ra   >>>     CPI Hà Nội tháng 4 tăng 0,12%    >>>   Cơn hoảng loạn của chứng khoán Việt đã bắt nguồn từ đâu?

Thế giới

Philippines mua 8 tàu tấn công đổ bộ  – (NLĐO)

Trung Quốc từ chối gặp Nhật Bản bên lề hội nghị hải quân  – (NLĐO)  —  Trung Quốc và chiến lược “biên giới mềm, quyền lực mềm” (Kỳ 2)  -(PT)

Thủ tướng Nhật : Cần phải nhắc Trung Quốc phát triển hòa bình!  -(PT)   —   Nhật lại chọc giận Trung, Hàn  -(VNN)   —  Nổ mỏ than ở Trung Quốc, 13 người tử vong  -(TP)  —   Trung Quốc tịch thu tàu Nhật để cấn nợ hồi… Thế chiến thứ 2  -(TN)

Nhật Bản lập căn cứ ở Yonaguni sẽ tạo uy hiếp rất lớn với Trung Quốc  -(GDVN)

Chạy đua “săn” tiến sĩ audio  -(TT)  — Festival Huế: nên bớt diễn văn, tăng quảng bá  -(TT)  

Văn hóa – Giáo dục – Khoa học -Xã hội – Môi trường

 Điều xe cuốc đến san lấp mặt ruộng "bỗng dưng nhô cao"

Điều xe cuốc đến san lấp mặt ruộng “bỗng dưng nhô cao”  -(TT)  –Hình trên

Xe tải chở hơn 70 tấn gạo lật đè bẹp xe khách  -(NLĐ)   —   Đình chỉ 7 đăng kiểm viên ở Thanh Hóa  -(NLĐ)   >>>  Dùng roi điện cướp táo tợn 147.000 USD, cả nhóm xộ khám

Đâm gãy xương sườn bạn rồi kêu “ngủ đi sáng tính”!  – (NLĐO)

Một cảnh sát cơ động bị vợ đâm chết vì nghi cặp bồ  -(TP)    >>>  Phú Thọ: Gã trai 26 tuổi hiếp dâm bà lão 62   >>>  Khởi tố kẻ cầm dao rượt chém công an, “đại náo” Ngã Tư Sở

Vào chùa bắt cóc trẻ sơ sinh   -(TT) – Chiều 21-4, nguồn tin từ Chùa Bửu Trì, Q. Ninh Kiều, TP.Cần Thơ xác nhận một trẻ sơ sinh mà nơi này đang nuôi đã bị một người lạ mặt đột nhập vào bắt cóc mang đi vào trưa cùng ngày.

Dương Chí Dũng viết đơn nhận tội và xin khắc phục hậu quả  -(VNN)   >>>  Lời khai mới có giúp Dương Chí Dũng thoát án tử?   >>>   Vợ cựu TGĐ Vinalines kêu oan cho chồng    —   Vợ Dương Chí Dũng, Mai Văn Phúc lấy tiền ở đâu để khắc phục hậu quả?  -(DV)

Đặc nhiệm đá văng xe hai tên cướp trên đại lộ  -(VnEx)

Xe tải vừa chạy vừa bốc cháy dữ dội trên quốc lộ  -(DV)   >>>  Khánh Hòa: Khởi tố bảo vệ dâm ô hai học sinh lớp 1, lớp 2    >>>   ‘Đội lốt’ cơ sở sản xuất gạch, sơ chế vàng trái phép giữa Thủ đô 

Từ Trung Nam Hải đến Ba Đình

David Thiên Ngọc (Danlambao) – Bản chất CSTQ như tôi đã nói là chúng “Làm trước nói sau”, mọi chủ trương chính sách trong đối nội, đối ngoại hay chuyện nhân quyền xã hội, luôn luôn bao trùm một màn sương bí mật. Nhiều quả mù được tung ra khiến mọi người đều mất phương hướng không biết đâu mà lần, như “Độc cô cầu bại” dùng vô chiêu để thắng hữu chiêu.

Ngay chủ trương bài trừ tham nhũng của nhà họ Tập, là thanh trừng không biệt đãi một ai mà diệt trừ “Từ ruồi đến hổ”. Một mặt các nhân vật tai to mặt lớn, từ cựu UVTVBCT Chu Vĩnh Khang đến các vây cánh của ông ta từ trước đến nay và những nhân vật cộm cán khác ngoài bè nhóm thế lực đầy uy quyền này cũng đã và đang bị sờ gáy. Riêng “hổ chúa” Chu Vĩnh Khang thì có nhiều nguồn tin được tung ra nhưng chưa có kiểm chứng độc lập. Nào là đang bị giam cầm ở Thiên Tân, bất hợp tác với cơ quan điều tra và đã có hành vi tự vẫn bằng thuốc độc nhưng được lực lượng canh giữ phát hiện và cứu sống. Rồi nào là đang bị giam giữ một nơi bí mật cùng với người con trai, rồi nào là đang bị quản thúc tại gia v.v… Tất cả là hư chiêu chưa biết đâu là sự thật khi chưa có thông báo chính thức từ Trung Nam Hải. Vấn đề họ Chu như hiện nay là chưa có tiền lệ đối với hàng ngũ UVBCT đảng CSTQ, tuy là luật bất thành văn, qua đó các vị trong BCT cho dù đã về hưu cũng được miễn trừ truy cứu với mọi hình thức chỉ ngoại trừ yếu tố phản đảng, phản Quốc mà thôi.
Song song với chủ trương bài trừ tham nhũng để cứu nguy cho đảng và chế độ đang trên bờ vực suy vong, nếu để cho đám sâu bọ hoành hành, đục khoét nguyên khí Quốc Gia thì chế độ sẽ cáo chung trong một ngày không xa. Đảng CSVN cũng đang chới với trên bờ vực này. Thì ngược lại đảng và nhà nước CSTQ cũng đã và đang trừng phạt các nhân vật hưởng ứng lời kêu gọi của họ Tập khi mới bước lên đỉnh quyền lực là kêu gọi mọi công dân tham gia tố cáo tham nhũng???
Trong phiên xử ngày 18/4/2014 tòa án Bắc Kinh đã tuyên phạt từ 2 đến 3 năm rưỡi tù giam đối với 4 thành viên của tổ chức “Công dân mới” do luật gia Hứa chí Vĩnh thành lập hơn 2 năm về trước và hiện giờ ông cũng đang thụ án 4 năm tù giam. Bốn thành viên của tố chức trên vừa mới bị kết án gồm Ls Đinh Gia Hy, Triệu Trường Thanh, Trương Bảo Thành và Lý Vỹ. Mục đích của tổ chức “Công dân mới” và đại bộ phận nhân dân TQ là hưởng ứng lời kêu gọi của chủ tịch Tập Cận Bình hô hào công dân tham gia tố cáo tham nhũng. Trong đó nhân dân nêu lên yêu cầu các quan chức công khai tài sản và các khoản thu nhập. Có lẽ đây là vấn đề “nhạy cảm” kể cả với nhà họ Tập nên các nạn nhân trên phải bị trừng phạt vì đã vi phạm vào “vùng cấm bay”!
Rõ ràng đây là một hành động đe dọa cho tất cả mọi công dân có ý muốn hoặc cỗ vũ làm trong sạch chế độ và xã hội. Đây là một thông điệp mà đảng CSTQ gởi cho toàn dân Hoa lục rằng nhiệm vụ chống tham nhũng, làm trong sạch chế độ là nhiệm vụ của đảng mà nhân dân không được tham gia vào. Ngược lại là vi phạm (với đảng) và sẽ bị trừng trị. Tuy rằng người đứng đầu đảng và nhà nước TQ đã có lời kêu gọi. Một lần nữa, cái bản chất ăn đàng sống nói đàng gió hay đúng hơn là ăn ngược nói ngạo của CS được minh định rõ ràng.
Ngược thời gian trước đây-Đám bồi thần (CSVN) của CSTQ đã rập khuôn vì học cùng một “giáo án” từ trong “lò sát sinh” XHCN đưa ra mà Trương tấn Sang cùng bè lũ phe cánh sau khi thất bại ê chề trước 3 ếch Mittơ Bin ở “Hội quần ma” T.Ư 6-7 nơi động qủy Ba-Đình đã về thành hồ kêu gọi đồng bào cùng nhau chống tham nhũng bắt ếch trừ sâu… Nghe lời phủ dụ của bọn mặt dày như “lớp vữa” của những bức tường rêu phong mục nát đang rã ra từng mảng, chuẩn bị đổ nhào mà các SV yêu nước như Phương Uyên, Nguyên Kha và nhiều nhà yêu nước khác phải chịu cảnh bị bắt cóc, ngục tù, khảo tra về cái tội ngây thơ nghe theo lời phỉnh dụ của hồ cáo mà thể hiện lòng “yêu nước”, dám hô hào, hưởng ứng bắt ếch trừ sâu! Vì các nhiệm vụ đó “Đã có đảng và nhà nước lo.”
Nghe theo lời kêu gọi của chủ tịch nước ư? Các vị đã bị dụ. Bởi có tung ra hư chiêu hô hào, kêu gọi như thế mới biết được ai là yêu nước thương nòi, ai có nỗi lòng với Quốc Gia, Dân Tộc để mà hãm hại, tiêu trừ chứ!
Những bức màn bí ẩn của CS giăng ra, phủ che bên trong không biết bao nhiêu là hệ lụy. Ngay chính đồng bọn trong cuộc khi chưa được phép của 16 con cáo Ba-Đình động chủ mà vì sự sống còn của bản thân phải liều vén lên mong tìm được “cửa sinh” giữa “Bát quái trận đồ” thì chữ “vong” và chữ “tử” khó mà tránh khỏi như con “quí mã” bị bức ngã giữa trận tiền khi sổ “Nam Tào” chưa khép lại dưới làn sương mờ Dương chí Dũng!
Giờ đây thế trận “Kim Ngân” với bộ ABC “Binh thư đồ trận” liệu tướng “Bạch Phát” tài Đức Kiên cường cùng với cái “Giá của mùa Xuân” có làm cho đất bằng dậy sóng, khiến cho thêm một vài con tuấn mã hay ếch nhái phải vong thân dưới lưỡi đao của phường “Bá Đạo” đang cầm “hốt” phất phơ dưới chân ngọn Ngũ Hành Sơn? Hay ngược lại phải chạy về cầu cứu với “Bà Nà động chủ” đang ngao du thả bước ở bán đảo Sơn Trà! CSVN “nói một đàng làm một nẻo” Biết đâu mà lường!
CSTQ và CSVN cùng một lò đào tạo, cùng chung một sách do đó việc an nguy, trong sạch cho XH người dân ngoài tầm tay với. Riêng VN thêm cái quyền yêu nước, bảo vệ non sông là quyền của đảng, làm theo cách riêng của đảng của những bậc đỉnh cao trí tuệ. Bá tánh chỉ là hàng “dân trí thấp”. Lo cho nhân dân ấm no hạnh phúc cũng theo cách riêng siêu việt của đảng. cái cách mà tầm cỡ như loài sâu bọ đòi giải Nobel trở lên mới hiểu nổi. Nhân dân VN yên chí lớn sẽ được ấm no-Ấm no nơi “Hỏa Lò” thời @. Người xưa nói “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” hay “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” do đó những giọt nước sông Hồng chảy từ Vân Nam về Hà Nội không khác nhau về tính chất là điều tất yếu.
Ngày 19/4/2014

Lấy phiếu tín nhiệm, sửa hướng nào?

Đề xuất: Chỉ quy định hai mức tín nhiệm và không tín nhiệm, nếu tín nhiệm dưới 50% thì bị bỏ phiếu tín nhiệm luôn chứ không phải đợi lấy phiếu hai lần liên tiếp.

Theo dự kiến chương trình, trong tuần này Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) sẽ thảo luận các nội dung liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung quy định về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do QH, HĐND bầu hoặc phê chuẩn (Nghị quyết 35/2012 của QH). Vấn đề này không chỉ được đề cập trong Nghị quyết 35 mà còn được quy định trong dự thảo Luật Tổ chức QH sửa đổi vừa được UBTVQH cho ý kiến mới đây. Một thành viên của Ủy ban Pháp luật của QH (đơn vị trình dự án Luật Tổ chức QH sửa đổi và thẩm tra tờ trình sửa đổi Nghị quyết 35 lần này) cho hay: Về nguyên tắc, những sửa đổi trong Nghị quyết 35 phải phù hợp với các quy định trong Luật Tổ chức QH sửa đổi. Liên quan đến việc này, hiện có nhiều ý khác nhau.

 

Chỉ cần hai mức tín nhiệm và không tín nhiệm

 

Qua tổng hợp ý kiến đóng góp của các đoàn đại biểu (ĐB), cơ quan, đơn vị về việc sửa đổi các quy định trên cho thấy nhiều ý kiến đề nghị chỉ nên lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh ở cơ quan hành pháp hoặc đối với các chức danh thuộc hệ thống cơ quan hành chính nhà nước. Trường hợp vẫn lấy cả khối dân cử thì nên phân chia hai hình thức lấy phiếu khác nhau đối với các chức danh thuộc hai khối này.

 

 

Một số ý kiến cho rằng chỉ cần quy định hai mức là tín nhiệm và không tín nhiệm. Ảnh: CT

 

 

Về hình thức lấy phiếu, đa số ý kiến cũng cho rằng quy định ba mức: tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp như trong Nghị quyết 35 là không phù hợp. Theo đó, các ý kiến đề nghị cần phải sửa đổi theo hướng chỉ quy định hai mức tín nhiệm và không tín nhiệm. Tương tự, quy định về việc lấy phiếu tín nhiệm theo định kỳ mỗi năm một lần cũng được kiến nghị sửa đổi theo hướng mỗi nhiệm kỳ QH chỉ hai lần lấy phiếu tín nhiệm vào kỳ họp thứ 5 và thứ 9. Đồng thời, bổ sung quy định về sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào quá trình lấy phiếu tín nhiệm cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ giám sát cán bộ, công chức, ĐB dân cử của tổ chức này.

 

Tuy nhiên, trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, ĐBQH Cao Sỹ Kiêm (Thái Bình) cho rằng nên tiếp tục duy trì hình thức lấy phiếu mỗi năm một lần. “Thực tế, sau lần đầu tiên thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm, nhiều bộ trưởng, trưởng ngành có số phiếu tín nhiệm thấp đã kịp thời điều chỉnh, giúp hoạt động của bộ, ngành ngày càng tốt hơn. Do đó cần tiếp tục thực hiện hình thức mỗi năm lấy phiếu tín nhiệm một lần để cảnh báo những hạn chế và khắc phục” – ông Kiêm nói.

 

Bỏ phiếu ngay nếu không được tín nhiệm

 

Về bỏ phiếu tín nhiệm, theo quy định hiện hành, các trường hợp có 2/3 số ĐB đánh giá “tín nhiệm thấp” hoặc hai năm liên tiếp có dưới 50% số phiếu tín nhiệm thì sẽ bị đem ra bỏ phiếu tín nhiệm và tiến hành các quy trình bãi, miễn nhiệm. Đóng góp vào quy định trên, một số ĐB cho rằng không phù hợp, chưa bảo đảm được sự kịp thời trong việc thay thế các cán bộ có khuyết điểm hoặc năng lực quản lý yếu kém. Do đó các ý kiến đề nghị nên sửa đổi theo hướng các trường hợp có trên 50% ĐB đánh giá “không tín nhiệm” sẽ bị đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm ngay mà không cần phải qua hai năm lấy phiếu tín nhiệm liên tiếp.

 

Liên quan đến nội dung này, ĐBQH Lê Như Tiến, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng, cho rằng chỉ nên quy định bỏ phiếu tín nhiệm chứ không quy định lấy phiếu tín nhiệm. Còn “trong trường hợp vẫn phải quy định hình thức lấy phiếu thì chỉ lấy khối hành pháp và nếu có trên 50% số ĐB không tín nhiệm thì đưa ra bỏ phiếu luôn chứ không đợi hai lần liên tiếp như quy định cũ nữa” – ông Tiến đề xuất.

 

Vấn đề này được dự thảo Luật Tổ chức QH sửa đổi nêu rõ: Việc bỏ phiếu tín nhiệm được thực hiện khi các chức danh không được quá nửa tổng số ĐBQH tín nhiệm thì cơ quan hoặc người có thẩm quyền đã giới thiệu để bầu hoặc đề nghị phê chuẩn người đó có trách nhiệm trình QH xem xét, quyết định việc miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê chuẩn đề nghị miễn nhiệm, cách chức người không được QH tín nhiệm”.

 

Ngoài hình thức trên, UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của QH hoặc 20% số ĐBQH có kiến nghị, đề nghị thì có thể tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do QH bầu hoặc phê chuẩn như chủ tịch nước, phó chủ tịch nước; chủ tịch QH, phó chủ tịch QH, chủ tịch Hội đồng Dân tộc, chủ nhiệm ủy ban của QH, các thành viên khác của UBTVQH; thủ tướng Chính phủ, phó thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ… Đề nghị bỏ phiếu tín nhiệm được ĐB đưa ra bằng văn bản, nêu rõ họ tên, chức vụ của người bị đề nghị bỏ phiếu tín nhiệm và lý do đề nghị bỏ phiếu tín nhiệm, sẽ được tập hợp đầu mỗi kỳ họp.

 

THÀNH VĂN

 

Quan trọng nhất là phải khách quan, thực chất

Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, một thành viên Ủy ban Pháp luật của QH cho hay: “Khi xây dựng Nghị quyết 35 chúng ta đã thảo luận rất nhiều về các mức tín nhiệm và quyết định lựa chọn ba mức. Nay chúng ta thấy không còn phù hợp thì sửa. Tuy nhiên, quan trọng nhất trong việc sửa lần này là phải làm sao để việc lấy phiếu phải thực chất và khách quan. Những người thuộc diện bị lấy phiếu cũng có cơ hội để giải trình làm rõ vấn đề trên”. ĐB trên nói và dẫn chứng ví dụ như hiện dư luận đang quan tâm đến câu hỏi là có dịch sởi hay không và tại sao không công bố dịch. Như thế trong trường hợp này cần phải có giải trình làm rõ trách nhiệm của bộ trưởng Bộ Y tế, từ đó đại biểu đánh giá mức độ tín nhiệm cho đúng. “Cái chính vẫn là phải làm sao để việc đánh giá tín nhiệm phải khách quan và thực chất” – đại biểu này nhấn mạnh.

Thảo luận về thẻ căn cước công dân

Tiếp tục chương trình phiên họp thứ 27, trong tuần này ngoài việc thảo luận về sửa đổi Nghị quyết 35 về lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm, UBTVQH sẽ nghe và cho ý kiến vào nhiều dự án luật quan trọng như Luật Thi hành án dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Tổ chức TAND, Luật Đầu tư, Luật Hộ tịch, Luật Căn cước công dân.

Ngoài ra, TVQH cũng sẽ cho ý kiến về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh khóa XIII và năm 2014 của QH; dự thảo nghị quyết về việc các cơ quan của QH, ban của UBTVQH, đoàn ĐBQH, ĐBQH, HĐND, ĐB HĐND các cấp tiếp công dân; tiếp nhận, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.

T.VĂN

(PLTP)

Cần giải ảo HCM từ đâu?Hay: Xin trao đổi thêm với ông Bùi Tín về HCM

Kính thưa ông Bùi Tín, dù sinh sau ông cả một thế hệ (cha tôi nhập ngũ năm 1946, sau ông 1 năm, từ xưởng tầu Ba Son), xin cho phép tôi vẫn xưng “tôi” trong cuộc trao đổi này với ông, và tôi xin dùng chữ “kính thưa” trên với cá nhân ông và cho cả thế hệ cộng sản lầm lạc của ông (trong đó có cả cha tôi, đã quá cố…) bằng cả tấm lòng và trái tim tôi – nhưng không phải bằng lý trí tôi.

 

Vâng, tôi vẫn coi thế hệ những người cộng sản như ông và cha tôi, như cụ Bùi Bằng Đoàn và ông nội, ông ngoại tôi, là hai thế hệ lầm lạc tai hại nhất của cả lịch sử dân tộc Việt, dù tôi có cố biện minh thế nào đi nữa. Đó là thế hệ đã liên tiếp đưa cả dân tộc Việt Nam vào những cuộc chiến tranh nồi da nấu thịt đẫm máu nhất và gây mất mát đau thương nhất lịch sử hàng nghìn năm vốn đã vô cùng đau thương của dân tộc ta…

Dù cuộc đánh tráo có hay không?

 

Tôi xin cảm ơn ông Bùi Tín vì bài viết “Dù cuộc đánh tráo có hay không” ngày 15/4 đăng trên Dân Làm Báo, không phải chỉ vì ông đã có phản hồi bài phản biện của cô Mỹ Linh và bài “Có đúng đó là cuộc đánh tráo không thể có?” của tôi, mà còn vì “thái độ trung thực, lương thiện, không tự ái, không chủ quan, phục thiện, công nhận lẽ phải” mà ông đã tuyên bố rất hay và thể hiện đúng như thế trong bài viết trên của mình. Tôi coi đó là một thái độ mẫu mực đáng để thế hệ sau chúng tôi học hỏi.

 

Thế nhưng, việc ông Bùi Tín nói dù HCM là người Việt hay người Tàu, tức là dù cuộc đánh tráo có hay không, “không ảnh hưởng đến việc đánh giá nhân vật lịch sử này”, thì tôi lại cho rằng ông đang tự mâu thuẫn với chính mình. Điều này làm tôi liên tưởng đến những comments (có lẽ của các “dư luận viên”) trong một số bài của tôi khi tôi nêu nghi vấn HCM không phải là NAQ. Họ thường nói: dù HCM là NAQ hay là người Tàu thì công lao của HCM với cả dân tộc, đất nước VN vẫn đáng để cả dân tộc VN tôn thờ như từ xưa đến nay, từ 1945 đến mãi mãi (?!), tức là không có gì to tát thay đổi cả. Ông Bùi Tín thì nói, dù HCM là NAQ hay là người Tàu thì theo ông, đó vẫn là nhân vật tiêu cực, có hại, đáng điểm “âm”… tức là cũng không có gì thay đổi với ông cả, kết luận của ông về HCM đã đóng?

 

Cùng một cơ sở xuất phát – “dù HCM là ai”, cùng một cách lý luận hay lập luận, sao lại có hai kết quả ngược nhau? Như vậy, cách lập luận đó là ngụy biện. Điều đó làm cho bài viết mới của ông Bùi Tín đối với tôi vẫn chưa thuyết phục, dù tôi đã mừng và đồng ý một phần với nội dung kết luận mới nhất và còn đang tiếp tục thay đổi của ông về HCM (kẻ “tiêu cực, có hại với đường lối sai lầm bế tắc…”).

 

Nếu là NAQ, tức là người Việt, HCM chỉ là một kẻ xấu độc hại vì ngu dốt, độc ác và ngông cuồng, háo danh. Nhưng nếu không là NAQ, tức là người Tàu, thì HCM lại là hiện thân của kẻ thù tàn độc nhất lịch sử ngàn năm của dân tộc ta, là công cụ và hiện thân của tham vọng đại Hán ngàn đời muốn nô dịch Việt Nam, là kẻ một tay đã lừa bịp được hàng trăm triệu người Việt và khuấy đảo thay đổi cả lịch sử và vận mệnh dân tộc Việt suốt gần thế kỷ nay và có thể còn rất lâu hơn nữa…

 

Hai điều đó, dù cùng xấu nhưng khác nhau “một trời-một vực” như thế, tại sao lại có thể đánh đồng chúng như nhau hay bỏ qua sự khác nhau đó?

 

Với các dư luận viên hay cộng sản VN nói chung, việc đánh đồng đó giúp họ tránh việc phải đi đến tận cùng sự thật xem HCM là ai – điều có lẽ họ rất sợ, vì tận cùng sự thật sẽ cần tận cùng phán xử và tối cao công lý? Nhưng với ông Bùi Tín, tại sao ông cũng muốn tránh việc đi đến tận cùng lai lịch HCM đó? Tại sao ông Bùi Tín chỉ muốn giải ảo việc thần tượng hóa lãnh tụ HCM mà thôi, mà không phải là tìm ra chân tướng HCM là ai?

 

Điều làm tôi vẫn còn nhiều hy vọng từ bài viết “Dù có hay không” của ông Bùi Tín là ông đã nói trung thực rằng đánh giá của ông về HCM vẫn còn “đang trong quá trình vận động”, tức là sẽ không còn những khẳng định “không thể có” hay “dù có hay không…” nữa.

 

Giải ảo tưởng gì về HCM và đối với ai và từ đâu?

 

Giải ảo chỉ là một kết quả tất yếu tự thân của việc tìm ra tận cùng sự thật về HCM. Mỗi thế hệ người Việt từ đầu thế kỷ trước đến nay đều có những ảo tưởng của mình về HCM khác nhau. Thế hệ đầu tiên đã sai lầm và ảo tưởng về HCM có lẽ không phải thế hệ ông Bùi Tín và cha tôi. Vâng tôi muốn nói đến thế hệ đương thời với NAQ, với ông nội ông ngoại tôi, và với Cụ Thượng thư Bộ Hình của chính quyền Bảo Đại rồi Chủ tịch quốc hội thứ hai của nước VNDCCH – Cụ Bùi Bằng Đoàn, cố thân sinh của ông Bùi Tín, thế hệ của chính vua Bảo Đại và các Cụ khác như Phan Kế Toại, Nguyễn Văn Tố… Có lẽ chính họ mới là thế hệ Việt đầu tiên đã sai lầm trầm trọng về HCM, kéo cả lịch sử dân tộc đi vào ngõ cụt?

 

Họ có lý do lịch sử để dễ dàng bị rơi vào tình trạng “bị dắt mũi” đó. Đó là, sau gần trăm năm dưới ách đô hộ của Pháp, và cũng vì có ánh sáng văn minh của Pháp le lói đến, khát vọng độc lập và tự do cho dân tộc Việt đã hun đúc hừng hực trong toàn dân tộc và bùng phát mạnh mẽ nhất bởi/qua thế hệ của NAQ, Nguyễn An Ninh, Phan văn Trường, vua Bảo Đại, cụ Bùi Bằng Đoàn… và đã bị HCM thu hút và cướp lấy, lợi dụng bằng chiêu bài cao đẹp đoàn kết dân tộc vì độc lập dân tộc. Vì thế, giải ảo HCM là phải giải ảo từ thế hệ của NAQ…

 

Tôi đã rất mừng khi thấy ông Bùi Tín nói: “…đánh giá ông Hồ là một vấn đề then chốt, hệ trọng”, nhưng cũng thất vọng khi ông nói việc đánh giá đó có thể như “tự mình làm yếu hàng ngũ đấu tranh” – lại một sự tự mâu thuẫn với chính mình của ông Bùi Tín. Theo tôi, việc đánh giá ông Hồ đúng đắn chỉ có thể làm vững mạnh thêm hàng ngũ đấu tranh dân chủ, không để cho cộng sản dễ dàng không chế và phá hoại.

 

Tại sao ông Bùi Tín cũng “sợ” việc tìm ra chân tướng và đánh giá đến cùng, công minh và minh bạch về HCM đến thế? Có lẽ là vì, một cách vô thức, ông Bùi Tín hay ai ở thế hệ ông cũng vậy cũng vậy, sợ sẽ phát hiện ra sự thật rằng không chỉ mình đã quá sai và bị lừa mà cả và trước hết cha ông mình cũng “bị” vậy!

 

HCM sở dĩ đã rất dễ dàng lừa dối cả thế hệ người Việt của NAQ mà HCM thế vai (HCM không thuộc thế hệ đó!) cùng luôn với thế hệ thanh niên tiếp sau (là thế hệ ông Bùi Tín và cha tôi…, và HCM có tuổi ở giữa chừng hai thế hệ trên), có lẽ vì bối cảnh đặc thù của đất nước ta trong nửa đầu thế kỷ trước với cơ hội giành độc lập dân tộc trăm năm có một cho VN sau thế chiến 2…

 

Thưa ông Bùi Tín, chính vì có lẽ cả thế hệ Cụ Bùi Bằng Đoàn và ông nội/ông ngoại của tôi (cả hai cũng đều tham gia phong trào kháng Pháp của dân tộc từ trước 1945) cũng đã sai lầm và ảo tưởng về HCM (rồi dẫn dắt ông Bùi Tín và cha tôi theo…) mà việc giải ảo HCM càng vô cùng khó nhưng càng quan trọng và cần được thực hiện rốt ráo từ đầu, không thể bỏ qua với lập luận “dù sao thì… vẫn thế” như của ông Bùi Tín hay của các dư luận viên cộng sản mạng.

 

Giải ảo HCM là là tử huyệt mà CSVN không thể trốn tránh

 

Hiện nay, chính thức, CSVN đang và luôn né tránh việc giải mã HCM dù có rất nhiều nghi vấn rằng HCM không phải NAQ. Họ né tránh bằng im lặng. Và họ né tránh bằng gia tăng tuyên truyền thần tượng hóa HCM qua các đợt học tập liên tiếp “sâu rộng” về “tư tưởng đạo đức HCM”. Họ tỏ thái độ “coi thường” vấn đề chính là họ tự tỏ thái độ sợ hãi vấn đề đó.

 

Tại sao họ sợ việc giải ảo HCM đến vậy? Bởi vì nếu vấn đề đó là thực thì đó không chỉ là giải ảo về một cá nhân HCM với cá nhân NAQ nữa, mà bản chất vấn đề lại là một người Tàu là một điệp viên của CSTQ đóng vai lãnh tụ tối cao của CSVN, thậm chí còn đang được CSVN xếp hạng “vĩ nhân lớn nhất” của lịch sử dân tộc Việt! Có nghĩa là, “lãnh tụ tối cao” của CSVN lại hoàn toàn hoạt động chỉ vì quyền lợi của TQ và chỉ là công cụ của CSTQ! Bản chất vấn đề sẽ khác hoàn toàn. Đó là vấn đề tính chính danh và tư cách đạo đức của cả đảng CSVN từ xưa đến nay và cả vấn đề danh dự dân tộc Việt, cùng lúc. Đó chính là điều họ rất sợ?

 

Cũng vì bản chất đó, đối với phong trào dân chủ, việc giải ảo HCM là tối quan trọng và cấp thiết bởi nó sẽ không chỉ đánh gục một hình ảnh thần tượng lãnh tụ HCM của CSVN, mà nó sẽ làm sập hầu như toàn bộ cơ đồ sự nghiệp và hệ thống, thể chế của đảng CSVN từ khoảng 1938-1940 đến nay. Tất cả những gì họ CSVN đã làm sẽ rõ ràng chân tướng là những tội ác bán nước cho TQ để phì thân/phì đảng… và họ không thể lừa dối nhân dân được nữa!

 

Khi chứng minh được HCM là người Tàu do CSTQ cài cắm từ sau 1932 vào thân thế NAQ thì không cần phải chứng minh HCM đã làm đúng hay sai điều gì từ 1933 đến 1969 nữa cả, mà tất cả đều hiện nguyên hình hành vi của kẻ Hán gian hại nước Việt…

 

Còn nếu kết quả chứng minh được là HCM chính là NAQ thì tại sao CSVN không làm việc đó để dẹp tan ngay các nghi vấn bằng tuyên bố và dễ dàng đưa ra những bằng chứng chính xác và chính thức mà họ có trong tay? Việc đó không chỉ dẹp tan mọi hoài nghi của những kẻ như tôi (sẽ phải tâm phục khẩu phục) mà sẽ còn củng cố và nâng cao uy tín của cả đảng CSVN với toàn dân – điều mà họ đang mất và rất cần phục hồi hiện nay để sống còn.

 

Điều CSVN muốn nhất là sống còn và cai trị dân tộc và đất nước Việt Nam này thêm khoảng 100 năm nữa, và tôi tin chắc chắn họ sẽ có được sự ủng hộ của đa số người Việt để làm được điều đó nếu họ chứng minh được HCM là NAQ! Vậy tại sao họ không làm điều dễ dàng nhất lại hiệu quả nhất đó cho mình? Điều gì cản trở họ, nếu không phải chính sự thật? Nếu có điều gì mà CSVN luôn sợ hãi nhất và không dám sống cùng thì đó là Sự thật. Sự thật về đảng CS của họ, về các lãnh tụ của họ, về chính họ.

 

Nhưng họ không thể trốn tránh điều đó mãi. Nhân dân Việt Nam sẽ đồi hỏi điều đó từ họ hoặc tự đứng ra làm việc đó, đi đầu là những nhà dân chủ phản tỉnh như ông Bùi Tín. Nhưng đó cũng là việc rất khó đối với các nhà dân chủ phản tỉnh hiện nay.

 

Hai gót chân Asin của của những nhà dân chủ phản tỉnh

 

Với tôi và với đa số người Việt hôm nay, ông Bùi Tín là nhà dân chủ phản tỉnh hàng đầu. Bằng hành động dấn thân của mình từ 1990 đến nay, suốt 24 năm qua, ông đã có những đóng góp rất to lớn và có tính nền tảng và đi đầu cho phong trào đấu tranh dân chủ của Việt Nam hôm nay.

 

Ở trong nước, tôi là một trong những người ngưỡng mộ hay đánh giá ông rất cao, dù chúng tôi được/bị phải nghe cả hệ thống tuyên truyền của đảng CS nói và viết xấu rất nhiều rất tệ để bôi nhọ cá nhân hòng làm giảm uy tín của ông.

 

Ông Bùi Tín là một trong những người đầu tiên thuộc thế hệ cộng sản thứ hai lên tiếng hạ bệ thần tượng lãnh tụ HCM (từ việc nhập nhèm của CSVN rằng “HCM là danh nhân UNESCO” được ông Bùi Tín đưa ra ánh sáng). Nhưng ông cũng chưa làm được việc đó triệt để, là vì theo tôi, ông cũng như đại đa số các nhà dân chủ phản tỉnh (cựu cán bộ cộng sản trung cao cấp) đều có và bị ảnh hưởng bởi một hoặc cả hai gót chân Asin, đó là: niềm tin vào lý tưởng cộng sản đúng đắn (chỉ phần thực hiện của họ là sai) và niềm tin vào các lãnh tụ cộng sản như HCM, VNG… (chỉ có các hậu duệ của họ là sai vì kém cỏi).

 

Với hai niềm tin đó, ông Bùi Tín và đại đa số các nhà dân chủ phản tỉnh đã đi vào đấu tranh vì dân chủ cho Việt Nam, mà không biết mình luôn tự mâu thuẫn và phản lại chính mình. Dần dần, ông Bùi Tín đã nhận ra lý tưởng cộng sản là sai lầm khủng khiếp của loài người, đã bắt đầu hạ bệ/”giải ảo sự sùng bái lãnh tụ mù quáng”, nhưng vẫn chưa gột rửa sạch được gót chân Asin (Achille) thứ hai này. Ví dụ, ông Bùi Tín không để mở khả năng HCM là người Tàu và kết luộn vội ngay về HCM, hay ông từng đánh giá ông Giáp cao hơn cả Napoléon (bằng cách nói Napoléon còn có trận thua ở Austerlitz, còn ông Giáp thì không có trận thua nào?), nhưng chưa bao giờ thấy ông Bùi Tín nói ông đã thay đổi quan điểm về ông Giáp?

 

Nhiều nhà đấu tranh dân chủ, nhất là trong nước, vẫn bám chặt hai niềm tin nguy hại đó để “đấu tranh dân chủ”. Nhiều người còn dùng chúng như “ngôn ngữ chung”, như “ngọn cờ” để nói chuyện với hòng chuyển hóa CSVN như các vị trên trang Bauxite VN hay tướng về hưu Nguyễn Trọng Vĩnh… Nhiều người coi và dùng “hai niềm tin Asin” đó như chiến thuật đấu tranh tạm thời trước mắt… Theo tôi, tất cả những người như thế, dù rất đáng kính, đều đang tự mâu thuẫn và ngụy biện cho mình, nên việc đấu tranh của họ đa phần phản tác dụng, chỉ giúp CSVN tham gia và không chế chính phong trào đấu tranh dân chủ cho đất nước Việt Nam.

 

Ông Bùi Tín, dù đã có tròn hai con giáp phản tỉnh và đấu tranh trực diện từ xa với chế độ cộng sản độc tài, dù là nhà đấu tranh dân chủ hàng đầu của VN và một trong những người dẫn đầu hiện nay, nhưng tôi vẫn chưa thể nói ông đã tự gột rửa sạch hết “hai gót chân Asin cộng sản” trên của mình (và bạn Mỹ Linh – có lẽ thuộc thế hệ sau nữa – cũng nhận định như thế), thì với các nhà dân chủ phản tỉnh sau ông tình trạng u mê hai niềm tin độc hại trên vẫn còn trầm trọng đến thế nào? Tức là, việc giải ảo lãnh tụ HCM hay VNG phải bắt đầu trước hết và rốt ráo từ chính những nhà dân chủ phản tỉnh, mà ông Bùi Tín là người có thể góp phần quan trọng trong việc này bằng cách đi đầu rốt ráo. Đó cũng là một lý do khiến tôi muốn có trao đổi này với ông Bùi Tín, về một “gót chân Asin cộng sản” của ông: đánh giá về (và niềm tin vào) lãnh tụ CS như HCM, VNG?

 

Theo tôi, không ai có thể đấu tranh dân chủ hiệu quả với một hay cả hai niềm tin “Asin cộng sản” đó, đơn giản vì dân chủ tuyệt đối không chấp nhận lý thuyết/ý thức hệ cộng sản, càng không thể tôn sùng lãnh tụ cộng sản, dù dân chủ sẽ không tiêu diệt chúng bằng bạo lực mà chỉ làm cho chế độ cộng sản tự sụp đổ. Nhưng cái nguy hại ở đây là, khi cộng sản còn chưa sụp đổ như ở VN, còn đang rất mạnh như hiện nay, thì chính họ sẽ khai thác hai niềm tin Asin đó của các nhà đấu tranh dân chủ để khống chế, phá hoại và vô hiệu hóa phong trào dân chủ.

Phan Châu Thành

(DLB)

 

Phiên phúc thẩm vụ án Dương Chí Dũng sẽ có diễn biến bất ngờ (?)

(PL&XH) – Đó là nhận định của luật sư Trần Đình Triển, Phó Chủ nhiệm Đoàn LS Hà Nội, Trưởng VPLS Vì Dân với phóng viên. Luật sư Triển vừa về nước sau chuyến đi Singapore thu thập thêm chứng cứ liên quan đến vụ án.

 

 

 

Dự kiến, phiên phúc thẩm vụ án sai phạm nghiêm trọng xảy ra tại Tổng Cty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) sẽ diễn ra từ ngày 22-4 tới.


Luật sư Trần Đình Triển cho biết, ngay sáng ngày mai (21-4) ông sẽ đến làm việc với Tòa phúc thẩm TAND tối cao để cung cấp thêm một số chứng cứ liên quan mà ông đánh giá là có ý nghĩa rất quan trọng, trong đó có lời khai của ông Goh Hoon Seow (Giám đốc điều hành của Cty Addpower Pte Ltd (Cty AP) – doanh nghiệp bán chiếc ụ nổi tai tiếng 83M cho Vinalines).


Theo luật sư Triển, ông đã gặp ông Goh và đề nghị ông Goh khai về một số vấn đề có liên quan trực tiếp đến giao dịch ụ nổi và việc chuyển khoản tiền “lót tay” 1,666 triệu USD và ông Goh đã lập “Bản khai tuyên thệ trước pháp luật” ký ngày 16/4/2014. Bản khai này được công chứng viên Singapore và Viện pháp luật Singapore xác nhận. Sau đó, được Đại sứ quán nước CHXHCN Việt Nam tại Singapore đóng dấu chứng nhận.


Theo bản khai này, ông Goh khẳng định việc thương thảo mua ụ nổi được tiến hành giữa ông Goh và các cán bộ đại diện Vinalines mà ông Trần Hải Sơn (nguyên Tổng GĐ Cty TNHH sửa chữa tàu biển Vinalines, một bị cáo trong vụ án) là người đứng đầu. “Ông Goh khai số tiền 1,666 triệu USD là một phần của khoản thanh toán theo Tín dụng thư để trả cho việc chuẩn bị hồ sơ xin giấy phép, thủ tục hải quan và xuất khẩu liên quan đến ụ nổ 83M. Ông Goh cũng khẳng định, chưa bao giờ trao đổi với ông Dũng (nguyên Chủ tịch Vinalines) và ông Phúc (nguyên Tổng GĐ Vinalines) về khoản tiền 1,666 triệu USD”, luật sư Triển cho biết.

 

Trang đầu và trang cuối “Bản khai tuyên thệ trước pháp luật”

ký ngày 16/4/2014 của ông Goh (chụp từ bản gốc do LS Trần Đình Triển cung cấp)


Theo nhận định của luật sư Trần Đình Triển, việc khoản tiền “lót tay” 1,666 triệu USD về Việt Nam sự thật, nhiều bằng chứng thể hiện khoản tiền đó vào tay của Trần Hải Sơn. Theo luật sư, đường đi của khoản tiền đó như thế nào thì cần tiếp tục làm rõ và những vấn đề liên quan sẽ được luật sư trình bày tại phiên tòa phúc thẩm.


Luật sư Triển cũng hé lộ rằng, ông còn một số chứng cứ mới khác, khi công bố tại phiên phúc thẩm sắp tới sẽ có nhiều khả năng tạo diễn biến bất ngờ cho vụ án.


Như PL&XH đã đưa tin, bản án sơ thẩm của TAND TP Hà Nội đã tuyên hai án tử hình dành cho bị cáo Dương Chí Dũng và bị cáo Mai Văn Phúc. Đồng thời, tuyên buộc mỗi bị cáo này chịu trách nhiệm bồi thường 110 tỷ đồng.


Theo thông tin mới nhất từ Cục thi hành án dân sự TP Hà Nội thì phía gia đình bị cáo Dũng đã chủ động nộp 4,7 tỷ đồng để khắc phục hậu quả, còn gia đình bị cáo Phúc đã nộp 3,5 tỷ đồng. Theo nội dung Nghị quyết 01/2001 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao thì việc chủ động nộp tiền khắc phục hậu quả có ý nghĩa đối với việc HĐXX cân nhắc mức án.


Theo một số ý kiến thì nếu bị cáo Dũng và Phúc vẫn không thừa nhận tội “tham ô” như nội dung đơn kháng cáo thì việc khắc phục hậu quả như trên chưa chắc đã có giá trị trong việc cân nhắc giảm án từ tử hình xuống chung thân như theo hướng dẫn của Nghị quyết 01/HĐTP. Tuy nhiên, đây là vấn đề chưa có tiền lệ nên những người quan tâm đến vụ án chờ đợi diễn biến của phiên xử phúc thẩm sắp tới.

H.Đ

(Người Đưa tin)

Tương lai nằm trong tay dân Ukraine

Hình: internet

Nhiều người theo dõi diễn biến vụ Ukraine coi đó là một cuộc đọ sức giữa hai nước Nga và Mỹ, với hai đấu thủ, Vladimir Putin và Barack Obama. Nhìn như vậy là bỏ quên những người sẽ đóng vai trò chính trong cuộc khủng hoảng này. Ðó là 45 triệu người dân nước Ukraine. Chính dân Ukraine đã khởi đầu các biến cố khi họ biểu tình đòi cựu tổng thống Viktor Yanukovych từ chức. Họ thành công và đang gánh chịu hậu quả, là nước Nga đã chiếm lại vùng Crimea và đang đe dọa ba tỉnh khác ở phía Ðông, giáp ranh với Nga bằng những hành động gây loạn giống như đã diễn ra ở Crimea tháng trước. Nhưng trong tháng Năm tới, dân Ukraine sẽ đi bỏ phiếu bầu chính phủ mới, có thể kèm theo một cuộc trưng cầu dân ý. Và lúc đó, tình hình sẽ thay đổi hẳn.

Dân Ukraine sẽ phải chấp nhận một thực tế là không thể đòi lại vùng Crimea trong thời gian sắp tới, cũng như dân Việt Nam biết không thể chiếm lại Hoàng Sa ngay bây giờ. Mà vùng Crimea này không gắn bó máu thịt với dân Ukraine như Hoàng Sa của nước ta. Crimea mới được Nga tặng cho Ukraine năm 1954, hơn một nửa dân số là người Nga, người gốc Ukraine không nhiều bằng một phần tư. Nhưng Ukraine có thể cầm cự với Nga trong thời gian tới, trong khi đó họ phải xây dựng một chế độ dân chủ tự do và tái thiết nền kinh tế đã lụn bại sau hơn 20 năm suy đồi vì không cải tổ triệt để như các nước cộng sản cũ ở Ðông Âu. Một di họa của thời cộng sản là các nhà tư bản đỏ và nạn tham nhũng hoành hành khiến cho kinh tế không thể phát triển. Bây giờ, với sự giúp đỡ của Mỹ và các nước trong Liên hiệp châu Âu (EU), dân Ukraine có hy vọng đạt được những tiến bộ kinh tế và chính trị trong mấy năm tới. Ngay bây giờ, mối đe dọa trước mắt của người Ukraine là giữ được đất nước họ được toàn vẹn, ngăn không cho ông Vladimir Putin chia rẽ, phá nát và có thể xâm chiếm thêm.

Ðiều khiến dân Ukraine lo lắng là nhiều người gốc Nga ở những tỉnh phía Ðông đang biểu tình, chiếm đóng các công sở và cả sở cảnh sát. Ai cũng biết những thanh niên mặc quân phục và cầm súng này là do guồng máy tuyên truyền cài công an Nga xúi giục hoặc điều khiển. Tại ba tỉnh này, số dân gốc Nga lên tới 25% (tỉnh Kharkiv) và 39% (Donetsk và Luhansk). Chính phủ Ukraine lâm thời tại thủ đô Kiev không đủ sức đàn áp những hành động bạo loạn này, và cũng không muốn gây đổ máu khiến cho ông Vladimir Putin, với 40,000 quân Nga đang đóng sát biên giới, có lý do tiến quân sang can thiệp.

Cuộc họp ở Genève vào Thứ Năm vừa qua là một thắng lợi của Tổng Thống Oleksandr Turchynov. Ðây là lần đầu tiên chính phủ Maskva chấp nhận ngồi ngang hàng với chính phủ lâm thời ở Kiev, mà báo đài ở Nga vẫn tố cáo là “phát xít,” tố cáo họ kỳ thị và khủng bố dân gốc Nga. Những nhóm “loạn quân” có thể không chịu thi hành quyết định của hội nghị bốn bên ở Genève; một nhóm chiếm công sở tại Donetsk nói rằng họ không chịu rút lui trước khi chính phủ lâm thời ở Kiev chưa rút lui. Nhưng trong một tháng nữa, điều này sẽ diễn ra, sau cuộc bầu cử. Tại tỉnh này, còn nhiều chính trị gia thuộc phe cựu Tổng Thống Viktor Yanukovych, và ông ta đóng vai đứng đằng sau giật dây các nhóm nổi loạn để trả mối thù mất chức.

Nước cờ của ông Putin hiện nay là đòi biến Ukraine thành một liên bang, để cho ba tỉnh ở miền Ðông có quy chế tự trị. Ðối với dân Ukraine, đó là một âm mưu chia cắt nước họ, ít nhất cũng làm cho chính phủ ở Kiev suy yếu, và ảnh hưởng của Nga sẽ mạnh hơn. Nhưng âm mưu này sẽ thất bại khi người dân được hỏi ý kiến công khai và minh bạch.

Chính phủ Oleksandr Turchynov hiện nay đóng vai trò “lâm thời” đúng nghĩa, công việc chính của họ là tổ chức bỏ phiếu sao cho công bằng, minh bạch. Trong Tháng Năm tới đây, cuộc bầu cử sẽ thành lập một chính quyền mới, mà ông Petro Poroshenko có nhiều hy vọng đắc cử tổng thống. Nếu có một cuộc trưng cầu dân ý, thì chắc chắn đa số dân sẽ quyết định bảo vệ một nước Ukraine độc lập và thống nhất.

Một cuộc nghiên cứu dư luận của International Republican Institute cho biết 61% những người gốc Nga ở các tỉnh phía Ðông, và 67% ở các tỉnh phía Nam cho biết họ không từng bị chính phủ Ukraine kỳ thị bao giờ, và chống lại ý kiến ông Putin gửi quân Nga sang “bảo vệ” họ. Chỉ có 14% dân gốc Nga muốn đổi nước Ukraine thành một liên bang. Vai trò của các đại gia ở Ukraine vẫn rất quan trọng. Ông Rinat Akhmetov, một người giàu nhất Ukraine, làm chủ một doanh nghiệp sử dụng 300 ngàn công nhân trong dân số dưới 5 triệu của toàn tỉnh Donetsk, đã tới gặp những thanh niên nổi loạn ở thành phố Donetsk, và nói với họ rằng ông ủng hộ việc bảo vệ ngôn ngữ Nga, ủng hộ đòi hỏi tản quyền từ trung ương, nhưng ông chủ trương tỉnh Donetsk vẫn nằm trong một nước Ukraine thống nhất. Tất nhiên, các nhà tư bản Ukraine không muốn phải đối đầu với các đại gia Nga do ông Putin điều khiển.

Ngay trong ba tỉnh miền Ðông, đòi hỏi của ông Putin và các nhóm nổi loạn cũng không được ủng hộ. Chỉ có 26% dân chúng muốn đổi sang thể chế liên bang, còn 45% muốn nước Ukraine toàn vẹn. Ngay trong tỉnh Donetsk, hơn một nửa dân chúng muốn một nước Ukraine thống nhất. Cuộc khủng hoảng ở Ukraine bắt đầu khi ông Putin tìm cách ngăn chặn một hiệp ước thương mại giữa nước này với Liên Hiệp Châu Âu. Nhưng ông đã thất bại. Trước khi xảy ra vụ Nga chiếm Cimea, số người Ukraine muốn liên kết với EU chỉ có 10%, nay đã tăng lên 52%. Ngược lại, ngay trong các tỉnh miền Ðông số người ủng hộ quan hệ kinh tế chặt chẽ với Nga đã giảm từ 72% xuống 55%.

Từ nay cho đến cuối Tháng Năm, dân Ukraine sẽ phải chấp nhận một tình trạng giao thời. Nước cớ của ông Putin là tiếp tục làm áp lực để chia rẽ nước Ukraine. Vốn là một sĩ quan công an và tình báo, ông Putin thành thạo trong việc sử dụng biệt kích và cán bộ sách động, nhưng ông cũng biết không thể dùng quân đội chiếm lấy một mảnh đất nào của nước láng giềng. Nước cờ của ông là chỉ bàn luận đôi co với Mỹ và EU về thể chế sắp tới ở Ukriane, để cả thế giới quên dần dần vụ xâm chiếm Crimea, coi đó là một chuyện đã rồi. Ðó cũng là một thắng lợi đáng kể để ông Putin củng cố địa vị trong nước Nga. Nhân vụ Ukriane này, ông đã có cơ hội đàn áp những người bất đồng chính kiến và gây thêm uy tín cho chính mình. Ông khó lòng nuôi tham vọng lớn hơn, vì trong cuộc chạy đua kinh tế với Mỹ và EU, nước Nga không đủ sức mạnh lấn áp. Ông Putin có thể cứ nói rằng các nước Âu Châu bị lệ thuộc vào Nga vì lý do kinh tế; nhưng ông không thể dùng đòn kinh tế nào ép buộc được họ. Số năng lượng sử dụng ở Châu Âu tùy thuộc 30% vào nguồn cung cấp từ Nga. Nhưng 40% ngân sách chính phủ Nga tùy thuộc vào việc cung cấp các thứ năng lượng đó cho Âu Châu. Các nước Âu Châu đang mua 88% dầu lửa do Nga xuất cảng, 70% khí đốt và 50% than đá. Nếu ông Putin chặn các nguồn cung cấp đó lại, thì không những ngân sách Nga sẽ thâm thủng, mà hàng triệu công nhân sẽ thất nghiệp; vì không thể tìm ra ngay những khách hàng mới. Kể từ khi ông Putin gây ra cuộc khủng hoảng, đồng rúp của Nga đã mất giá gần 10%, thị trường chứng khoán sụt giảm 10%, và trong ba tháng đầu năm nay số tiền vốn bỏ chạy khỏi nước Nga đã lên tới 70 tỷ đô la, lớn hơn con số 60 tỷ trong cả năm ngoái. Tính về lâu dài, nước Nga không thể chịu đựng một cuộc chiến tranh lạnh kinh tế.

Cuộc chiến tranh lạnh mới do ông Putin gây ra sẽ là một cuộc chiến trên mặt trận kinh tế. Mỹ và Liên Hiệp Châu Âu có thể dùng lại chiến lược của thời chiến tranh lạnh cũ, là chỉ cần ngăn chặn không cho Nga bành trướng; sau một thời gian đủ lâu dài Nga sẽ dần dần yếu đi cả về kinh tế lẫn chính trị. Nhưng trong thời gian một năm hoặc nhiều tháng, hai bên sẽ đi từng nước cờ, chờ bên kia phản ứng sẽ đi nước tiếp. Trong cuộc cờ ngắn hạn này, Putin sẽ là người chủ động, đi trước, còn EU và Mỹ có thể đi từng bước cờ một, chờ cho tới lúc đối thủ thật mệt mỏi để cầu hòa.

Nước Mỹ không có quyền lợi nào quan trọng ở Ukraine, như nước Nga. Ðối với ông Putin, đây là một ván cờ lớn, quyết định uy tín của ông ta ở trong nước Nga và trong cả những nước cựu cộng sản trong Liên Bang Xô Viết. Còn phía ông Obama thì, đúng như Nghị Sĩ John McCain phê bình, “Chính sách của chính phủ hiện nay không do các tính toán ngoại giao mà do những nhu cầu nội bộ trong nước quyết định.” Nhu cầu của ông Obama trong năm nay là do cuộc bầu cử quốc hội ở Mỹ. Từ nay cho đến Tháng Mười Một, ông tổng thống Mỹ sẽ phải tỏ ra cứng rắn hơn đối với hành động bành trướng của ông Putin.

Nhưng số phận nước Ukraine sẽ do người dân Ukraine quyết định trong cuộc bỏ phiếu sắp tới. Họ đã khởi động một cuộc cách mạng từ quảng trường Maidan. Mục tiêu của họ không phải chỉ là lật đổ một ông tổng thống tay chân của Nga. Cũng không phải chỉ là đưa nước Ukraine tới gần hơn với Liên Hiệp Châu Âu, thay vì lệ thuộc vào Nga. Như ông Poroshenko mới phát biểu, mục đích chính của cuộc cách mạng là xóa bỏ một chế độ tham nhũng lạm quyền, xây dựng một nước Ukraine thực sự tự do dân chủ. Ông tổng thống tương lai của Ukraine nói, chống tham nhũng là mục tiêu lớn nhất để đoàn kết tất cả dân Ukraine lại với nhau.

  Ngô Nhân Dụng

  (Người Việt)

Khi tâm thế yếu hèn – Bệnh sởi- sự vô trách nhiềm của ngành y tế hay hay sự bất lực của hệ thống chính trị?


Bệnh sởi- sự vô trách nhiềm của ngành y tế hay hay sự bất lực của hệ thống chính trị?

 Tác giả là người đã có thời gian cộng tác lâu năm với Bộ Y tế và hiện tại đang nghiên cứu tại nước ngoài cho nên hiểu khá rõ về hệ thống y tế và những bất cập của ngành y tế. Tác giả viết bài này tổng hợp từ những trang chính thống của Việt Nam và tài liệu chuẩn của WHO. Con số thực tế bao giờ cũng phải cao hơn gấp 3-5 lần (theo lý thuyết tảng băng trôi).

Tình hình bệnh sởi

Hiện nay ở Việt Nam đang bùng phát bệnh sởi trên diện rộng, Hà Nội ghi nhận sự đột biến về số trẻ bị mắc sởi và tử vong do sởi. Tính từ đầu năm 2014 tới ngày 17/4/2014, tổng số trường hợp sốt phát ban dạng sởi là 8.521 trong đó có 3.136 trường hợp dương tính với xét nghiệm sởi, 61 tỉnh thành có trường hợp mắc và 112 trường hợp đã tử vong (chỉ còn hai tỉnh chưa có dịch là Cao Bằng và Bắc Kạn)[i]. Hà Nội chiếm tới 1/3 số trẻ mắc sởi và ½  số trẻ tử vong theo thống kê. So với số liệu năm  2013, bệnh sởi xuất hiện tại 24 tỉnh thành, số mắc là 1048 ca, trong tháng 1/2014, số mắc mới chỉ là 241 ca, chết 3 ca và tập trung ở 4 tỉnh phía bắc[ii].

Nhận định về dịch sởi, GS.TS. Phạm Nhật An, Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương phát biểu với báo giới rằng  “Trong gần 40 năm trong nghề, tôi chưa từng thấy dịch sởi nặng nề như năm nay, diễn biến rất đặc biệt”[iii]. Trên thực tế dịch sởi hiện nay đã bùng phát và kéo dài từ 2012 khi 22 trường hợp mắc sởi ở TP HCM đã xảy ra[iv]. Điều đáng nói ở đây là cho tới thời điểm này, ông Bộ Y tế và UBND những tỉnh thành phố hiện đang có dịch sởi vẫn quyết định không công bố dịch sởi[v]!!!!

Các cam kết và trách nhiệm của các bên liên quan

Hội nghị lần thứ 63 Đại hội đồng Tổ chức Y tế thế giới Tây Thái Bình Dương (viết tắt là RCM 63) được tổ chức tại Hà Nội năm 2012 đã thông qua 5 nghị quyết về các vấn đề liên quan đến sức khỏe[vi] trong đó có một nghị quyết về “Loại trừ sởi và tăng cường kiểm soát rubella” (ký hiệu WPR/RC63.R5). Nghị quyết này thể hiện cam kết của các quốc gia trong khu vực về loại trừ bệnh sởi trong vòng 3 năm[vii]. Đoàn đại biểu Việt Nam khi đó có 28 người, đứng đầu là bà Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cùng với quan sát viên là 30 người[viii] đã có tên trong biên bản và thống nhất thông qua nghị quyết!!!!

Theo Nghị quyết này, Bộ Y tế Việt Nam đã cam kết với thế giới sẽ loại trừ bệnh sởi tới 2017 nhưng tình hình trên thực tế này đang ngày càng ra rời với những gì đã tuyên bố! Thậm chí vào ngày 4/9/2012 (trước khi Hội nghị này diễn ra), Chính phủ đã có quyết định 1208/QĐ-TTg phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia y tế giai đoạn 2012-2015 với kinh phí 12.770 tỷ đồng để thực hiện 5 chương trình y tế quốc gia mà trong đó có một mục tiêu là “Loại trừ bệnh sởi vào năm 2012, giảm số trường hợp mắc sởi dưới 1/1.000.000 dân”[ix]. Thế nhưng, tới năm 2013, tỷ lệ này thậm chí vẫn không đạt được và tỷ lệ mắc là 11.8 trên 1 triệu dân (1048 ca/88.78 triệu dân). Năm nay con số này cao hơn thế rất nhiều lần! Kết quả này phản ánh sự bất lực ngành y tế trong việc thực hiện các cam kết với Chính phủ và cộng đồng quốc tế!

Việc công bố dịch Sởi vẫn không được thực hiện bất chấp những khuyến cáo và hướng dẫn của Tổ chức y tế thế giới. Theo hướng dẫn về thông báo và xử lý dịch sởi bản cập nhật mới nhất năm 2013 thì trong một khu vực chỉ cần có 1 trường hợp được xét nghiệm là virus sởi thì đã được gọi là dịch[x]. Vậy mà từ 2013, khi số ca dương tính sởi đã ở mức báo động thì ngành y tế vẫn không công bố dịch để có thể khống chế và dập tắt dịch bệnh cũng như có biện pháp phòng chống thích hợp vào năm sau. Có vẻ như Bộ Y tế và các ngành chức năng đang cố tình phớt lờ các khuyến cáo và hướng dẫn của cơ quan chuyên môn.

Song, theo Bộ Y tế thì ngành vẫn làm “đúng trách nhiệm!” bởi việc công bố dịch thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh thành phố. Viện dẫn Quyết định 64/2010/QĐ-TTg quy định “Điều kiện công bố dịch và công bố hết dịch bệnh truyền nhiễm”: chỉ khi nào có hai Tỉnh, thành phố công bố dịch do không còn khả năng kiểm soát khống chế thì khi ấy Bộ Y tế mới chính thức công bố dịch sởi!!!!

Nhìn vào thực tế hiện nay, mặc dù con số trẻ mắc sởi không ngừng tăng cao và con số trẻ tử vong vẫn tiếp tục tăng lên theo từng ngày thì Sở Y tế Hà Nội vẫn được coi là “chưa nghiêm trọng”![i] kể cả khi dù Tổ chức y tế thế giới tại Việt Nam đã có ý kiến rằng chỉ cần 3-4 ca mắc sởi là đã có thể công bố dịch[ii].

Đứng trước việc này, Đại diện Chủ tịch của UBND Thành phố Hà Nội, bà Phó Chủ tịch Nguyễn Thị Bích Ngọc nói gì? “Công bố dịch hay không công bố dịch là việc không quan trọng…”[iii] Theo bà Ngọc, chỉ cần “Triển khai quyết liệt và có hiệu quả công tác phòng chống dịch, khống chế dịch” là đủ. Song, sự việc không đơn thuần chỉ là công bố hay không công bố: do không có cảnh báo dịch, người dân vẫn tiếp tục đổ về các bệnh viện lớn để chữa trị vì không biết rằng những bệnh viện này là những ổ dịch tiềm ẩn!! Quả thực số trẻ bị nhiễm sởi do nhiễm trùng chéo trong viện càng gia tăng.

Truy tìm nguyên nhân, những con số thống kê cao về tình hình tiêm chủng có đáng tin?

Không thể đổ lỗi cho khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, vì thời tiết năm nay không có gì bất thường so với các năm trước. Cũng không thể đổ lỗi cho những bác sỹ đang trực tiếp trong bệnh viện hay các nhân viên y tế dự phòng bởi họ chỉ làm việc của mình, theo nhiệm vụ tại địa bàn phân công, họ không thể ra quyết định. Vậy thì trách nhiệm thuộc về ai?

Công tác tiêm chủng có đúng như những gì đã được báo cáo? Từ đầu năm 2014 đến ngày 17/4/2014, có tới 88,5% số trẻ tử vong do sởi đến nay là chưa được tiêm phòng sởi, trong số này có 75% là trẻ trên 9 tháng tuổi (số này đáng lẽ phải được tiêm phòng) [iv]. Như vậy số cháu trên 9 tháng tuổi tử vong vì chưa tiêm phòng là 66% (=88.5%x75%). Nói cách khác, có tới 2/3 số trẻ tử vong đã không được tiêm phòng đầy đủ (trong khi năm 2013, tỷ lệ tiêm phòng sởi đạt 84.2%).

Ngay cả một lãnh đạo kỳ cựu của ngành y tế, ông Nguyễn Thanh Liêm nguyên Giám đốc Nhi Trung ương cũng đã phát biểu với báo chí rằng “Dịch sởi cho thấy cần phải xem xét lại một số vấn đề của chương trình tiêm chủng mở rộng. CÓ LẼ MỨC ĐỘ BAO PHỦ CỦA CHƯƠNG TRÌNH KHÔNG CAO NHƯ CHÚNG TA VẪN NGHĨ”[v]. Trách nhiệm của Bộ Y tế trong việc kê khai các con số như thế nào? Tại sao bà Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến không công khai toàn bộ tình hình thực tế cho báo giới biết mà phải chỉ đạo giải quyết kín chuyện này?[vi].

Hậu quả của việc tiêm chủng không đầy đủ kéo theo sự suy giảm miễn dịch của cả một cộng đồng. Theo các xét nghiệm về virus gây sởi trong vụ dịch năm nay, các Virus không hề bị biến đổi gen, tăng cường độc lực[vii]. Hay nói cách khách, các năm trước và năm nay, tác nhân gây bệnh không đổi nhưng số ca biến chứng sởi nguy hiểm tăng lên đột ngột và số trẻ tử vong cũng tăng một cách kinh ngạc.

Người dân đã mất niềm tin vào những cam kết và công tác tuyên truyền của chính phủ về việc tiêm vắc xin. Nguyên nhân là do những vụ scandal về việc tiêm vaccine gây tử vong ở trẻ một cách có hệ thống mà không có ai bị chịu trách nhiệm. Báo giới và công luận đã chỉ trích, phê bình không tiếc lời về vai trò và trách nhiệm của Bộ Y tế trong các vụ tiêm vaccine gây tử vong trẻ sau tiêm vaccine[viii],[ix].  Người dân đặt một câu hỏi lớn về việc che đậy và giữ kín những vụ việc như thế này xảy ra trên toàn quốc? Chỉ biết rằng, sau mỗi cuộc tổng kết chương trình tiêm chủng, số liệu của ngành y tế thì lúc nào cũng báo cáo với con số rất cao và đều kết thúc bằng những từ ngữ quen thuộc: …đã thành công tốt đẹp.
Hãy thử hình dung nếu có hàng ngàn trẻ được coi là đã được tiêm phòng nhưng không được tiêm đủ liều và đúng loại vacxin có chất lượng đúng như cam kết thì hậu quả sẽ kinh khủng đến thế nào? Liệu có ai dám đặt dấu hỏi cho việc liệu có bao nhiêu trong số các trẻ đã được công bố là tiêm chủng đầy đủ rồi là hoàn toàn chắc chắn?

Các vấn đề cần đặt ra là gì?

… Để cứu được những đứa con, người mẹ phải trả 7 triệu đồng cho một mũi tiêm, và tổng cộng phải tiêm 4 mũi như vậy với tổng số tiền 28 triệu, đó là chưa kể tiền nằm viện cả tháng[x].

… Người dân phải tự mình tìm cách cứu chữa cho con, họ phải tự tìm những bài thuốc dân gian cho dù là vô vọng. Sẵn sàng bỏ hàng triệu để mua những bài thuốc lưu hành trên mạng, bọn gian thương thì tranh thủ đội giá lên gấp 2,3 lần[xi]. Tất cả dường như đang muốn kiếm chác từ những đồng tiền tích cóp cuối cùng của người mẹ và gia đình, và cả một hệ thống dường như đang đẩy người dân tới những tình trạng khốn cùng nhất!

Không một Đại biểu quốc hội nào lên tiếng nói phê phán, chỉ trích ngành y tế!

Không một Ủy viên Trung ương Đảng nào lên tiếng nói với Bộ Chính trị và các lãnh đạo Đảng ủy của các thành phố để xảy ra dịch!


Chỉ có những phản ánh của báo giới, tiếng kêu than của người dân, và những người đưa tin tình nguyện (các blogger và facebooker)!

Cả một hệ thống chính trị hành động một cách im lìm và lặng lẽ, không có một lời xin lỗi nào được đưa ra!

Ở một đất nước mà những cam kết về chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ trẻ em luôn được đưa ra để quảng bá thành tích của chính phủ, mặc cả viện trợ nhưng hệ thống làm báo cáo và thống kê không minh bạch thì cộng đồng trong nước và quốc tế có quyền đặt ra những câu hỏi cần những câu trả lời nghiêm túc ở đây. Những chiến dịch vận động quảng bá trong chăm sóc sức khỏe cộng động có thực sự hiệu quả như những gì đã được báo cáo? Những vaccine được tiêm cho trẻ có chất lượng ra sao và chúng có thực sự an toàn? Số trẻ đã được tiêm “đầy đủ” cả liều và lượng là bao nhiêu và có không hay các con số thống kê đã được phù phép…..

Vài lời kết

… Trong lúc này bệnh nhân nhi vẫn đang chờ vật vã với tử thần còn các bà mẹ và người chăm nom vẫn đang ngồi la liệt ôm các cháu ngoài hành lang.

Có thể dự đoán rằng, bằng cách không tuyên bố dịch, khả năng là trong những ngày tháng tới đây sẽ là sinh mạng của hằng ngàn trẻ thơ, tương lai của đất nước này bị mất mạng vì sự chần chừ của chính quyền, bởi dường như những người đứng đầu của các thành phố này coi trọng yếu tố kinh tế như mất khách du lịch, tẩy chay thức ăn, thiệt hại các ngành dịch vụ, mua sắm v.v..hơn là sinh mạng của những đứa trẻ thơ và sự bần cùng hóa của những gia đình có con đang nằm bệnh viện!!!

Câu hỏi lớn nhất được công luận và người dân đặt ra là ngành y tế và chính quyền bất lực hay vô trách nhiệm trước tính mạng của người dân nói chung và trẻ em nói riêng….

Tất cả thể hiện một sự bất lực của ngành y tế và bất lực của cả hệ thống chính trị, dù có trong tay tất cả các công cụ để triển khai can thiệp.

Một sự im lặng đáng sợ!
Quang Trung
——————-
[i] http://vtc.vn/321-484263/suc-khoe/so-y-te-hn-ty-le-tu-vong-soi-chua-nghiem-trong.htm Sở Y tế HN: Tỷ lệ tử vong sởi chưa nghiêm trọng (đăng ngày 17/4/2014)
[ii] http://danviet.vn/thoi-su/truong-dai-dien-who-tai-viet-nam-chi-34-ca-benh-da-co-the-cong-bo-dich/20140417103617604p1c24.htm Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam: Chỉ 3-4 ca bệnh đã có thể công bố dịch (đăng ngày 18/4/2014)
[iii] http://dantri.com.vn/su-kien/vi-sao-ha-noi-chua-cong-bo-dich-soi-863557.htm Vì sao Hà Nội chưa công bố dịch sởi (đăng ngày 17/4/2014)
[iv] http://dantri.com.vn/su-kien/vi-sao-ha-noi-chua-cong-bo-dich-soi-863557.htm Vì sao Hà Nội chưa công bố dịch sởi (đăng ngày 17/4/2014)
[v] http://petrotimes.vn/news/vn/xa-hoi/tai-sao-khong-cong-bo-dich-soi.html Tại sao không công bố dịch sởi (đăng ngày 14/4/2014)
[vi] http://dantri.com.vn/su-kien/vi-sao-ha-noi-chua-cong-bo-dich-soi-863557.htm Vì sao Hà Nội chưa công bố dịch sởi (đăng ngày 17/4/2014)
[vii] http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/bo-y-te-chung-toi-khong-giau-dich-soi-2978173.html Bộ Y tế: Chúng tôi không giấu dịch (đăng ngày 17/4/2014)
[viii] http://dantri.com.vn/suc-khoe/y-ta-da-tiem-nham-thuoc-cho-3-tre-so-sinh-o-quang-tri-857148.htm Y tá đã tiêm nhầm thuốc cho 3 trẻ sơ sinh ở Quảng Trị
[ix] http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/590325/tre-lai-tu-vong-sau-tiem-vacxin-quinvaxem.html Trẻ lại tử vong sau tiêm văcxin Quinvaxem (đăng ngày 15/1/2014)
[x] http://vnexpress.net/photo/thoi-su/tre-o-at-nhap-vien-vi-soi-bien-chung-nang-2978781.html Trẻ ồ ạt nhập viện vì sởi biến chứng nặng (đăng ngày 16/4/2014)
[xi] http://laodong.com.vn/suc-khoe/thuc-hu-loi-don-thoi-dieu-tri-benh-soi-cho-be-bang-hat-mui-194012.bld Thực hư lời đồn thổi điều trị bệnh sởi cho bé bằng hạt mùi (đăng ngày 17/4/2014)

[i] http://us.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/da-co-112-tre-tu-vong-do-soi-c46a624295.html Đã có 112 trẻ tử vong do sởi (đăng ngày 18/4/2014)
[ii] http://www.moh.gov.vn/news/pages/tincanbiet.aspx?ItemID=29 Những điều cần biết về sởi và khuyến cáo phòng bệnh (đăng ngày 10/2/2014)
[iii] http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/dich-soi-nang-nhat-trong-hang-chuc-nam-2973531.html Dịch sởi nặng nhất trong hàng chục năm (đăng ngày 4/4/2014)
[iv] http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/doisong/110109/ Bệnh sởi tăng bất thường (đăng ngày 13/2/2014)
[v] http://dantri.com.vn/su-kien/vi-sao-ha-noi-chua-cong-bo-dich-soi-863557.htm Vì sao Hà Nội chưa công bố dịch sởi (đăng ngày 17/4/2014)
[vi] http://giadinh.net.vn/y-te/hoi-nghi-who-tay-tbd-lan-thu-63-thong-qua-5-nghi-quyet-ve-suc-khoe-20121001093912820.htm Hội nghị WHO Tây TBD lần thứ 63: Thông qua 5 nghị quyết về sức khỏe (đăng ngày 1/10/2012)
[vii] http://www.wpro.who.int/about/regional_committee/63/resolutions/WPR_RC63_R5_Measles_elimination_03Oct.pdf ELIMINATION OF MEASLES AND ACCELERATION OF RUBELLA CONTROL.
[viii] http://www.wpro.who.int/about/regional_committee/63/reports/RC63_14_Final_RC63_Meeting_Report_complete.pdf (trang 46-48)
[ix] http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungchuongtrinhmuctieuquocgia?_piref135_18249_135_18248_18248.strutsAction=ViewDetailAction.do&_piref135_18249_135_18248_18248.docid=1359&_piref135_18249_135_18248_18248.substract=
[x] http://www.wpro.who.int/immunization/documents/measles_elimination_field_guide_2013.pdf?ua=1 Trang 25

(Quê choa)

Trần Kinh Nghị – Khi tâm thế yếu hèn

Vụ nhóm người Trung Quốc vượt biên trái phép  sang Việt Nam qua cửa khẩu Bắc Phong Sinh, tỉnh Quảng Ninh hôm thứ Sáu ngày 17/4 vừa qua thực ra chỉ là một trong nhiều vụ đã, đang và sẽ tiếp tục xảy ra dọc biên giới Trung Việt. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ việc lần này bộc lộ rõ hơn nguyên nhân sâu xa đáng để xem xét rút ra bài học kinh nghiệm.
Trong luồng dư luận hiện nay, bên cạnh ý kiến tán thành có nhiều ý kiến phê phán cách về giải quyết của nhà chức trách Việt Nam liên quan đến vụ việc này, đặc biệt việc trao trả cho phía Trung Quốc toàn bộ, kể cả những kẻ phạm trọng tội trong lãnh thổ Việt Nam. Những ý kiến phê phán cho rằng việc bàn giao cho Trung Quốc toàn bộ nhóm tội phạm (cả người sống lẫn xác chết) như vậy là quá vội vàng và không phù hợp với nguyên tắc về độc lập chủ quyền quốc gia và quyền con người.  Có ý kiến cho rằng “Việt Nam đồng lõa (với Trung Quốc) vi phạm nhân quyền” v.v…
Sở dĩ có cách hiểu khác nhau, thậm chí trái ngược nhau như vậy trước hết là do tình trạng thiếu thông tin hoặc không minh bạch, không nhất quán về thông tin. Ví dụ, các nguồn tin chính thức của Việt Nam lúc đầu khẳng định nhóm vượt biên “không phải là khủng bố”,  nhưng khi các nguồn khác gọi họ là “người Tân Cương”, là “lực lượng ly khai”, “khủng bố”… thì không bác bỏ. Phải chăng trước sự chất vấn của dư luận người ta có ý “để ngỏ”một số thông tin mơ hồ về tung tích “nhóm khủng bố” …để khớp với hành động  manh động táo tợn của họ(?).  Một nguyên nhân khác là mối quan hệ Việt-Trung có những điều khác với thông lệ quốc tế; chúng được điều chỉnh bằng những thỏa thuận riêng tư giữa nhà chức trách hai nước mà người ngoài khó biết được. Đó là những lý do khiến người bình thường khó có đầy đủ thông tin nếu muốn đưa ra những lời bình luận đáng tin cậy. Mọi lập luận và quy kết “tội danh”  xem ra chỉ là sự suy diễn không mấy thuyết phục. Thử hỏi, nếu phía Việt Nam khăng khăng đòi giữ số người vượt biên Trung Quốc đó thì điều gì sẽ xảy ra? (Theo tôi được biết, nhiều trường hợp người vượt biên trên thế giới cũng bị “trục xuất nhanh” không cần xét xử… để tránh rắc rối phiền phức đấy, chứ có riêng gì Việt Nam?)
Có lẽ vấn đề đáng để bàn luận ở đây là nguyên nhân dẫn đến vụ việc một cách không đáng có như vậy. Phải chăng nguyên nhân chính nằm ở TÂM THẾ của người Việt trong quan hệ với nước lớn láng giềng phương Bắc. Đó là tâm thế cả nể của kẻ yếu trước kẻ mạnh xen lẫn nỗi sợ hãi mơ mơ hồ cùng với những hệ quả phát sinh từ tâm thế đó. Đây không phải là chủ đề xa lạ mà đã được người Việt chúng ta bàn đến từ lâu rồi. Ở đây chỉ xin nêu đôi điều trực tiếp liên quan đến vụ việc vừa xảy ra mà thôi.
Vấn đề là, tại sao một nhóm tội phạm có cả phụ nữ và trẻ em đã bị bắt đưa về đồn biên phòng của ta lại có thể có cơ hội để tước đoạt vũ khí rồi khống chế toàn bộ đồn biên phòng, gây ra nhiều thiệt hại về người và tài sản như vậy?
Có người sẽ nói là “do sở hở của một vài chiến sĩ ” và “do sự manh động của đối phương”…. Nếu vậy xin hãy nghĩ đến cảnh những người Việt Nam phạm pháp ở Liên Xô cũ hay ở Trung Quốc, Nhật Bản  hoặc bất cứ nước ngoài nào thì sẽ thấy sự khác nhau. Liệu người Việt Nam ở đó có cơ hội nào để mạnh động hay chỉ toàn bị đặt vào thế “bẹp dí như con dán” trong các đồn cảnh sát của họ?
Nếu nhóm vượt biên kia có vũ khí và chống trả trong quá trình bị truy đuổi thì còn có lý. Nhưng họ tay không và đã bị bắt đưa về đồn rồi mà để xảy ra vụ việc như vậy là điều rất vô lý. Nếu chúng là khủng bố mà ta sơ hở không còng tay khống chế ngay từ đầu thì lại càng vô lý.
Câu trả lời chính xác ở đây là tâm thế mơ hồ về bạn/thù khiến người Việt Nam không thể dứt khoát trong các mối quan hệ với nước lớn láng giềng phương Bắc, và tâm thế này hoàn toàn trái ngược với tâm thế của đối phương lúc nào coi thường và khinh miệt đối với nước Việt Nam phiên thuộc. Hãy xem cảnh sát biển Trung Quốc ngày đêm trấn áp dân chài Việt Nam trên biển Đông như thế nào thì rõ. Hãy xem cái cách họ sử dụng Việt Nam như một bãi rác thải cho các loại máy móc thiết bị lỗi thời, các loại hàng hóa thứ cấp rẻ tiền và độc hại v.v… thì rõ. Ở tầm cấp cao họ cũng luôn luôn đối xử với đồng cấp Việt Nam như vậy, thì ở tầm thấp hành động như nhóm vượt biên vừa rồi là chuyện dễ hiểu.
Liệu khi nào người Việt Nam có thể thực sự thoát khỏi cái tâm thế yếu hèn sợ bóng sợ gió để vươn lên với một tâm thế mới với lòng tự tôn tự cường dân tộc đúng với nghĩa của nó?
Hà Nội, ngày 19/4/2014
Trần Kinh Nghị
(Quê choa)

Nhà hoạt động Nguyễn Tiến Trung hối tiếc vì nhận tội, xin khoan hồng

Nhà hoạt động Nguyễn Tiến Trung
Nghe phỏng vấn
Một nhà hoạt động trẻ vừa được trả tự do trước thời hạn hối tiếc vì hành vi ‘nhận tội’, ‘xin khoan hồng’ của mình trong bản án 7 năm tù về tội danh ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.’
Nguyễn Tiến Trung, sáng lập viên của Tập hợp Thanh niên Dân chủ, bị tuyên án cùng với các nhà hoạt động Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, và Lê Thăng Long trong cùng phiên xử hồi năm 2010 gây chú ý công luận quốc tế.
Trước khi ra tòa, Trung đã ‘nhận tội’ và ‘xin khoan hồng’ trước ống kính của truyền thông nhà nước và sự thất vọng của nhiều người ủng hộ cả trong lẫn ngoài nước.
Sau 3 lần được giảm án xuống còn 5 năm rưỡi, Nguyễn Tiến Trung được trả tự do sớm 8 tháng hôm 12/4/14 trong đợt phóng thích tù nhân lương tâm hiếm hoi của Việt Nam giữa những áp lực của quốc tế và các cuộc thương lượng đầy điều kiện của Hiệp định Tự do Thương mại Xuyên Thái Bình Dương TPP mà Hà Nội đang tham gia.
Ngày ra tù, Tiến Trung đã chia sẻ với Tạp chí Thanh Niên VOA những suy tư về việc đóng góp cho quá trình dân chủ hóa đất nước, những gì khiến anh hài lòng và hối tiếc trên con đường dấn thân vì dân chủ, và bài học rút ra từ bản án sau các hoạt động ôn hòa kêu gọi đa đảng tại Việt Nam.
Nguyễn Tiến Trung sinh năm 1983 bắt đầu được mọi người biết đến từ các cuộc vận động cho dân chủ Việt Nam trong thời gian anh du học tại Pháp từ năm 2002 đến 2007 trong đó có việc thành lập Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ quy tụ sự tham gia của nhiều người trẻ trong và ngoài nước; tổ chức chương trình “Marathon Nối Vòng Tay Lớn” thu thập chữ ký kêu gọi quốc tế thúc đẩy Việt Nam cải thiện nhân quyền; gặp gỡ lãnh đạo cao cấp của các nước như Tổng thống Mỹ, Thủ tướng Canada, và Chủ tịch Hội đồng Châu Âu kêu gọi hỗ trợ dân chủ hóa Việt Nam.
Tháng 8/2007, Tiến Trung về nước sau khi tốt nghiệp thạc sĩ công nghệ thông tin ở Pháp. Bảy tháng sau, Trung có lệnh gọi vào quân đội nhưng bị loại ngũ sau hơn 1 năm với cáo buộc vi phạm nội quy bao gồm không chịu tuyên thệ Mười lời thề danh dự của quân đội nhân dân. Ngay sau khi bị loại ngũ, Trung bị bắt và bị khởi tố về điều 79 Bộ Luật Hình sự.
Việt Nam nói các hoạt động của Trung là “kích động chống phá nhà nước”,“phản động” và “xuyên tạc.”
-Trung được trả tự do trước thời hạn, những điều kiện đổi lấy vụ phóng thích sớm đối với Trung là gì?
-Trung đã cam kết những điều gì trước khi rời trại giam?
-Gia đình Trung cho biết từng được giới hữu trách hứa hẹn đặc xá cho Trung nhiều lần (nhất là mỗi dịp 30/4), nhưng đã bị thất vọng rất nhiều lần. Theo Trung, vì sao lần này lại có bước đột phá đặc biệt vậy?
-Những nhà hoạt động cùng bị bắt với Trung năm 2009 trong vụ án gây chú ý công luận về tội danh ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền’ lần lượt được giảm án và phóng thích trước thời hạn (từ Lê Thăng Long, Lê Công Định, tới Trung), ngoại trừ doanh nhân THDT vẫn phải thi hành nguyên mức án 16 năm tù. Vì sao có sự khác biệt này, là người trong cuộc, Trung hiểu thế nào?
-Sau khi Trung bị bắt, truyền thông trong nước đăng tải hình ảnh Trung nhận tội và xin khoan hồng. Phải chăng Trung thừa nhận các hoạt động cổ xúy dân chủ Trung theo đuổi là ‘sai trái’ là ‘tội phạm’? Hành vi ‘nhận tội’ xin khoan hồng của những nhà hoạt động dân chủ khi bị bắt, có người thông cảm nhưng có người chê trách là thiếu bản lĩnh. Trung nghĩ sao?
-Bố Trung cho biết Trung chấp hành án kỷ luật tốt trong trại giam, nhưng vì sao Trung lại bị cách ly tuyệt đối với các bạn tù khác?
-Trung trải qua những ngày tháng trong tù như thế nào?
Tiếp tục cổ xúy cho dân chủ?
Mong muốn?
-Ngoài Trung, đợt này còn có một số tù nhân chính trị được trả tự do như ông Vi Đức Hồi, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Hữu Cầu. Theo Trung đây là một tín hiệu ‘thay đổi’ hay có nguyên nhân sâu xa nào khác?
-Các vụ phóng thích trước thời hạn cho tù nhân lương tâm tại Việt Nam trước này thường liên quan đến các thời điểm hoặc sự kiện ngoại giao quan trọng. Nếu việc phóng thích trước thời hạn cho Trung nằm trong gói ‘mặc cả’ của phía Việt Nam để đạt được mục đích nào đó hoặc để đổi lấy sự nhượng bộ nào đó từ quốc tế. Trung nghĩ thế nào?
-Ủy ban Bảo vệ Ký giả CPJ yêu cầu Việt Nam ngưng dùng tù nhân chính trị làm con tin để đổi chác với thế giới. Ý kiến một tù nhân chính trị như Trung thế nào về lời kêu gọi này?
Trà Mi
Theo VOA

30-4: Vì đâu nên nỗi?

Lý do mất miền Nam vào tay cộng sản đến bây giờ vẫn còn được tranh cãi, dù ai cũng thấy nguyên nhân chính là việc Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam VN.”Tiền đồn chống cộng” này không còn cần thiết nữa, sau khi Mỹ biết Trung Cộng vào thời gian đó không có ý định và chưa đủ khả năng nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á. Những sửa soạn cho việc Mỹ rút khỏi VN đã được thực hiện với chương tình Việt Nam Hóa chiến tranh. Đến năm 1972, sau khi Cố vấn An ninh Kissinger và TT Nixon sang Tàu nói chuyện với Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai thì ván bài đã được lật ngửa. Không đầy một năm sau, ngày 27-1-1973, Hiệp Định Paris chấm dứt chiến tranh VN được ký kết, với phần thua thiệt về phiá Nam VN, phần thắng lợi bất ngờ về phiá Bắc Việt, và Hoa Kỳ được “rút lui trong danh dự”.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu kinh lý

Cầm bản dự thảo Hiệp Định đã được Mỹ và Bắc Việt phó thự (initial), Cố vấn Kissinger đi Sài Gòn bắt TT Nguyễn Văn Thiệu ký. Nếu TT Thiệu ký ngay thì chẳng khác gì ký vào tờkhai tử của chính ông và của cả miền Nam. Bản dự thảo coi như chung quyết (final draft) này dự trù TT Thiệu phải từ chức liền, trao chính quyền cho Hội Đồng Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc gồm 3 thành phần (Quốc, Cộng và thành phần thứ ba ở giữa). Hội đồng sẽ tổ chức một cuộc tổng tuyển cử để bầu lên một chính quyền mới cai trị miền Nam. Một điều khoản khác vô cùng tai hại là trong khi các lực lượng quân sự của Hoa Kỳ và của các nước đồng minh (Đại Hàn, Úc, Thái, Phi Luật Tân) phải rút đi thì những đơn vị quân đội chính qui của Bắc Việt vẫn được quyền ở lại miền Nam.Dĩ nhiên TT Thiệu, Quốc Hội và chính phủ VNCH phản đối. Kissinger không thành công trong việc thuyết phục TT Thiệu. Ông ta giận dữ ra về và thề không trở lại Sài Gòn nữa. TT Nixon phải cử tướng Alexander Haig, Tổng Quản Trị (Chief of staff) Phủ Tổng Thống, qua Sài Gòn điều đình và làm áp lực tiếp. Cuối cùng Mỹ cũng phải thỏa hiệp không đòi TT Thiệu từ chức, không thay thế chínhquyền miền Nam bằng Hội Đồng Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc, nhưng giữ nguyên điều khoản không buộc quân đội Bắc Việt rút khỏi miền Nam, vì sợ cộng sản sẽ không nhượng bộđiều này. Kissinger phải đi điều đình lại với Lê Đức Thọ. Phiá cộng sản không chịu sửa đổi bản thảo Hiệp định, Mỹ phải dội bom Hà Nội và phong tỏa hải cảng Hải Phòng vào những ngày cuối năm 1972 để làm áp lực. Cuối cùng Hà Nội cũng phải nhượng bộ nhưng vẫn còn lời chán vì họ được giữ quân tại miền Nam để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm chiếm. Thế là Hiệp định Paric được ký vào ngày 27-1-1973.

Để buộc TT Thiệu phải làm theo ý Hoa Kỳ, TT Nixon dùng chiến thuật vừa dỗ vừa dọa. Một mặt ông viết thư cho TT Thiệu hứa hẹn tiếp tục gúp đỡ VNCH, trừng phạt cộng sản nếu vi phạm Hiệp định, một mặt ông chính thức hăm dọa “không muốn trường hợp TT Ngô Đình Diệm tái diễn”(Xem Palace Files và Khi Đồng Minh Tháo Chạy của Nguyễn Tiến Hưng). Những tài liệu liên quan tới những lời TT Nixon nói về TT Thiệu đã được giải mật và lưu trữ tại Thư viện Nixon ở Yorba Linda, California, cho thấy Nixon rất giận dữ trước việc ông Thiệu chống đối những điều khoản căn bản của bản dự thảo Hiệp định. Cuốn băng ghi âm từ 1973 dài 150 giờ và viết lại thành 30,000 trang đãđược giải mật vàđã được ông Hughes, nhà chuyên môn nghiên cứu các băng ghi âm của các tổng thống Mỹ, tiết lộ Nixon đã từng nói trong một phiên họp tại Bạch Ốc vềông Thiệu: “Tôi không rõ đe dọa đó có đủ hay không, nhưng tôi sẵn sàng làm bất cứ điều gì, kể cả cắt đầu của hắn nếu cần thiết” (cut off his head if necessary- Nguồn: BBCvietnam.com June 24, 2009). Dĩ nhiên, Nixon nói điều này trong lúc nóng giận nhưng cũng phản ảnh một phần sự thật. Chính tướng Alexander Haig cũng viết trong hồi ký là vào thời điểm đó, tên ông Thiệu thường được nhắc tới trong các cuộc thảo luận vàcó người đưa ý kiến ám sát ông Thiệu. Tướng Alexander Haig viết thêm: “Nixon rất mong muốn giải quyết chuyện Việt Nam cho xong và chia sẻ sự bực bội và tức giận như núi lửa của Kissinger đối với người đồng minh cứng đầu này (ám chỉ ông Thiệu) đã gây trở ngại lớn nhất cho ông trong việc kết thúc cuộc chiến” (1).

Dọa nhau như thế, nhưng Mỹđãkhông dám làm, vì không dại gì gây chuyện rắc rối mới khi sắp đến cuộc bầu cử nhiệm kỳ 2 của TT Nixon. Vì vậy thầy trò Nixon phải thuyết phục VNCH bằng những hứa hẹn trừng phạt những vi phạm Hiệp định và tiếp tục viện trợ cho Nam VN. Khi tiếp ông Nguyễn Phú Đức, Phụ Tá Ngoại Giao của TT Thiệu tại tòa Bạch Ốc, TT Nixon đã hứa sống hứa chết (he repeated his bedrock assurance) là sẽ bỏ bom Bắc Việt một cách nặng nề nếu Bắc Việt vi phạm hỏa ước (2). Về phần Ngoại Trưởng Henry Kissinger (nhận chức Bộ Trưởng Ngoại Giao ngày 22-9-1973) cũng viết trong hồi ký rằng chính TT Nixon, Bộ trưởng Quốc Phòng và các giới chức cao cấp của Mỹ đều xác nhận nhiều lần với ông Thiệu làchính phủ Hoa Kỳ sẽ buộc Bắc Việt phải tôn trong Hiệp định (3). Hứa như vậy chỉ là đểông Thiệu yên tâm ký một hiệp ước bất lợi. Thực tế, Mỹ chỉ muốn chấm dứt chiến tranh “trong danh dự”, có nghiã làlấy được tù binh về, rút chân khỏi vũng lầy VN, mặc cho Nam VN rơi vào tay cộng sản, trong một “khoảng thời gian coi được” (decent interval).Vì thế Hành Pháp bầy trò đề nghị Lập Pháp viện trợ cho Nam VN 700 triệu Đô-la. Lập Pháp lờđi. TT Gerard Ford lại yêu cầu viện trợ khẩn cấp 300 triệu. Quốc Hội lấy cớ nghỉ hè, không thể triệu tập phiên họp cứu xét. Một khi người ta đã quyết tâm bỏ cho chết luôn, làm sao có thể cho tiền để sống lay lứt thêm một thời gian nữa?

Sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản, ông đạo diễn phù thủ Kissinger mới viết vuốt đuôi “Lúc này tôi nghĩ tới một ông tướng VN nhỏ bé, một người yêu nước”. Ở một đoạn khác, ông viết:”Tôi có rất ít tình bạn cá nhân với ông Thiệu, nhưng nhìn ông theo đuổi cuộc chiến đấu một cách cô độc sau khi người Mỹ rút lui, tôi thấy mến phục ông ấy rất nhiều. Ông ít được thương hại, cũng cũng không được nhiềungười hiểu, nhưng những điều đó không ảnh hưởng gì tới nhân cách của ông” (4).

Đúng là những lời ai điếu để an ủi. Chính Kissinger đã tiên đoán với Nixon là sau 2 năm ký Hiệp định Paris, miền Nam VN sẽ sụp đổ. Các chính khách có thói quen chỉ đấm ngực nhận lỗi sau khi rời chức vụ. Về trường hợp Việt Nam, cựu Tổng Thống Richard Nixon viết cả một cuốn sách rút những kinh nghiệm sai lầm,No More Vietnams. Cựu Ngoại Trưởng Henry Kissinger viết hồi kýcó những đoạn xoa vuốt Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vàgần đây đãchính thức xin lỗi về những sai lầm của mình. Ông còn xác nhận trong khi Mỹ chấm dứt viện trợ cho miền Nam thì khối Xô Viết vẫn tiếp tục cung ứng đầy đủ các tiếp liệu cho Bắc Việt. Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Melvin Laird nói rằng các khoản viện trợ Mỹ dành cho VNCH đã bị cắt theo yêu cầu của các thế lực chính trị Mỹ, đưa tới kết qủa chung cuộc là chế độ miền Nam VN thua trận vào ngày 30-4-1975 (VOA 2-7-2007).

Khi nhìn thấy vấn đề thìđã trễ. Nhưng khi tại chức, họ chỉ nghĩ tới quyền lợi của nước họ, tới ghế ngồi vàdanh dự của cá nhân họ. Một tay cầm súng, một tay cầm túi Đô la, họ cứ bước lên đầu người khác màđi. Vì vậy, chúng ta phải nhớ, trong trường chính trị, không có đồng minh vĩnh viễn và cũng không có kẻ thù vĩnh viễn. Lý tưởng còn thay đổi huống chi chính sách. Khi nhu cầu đòi hỏi, họ có thểxoay đổi chính sách 180 độ, bất kể bao nhiêu tiền bạc và xương máu đã đổ ra. Tiền và mạng người được coi là những chi phí cần thiết cho một giai đoạn với một chính sách giai đoạn. Lúc phải tiêu là tiêu. Tiêu rồi không tiếc.

Dù quy trách nhiệm lớn nhất cho Hoa Kỳtrong việc mất miền Nam, chúng ta cũng phải tựnhận lỗi về những khuyết điểm của mình. Những tính toán sai của các lãnh đạo quân sự và  dân sự, nạn tham nhũng, lính ma lính kiểng, hối mại quyền thế…đều có xảy ra dù không ở mức độ trầm trọng như dưới chế độ cộng sản. Không thể chấp nhận những tệ nạn này nhưng chúng không làm mất nước khi ở một mức độ thấp. Dân miền Nam vẫn sống no đủ, tự do, xây dựng hiện tại và tương lai với đà tiến triển không ngừng. Tội nặng nhất phải quy vào những kẻ chỉ biết vụ lợi, những kẻ”ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”. Họ là những con buôn bán lén gạo và thuốc Tây cho cộng sản với giá cao. Họ là những người hướng về rừng với hoài cảm thời Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Họ là những trí thức viễn mơ đề cao giá trị dân tộc và chống sự hiện diệncủa người ngoại quốc trên đất nước. Họ lý luận rằng cộng sản hay quốc gia đều là người Việt, chắc không xử tệ với nhau như người ngoại chủng xử với dân mình. Từđó, họ chống đối chính quyền quốc gia, gán cho mọi thứ xấu và sẵn sàng nghe theo những lời dụ dỗ của những cán bộ cộng sản nằm vùng. Họ là những người trẻ bịđàn anh phỉnh gạt bằng những lý luận sai lầm. Cuối cùng, họ là những người lãnh đạo tinh thần của một số tôn giáo đã vô tình hay hữu ý lẫn lộn chuyện đạo với chuyện đời, không phân biệt đấu tranh cho công lý với đấu tranh chính trị để lật đổ một chế độ hợp pháp, chưa kể mộ số tu sĩ là cộng sản nằm vùng khéo ngụy trang. Để cai trị một xã hội bị lũng đoạn như thế, chính quyền vẫn phải áp dụng những nguyên tắc dân chủ, hơi mạnh tay là bị kết án đàn áp, sửa đổi luật lệ cho hữu hiệu thì bị kết án độc tài. Có bàn tay cộng sản nhúng vào mọi chỗ mà nhiều người không biết, cứ tưởng mình đang tranh đấu cho hòa bình, tự do và quyền lợi của dân tộc. Chính những người như vậy đã tiếp tay cho cộng sản mau chiếm miền Nam.

Mất rồi mới tiếc. Mắt mở ra mới thấy mình lầm. Trong khi dân trong nước đang đấu tranh gian khổ đểđòi lại những quyền công dân và quyền con người đã bị cướp mất, đang vật vãđòi lại và giữ gìn những phần biển, đảo màông cha để lại, chúng ta ở hải ngoại đang làm gì? Còn bao nhiêu người nghĩ tới quê hương? Có bao nhiêu người dấn thân trong những hành động tranh đấu đòi công lý và nhân quyền cho anh em ruột thịt trong nước? Hay đa số chúng ta vẫn thờơ, coi  đó là việc của người khác? Có người còn tiếp tay cho những kẻ cầm quyền bán nước và hà hiếp dân dù chính họđã từng là nạn nhân.May mắn thay, vẫn còn nhiều người âm thầm tranh đấu, hay ít ra cũng âm thầm góp công góp của để yểm trợ những người tranh đấu. Họ thuộc đa số thầm lặng, chỉ lên tiếng khi cần. Vì sống trong những xã hội tự do, các đoàn thể của người Việt đua nở như nấm gặp mưa. Có những đoàn thể tốt nhưng cũng có những đoàn thể hữu danh vô thực, thùng rỗng kêu to. Có những người tốt nhưng cũng có những người chỉ thích danh lợi, thích làm lãnh tụ, mới làm chủ tịch một hội nhỏ xíu đã mơ và cư xử như một thủ tướng, bộ trưởng, dân biểu tương lai. Do đó sự đố kỵ và chia rẽ gia tăng, cộng thêm những bàn tay bí mật của cộng sản và tay sai nhúng vào quậy phá các cộng đồng. Trước những tệ nạn trước mắt, chúng ta vẫn không thất vọng khi thấy sau 39 năm, cộng sản vẫn chưa chiếm được một cộng đồng người Việt nào ở hải ngoại, chưa đưa được khối người Việt hải ngoại vào vòng chi phối và thần phục nhàđương quyền Hà Nội, dùcộng sản đã tốn bao công sức và tiền bạc để thi hành Nghị Quyết 36.

Kỷ niệm 39 năm miền Nam bị đặt dưới chế độ cộng sản, chúng ta cần thay đổi phương cách hành động. Chúng ta nên ý thức rằng việc trực diện đấu tranh với cộng sản phải làviệc của người trong nước, người ở ngoài chỉ có thể yểm trợ tinh thần, ngoại vận và phương tiện. Chúng ta không nên phí tiền bạc vào những việc phô trương bề ngoài. Hãy dồn phương tiện giúp anh chị em trong nước. Khi tranh đấu trong thời đại điện tử và thông tin nhanh chóng như hiện nay, họ cần phải có máy hình, điện thoại di động, computer… Khi ốm đau hoặc khi bị bắt vào tù, họ cần được tiếp tế lương thực và thuốc men, chưa kể những hoạt động khác đòi hỏi nhiều phương tiện hơn. Các đoàn thểở hải ngoại nên phối hợp trong việc phân phối sự yểm trợ cho trong nước để tránh tình trạng chỗít qúa, chỗ nhiều qúa. Hãy tạo thêm những đường dây liên lạc mới, tìm kiếm thêm những người dấn thân mới và giúp đỡ họ. Nếu làm được như thế, đồng bào trong nước sẽ lên tinh thần và phong trào tranh đấu có cơ lớn mạnh nhanh chóng vì có sự yểm trợcụ thểvà hữu ích của đồng bào ngoài nước.

Mong rằng ngày 30-4 năm tới, chúng ta sẽ có một nước Việt Nam đẹp hơn nước Việt Nam hiện nay.

Mặc Giao
_________________________________________________

(1) Alexander M. Haig, Jr., Inner Circle, tr 307, Warner Books, New York 1992
(2) Alexander Haig, sách đã dẫn, tr 306
(3) Henry Kissinger, Les Années Orageuses, tr 355, Fayard, France 1982
(4) Henry Kissinger, sách đã dẫn, tr365
(Đàn Chim Việt)

Nhân vật mới cho thời cuộc mới?


Nhân vật mới cho thời cuộc mới?

Ông Võ Văn Thưởng được phân công làm Phó bí thư thành uỷ Tp HCM - Ảnh: Thuận Thắng
Ông Võ Văn Thưởng được phân công làm Phó bí thư thành uỷ Tp HCM – Ảnh: Thuận Thắng
Hôm nay các báo lề phải Việt Nam đồng loạt công bố nguồn tin nhân sự lãnh đạo mới tại TpHCM là Võ Văn Thưởng, hiện đang là bí thư tỉnh ủy Quảng Ngãi, chính thức về nhận chức Phó Bí Thư Thường Trực Thành Ủy TpHCM thay cho Ông Nguyễn Văn Đua (*). Có gì đáng quan tâm về việc nhận chức này, việc mà tôi chú ý và chờ đợi suốt 3 năm nay?

Năm 2011, trong những lúc trà dư tửu hậu với các anh em hiểu biết nhiều về hậu trường chính trị Việt Nam, tình cờ tôi nghe 1 người bạn nhắc tôi hãy chú ý tới nhân vật Võ Văn Thưởng, một ứng viên cho vị trí lãnh đạo trẻ của Việt Nam trong giai đoạn sắp đến, khi mà anh ta mới 40 tuổi đã được cơ cấu vào ủy viên trung ương đảng, bí thư tỉnh ủy Quảng Ngãi.

Thú thật lúc đó, tháng 3 năm 2011, tôi nghe tin này cũng không chú ý lằm và cảm thấy hơi bất ngờ, vì kể từ khi Võ Văn Thưởng nhận chức bí thư Quảng Ngãi thì có vẻ ông ta khá “im ắng “ trước truyền thông và báo giới,. Tuyn nhiên khi có dịp đến Quảng Ngãi, tôi thấy ấn tượng của người dân nói chung về Võ Văn Thưởng khi ông ta làm bí thư Quảng Ngãi là quan tâm đến ngư dân, quan tâm đến việc bảo vệ chủ quyền Biển Đông, có tinh thần cầu thị và lặng lẽ khiêm tốn. Ngoài ra, ông ta là cháu của cố Thủ Tướng Võ Văn Kiệt. Dấu ấn chính trị của Võ Văn Thưởng lưu lại trong tôi là 2 việc gần đây: ông ta xin lỗi và nhận khuyết điểm trước dân trong đợt biểu tình năm 2013 của người dân Quảng Ngãi, và vận động Mặt trận tổ quốc Quảng Ngãi thành lập Quỹ hỗ trợ ngư dân. Ông ta cũng có nhiều hoạt động thiết thực trong việc bảo vệ ngư dân, qua đó bảo vệ chủ quyền Biển Đông, như 1 trong nhiều nỗ lực của ông ta trong vị trí lãnh đạo cao nhất của Quảng Ngãi.

Sự bất thường trong việc bổ nhiệm

Trong bản tin công bố nhân sự sáng nay, chúng ta thấy có 2 chữ “bất thường”. Đúng là cũng có bất thường, bên cạnh đại hội bất thường của thành ủy TpHCM để bỏ phiếu cho Võ Văn Thưởng thì việc bổ nhiệm này cũng có một cái “lạ”. Như chúng ta đã biết, vừa qua Bộ Chính Trị có đợt điều động luân chuyển 44 cán bộ mà nói theo ông Tô Huy Rứa, trưởng ban tổ chức trung ương, là luân chuyển để đào tạo và thăng tiến. Trong danh sách này, vừa đưa ra tháng 3 vừa qua, không có tên Võ Văn Thưởng, mà lại có tên Nguyễn Khắc Định, Phó Chủ Nhiệm Văn Phòng Chính Phủ sẽ về TpHCM thay Nguyễn Văn Đua. Nhưng sáng nay công bố lại thì là Võ Văn Thưởng. Phải chăng đang có bàn tay ai đó làm thay đổi cục diện, và muốn gây sự chú ý cho dư luận trong việc bổ nhiệm Võ Văn Thưởng về vị trí phó bí thư TpHCM, khác với dư trù tháng 3? Và phải chăng có một sự sắp xếp phe nhóm nào đó trong nội bộ Bộ Chính Trị khá căng thẳng? Trước khi danh sách 44 nhân sự luân chuyển được công bố, thì tôi đã nghe người bạn kia khẳng định vào tháng 2 năm nay, là Võ Văn Thưởng, chứ không phải Nguyễn Khắc Định, sẽ về TpHCM thay Nguyễn Văn Đua. Khi thấy danh sách 44 nhân sự công bố ra, nhìn tên Nguyễn Khắc Định, thay vì Võ Văn Thưởng, tôi còn bán tín bán nghi hay là bạn mình cho tin sai?. Nay thì thấy anh bạn kia đưa tin đúng. Một tình huống chưa hề có tiền lệ trước đây trong việc cơ cấu nhân sự dự bị lãnh đạo của đảng cộng sản, và sự bất thường trong việc tin ngoài luồng mà tôi nghe trước lại chính xác hơn công bố chính thức của báo chí.

Nét đáng chú ý thứ hai mà tôi nhận thấy là Võ Văn Thưởng, trong vị trí phó bí thư thường trực thay cho Nguyễn Văn Đua, phải chăng sẽ là ứng viên cho vị trí bí thư thành ủy TpHCm vào kỳ bầu bán tới đây năm 2016. Và qua vị trí Bí Thư Thành Ủy TpHCM, ông ta sẽ đương nhiên vào Bộ Chính Trị, nhóm nhân vật quyền lực nhất Việt Nam? Và tôi nhớ lại lời lưu ý của ông bạn kia 3 năm trước.

Tương lai chính trị của Võ Văn Thưởng và tương lai chính trị Việt Nam

Việt Nam đang ở trong một bối cảnh chính trị có thể xem là “giữa 2 dòng nước” của cao tầng lãnh đạo Việt Nam hiện nay, đang có những nỗ lực thoát ra khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc vì an ninh quốc gia bị đe dọa, xích lại gần Phương Tây trong việc tìm kiếm những đồng minh chiến lược, tìm kiếm viện trợ để đưa Việt Nam ra khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài. Trong bối cảnh đó, Võ Văn Thưởng, như sự lưu ý của ông bạn tôi 3 năm trước, sẽ có vai trò gì trong bàn cờ chính trị Việt Nam sắp tới?

Trước hết, cần phải nhìn nhận một thực tế là hiện nay Việt Nam đang khủng hoảng nhân sự lãnh đạo kế thừa đủ uy vọng để quốc tế đánh giá cao khi mà 2 năm tới, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, nếu theo thông lệ, sẽ rời chính trường, ai sẽ đủ uy tín để đối ngoại với quốc tế?

Võ Văn Thưởng nếu bình thường sau sự bổ nhiệm bất thường, trong 2 năm nữa, năm 2016 sẽ được cơ cấu vào Bộ Chính Trị với chức danh bí thư thành ủy TpHCM. Tôi nghĩ là Nguyễn Tấn Dũng đã đưa ra con bài kế thừa của mình tại chính trường Việt Nam khá khôn khéo, khi đưa Võ Văn Thưởng vào bàn cờ. Với ưu thế là cháu của Cố Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, người mà trong quá khứ và đến hiện nay, luôn được chính giới Phương Tây đánh giá cao, sẽ là 1 thuận lợi cho Võ Văn Thưởng khi anh ta thay thế cho Bộ Chính Trị đối ngoại với quốc tế, bên cạnh những ưu thế cá nhân và uy tín quần chúng sẵn có như đã nói ở trên về quá trình hoạt động chính trị của Võ Văn Thưởng.

Việc chuyển hóa chính trị của Việt Nam mà theo quan điểm cá nhân tôi, Nguyễn Tấn Dũng đang khởi động (xem lại bài viết “ Bàn về ý kiến của Giáo Sư Tương Lai”) trong tương lai cần 1 nhân vật như Võ Văn Thưởng. Đây là 1 bước đệm cần thiết để đối nội và đối ngoại, trong thì củng cố lòng dân qua ấn tượng cá nhân, ngoài thì củng cố niềm tin của quốc tế trong việc để Võ Văn Thưởng kế thừa và tiếp nối chính sách chính trị “kiểu Võ Văn Kiệt”, trong một bối cảnh mà Việt Nam đang khủng hoảng nhân sự, khủng hoảng chính trị và khủng hoảng kinh tế. Ghép mảnh ghép Võ Văn Thưởng vào bức tranh chính trị Việt Nam đang dần phải chuyển hóa theo xu hướng dân chủ, phù hợp với yêu cầu thực tế xã hội đang đòi hỏi, và sự gắn kết chiến lược với Phương Tây để “thoát Trung”, tôi hi vọng rằng nước đi này của Nguyễn Tấn Dũng sẽ cụ thể hóa những thông điệp đầu năm của ông ta với Phương Tây và người dân trong nước. Cố Thủ Tướng Võ Văn Kiệt đã đưa ra chiến lược và thành công trong việc đấu tranh với những bảo thủ, giáo điều Xã Hội Chủ Nghĩa để đưa kinh tế Việt Nam thay đổi, hi vọng rằng cháu ông ta, Võ Văn Thưởng, sẽ kế tiếp phần 2 của chiến lược đó, tiếp tục đưa chính trị Việt Nam thay đổi, điều mà Việt Nam thật sự cần lúc này, để tránh khỏi nguy cơ khủng hoảng, phụ thuộc Trung Quốc và đáp ứng mong mỏi của người dân.

Chỉ cần Võ Văn Thưởng có tâm thực hiện điều này, dù thành công hay thất bại, lòng dân và đất nước cũng sẽ vinh danh ông ta như đã vinh danh Cố Thủ Tướng Võ Văn Kiệt.
© Nguyễn An Dân
(15.4.2014)
Nguồn: changevietnam
——————————————
(*) tuoitre.vn

Đứa con của biển

Truyện ngắn Trần Trung Đạo

(Ảnh “Koh Kra victims, nạn nhân hải tặc Thái Lan tại đảo Koh Kra” do nhân viên Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ chụp).

Sống chết là một định luật, một chiếc cầu mà ai cũng phải đi qua. Giọt sương mai trên thảm cỏ non. Chiếc lá khô rơi trong buổi chiều vàng. Mọi tạo vật, từ con người cho đến một giọt sương, một chiếc lá, đều có sinh và có diệt”. Chị Hà đọc đâu đó. Mới hôm nào đây, chị đã dùng để an ủi ông láng giềng Paul, khi bắt gặp ông cụ đứng ngẩn ngơ bên cửa sổ trong một buổi chiều.

Bà Karen, vợ ông, qua đời năm trước đó. Hẳn nhiên không phải cụ Paul không biết đến lẽ mất còn của tạo vật, nhưng như cụ Paul trả lời chị Hà: “Hiểu biết bao giờ cũng dễ hơn chịu đựng”. Thiếu cụ bà Karen, ông sống như một người mất bóng, suốt ngày lay hoay như tìm kiếm chính mình. Không ai biết ông bà gặp nhau từ bao giờ nhưng không thấy họ có con cái gì. Thỉnh thoảng một người bà con hình như ở xa lắm, ghé thăm. Thế giới của ông bà cụ là căn nhà trệt hai phòng ngủ và khu vườn nhỏ sau nhà. Những bụi hoa huệ vàng được trồng dọc hàng rào. Chiếc ghế dài cũ và những câu chuyện họ thì thầm với nhau, có thể được lập đi lập lại cả trăm lần. Dù sao khi cụ bà Karen mất, một nửa thế giới của cụ Paul cũng chết theo. Những bụi hoa dọc hàng rào không ai chăm sóc. Cụ Paul, từ đó, ít ra ngoài. Thỉnh thoảng, cụ vịn song cửa nhìn ra khu vườn trống, chiếc ghế cũ lẻ loi, những bụi hoa huệ bị mưa xoi bật gốc. Cũng qua cánh cửa đó, có lần chị Hà bắt gặp hai giọt nước mắt già nua lăn trên đôi má nhăn nheo của cụ Paul.

Trong “cul-de-sac” gần biển này chỉ có chừng chục ngôi nhà, nối nhau thành một vòng tròn chung quanh một sân cỏ nhỏ. Từ xóm nhà đi bộ dọc con đường hẹp cắt ngang đồi thông, chừng 5 phút là đến biển. Hầu hết gia đình là người sinh ra hay định cư lâu năm trên xứ nầy, ngoại trừ mẹ con chị Hà, một người Mỹ gốc Việt. Chồng chị thất lạc trên đường vượt biển. Chị sinh đứa con trai đầu lòng ở trại tỵ nạn Thái Lan. Tháng 12 năm 1980, người phụ nữ hai mươi bảy tuổi, ẵm đứa con trai mới sáu tháng bước xuống phi trường quốc tế Logan, thuộc thành phố Boston. Không cha mẹ, anh em. Không bà con thân thuộc. Những năm đầu mẹ con chị Hà sống trong căn phòng do một hội từ thiện thuê dùm ở Dorchester. Nhờ có căn bản sư phạm từ trước, chị học tiếng Mỹ khá nhanh. Sau khi hoàn tất khóa cán sự y tế tại một trường huấn nghệ, chị xin được một việc làm tại bệnh viện thành phố Boston. Chị ít khi ra ngoài. Khi đi chợ mua sắm, chị chẳng buồn trang điểm như cố tình làm cho mình già hơn và xấu đi. Nhưng làm sao che giấu được thân hình thon nhỏ, làn da trắng mịn màng, khuôn mặt tròn và đôi mắt đen nhưng rất buồn của của một cô gái Việt còn trong tuổi thanh xuân. Chị đã đóng cánh cửa sổ nhìn ra khu vườn đời chị, dù nơi đó lá mùa thu vẫn đẹp, hoa mùa xuân vẫn nở, tiếng ve vẫn reo vang trong mỗi độ hè về.

Chị Hà không thích ở thành phố. Khi dành dụm đủ số tiền cần thiết để ứng trước, chị mua căn nhà nhỏ ở quận Plymouth, một vùng ven biển, cách Boston chừng 20 dặm về phía nam. Chị nghỉ việc ở bệnh viện và tìm được một công việc khác tại một trung tâm y tế dành cho người già ở gần nhà. Năm đó, chị Hà ba mươi tuổi. Một phụ nữ trẻ đẹp và đầy sức sống, chị có thừa khả năng để xây dựng cho mình một gia đình mới trong cuộc đời mới. Nếu bảo chị không thích người đồng hương thì chị có thể kết hôn với người xứ khác. Nhưng chị vẫn một mình với đứa con thơ, sống trong tháng năm trầm lặng. Hẩm hiu nhưng ấm cúng. Đứa con trai của chị là niềm vui, là hy vọng, là tất cả quá khứ, hiện tại và tương lai của chị góp lại. Một ngày của chị bắt đầu với việc đưa con đến trường, đi làm ở viện dưỡng lão, dạy con làm bài tập, dạy con học thêm tiếng Việt và ra biển ngồi đọc sách. Và cứ thế, ngoại trừ những khi mưa bão và mùa đông giá rét, một ngày của chị Hà bao giờ cũng chấm dứt bằng những giây phút rất riêng tư bên bờ biển. Ngay cả những khi không đọc sách, chị vẫn ra ngồi như thế. Im lặng như để lắng nghe tiếng thì thầm vọng về từ một nơi xa xôi.

Chị gần gũi với biển đến nỗi đứa con trai chị cũng được đặt tên là Biển. Hàng xóm gọi nó Ben, theo âm Mỹ không có dấu. Khi mẹ con chị Hà mới đến, hàng xóm láng giềng, vốn quen với sự yên tĩnh, ít nhiều cũng có phản ứng khó chịu, nhưng dần dần họ quen đi. Tiếng khóc, tiếng cười của đứa bé không còn báo động sự ồn ào, không còn mang đến sự phiền toái, trái lại báo hiệu một sự sống đang đâm chồi. Thằng bé mang niềm vui đến thôn xóm nhỏ vốn thiếu vắng tiếng cười.

Lê Văn Biển hay Ben Le, lớn nhanh như thổi, trông kháu khỉnh với nước da ngâm đen và mái tóc phía trước hơi quắn lại. Trong “cul-de-sac” nhỏ này, mọi người, nhất là ông bà Paul, cưng và xem Biển như là con chung. Ngày sinh nhật 11 tháng 6 mỗi năm của thằng bé trở thành ngày hội của xóm. Mỗi người đóng góp một món đồ chơi, một chùm bong bóng. Năm nào cũng thế, bà Karen tự tay làm chiếc bánh sinh nhật thật to cho Biển. Biển học bơi rất sớm và cũng bơi rất giỏi. Bất cứ khi nào rảnh rỗi là cu cậu tuôn ra biển, phơi mình trên cát, trên sóng. Biển học giỏi và rất ngoan. Nếu ai hỏi thằng bé mơ ước gì khi khôn lớn, nó không ngần ngại chỉ con tàu đang chạy ngoài khơi, và mơ ước được trở thành thuyền trưởng.

Năm lên 7 tuổi, lần đầu tiên Biển muốn biết về ba của nó: “Thằng Chris có ba, tại sao con không có?” Chị Hà không dấu con: “Ba của con chết trên đường vượt biên từ khi con chưa ra đời”. Thằng bé thắc mắc: “Tại sao?” Chị không biết phải giải thích sao khác hơn với một đứa bé bảy tuổi, ngoài việc trả lời: “Tai nạn. Ba con chết trong một tai nạn trên biển”. Biển hỏi đuổi: “Tai nạn gì hở mẹ, mấy chiếc tàu tông nhau?” Chị Hà vuốt mấy sợi tóc quăn của con, âu ếm: “Không phải. Con còn nhỏ, mai mốt con lớn hơn mẹ sẽ kể thật chi tiết về tai nạn này cho con nghe”. Chị lấy trong xấp giấy tờ cũ, nhận từ Việt Nam, tấm hình đen trắng của một thanh niên chừng hai mươi tuổi đang ôm cây đàn guitar đứng dựa vào tường và bảo: “Đây là hình của ba con”. Biển nhìn chăm chăm vào tấm hình đen trắng, đưa lên đưa xuống, lật ngang, lật dọc, cố tìm một nét quen thuộc, một chút liên hệ với người trong ảnh mà từ lâu nó không biết. “Con giống ba không?” thằng bé hỏi. Chị lại gật đầu: “Giống chứ, nhưng con giống mẹ nhiều hơn”. Biển không chịu: “Con giống ba nhiều hơn vì da và tóc của ba cũng giống như của con”. Chị Hà cười, định giải thích vì tấm hình đen trắng chứ không phải vì da và tóc, nhưng lại thôi. Thằng bé không hỏi thêm nhưng từ đó, nó cũng dần dần biết buồn tủi khi bọn thằng Glen, thằng Chris có ba đưa đi xem đánh baseball, basketball còn nó thì không. Chị Hà an ủi con. Sinh nhật của Biển, chị mua cho thằng bé hai món quà, thay vì một. Chị bảo món quà sau là quà của ba. Chị đưa Biển đi chơi baseball với đám thằng Glen, thằng Chris. Nhiều khi chị phải ngồi hàng giờ, có khi đến khi trời sập tối, bên sân cỏ để đợi con.

Thằng Chris, đứa bé mà Biển hay đem ra làm ví dụ, là con của anh Brian, người đàn ông góa vợ, ở cách nhà chị Hà chừng hai dặm. Anh tình nguyện giúp chị Hà đưa đón Biển mỗi lần tập dượt vì hai đứa bé cùng chơi chung một đội bóng thiếu nhi. Chị từ chối mặc dù nhiều khi phải xin nghỉ việc sớm để đưa đón con. Ơn nghĩa sẽ dẫn đến lệ thuộc, chị nghĩ thế. Chị biết Brian rất tử tế, lịch sự và dĩ nhiên, có cảm tình riêng với chị. Một lần bên bờ biển chị suýt xiêu lòng khi Brian tha thiết tỏ tình. Nhưng chị đã dừng lại được. Những ngày lễ, Brian thường mời mẹ con chị đến nhà, hay cùng đi ăn với bố con anh, nhưng chị Hà thường tìm cách từ chối. Vợ của Brian, không biết mất vì bịnh gì, để lại cho anh đứa con trai 3 tuổi. Brian là một nhân viên quản trị trung cấp, làm việc cho một công ty tài chánh. Mỗi khi đi công tác xa về, ngoài việc mua quà cho thằng Chris, Brian không quên mua một món quà dành cho Biển. Anh không dám mua tặng chị Hà vì ngại chị lại sẽ từ chối như nhiều lần trước đó. Rồi Brian cưới vợ lần nữa. Vợ anh là một người làm cùng hãng. Đám cưới diễn ra linh đình. Thằng Biển được nhờ làm em bé cầm hoa đi trước cô dâu chú rể. Chị Hà cũng được mời và có mặt. Brian giới thiệu chị Hà với vợ rất ân cần và trịnh trọng. Hai gia đình từ đó gần gũi hơn. Trong những ngày lễ, vợ chồng Brian đến thăm mẹ con chị Hà, và ngược lại chị Hà cũng đáp lễ mỗi khi có dịp.

Sau sinh nhật mười tuổi của Biển không lâu, chị Hà ngã bịnh. Bác sĩ khám phá một cục bướu nhỏ trong tử cung chị và cần phải được cắt bỏ ngay. Khi điền giấy tờ đồng ý giải phẫu, chị Hà mới biết rằng mình không có ngay cả một người thân thích ở Mỹ. Chị không lo đến mình bằng lo cho tương lai của Biển. Chị là chỗ dựa duy nhất của thằng bé. Không có chị đời nó không biết sẽ ra sao. Chị Hà hoảng sợ khi nghĩ đến điều bất hạnh có thể xảy ra. Chị mời vợ chồng Brian đến bịnh viện để nhờ anh chị làm người bảo trợ Biển cho đến khi Biển được mười tám tuổi, nếu chị gặp phải chuyện bất trắc. Vợ chồng Brian xúc động nhận lời. Bịnh của chị không có gì trầm trọng. Mổ xong vài hôm, chị bình phục và tiếp tục cuộc sống với con trong căn nhà nhỏ.

Hai mươi hai năm trôi qua. Chị Hà đã già đi nhiều theo thời gian. Cô gái Việt Nam hai mươi bảy tuổi, mới ngày nào ẵm đứa con còn đỏ hỏn, đặt chân lên nước Mỹ, bây giờ đã là một bà mẹ năm mươi tuổi. Biển cũng thế. Anh chàng không còn là cậu bé suốt ngày phơi mình trên cát nhưng đang là sinh viên năm chót ngành hàng hải của trường đại học Boston. Có lần Biển đưa về nhà một cô gái tóc vàng, giới thiệu với mẹ là bạn gái. Chuyện con trai có bạn gái là chuyện bình thường, chị Hà chỉ mong Biển đừng vì thế mà xao lãng việc học hành.

Vợ chồng anh hàng xóm Brian đã ly dị nhau. Lần nầy Brian không cưới vợ khác, và cũng không tìm đến chị như lần trước. Anh quyết định dọn nhà đi tiểu bang khác. Thằng Chris, con trai anh, vừa học xong trung học thì đăng lính. Anh không có con cái gì với người vợ sau, nên anh chẳng còn gì phải bận tâm lo lắng. Trên đường ra phi trường, Brian ghé nhà chào chị Hà. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm quen biết, chị Hà lịch sự và tha thiết, choàng tay ôm nhẹ Brian. Chị nói nhỏ: “Chúc anh đi bình an và thành công, có dịp nhớ về thăm, tôi vẫn ở đây”. Brian xúc động: “Tôi sẽ không bao giờ hiểu được Hà”. Chị Hà cười nhẹ: “Vâng, anh sẽ không bao giờ. Chúng ta sống trong cùng một xóm nhưng hai thế giới tâm linh xa cách. Tôi chẳng biết nói sao hơn. Xin lỗi anh vậy”.

Cụ bà Karen chết trước cũng đã để lại một khoảng trống tinh thần và cả vật chất, không có gì bù đắp được trong đời sống của cụ Paul. Sức khỏe của cụ, vì thế, ngày càng giảm sút. Chị Hà rất lo cho người láng giềng gần gũi của mình. “Không chừng cụ Paul cũng sẽ ra đi”, chị than thầm. Thật vậy, buổi hẹn với bác sĩ lần đó kéo dài lâu hơn. Buổi chiều, xe cứu thương không đưa cụ trở về như thường lệ. Bác sĩ giữ cụ lại bịnh viện và khoảng tuần sau thì cụ chết. Người bà con ở xa lại đến dọn nhà, cắt cỏ. Vài tuần sau, một tấm bảng “Nhà bán” được cắm trước sân.

Ngày ra trường của Biển đã đến. Trong mọi ý nghĩa, đối với chị Hà, là một ngày trọng đại. Bao nhiêu năm nay chị chờ đợi một ngày này. Chị thầm nghĩ “nếu bây giờ chị có giải phẩu thêm lần nữa, và ngay cả có chết đi, thì cũng không phải lo lắng như mười năm trước”. Chị dự tính rất nhiều ngạc nhiên dành cho Biển. Mẹ con sẽ tổ chức một chuyến đi nghỉ hè xa, Paris hay London chẳng hạn. Anh Brian thường nhắc những cảnh lạ khắp nơi mà chị chưa bao giờ dám mơ tưởng tới. “Bao nhiêu lâu rồi nhỉ?”. Chị nhẩm tính thời gian hai mươi năm mẹ con chị sống hẩm hiu trong “cul-de-sac” vùng ven biển Plymouth nầy. Buổi sáng lễ ra trường, chị đến trường đại học rất sớm và chọn một chỗ ngồi tốt nhất để có thể thấy rõ con mình trong lễ phục tốt nghiệp màu đen, sắp hàng chờ nhận lãnh văn bằng. Chị Hà hãnh diện và cảm động ứa nước mắt. Không ai biết đó là những giọt nước mắt mừng vui hay đau xót của một bà mẹ đã hy sinh cho con suốt hai mươi hai năm. Biển nhận văn bằng xong, chầm chậm bước xuống lễ đài. Chị Hà đứng dậy dang tay chờ, nghĩ rằng Biển sẽ đến trong vòng tay trìu mến của mẹ. Chị mơ một ngày được nghe ba tiếng “Cám ơn mẹ” từ chính miệng Biển cất lên. Một sự trả ơn đơn giản nhưng quý giá nhất mà mọi bà mẹ cần được trả. Ngày đó sẽ là hôm nay. Chị nghĩ thế. Chị vẫn dang tay chờ nhưng Biển đã mất hút trong đám bạn bè nhộn nhịp. Quảng trường vắng dần. Mọi người đang lần lượt ra về. Chị Hà nóng ruột đi về phía cuối hành lang tìm con. Ở đó, dưới chân cầu thang, Biển và cô bạn gái tóc vàng, đang hôn nhau thắm thiết. Thấy chị, họ buông nhau ra. Cô gái tóc vàng vồn vã: “Hôm nay là một ngày đáng nhớ của hai đứa tôi. Tôi muốn bà cùng chia sẻ”. Chị Hà đáp: “Vâng. Tôi biết. Hôm nay cũng là ngày ý nghĩa nhất đối với tôi nữa”. Chị đang nghĩ về ngày tốt nghiệp kỹ sư hàng hải của đứa con trai duy nhất của chị. Cô gái tiếp: “Thế thì tốt quá. Chúng tôi định mùa hè này sẽ cưới nhau”. Chị Hà ngạc nhiên: “Cái gì?” Cô gái đáp: “Xin lỗi. Tôi tưởng là bà đã biết trước rồi. Ben đề nghị sáng nay và tôi đã nhận lời. Chúng tôi chưa chọn ngày nhưng có lẽ mùa hè này thôi. Sau đó chúng tôi phải về miền Nam coi sóc hãng xưởng của ba tôi”. Chị Hà quay sang Biển, hỏi bằng tiếng Việt hơi nặng giọng: “Có đúng thế không Biển?” Biển nhìn xuống chân, không đáp. Không đáp có nghĩa là thừa nhận. Đứa con trai duy nhất sắp sửa cưới vợ mà chị Hà không hề hay biết. Chị giận dữ bước xuống cầu thang không nhìn lại.

Ngồi trên chiếc ghế xếp cũ bên bờ biển, chị Hà ôm mặt khóc. Chị khóc không phải chỉ vì giận Biển nhưng khóc nhiều hơn cho cuộc đời hẩm hiu cô độc của mình. Hai mươi hai năm. Cuốn phim dĩ vãng đau lòng của cuộc đời chị một lần nữa chiếu lại.

Tất cả bắt đầu từ một buổi chiều khi chị Hà nhận được mảnh giấy nhỏ với hàng chữ: “Anh đã trốn trại và đang tá túc tại nhà một người quen ở Chu Hải. Em ra Chu Hải gấp ngày mai. Đừng cho ai biết. Hỏi nhà ông Đản. Khang”. Chị Hà mừng đến phát khóc. Khang còn sống và bình yên. Năm năm dài từ mùa bão lửa 1975, chị Hà thêu dệt giấc mơ đoàn tụ với người yêu bằng sợi chỉ hy vọng vô cùng mong manh. Nhiều lần chị Hà cố xua đi ý tưởng rằng Khang đã chết ngoài mặt trận hay đã vượt biên ra nước ngoài. Dì Thanh, vợ kế của ba chị Hà, thường bảo: “Coi thử trong trường có thầy nào chưa vợ thì cô chọn một thầy, đừng chờ đợi thằng Khang làm gì vô ích. Nó không chết thì cũng có vợ và ba bốn đứa con rồi”. Không. Khang của chị không chết. Khang của chị chưa có vợ và không có ba bốn đứa con. Khang vẫn sống và đang tìm chị. Anh chàng sinh viên khoa học gốc miền Trung, dạy kèm toán lý hóa lớp mười cho chị ngày nào, vẫn còn sống. Anh chàng nghệ sĩ với cây đàn guitar cũ, mỗi chiều dưới giàn hoa giấy bên hiên nhà, đắm đuối nhìn cô nữ sinh Trần Thị Thu Hà mà hát: “Nầy người yêu người yêu tôi ơi, bên kia sông là ánh mặt trời…” vẫn còn sống.

Sáng hôm sau, như lời dặn trong thư, chị Hà thu xếp vài đồ đạc cá nhân và đi tìm nhà ông Đản ở ấp Chu Hải, ngoài Bà Rịa. Chuyến xe Sài Gòn Vũng Tàu đến trễ vì bị xét nhiều lần. Khi chị tìm ra nhà ông Đản thì trời đã tối. Ông dắt chị Hà đến một chòi lá ngoài ruộng, ở đó, Khang bằng da bằng thịt đang chờ đợi chị. Hai kẻ yêu nhau cuối cùng đã gặp lại nhau trong biển đời dâu bể. Họ trao cho nhau chiếc nhẫn cỏ làm tin trong chiếc chòi lá mục. Không có mặt trời rực rỡ bên sông như ngày xưa Khang thường hát, nhưng ít ra họ đã sống sót. Trong chiếc chòi lá ngoài vườn nhà ông Đản, họ hứa cùng nhau, dù thu vàng hạ đỏ hay nắng dãi mưa dầm, sẽ dìu nhau đi hết cuộc đời còn lại.

Khoảng ba giờ sáng, ông Đản ra chòi gọi hai người dậy, đưa ra ngoài sông và gởi họ cho chuyến vượt biên sắp khởi hành. Ông không đi vì đứa con trai ông, bạn tù của Khang, vẫn còn ở trong tù.

Chiếc ghe vượt biên quá nhỏ. Chiều dài chỉ mười một mét và chiều ngang vỏn vẹn một thước rưỡi. Dù nhỏ bao nhiêu thì đối với Khang, một tên tù trốn trại, không còn là điều chọn lựa. Dĩ nhiên chị Hà cũng thế. Đời của chị đã thuộc về Khang. Dù phải chết trên biển cả họ cũng sẽ không ân hận vì ít ra sẽ được chết bên nhau trong chung thủy vợ chồng.

Tháng Chín bắt đầu mùa biển động nhưng ghe chạy bốn ngày đầu không có chuyện gì trở ngại. Ghe đi về hướng đông. Không còn lo sợ việc tàu công an biên phòng chận bắt. Tuy nhiên, ngày thứ năm thì ghe chết máy. Chiếc la-bàn của hướng đạo sinh thường dùng trong những trò chơi, không xác định được vị trí của chiếc tàu, đang ở đâu và sẽ trôi dạt về đâu. Anh tài công không sửa được máy ghe, đành phó mặc cho định mệnh, đúng hơn là cho gió mưa, đưa đẩy chiếc ghe đến đâu thì đến. Ghe trôi dần về hướng nam. Thực phẩm hết. Nước uống cũng hết. May mà trời không có bão lớn. Nếu không, chỉ cần một cơn sóng mạnh cũng đủ để lật cả chiếc ghe đang chơi vơi trên biển cả. Những người còn sức khỏe thay phiên nhau tát nước. Thỉnh thoảng có một cơn mưa. Những người ngồi trên sàn ghe căng tấm ny-lông để hứng nước và chia nhau thấm giọng. Về đêm, biển đen như chiếc miệng con cá mập khổng lồ chuẩn bị nuốt chửng đoàn người đang trong cơn đói khát. Những đám mây đen đầy đe dọa đang vần vũ bay về. Qua ngày thứ sáu, chẳng còn ai đủ sức dù chỉ để khóc than hay cầu nguyện. Tiếng cầu kinh, tiếng niệm Phật cũng im bặt. Trong những điều im bặt, có cả tiếng khóc của đứa bé bị sốt trong đêm đầu khi ghe vừa ra khỏi cửa. Một người nào đó từ hầm ghe nói vọng lên: “Thôi chị buông cháu ra. Cháu nó đã đi lâu rồi”. Giọng một người đàn bà cãi lại: “Ai bảo thế. Con tôi mạnh khỏe thế này mà nỡ xấu mồm xấu miệng như rứa. Ngủ đi con, mẹ thương”. Tội nghiệp bà mẹ. Đứa bé đã chết từ lâu. Bà mẹ ôm xác đứa con hai tuổi suốt hai ngày đêm mà không nói, đúng ra là không dám nói, một lời. Bà mẹ không muốn nhìn cảnh người ta ném xác con hai tuổi của bà xuống biển. Mọi người đều kiệt sức. Không ai còn đủ sức để chia buồn hay khuyên nhủ bà. Vả lại, lát nữa đây, biết ai sẽ chia buồn ai. Không nói ra, trong lòng mấy chục người trên chuyến hải hành vô định này, cũng đang nghĩ đến cái chết.

Và cứ thế, ngày thứ bảy, ngày thứ tám lần lượt trôi qua trong đói khát và chờ đợi. Vài chiếc tàu biển đi ngang, xa tít ngoài khơi. Những người đàn ông vội vã tẩm dầu vào áo quần đốt lên làm tín hiệu. Không có một tín hiệu trả lời. Những chiếc tàu biển không thấy hay thấy mà không quan tâm cứu vớt.

Ngày thứ mười. Trong lúc chị Hà đang thiu ngủ thì tiếng Khang vọng xuống. “Có tàu đánh cá Thái Lan tới. Mấy bà, mấy cô trốn xuống hầm hết”. Hầm ghe quá nhỏ. Bước đâu cũng đạp phải người. Một số đàn bà lấy dầu máy bôi vào mặt. Cuốn tóc cao để giả làm đàn ông. Úp mặt vào lườn ghe không dám nhìn lên. Những câu chuyện về hải tặc được nghe kể nhiều lần từ những người đi lọt viết thư về, làm mọi người run sợ khi liên tưởng tới số phận mình. Nắp hầm bị ai đó mở tung. Ánh sáng rọi vào, soi rõ những khuôn mặt ngâm đen của đám thợ đánh cá Thái Lan. Chiếc ghe vượt biển bị chúng kéo buột vào ghe đánh cá bằng sợi dây thừng lớn. Từng người, bất kể đàn ông, đàn bà hay con nít đều bị kéo lên khỏi miệng hầm. Tất cả phải cởi áo quần để chúng khám xét. Nữ trang, đồng hồ, tiền bạc đều bị chúng cướp sạch. Chúng khám xét từng ngăn tàu, đâm thủng những thùng dầu, thùng nước uống, chúng nghi ngờ có dấu tiền đô, vàng bạc. Số phụ nữ, khoảng hai chục người, từ các bà mẹ năm sáu mươi tuổi cho đến mấy em bé chỉ hơn mười tuổi bị dồn vào một góc. Đàn ông, con nít bị đẩy xuống dưới hầm ghe. Một tên hải tặc cầm súng đứng trên miệng hầm ghe, trong khi hai tên khác cầm dao chặt cá lớn bảng đứng chặn hai đầu. Khám xét xong. Chúng thảo luận với nhau bằng tiếng Thái. Không hiểu bọn hải tặc bàn nhau những gì, chỉ nghe tiếng chúng cười sặc sụa. Một tên, có vẻ chỉ huy, liếc nhìn về phía đám phụ nữ đang đứng. Hắn chầm chậm bước tới, nhìn kỹ mặt từng người. Mỗi khi hắn chỉ vào ai thì hai tên hải tặc đàn em kéo cô gái bất hạnh đó ra khỏi nhóm. Người thứ sáu và cũng là người cuối cùng là chị Hà. Chị sợ hãi bật khóc. Mấy cô gái kia cũng khóc thét lên. Một bà mẹ bước ra, quỳ xuống sàn ghe vừa lạy vừa khóc, xin tha cho con gái mười lăm tuổi của bà. Nước mắt và những lời van xin của bà mẹ không lay động được tâm hồn của những con người không còn một chút lương tri. Bọn hải tặc cuốn dây để kéo chiếc ghe lại gần hơn. Chúng đẩy chị Hà và năm cô gái cùng số phận sang tàu đánh cá. Một tên đưa dao chặt đứt sợi dây thừng. Hai chiếc ghe từ từ xa nhau. Bên kia, chị Hà còn nghe tiếng Khang gào lên, trong đau thương, bất lực.

Sau suốt buổi chiều tàu chạy về hướng nam, nhóm chị Hà sáu người được đưa đến một hòn đảo san hô. Bọn hải tặc ra lệnh họ bước xuống tàu. Hai cô gái không bước nổi. Cô gái nhỏ tuổi ngã quỵ lên một bụi san hô. Những mũi san hô nhọn như chông đâm vào đùi cô, da thịt tướt ra, máu chảy đỏ cả đùi. Chị Hà và những cô gái còn sức, gắng gượng dìu nhau lên đảo. Sáu người ngồi trong một hang đá cách xa bờ, ôm nhau khóc. Một tên hải tặc ghé ngang, ném cho họ một hộp giấy đựng cơm trắng và thùng nước uống nhỏ. Hắn chỉ vào miệng ra dấu. Chị Hà chia mỗi người một nắm cơm và chuyền tay nhau thùng nước. Không ai dám ngủ, hoang mang, lo lắng nhìn nhau, liên tưởng đến một điều bất hạnh không tránh khỏi. Đúng vậy. Khoảng nửa khuya, nhiều tiếng chân nặng nề đi về phía hang đá. Hàng chục tên hải tặc trở lại. Ngọn đèn biển lẻ loi trên đảo soi bóng đám hải tặc đang đi tới như những bóng ma trơi. Chúng vực chị Hà và năm cô gái dậy. Kéo tay từng người ra ngoài bãi cát. Một cô gái vừa cất tiếng khóc đã bị một tên hải tặc đánh mấy bạt tai. Chúng hãm hiếp chị Hà trước. Những mủi kim đâm đau buốt vào da thịt chị. Chị nhắm mắt, không khóc thành tiếng nhưng nước mắt cứ tuôn theo cơn đau đang chạy dài vào tận mỗi tế bào. Bọn hải tặc say sưa, điên cuồng, man rợ trên thân thể của những cô gái Việt Nam yếu đuối. Và cứ thế chúng thay phiên nhau hãm hiếp từng cô gái. Tiếng cô bé mười lăm tuổi bị thương thét lên trong đau đớn. Không ai nghe. Không có Chúa và Phật. Trên cù lao san hô ngoài vịnh Thái Lan chỉ có tiếng khóc của sáu con chim non Việt Nam và tiếng cười man rợ của bầy ác điểu Thái Lan. Sau vài giờ, bọn hải tặc ra đi, bỏ mặc sáu cô gái với thân thể lõa lồ nằm ngất xỉu trên cát. Gần sáng họ cố lê lết đến gần nhau, giúp nhau lau những vết máu còn đọng lại trong thân thể trầy trụa và dìu nhau đi tìm chỗ nằm qua đêm. Đây chỉ mới là đêm đầu tiên trong chuỗi ngày khổ nhục dài vô tận.

Buổi sáng, chiếc tàu hải tặc lại ra khơi. Chị Hà và một cô gái gắng gượng đi vòng quanh đảo, với hy vọng mong manh tìm được một nơi để trốn. Hòn đảo thật ra chỉ là một cù lao nhỏ trồi lên giữa vịnh, chung quanh toàn là san hô nhọn, nhìn ra xa chỉ thấy mịt mờ mây nước tận chân trời. Không ai biết nơi này là đâu, hòn đảo này tên gì và ngày mai, đêm mai, đời họ sẽ ra sao. Cũng từ những hốc đá đó, chị Hà biết rằng nhóm chị không phải là những người đầu tiên bị bắt vào đây. Rơi rớt trong các hốc đá là những mảnh áo quần rách tả tơi còn dính máu, dấu tích của những chống cự, đấu tranh, cưỡng bức, hành hạ. Nhiều nơi còn có cả tên tuổi, địa chỉ, chuyến ghe, ngày ra đi và bến bãi khởi hành của người bạc hạnh. Một chỗ ghi: “Em là Lê Thị …, phường … thị xã Bạc Liêu, ai đọc được xin báo dùm cho mẹ là bà Phan Thị … biết”. Một chỗ khác: “Tôi là Nguyễn Thị …., địa chỉ ….Cách Mạng Tháng 8, Quận 10, Sài Gòn, bị bắt vào đây ngày 15 tháng 2 năm 1978. Ghe tôi có 74 người, vào đây còn sống được 21 người. Ai đọc được tin này làm phước báo cho gia đình tôi biết”. Và cứ thế, trong mỗi hốc đá, mỗi mặt bằng, đều có dấu vết của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh bị bắt đến trước, bị hãm hiếp trước, và có thể đã chết trước.

Buổi chiều, khi nhóm chị Hà lay hoay chưa tìm ra một cách trốn thì chiếc tàu đánh cá Thái Lan lại trở về. Chúng đem cho nhóm chị một thùng cơm, một ít cá khô mặn và một thùng nước. Chị Hà lại chia thành sáu phần và khuyên mọi người cố gắng ăn để sống. Cô bé mười lăm tuổi, có bà mẹ quỳ van xin bọn hải tặc, không ăn uống được. Sau một đêm bị hiếp dâm tập thể cô bé kiệt sức. Vết thương do mũi san hô nhọn đâm vào đùi cô bé hôm qua cũng bắt đầu nhiễm trùng. Chân cô sưng đỏ. Cô bé sốt. Miệng không ngớt gọi “mẹ ơi” trong mê sảng. Chị Hà ngồi bên cạnh cô bé, thầm nghĩ, nếu đêm nay bọn hải tặc quay lại đây hành hạ lần nữa như đêm qua, cô gái này sẽ chết. Sau vài phút suy nghĩ, đắn đo, chị Hà đứng dậy đi về phía cuối bãi, nơi chiếc tàu đánh cá đang thả neo. Đám hải tặc ngạc nhiên nhìn chị, có tên bật cười hô hố. Chị Hà chỉ về phía hang đá. Đám hải tặc nhìn nhau, bàn tán, cuối cùng một tên đứng dậy đi theo chị. Chị Hà đưa tên hải tặc đến chỗ cô bé bị thương ở đùi và chỉ vào trán cô gái. Hắn nhìn vết thương sưng đỏ và sờ vào trán đang bị sốt của cô bé. Hắn không nói gì, ra dấu cho chị đưa cô bé vào phía trong hang, rồi bỏ đi.

Nửa khuya, bọn hải tặc lại đến. Một tên cầm đèn pin đi trước. Như đêm qua, chúng kéo từng người ra ngoài bãi, tiếp tục hành hạ một cách man rợ. Chị Hà không khóc. Chị nằm im như một xác chết. Đêm nay chị cảm thấy bớt đau hơn bởi vì trí óc chị chỉ tập trung vào cô bé. Chị van vái chúng đừng hành hạ cô. Cũng may, tên cầm đèn pin, chính là tên đi theo chị hồi chiều, đã dặn trước đồng bọn hãy tha cho cô bé. Hắn đem theo đèn pin cốt để nhận diện cô. Và cứ thế, ngày thứ ba, thứ tư, mỗi đêm đều có bọn hải tắc ghé qua.

Đến ngày thứ năm, bọn chúng không trở lại. Nhưng chị Hà cũng hoàn toàn không còn biết gì nữa. Không ai trong sáu cô gái còn ý thức gì về những sự việc chung quanh. Sáu thân thể lõa lồ, nhầy nhụa đang nằm chờ chết. Chỉ có chết mới không biết thế nào là đau đớn. Chết là một lối thoát thanh thản nhất trong lúc này. Chị Hà thiếp đi trong cơn mê.

Khi tỉnh dậy, chị thấy mình nằm trong một căn phòng bệnh viện. Một bác sĩ người Mỹ, khoảng ngoài 60 tuổi, có đôi mắt hiền từ, đang đứng bên cạnh. Bình nước biển treo trên góc giường. Ông tự giới thiệu bằng tiếng Việt khá thành thạo, tên ông là John Breston, làm việc thiện nguyện giúp người Việt tỵ nạn tại Thái Lan từ hai năm nay. Ông bóc cho chị một múi cam. Chị đưa tay trái cầm lấy. Chỉ khi đó, chị mới biết mình sống sót. Ông biết rất rõ chị từ đâu tới nhưng không nhắc gì về những chuyện đau lòng đã xảy ra. Chị nhìn chung quanh nhưng không thấy có ai quen. Chị hỏi ông về số phận của năm cô gái đồng cảnh ngộ, nhất là cô bé mười lăm tuổi. Bác sĩ Breston cho chị biết sau khi được tàu hải quân Thái Lan cứu vớt, họ đã được chuyển đến nhiều bịnh viện khác nhau. Mọi người đều đang dần dần bình phục. Chị Hà nằm trong bịnh viện gần một tuần lễ, trước khi được chuyển về trại Panat Nikhom để lo thủ tục định cư. Chị hỏi thăm văn phòng Cao Ủy và những chuyến tàu đến cùng một thời gian với chị nhưng không một ai biết gì về Khang, cũng như số phận chuyến tàu khởi hành từ Chu Hải.

Khoảng hai tuần sau khi xuất viện, chị Hà lại phải trở vào bịnh viện. Chị nghĩ có thể chỉ là một cơn sốt nhẹ. Bác sĩ Breston, sau khi khám sức khỏe, thử máu, dặn chị Hà ngày mai trở lại. Sáng mai, khi chị đến, Bác sĩ Bresten mời chị vào phòng riêng. Ông lật hồ sơ bệnh lý của chị, nhìn chăm chú vào mắt chị và nói nhỏ, thật nhỏ, như chỉ để một mình chị nghe. Chị Hà không tin những gì bác sĩ Breston nói là sự thật. Ông đưa chị coi kết quả thử nghiệm. Chị Hà vừa coi xong là ôm mặt khóc. Như một người cha hiền từ, Bác sĩ Bresten bước tới đặt tay lên vai chị và an ủi: “Khóc đi. Hãy khóc nhiều như cô cần được khóc. Nhiều khi không có phương thuốc nào tốt hơn là nước mắt”. Một hồi lâu, khi nước mắt giúp vơi dần cơn đau xót, chị lấy hết can đảm nói: “Phải bỏ nó đi, bác sĩ ạ”. Chị cay đắng nói tiếp: “Đó là di sản của một tội ác”. Chị Hà kể lại một cách chi tiết hành trình vượt biên mà chị và năm cô gái đã trải qua. Bác sĩ lắng nghe một cách trang trọng và cảm thông. Cuối cùng ông chậm rãi: “Vâng, điều đó tùy ở cô. Trong tư cách bác sĩ, tôi sẽ làm theo quyết định của cô, mặc dù như một con người, tôi không hẳn đồng ý như vậy”. Không đợi chị Hà phản ứng, ông tiếp: “Bởi vì, làm thế nào cô biết đó là di sản của một tội ác? Và dù có đúng đi nữa, di sản đó không thể là tội phạm khi nó chỉ là một bào thai”. Ngừng một chút ông giải thích: “Năm cô gái trong cùng chuyến của cô đã được chuyển sang nhiều trại khác nhau để bảo vệ quyền riêng tư và an toàn cho tương lai họ. Chuyện của cô ở đây không ai biết. Chúng tôi, thậm chí, cũng có thể đưa cô ra ngoài trại, sống với một nhà bảo trợ, sau khi sinh xong và nghỉ ngơi, chúng tôi sẽ giúp cô hoàn tất thủ tục định cư”. Chị Hà thắc mắc: “Còn đứa bé?” Bác sĩ đáp: “Đứa bé vô tội. Chúng tôi sẽ có người lo lắng cho nó. Hội thiện nguyện sẽ tìm cho nó cha mẹ nuôi để nuôi dưỡng nó nên người. Nó có thể không biết quá khứ của cha mẹ đã sinh ra nó nhưng chắc chắn sẽ có một tương lai tốt đẹp như bất cứ đứa trẻ nào khác trên thế giới”. Chị Hà mềm lòng trước sự tha thiết, tình thương người, tính thuyết phục trong lý luận của bác sĩ và bản tánh hướng thiện tự nhiên của chị, nên chấp nhận đề nghị của ông.

Bào thai mỗi ngày một lớn. Đêm đêm chị nằm lắng nghe tiếng cựa của đứa bé sắp chào đời và thương cho số phận bất hạnh của con như thương lấy chính cuộc đời khốn khổ của chị. Đứa bé sẽ không biết cha và cũng sẽ không biết mẹ. Làm sao một con người có thể “sống xứng đáng như mọi đứa trẻ khác trên thế giới”, như lời ông bác sĩ nói, nếu sinh ra không cha mẹ, không quá khứ? Và khi giao nó cho hội từ thiện, chị sẽ làm gì với cuộc đời còn lại của mình? Chị sẽ về đâu trong trái đất nầy? Chị không thể về lại Việt Nam để sống với bà vợ kế của ba. Khang có thể đã chết. Cho dù Khang còn sống đi nữa, chị cũng không nên gặp lại Khang. Gặp lại để làm gì. Bên kia sông không phải là ánh mặt trời như Khang thường lý tưởng hóa mà là bóng tối, là lỡ làng, khinh rẻ. Người duy nhất trên đời này, cùng cảnh ngộ bất hạnh như chị không ai khác hơn là đứa bé đang nằm trong bụng chị. Bác sĩ Breston nói đúng một điều: đứa bé hoàn toàn vô tội. Chị đưa tay vuốt ve chiếc bụng tròn như để xin lỗi và hứa với con: “Mẹ sẽ sinh con ra, sẽ ẵm con đi một nơi thật xa, ở đó sẽ không ai biết đến mẹ con mình. Mẹ sẽ nuôi con nên người. Chúng ta sẽ sống với nhau. Con có thể sẽ không bao giờ biết đến quá khứ của cha mẹ con, nhưng con sẽ có tương lai bởi vì con có mẹ”. Buổi chiều ngày 11 tháng 6 năm 1980, thằng bé cất tiếng khóc chào đời trong một bịnh viện nhỏ ở Bangkok. Mẹ nó cũng khóc, và ngay cả khóc nhiều hơn nó. Bác sĩ John Breston bảo chị đặt tên con. Chị đáp: “Hãy đặt tên nó là Biển, bởi vì nó là con của biển”. Chị giữ lại họ Lê, là họ của Khang để làm kỷ niệm. Sáu tháng sau, đích thân bác sĩ John Breston lái xe đưa mẹ con chị Hà ra phi trường đi Mỹ định cư.

Hai mươi hai năm sau. Hai mươi hai năm chị sống trong âm thầm và chịu đựng. Chị không muốn ai biết về mình. Hai mươi hai năm chị sợ hãi và trốn tránh con người. Hai mươi hai năm, sáng nay là lần đầu tiên chị giận dữ với con ngay trước mặt người vợ chưa cưới của nó.

Tại sao? Chị tự hỏi. Tại sao chị có thể phản ứng như thế được nhỉ? Chị đã hy sinh hai mươi hai năm, tại sao chị lại không thể hy sinh một lần chót vì hạnh phúc của con? Lẽ ra chị nên vui khi thấy con trai duy nhất của chị sắp sửa có một gia đình, một người vợ do chính nó chọn lựa. Lẽ ra chị nên vui khi đã làm xong lời hứa với chính mình hai mươi hai năm trước. Đúng thế. Chị chưa sống trọn vẹn với lời hứa của mình. Chị hối hận về thái độ khắt khe của mình ban sáng. Chiều nay, nếu Biển trở về nhà, chị sẽ xin lỗi con. Biển ngoan lắm, chắc chắc nó sẽ vui và tha thứ cho mẹ. Chị thầm hứa sẽ không buồn, không rơi nước mắt khi tiễn con đi về California với vợ. Còn đời chị? Chị cười chua chát. Chị làm gì có cuộc đời riêng. Cô giáo viên Trần Thị Thu Hà đã chết trong một đêm trăng khuyết trên đảo san hô năm đó. Chị Hà vội vã đứng dậy để về gặp con.

Một người đang đứng chờ sau lưng chị từ lâu. Chị quay lại, thì ra đó là Biển: “Bạn con đâu?” Chị hỏi trong lo lắng. Biển đáp: “Cô ấy về California một mình rồi. Chúng con đã chia tay nhau”. Chị Hà thắc mắc: “Tại sao?” Biển không nói, bước tới ôm chầm lấy mẹ: “Mẹ. Mẹ tha thứ cho con. Con xin lỗi mẹ. Khi mẹ ra về con mới hiểu ra rằng con có thể sống không có Linda nhưng không thể không có mẹ”. Chị Hà cảm động đến rơi nước mắt. Chi vuốt mái tóc hơi quắn của con: “Con tôi thật sự trưởng thành rồi”. Hai mẹ con ôm nhau khóc. Lần đầu tiên trong đời mình, chị Hà khóc vì hạnh phúc, một khái niệm mà hơn hai mươi năm chị chưa từng nghĩ tới. Tháng sau, Biển được nhận làm kỹ sư cơ khí hàng hải cho một hãng tàu buôn lớn ở Boston. Hai năm sau Biển lập gia đình với một cô gái Việt Nam hiền hậu. Chị Hà đặt tiền ứng trước để mua tặng vợ chồng Biển ngôi nhà của cụ Paul, để làm quà cưới cho con. Và sau đó không lâu, khu nhà yên tĩnh vùng biển, lại lần nữa vang lên tiếng khóc trẻ thơ, báo hiệu một sự sống vừa mới ra đời để nối tiếp cuộc vận hành biến diệt không cùng của thời gian và vũ trụ.

Trần Trung Đạo
Theo FB Trần Trung Đạo

Bầu Kiên kêu oan, đề nghị triệu tập đại diện nhiều bộ ngành ra tòa


Bầu Kiên kêu oan, đề nghị triệu tập đại diện nhiều bộ ngành ra tòa

(NLĐO)- Trông khỏe khoắn, có lúc chắp tay sau lưng trước vành móng ngựa trong phiên tòa sáng 16-4, bị cáo Nguyễn Đức Kiên (bầu Kiên) đã kêu oan, đề nghị triệu tập đại diện các bộ ngành: Công Thương, KH-ĐT, Tài chính, Ngân hàng… ra tòa.

Bị cáo Nguyễn Đức Kiên (tóc bạc) cùng các đồng phạm trước vành móng ngựa - Ảnh chụp qua màn hình
Bị cáo Nguyễn Đức Kiên (tóc bạc) cùng các đồng phạm trước vành móng ngựa – Ảnh chụp qua màn hình
11 giờ, sau 15 phút hội ý, HĐXX đã quyết định không hoãn phiên tòa. Về trường hợp của ông Trần Xuân Giá, HĐXX cho rằng chiều 15-4, bị cáo Giá đã có đơn xin vắng vào ngày 16-4, nghĩa là sẽ có mặt vào những ngày tiếp theo. “Tuy nhiên, sáng nay ông Giá lại có đơn xin hoãn phiên tòa vì lý do sức khỏe. Đơn này chỉ có chữ ký của ông Giá mà không có xác nhận của cơ quan y tế. Do đó, tòa sẽ tiếp tục cử cán bộ tòa án đi xác minh. Trong thời gian đó, phiên tòa vẫn xét xử bình thường” – chủ tọa nói.

11 giờ 10,  HĐXX tuyên bố nghỉ buổi sáng, chiều 14 giờ tiếp tục.

10 giờ 10: Sau khi nghe ý kiến của đại diện VKS và các Luật sư, bị cáo Nguyễn Đức Kiên xin có ý kiến: “Tôi bị buộc tội trốn thuế trên cơ sở văn bản yêu cầu của Tổng cục thuế nên yêu cầu người ký văn bản hoặc đại diện có thẩm quyền của Tổng Cục thuế có mặt”.

Bị cáo Nguyễn Đức Kiên đề nghị tòa triệu tập đại diện nhiều bộ ngành - Ảnh chụp qua màn hình
Bị cáo Nguyễn Đức Kiên đề nghị tòa triệu tập đại diện nhiều bộ ngành – Ảnh chụp qua màn hình
Bị cáo Kiên cũng cho rằng bản thân bị buộc tội kinh doanh trái phép trong khi tất cả việc làm của bị cáo là được cơ quan có thẩm quyền cấp phép nên yêu cầu toà triệu tập: Phòng đăng ký kinh doanh của TP HCM và Hà Nội; đại diện các bộ, ngành: Công Thương, Kế hoạch và Đầu Tư, Tài chính, Ngân hàng Nhà nước. “Đây là những bộ đã có ý kiến về việc cho phép cấp phép cho tôi” – bị cáo Kiên nói.

Bị cáo Kiên cũng đề nghị toà triệu tập một số cá nhân liên quan đến các vụ án của mình vắng mặt dù toà đã có giấy triệu tập trước đó.

“Tôi bị buộc tội 4 tội danh trong khi cá nhân tôi trong 20 tháng qua đã có nhiều đơn, nhiều lần trả lời bản cung cơ quan điều tra, tôi cho rằng tôi không có tội, tôi bị oan. Do đó, tôi mong muốn phiên toà xét xử sớm, công khai cho mọi người biết, dư luận xã hội biết” – Bị cáo Kiên nói rõ ràng, rành mạch, nhấn mạnh từng câu.

Bị cáo Nguyễn Đức Kiên kêu oan nhưng đề nghị tòa tiếp tục xét xử - Ảnh chụp qua màn hình
Bị cáo Nguyễn Đức Kiên kêu oan nhưng đề nghị tòa tiếp tục xét xử – Ảnh chụp qua màn hình
Cuối cùng, bị cáo Kiên tiếp tục kiến nghị: “Tôi cho rằng tôi không liên quan đến vụ án Huyền Như nên toà xét xử trước 3 tội danh mà không liên quan đến Trần Xuân Giá. Việc vắng mặt của ông Trần Xuân Giá không ảnh hưởng đến 3 tội danh khác mà VKSND tối cao truy tố. Đề nghị VKS cho tiến hành phiên toà. Có thể chờ ông Giá ở phần sau vì đây là phiên toà kéo dài. Đề nghị HĐXX cho xét xử trước 3 tội danh không liên quan đến các hành vi ở ACB và sự vắng mặt của ông Trần Xuân Giá không ảnh hưởng tới các tội danh khác của tôi”.

10 giờ 22: Toà nghỉ hội ý.

“Siêu lừa” Huỳnh Thị Huyền Như xuất hiện, bị cáo Trần Xuân Giá vắng mặt

9 giờ 40: “Siêu lừa” Huỳnh Thị Huyền Như xuất hiện được kiểm tra căn cước. Hôm nay (16-4), Như ra toà với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ngày 6-1 vừa qua, TAND TP HCM đã xét xử sơ thẩm và tuyên phạt chung thân với bị cáo này tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, phải bồi thường cho ACB 718 tỉ đồng.

Siêu lừa Huỳnh Thị Huyền Như xuất hiện tại tòa
“Siêu lừa” Huỳnh Thị Huyền Như xuất hiện tại tòa
9 giờ 50: HĐXX hỏi VKS việc vắng mặt của bị cáo Trần Xuân Giá sẽ được quyết định như thế nào? Đại diện VKS giữ quyền công tố tại toà cho rằng, đối với sự vắng mặt của bị cáo Trần Xuân Giá cần xác minh sự vắng mặt của bị cáo. Sau đó trên cơ sở kết quả xác minh sẽ quyết định theo luật. Phiên toà này là phiên toà kéo dài, đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử và triệu tập các cá nhân, đại diện tham gia phiên toà.

Tiếp đó, HĐXX hỏi ý kiến các luật sư. Luật sư của bị cáo Trần Xuân Giá xin hoãn do lý do sức khoẻ không thể tham dự. Đồng tình với ý kiến trên, một số luật sư khác đề nghị hoãn xử do còn một số chi tiết chưa được làm rõ liên quan đến vụ án Huỳnh Thị Huyền Như đang chờ xử phúc thẩm.

Một luật sư cũng đề nghị mời lãnh đạo Ban Nội chính, Tư pháp Trung ương đến dự phiên toà.

Vợ bầu Kiên đến phiên tòa xét xử chồng

Trước đó, sáng nay 16-4, TAND TP Hà Nội đã bắt đầu phiên xét xử sơ thẩm vụ án kinh tế xảy ra tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) và một số công ty trên địa bàn TP HCM và TP Hà Nội.

Từ sáng sớm 16-4, lực lượng an ninh đã có mặt trước cổng TAND TP Hà Nội để làm các thủ tục cần thiết. Công tác an ninh được siết chặt tối đa. Những người được mời dự phiên tòa đều được kiểm tra chặt chẽ.

Tất cả mọi người tham dự phiên tòa đều được kiểm tra chặt chẽ
Tất cả mọi người tham dự phiên tòa đều được kiểm tra chặt chẽ

Bà Đặng Ngọc Lan, vợ bầu Kiên, cũng đến khá sớm để tham dự phiên tòa. Bà Lan đến tòa trên một chiếc xe ô tô đắt tiền.

Bà Đặng Ngọc Lan, vợ bầu Kiên, đến tòa trên chiếc xe đắt tiền
Bà Đặng Ngọc Lan, vợ bầu Kiên, đến tòa trên chiếc xe đắt tiền

Từ khoảng 6 giờ 30 đến 6 giờ 45, xe chở các bị cáo bị bắt giam đã lần lượt đến toà. Xe chở bị cáo Nguyễn Đức Kiên (tức bầu Kiên) được cho là đến sớm nhất.

Xe chở bị cáo Nguyễn Đức Kiên đến tòa từ rất sớm
Xe chở bị cáo Nguyễn Đức Kiên đến tòa từ rất sớm
Đúng 8 giờ 5 phút, bầu Kiên được dẫn giải ra trước vành móng ngựa. Bầu Kiên trong bộ áo sọc tối màu có mái tóc đã bạc trắng đặc trưng trông có vẻ khoẻ khoắn, linh hoạt. Bầu Kiên liên tục trò chuyện với các cán bộ hỗ trợ tư pháp, nhìn trước, nhìn sau trong phòng xử án.

Bị cáo Phạm Trung Cang có mặt tại tòa

Bị cáo Phạm Trung Cang đã có mặt tại tòa. Tuy nhiên, bị cáo Trần Xuân Giá (75 tuổi) vắng mặt trong phiên tòa sáng nay vì lý do sức khỏe.

Bị cáo Đặng Trung Cang vào tòa
Bị cáo Phạm Trung Cang vào tòa
Sau khi phiên tòa sau khi bắt đầu được không lâu thì phòng tác nghiệp của báo chí tại phiên tòa bị mất điện từ khoảng 8 giờ 20 phút đến 8 giờ 40 phút. Sau đó, điện còn mất vài lần, mỗi lần một vài phút trước khi ổn định trở lại.

Trước đó, các bị cáo phải ra trước tòa trong phiên sơ thẩm sáng 16-4 gồm:

Ông Nguyễn Đức Kiên (50 tuổi, nguyên Chủ tịch Hội đồng đầu tư Ngân hàng ÂB, nguyên Phó chủ tịch HĐQT Ngân hàng ACB, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng sáng lập ACB), bị đưa ra xét xử về 4 tội: Kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.

Các bị cáo bị đưa ra xét xử về tội cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng gồm:

– Ông Trần Xuân Giá (75 tuổi, nguyên Chủ tịch HĐQT Ngân hàng ACB)

– Ông Lê Vũ Kỳ (58 tuổi, nguyên Phó chủ tịch HĐQT Ngân hàng ACB)

– Ông Trịnh Kim Quang (60 tuổi, nguyên Phó chủ tịch HĐQT Ngân hàng ACB)

– Ông Phạm Trung Cang (60 tuổi, nguyên Phó chủ tịch HĐQT Ngân hàng ACB)

– Ông Lý Xuân Hải (49 tuổi, nguyên Tổng giám đốc Ngân hàng ACB)

– Ông Huỳnh Quang Tuấn (56 tuổi, nguyên thành viên HĐQT Ngân hàng ACB)

2 bị cáo còn lại bị đưa ra xét xử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm:

– Trần Ngọc Thanh (62 tuổi, nguyên giám đốc Công ty cổ phần đầu tư ACB Hà Nội)

– Nguyễn Thị Hải Yến (45 tuổi, nguyên kế toán trưởng Công ty cổ phần đầu tư ACB Hà Nội )

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm 2 thẩm phán và 3 hội thẩm nhân nhân. Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa là ông Nguyễn Hữu Chính – Phó Chánh án TAND TP Hà Nội, Thẩm phán thứ hai là ông Nguyễn Quốc Thành – Phó Chánh tòa hình sự.

Giữ quyền công tố tại tòa là ông Đào Văn Cường – Phó Viện trưởng VKSND TP Hà Nội và bà Nguyễn Thị Thu Yến.

Tham gia bào chữa cho 9 bị cáo trong vụ án có 20 vị luật sư, trong đó bị cáo Nguyễn Đức Kiên có 4 luật sư bào chữa, bị cáo Lý Xuân Hải và Huỳnh Quang Tuấn đều có 3 luật sư bào chữa.

Gây thiệt hại gần 1.700 tỉ đồng

Theo cáo trạng, “bầu” Kiên cùng các bị can: Trần Xuân Giá, Trịnh Kim Quang, Lê Vũ Kỳ, Lý Xuân Hải đã đồng ý cho thực hiện chủ trương, ủy thác cho các nhân viên gửi tiền vào các tổ chức tín dụng sai quy định gây thiệt hại số tiền 718,9 tỉ đồng. Toàn bộ số tiền này đã bị Huỳnh Thị Huyền Như, nguyên Trưởng phòng giao dịch Điện Biên Phủ thuộc Vietinbank Chi nhánh TP HCM chiếm đoạt.

Đối với hành vi cấp tín dụng để đầu tư cổ phiếu ACB, ngày 2-1-2009, Thường trực HĐQT Ngân hàng ACB đã họp và ra chủ trương cấp tín dụng cho Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) để mua cổ phiếu ACB. Chủ trương này trái với quy định của Bộ Tài chính, gây thiệt hại cho ACB hơn 687,7 tỉ đồng. Cáo trạng lần 2 truy tố 2 bị can Nguyễn Đức Kiên và Lê Vũ Kỳ về hành vi này.

Về tội trốn thuế, năm 2009, Công ty B&B kinh doanh vàng trên tài khoản ngoài lãnh thổ Việt Nam với ACB, thu được số tiền lãi hơn 100 tỉ đồng. Tuy nhiên, “bầu” Kiên đã trốn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hơn 25 tỉ đồng.

Về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “bầu” Kiên chỉ đạo Trần Ngọc Thanh và Nguyễn Thị Hải Yến lập khống biên bản họp HĐQT và quyết định của HĐQT thể hiện chủ trương của HĐQT công ty để bán 20 triệu cổ phần cho Công ty TNHH một thành viên Thép Hòa Phát, lấy 264 tỉ đồng, bất chấp số cổ phần này đang bị thế chấp cho ACB.

Tổng số tiền thiệt hại do 9 bị can gây ra trong vụ án này là 1.695,6 tỉ đồng.

Đáng chú ý, ban đầu cơ quan điều tra đã khởi tố ông Phạm Trung Cang, song cáo trạng của VKSND Tối cao bất ngờ đình chỉ vụ án đối với ông này. Ngày 3-1-2014, TAND Hà Nội trả hồ sơ do có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, đề nghị điều tra bổ sung ông Cang và ông Huỳnh Quang Tuấn.

Đến cáo trạng lần 2, VKSND Tối cao xác định 2 bị can Phạm Trung Cang, Huỳnh Quang Tuấn phải chịu trách nhiệm hình sự về chủ trương ủy thác trái quy định, gây thất thoát cho ACB.

Nguyễn Quyết

(Người Lao động)

Nguyên Bộ trưởng Trần Xuân Giá khai gì về ‘bầu’ Kiên

(TNO) Mặc dù không giữ chức vụ chủ chốt trong bộ máy lãnh đạo Ngân hàng ACB, nhưng tiếng nói của Nguyễn Đức Kiên luôn được xem là quyết định.

“Bầu” Kiên tức Nguyễn Đức Kiên là cổ đông góp vốn lớn nhất khi ACB thành lập vào năm 1993. Từ 1994 – 2008, “bầu” Kiên là Phó chủ tịch Hội đồng quản trị. Năm 2008, sau khi nhận thấy pháp luật quy định vị trí Phó chủ tịch HĐQT không được vay vốn từ chính tổ chức tín dụng, hạn chế tham vọng sở hữu chéo những Ngân hàng TMCP và hạn chế nhiều hoạt động kinh doanh riêng, Nguyễn Đức Kiên đã chủ động rút khỏi HĐQT.

Xét xử vụ bầu Kiên
Ông Trần Xuân Giá – Ảnh: Hà Anh
Và sau nhiều lần được tham vấn, “bầu” Kiên lập Hội đồng sáng lập, quyết định rời khỏi HĐQT. Tuy nhiên trước đó, “bầu” Kiên cũng kịp đề nghị HĐQT ra Nghị quyết thành lập và phê chuẩn quy chế làm việc của Hội đồng sáng lập do mình làm Phó chủ tịch.

Hội đồng sáng lập được phép tham dự các cuộc họp của Thường trực HĐQT và Ban lãnh đạo, được cho ý kiến về mọi hoạt động kinh doanh trong toàn ngân hàng, được báo cáo và cung cấp đầy đủ tài liệu liên quan đến hoạt động kinh doanh của ACB.

Với tư cách là Phó chủ tịch Hội đồng sáng lập, “bầu” Kiên vẫn là người có ảnh hưởng và chỉ đạo, quyết định hầu hết các hoạt động của ACB.

Tại cơ quan công an, ông Trần Xuân Giá khai nhận, từ năm 2008, mặc dù Nguyễn Đức Kiên không tham gia HĐQT Ngân hàng ACB nhưng vẫn là người có ảnh hưởng và chỉ đạo, quyết định nhiều hoạt động của ngân hàng.

Theo lời khai của ông Trần Xuân Giá, ngày 22.3.2010, Thường trực HĐQT Ngân hàng ACB có họp bàn về chủ trương ủy thác cho nhân viên Ngân hàng ACB dùng tiền và USD gửi vào các tổ chức tín dụng. Trong cuộc họp này có một số ý kiến, cụ thể ông Trần Mộng Hùng – Chủ tịch Hội đồng sáng lập, đề nghị giảm bớt lãi suất huy động để giảm số tiền huy động của dân, vì thời điểm đó Ngân hàng ACB đã huy động được nhiều tiền của dân nhưng không cho vay được mà lại phải trả lãi. Tuy nhiên, “bầu” Kiên đã thể hiện quyền lực của mình bằng cách gạt đi. Sau đó Lý Xuân Hải (nguyên Tổng giám đốc ACB) phải xoa dịu Kiên bằng cách đề xuất phương án ủy thác cho nhân viên Ngân hàng ACB gửi USD và tiền vào các tổ chức tín dụng. Phương án này được thường trực HĐQT thông qua, giao cho Tổng giám đốc thực hiện.

Ngoài ông Trần Xuân Giá thì các ông Lý Xuân Hải, Lê Vũ Kỳ và Trịnh Kim Quang đã khai tại cơ quan điều tra về tầm ảnh hưởng của “bầu Kiên” trong Ngân hàng ACB.
Hà Anh – Thiên Minh

(Thanh niên)

Hoãn phiên tòa xét xử “bầu Kiên”

Vào đầu phiên xét xử buổi chiều, HĐXX đã ra quyết định hoãn phiên tòa xét xử “bầu Kiên” và các đồng phạm.

14h chiều 16/4, phiên tòa xét xử Nguyễn Đức Kiên và các đồng phạm tiếp tục diễn ra.

Sau ít phút điều khiển phiên tòa, Chủ tọa đọc đơn xin hoãn phiên tòa của bị cáo Trần Xuân Giá. Viện Kiểm sát xác minh lý do xin hoãn là chính đáng. Căn cứ khoản 1 điều 187, Bộ luật hình sự, Tòa hội ý 5 phút để xem xét đề nghị hoãn phiên xét xử.

Các bị cáo và những người tham dự đang chờ đợi. Bị cáo Nguyễn Đức Kiên tỏ ra rất vui.

Căn cứ vào đơn xin hoãn của ông Trần Xuân Giá và xác minh hiện trạng bệnh của bị cáo này do bệnh viện Việt Xô cung cấp, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa.

Các bị cáo có mặt trong phiên xét xử buổi chiều.
Trong phiên tòa xét xử diễn ra và buổi sáng, luật sư Lưu Tiến Dũng, bào chữa cho bị cáo Trần Xuân Giá cho biết đã gửi đơn của ông Trần Xuân Giá xin hoãn xét xử phiên tòa vì sức khỏe suy giảm.

Theo đó, đơn này mới được ông Giá viết vào lúc 21h ngày 15/4/2014 và sáng nay luật sư Lưu Tiến Dũng đã nộp đơn này cho Thư ký phiên tòa.

Đơn của bị cáo Trần Xuân Giá cho rằng bác sĩ điều trị yêu cầu bị cáo phải điều trị nội trú. Bị cáo thấy không đủ sức khỏe để tham gia phiên tòa xét xử sở thẩm theo triệu tập của TAND TP Hà Nội.

Bị cáo Giá cũng cho biết mục đích ông xin hoãn phiên tòa không nhằm trốn tránh vì hơn ai hết bị cáo mong muốn được trực tiếp tham gia phiên tòa ngay từ thủ tục bắt đầu phiên tòa để có thể thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo quy định pháp luật nhưng vì lý do sức khỏe nên bị cáo không thể tham dự.

Đơn ông Trần Xuân Giá viết: Căn cứ khoản 1 Điều 187 Bộ luật tố tụng hình sự thì “bị cáo phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án, nếu bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa”, nên ông Giá làm đơn đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa.

Vì lý do này, nhiều luật sư đề nghị hoãn phiên xử vì cho rằng ông Trần Xuân Giá với vai trò Chủ tịch HĐQT có những quyết định liên quan đến sai phạm xảy ra tại ACB, vắng mặt sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử.

Thế nhưng tòa cho biết ngày 15/4, ông Trần Xuân Giá có đơn xin vắng mặt chỉ trong ngày 16/4, còn các ngày sau vẫn tham dự phiên xử bình thường. Hội đồng xét xử cũng đã yêu cầu cán bộ tòa án đi xác minh xem ông Giá có bệnh hay không. Thế nên, sáng nay, tòa vẫn xét xử bình thường.

(PLTP)

Phản chiến Mỹ Joan Baez viết về ngày 30 tháng 4 năm 1975

Cộng Sản không thể thắng chiến tranh Việt Nam dễ dàng nếu không có phong trào phản chiến Mỹ ồ ạt biểu tình kêu gọi chính phủ Mỹ Lyndon B. Johnson và Richard Nixon rút quân về nước.

Phong trào phản chiến Mỹ thời ấy có hai nữ ca-nghệ-sĩ gạo cội nổi tiếng là Joan Baez và Jane Fonda. Nhưng bà Baez sau nầy hối hận, trực tiếp có hành động chuộc lỗi, còn Jane Fonda thì không bao giờ.

Chúng tôi còn ở lại 4 năm trên “Thiên đường Cộng Sản”, đến năm 1979 mới tuông ra biển thành thuyền nhân trôi đến đảo Air Raya, một hoang đảo trong số từ 17.508 đến 18.306 hòn đảo lớn, nhỏ thuộc quốc gia Nam Dương (Indonesia) nằm dài ở miền Nam Thái Bình Dương. Nhưng dần dần có sự hiện diện của trên 14, 000 người vượt biển tị nạn Cộng sản tới hoang đảo nầy.


Nơi đây chúng tôi được gặp ca sĩ phản chiến hồi tâm Joan Baez, bà dấn thân tìm tới nơi xa xôi bởi ngạc nhiên vì sao “hòa bình” rồi mà hàng hàng lớp lớp người vạch đường máu để ra đi? Nên bà đích thân đi “điều tra” tìm sự thật từ các trại tị nạn Thái Lan, Phi Luật Tân, Mã Lai, Indonesia v.v.

Năm 2013, nhân ngày lễ Memorial Day (Chiến Sĩ Trận Vong 27/5/2013) của Mỹ, chúng tôi có viết bài nhắc chuyện tị nạn Cộng Sản năm 1979: “Nhớ Air Raya, Hoang đảo cứu người và Joan Baez”.

(Trích)

Nữ ca sĩ phản chiến, chống chiến tranh Việt Nam Joan Baez đã tới Air Raya, và tôi đã gặp nàng ở đảo nầy.

Joan Baez họp các người tị nạn lại, phần đông là các quân nhân tham dự. Họ viết đơn nói rõ lý do. Chúng tôi nhận chồng đơn và lo dịch cho nữ “Điều tra viên” phản chiến hiểu. Một đơn trong đó kể rằng: Cấp bực của họ bị kêu đi trình diện “học tập cải tạo chỉ 10 ngày, chuẩn bị lương thực đủ cho thời gian đó.”

Vậy mà 1 tháng, 1 năm, rồi 3 năm vẫn không thả ra, nên một nhóm nóng lòng lo cho vợ con ở nhà, nên trốn trại, nhưng bị bắt lại rồi đưa ra “Tòa án nhân dân” – tức những bạn cùng tù – xét xử. Đơn anh A kể: “Tôi ở trong đám “nhân dân” nhưng vì còn đấu tố, chưa biểu quyết, mà tôi mắc tiểu nên ra khỏi phòng “tòa”, đi vòng sau hè, thấy một quan tài gổ đóng sơ sài để sẳn. Đấy, “Tòa án nhân dân” của XHCNVN trong hòa bình: kết án tử hình trước khi xử! v.v. nên tôi phải bỏ trốn khỏi thiên đường Cộng sản.”

Ở các trại tị nạn khác hẳn bà cũng nhận được những sự thật tàn bạo khác như trong thư tố cáo dưới đây.

Trở lại Hoa Thịnh Đốn, Joan Baez làm hai việc thiết thực:

I. Kêu gọi những “đồng chí” phản chiến cũ cùng ký tên trên một thư gởi cho nhà nước XHCNVN, bài còn đăng trên tờ Nữu ước Thời báo (The New York Times) số ra ngày 1/5/1079 (Có được 78 chữ ký của những nhân vật phản chiến nổi danh, tên để bên tay mặt văn thư gởi nhà cầm quyền CSVN.)

Phản Chiến Mỹ viết về ngày 30 tháng 4, 1975:


Open letter to the Socialist Republic of Vietnam

Four years ago, the United States ended its 20-year presence in Vietnam. An anniversary that should be cause for celebration is, instead, a time for grieving. With tragic irony, the cruelty, violence and oppression practiced by foreign powers in your country for more than a century continue today under the present regime.

Thousands of innocent Vietnamese, many whose only “crimes” are those of conscience, are being arrested, detained and tortured in prisons and re-education camps. Instead of bringing hope and reconciliation to war-torn Vietnam, your government has created a painful nightmare that overshadows significant progress achieved in many areas of Vietnamese society.

Your government slated in February 1977 that some 50,000 people were then incarcerated. Journalists, independent observers and refugees estimate the current number of political prisoners between 150,000 and 200,000. Whatever the exact figure, the facts form a grim mosaic. Verified reports have appeared in the press around the globe, from Le Monde and The Observer to the Washington Post and Newsweek

We have heard the horror stories from the people of Vietnam from workers and peasants, Catholic nuns and Buddhist priests, from the boat people, the artists and professionals and those who fought alongside the NLF. The jails are overflowing with thousands upon thousands of “detainees.” People disappear and never return. People are shipped to re-education centers, fed a starvation diet of stale rice, forced to squat bound wrist to ankle, suffocated in “connex” boxes. People are used as human mine detectors, clearing live mine fields with their hands and feet. For many, life is hell and death is prayed for.

Many victims are men, women and children who supported and fought for the causes of reunification and selfdetermination; those who as pacifists, members of religious groups, or on moral and philosophic grounds opposed the authoritarian policies of Thieu and Ky; artists and intellectuals whose commitment to creative expression is anathema to the totalitarian policies of your government.

Requests by Amnesty International and others for impartial investigations of prison conditions remain unanswered. Families who inquire about husbands, wives, daughters or sons are ignored. It was an abiding commitment to fundamental principles of human dignity, freedom and selfdetermination that motivated so many Americans to oppose the government of South Vietnam and our country’s participation in the war.

It is that same commitment that compels us to speak out against your brutal disregard of human rights. As in the 60s, we raise our voices now so that your people may live. raise our voices now so that your people may live. We appeal to you to end the imprisonment and torture-to allow an international team of neutral observers to inspect your prisons and re-education centers. We urge you to follow the tenets of the Universal Declaration of Human Rights and the International Covenant for Civil and Political Rights which, as a member of the United Nations, your country is pledged to uphold. We urge you to reaffirm your stated commitment to the basic principles of freedom and human dignity… to establish real peace in Vietnam.

Joan Baez President,

Humanitas/International Human Rights Committee

CO-SIGNERS

Ansel Adams
Edward Asner
Albert V. Baez
Joan c. Baez
Peter S. Beagle
Hugo Adam Bedau
Barton J. Bernstein
Daniel Berrigan
Robert Bly
Ken Botto
Kay Boyle
John Brodie
Edmund G. “Pat” Brown
Yvonne Braithwaite Burke
Henry B. Burnette, Jr.
Herb Caen
David Carliner
Cesar Chavez
Richard Pierre Claude
Bert Coffey
Norman Cousins
E. L. Doctorow
Benjamin Dreyfus
Ecumenical Peace Institute Staff
MiIni Farina
Lawrence Ferlinghetti
Douglas A. Fraser
Dr. Lawrence Zelic Freedman
Joe Fury
Allen Ginsberg
Herbert Gold
David B. Goodstein
Sanford Gottlieb
Richard J. Guggenhime
Denis Goulet, Sr.
Bill Graham
Lee Grant
Peter Grosslight
Thomas J. Gumbleton
Terence Hallinan
Francis Heisler
Nat Hentoff 
Rev. T. M. Hesburgh, C.J.C.
 John T. Hitchcock
Art Hoppe
Dr. Irving L. Horowitz
Henry S. Kaplan, M.D.
R. Scott Kennedy
Roy C. Kepler
Seymour S. Kety
Peter Klotz-Chamberlin
Jeri Laber
Norman Lear
Philip R. Lee, M.D.
Alice Lynd
Staughton Lynd
Bradford Lyttle
Frank Mankiewicz
Bob T. Martin
James A. Michener
Marc Miller
Edward A. Morris
Mike Nichols
Peter Orlovsky
Michael R. Peevey
Michael R. Peevey
Geoffrey Cobb Ryan
Ginetta Sagan
Leonard Sagan, M.D.
Charles M. Schultz
Ernest L. Scott
Jack Sheinkman
Jerome J. Shestack
Gary Snyder
I. F. Stone
Rose Styron
William Styron
Lily Tomlin
Peter H. Voulkos
Grace Kennan Warnecke
Lina Wertmuller
Morris L. West
Dr. Jerome P. Wiesner
Jamie Wyeth
Peter Yarrow
Charles W. Yost

Dịch nguyên văn như sau:

“Cách đây 4 năm, Hoa Kỳ đã chấm dứt 20 năm hiện diện ở Việt Nam. Một dịp kỷ niệm đúng ra là nguyên nhân để đón mừng, nhưng thay vào đó, lại là lúc để đau buồn.

Với một thảm họa thật mỉa mai, sự tàn ác, bạo lực và đàn áp do các thế lực nước ngoài áp đặt lên đất nước quý vị trong hơn một thế kỷ qua, đang tiếp tục ngày hôm nay dưới chế độ hiện thời.

Hàng ngàn người Việt Nam vô tội, nhiều người mà “tội” của họ chỉ là các vấn đề thuộc lương tâm, hiện đang bị bắt giữ, tạm giam và tra tấn trong tù hoặc các trại cải tạo. Thay vì mang lại hy vọng và hoà giải cho đất nước Việt Nam bị chiến tranh tàn phá, thì nhà nước của quý vị lại tạo ra một cơn ác mộng đau đớn và che khuất đi những tiến bộ quan trọng đã đạt được trong nhiều phạm vi của xã hội Viêt Nam.

Nhà nước quý vị đã tuyên bố vào tháng 2/1977 rằng có khoảng 50 ngàn người đang bị giam giữ lúc đó. Nhiều ký giả, các nhà quan sát độc lập và người tỵ nạn ước lượng rằng con số tù nhân chính trị hiện thời khoảng giữa 150 ngàn và 200 ngàn người.

Con số chính xác có là gì đi nữa, thì sự thật đang tạo thành một bức tranh tăm tối. Nhiều tin tức được xác nhận đang xuất hiện trên báo chí thế giới, từ báo Le Monde và The Observer đến Washington Post và Newsweek. Chúng tôi đã nghe nhiều câu chuyện của những người đến từ Việt Nam -công nhân và nông dân, các nữ tu Công giáo và tu sĩ Phật giáo, các thuyền nhân, văn nghệ sĩ và các nhà chuyên môn cũng như những người đã từng chiến đấu bên cạnh Mặt trân giải phóng.

– Các nhà tù đang tràn ngập với hàng ngàn đến hàng ngàn “tù nhân”.

– Nhiều người bị mất tích và không tìm được tông tích.

– Nhiều người bị đưa đến các trại cải tạo, cho ăn bằng những khẩu phần gạo chết đói, buộc phải ngồi với cổ tay và cổ chân bị trói chặt, đến ngạt thở trong các thùng connex

– Nhiều người bị dùng như những vật dò tìm bom mìn, dọn các bãi mìn bằng tay chân trần trụi.

Ðối với nhiều người, sống là địa ngục và cái chết là điều mong ước. Nhiều nạn nhân là đàn ông, phụ nữ và trẻ em đã từng ủng hộ và chiến đấu cho mục tiêu thống nhất đất nước và quyền dân tộc tự quyết, họ là những người vì hoà bình, thành viên của các tổ chức tôn giáo hoặc vì các nền tảng đạo đức triết lý đã chống đối lại các chính sách độc đoán của chế độ Thiệu Kỳ; họ là các văn nghệ sĩ và trí thức quyết tâm được tự do sáng tạo bị hất hủi bởi các chính sách độc tài của nhà nước quý vị.

Yêu cầu của Tổ chức Ân xá Quốc tế và nhiều tổ chức khác để được tự tìm hiểu tình trạng lao tù vẫn chưa được đáp ứng. Các gia đình muốn biết tin tức về vợ chồng con cái họ đều bị thờ ơ..

Chính một quyết tâm bền bỉ về các nguyên tắc cơ bản của nhân cách, tự do và quyền tự quyết đã là động cơ thúc đẩy rất nhiều người Mỹ phản đối chính quyền miền Nam và sự tham dự của đất nước chúng tôi vào cuộc chiến. Cũng chính vì một quyết tâm tương tự bắt buộc chúng tôi phải lên tiếng phản đối sự bất chấp đến tàn bạo về nhân quyền của quý vị.

Chúng tôi kêu gọi quý vị hãy chấm dứt ngay việc bỏ tù và tra tấn –cho phép một nhóm quốc tế gồm các nhà quan sát trung lập được đến để thanh tra các nhà tù và trung tâm cải tạo của quý vị.

Chúng tôi khuyến cáo quý vị nên tuân theo các nguyên tắc của Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị mà đất nước quý vị là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, đã cam kết phải thi hành.

Chúng tôi khuyến cáo quý vị nên xác định lại cam kết mà quý vị đã tuyên bố về các nguyên tắc về tự do và phẩm cách con người… để thiết lập một nền hoà bình thật sự tại Việt Nam

Ký tên: Joan Baez”

Thư được 78 nhân vật nổi tiếng ký tên, trong đó có I. F. Stone, Barton Bernstein, Daniel Berrigan, Jerome Weisner, Bert Coffey, Benjamin Dreyfus, Sanford Gottlieb, Terence Hallinan, Staughton Lynd, Allen Ginsberg, Edmund Pat Brown, Ginetta Sagan, Cesar Chavez, và Nat Hentof.v.v.. (Bài khác chúng tôi sẽ nói đến vài tên Mỹ Cộng nổi bậc).

II. Chuyện thứ hai: kêu gọi chính phủ Mỹ nhận người tị nạn nhập cư.

Ca sĩ Joan Baez ôm hết chồng thơ từ các trại tị nạn về Hoa Thịnh Đốn, khiếu nại với Tổng thống Mỹ lúc ấy là Jimmy Carter, rồi kéo đệ nhất phu nhân đi Thái Lan thăm người vượt biển. Bà cùng nhiều đoàn thể khác nữa như Đại Đức Thích Giác Đức cùng Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Ngô Vương Toại –nguyên là sinh viên rất chống Cộng thời VNCH – kêu gọi Jimmy Carter phải nhận cho người tị nạn Đông Dương vào Mỹ.

Kéo dài tới thời Tổng Thống Ronald Reagan là chương trình ODP, cho đở vượt biên chết người, vì theo Cao Ủy Tị Nạn LHQ, số chết do vượt biển lên đến gần nủa triệu người! Bao nhiêu đó đủ nói lên tội ác của đảng Cộng sản Việt Nam trong “hòa bình”; chưa kể tội lừa người đi tù cải tạo mà Mỹ phải có chương trình H.O cho chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa.

Vì vậy mà chúng tôi nhớ Air Raya, một hoang đảo cứu người và ca sĩ Joan Baez bởi nhờ bà mà thêm chính sách cứu người hẳn hòi từ tòa Bạch Ốc!

Ngày Lễ Memorial Day (Chiến Sĩ Trận Vong 27/5/2013) của Mỹ, những cựu quân nhân Hoa Kỳ đã kết tội bà đào Jane Fonda-Jane Hanoi là Phản Quốc (Traitor) lâu rồi.” (Hết trích)

III. Phản chiến Việt Nam chống Nguyễn Văn Thiệu nhưng vinh danh tự do thời TT Thiệu và tố cáo tội ác Cộng Sản.

Đoàn Văn Toại nguyên Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Saigon từng biểu tình đòi hủy bỏ bầu cử Tổng Thống Thiệu và đốt xe Mỹ. Nên bị tù thời Thiệu, nhưng rồi cũng bị tù thời “giải phóng”. Đoàn Văn Toại viết sách so sánh hai chế độ lao tù trong quyển “Quần đảo ngục tù của người Việt Nam” (The Vietnamese Gulag)

Đoàn Văn Toại viết: (Trích)

Khi cộng sản chiếm miền Bắc Việt Nam năm 1954, hàng triệu người đã lũ lượt di cư vào Nam.

Tôi đã tận tai nghe nhiều câu chuyện về sự đau khổ tột cùng của họ. Nhưng cũng như nhiều người miền Nam lúc ấy, tôi đã không tin vào những câu chuyện đó. Cả về sau này, tôi cũng đã không tin về những câu chuyện được kể trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago) của văn hào Solzhenitsyn. Tôi không tin vì cho rằng đó là những luận điệu tuyên truyền chống Cộng. Nhưng vào năm 1979, tôi đã cho xuất bản cuốn sách Việt Nam Ngục Tù của chính tôi Liệu những người đã từng nếm trải những kinh hoàng dưới chế độ cộng sản có bao giờ thử thuyết phục những người không có cái kinh nghiệm này?

Với tư cách một lãnh tụ sinh viên, tôi cho rằng tôi phải hoàn thành khát vọng của người dân Việt Nam về dân chủ, tự do và hoà bình.

Một cách ngây thơ, tôi nghĩ rằng chế độ Hà Nội ít nhất cũng là người Việt Nam, trong khi người Mỹ chỉ là những kẻ xâm lược giống như người Pháp trước đó. Như nhiều người trong phong trào đối lập tại miền Nam lúc ấy, tôi tin rằng dù sao các đồng bào cộng sản miền Bắc cũng sẽ dễ có sự tương nhượng và dễ nói chuyện hơn là người Mỹ…(…)

Ngày 22 tháng 6 năm 1975 tức là chưa đầy hai tháng sau ngày 30 tháng 4, Đoàn Văn Toại đang thích thú nghe 100 nhạc sĩ của đoàn Nghệ thuật hòa tấu Quốc Gia từ Hà Nội trình diễn tại Nhà Hát Lớn (Grand Theater) TP HCM. Khi màn hòa tấu nhạc Beethoven vừa chấm dứt, sắp tiếp qua mục kế, thì có 4 người đồng phục bộ đội trẻ, cở 18 tuổi là nhiều nhất, ra hiệu dẫn Toại rời hàng ghế ngồi, đi ra hành lang, một người hỏi, giọng miền Bắc: “Anh có phải là Toại?’; Đáp: “Phải. Nhưng tại sao? Có chuyện gì vậy?” Tức thì một người lùi lại để lấy trớn mà nhào tới tán vào má anh thật mạnh, xong họ lôi anh nhanh lên tầng hai mà chưa đầy 5 năm trước Chủ Tịch Sinh Viên Đoàn Văn Toại đã từng gắp gáp lên đây y như vậy để đòi trả tự do cho các bạn sinh viên đang bị bắt, đòi Quốc Hội bãi bỏ bầu cử Tổng Thống năm 1971, và viết telegram cho Richard Nixon! Phải nhờ tác giả Đoàn Văn Toại ghi rõ “trước đây Nhà Hát Lớn là tòa nhà Quốc Hội của miền Nam” chúng tôi mới biết vũ trụ thênh thang nhưng chật hẹp nầy!

Tọai tưởng họ lầm với Ngô Vương Tọai, một sinh viên mà chế độ biết là tay chân của Thiệu, tức “tay sai” Mỹ, đến độ bị Mặt trận lên án tử hình, năm 1966 còn tìm cách ám sát Ngô Vương Tọai, nhưng vết thương đâm vào bao tử, suýt tưởng chết. Sau nầy Vương Tọai làm việc cho bộ Thông Tin chính phủ.

Vậy là chắn chắn mấy anh bộ đội con nầy lầm, vì ở miền Bắc vô, khi giải lên trên thì ai không biết Đoàn Văn Toại Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Sàigon trước sau đều chống Nguyễn Văn Thiệu, và còn một lô bạn bè như Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy v.v… nữa chi?

Chỉ “lầm” thôi mà công thần Đoàn Văn Toại bị bắt oan từ ngày 22- 6-1975, chờ gặp cấp trên để giải oan nhưng bị đày đọa qua nhiều nhà tù, không hề gặp một bóng nào để giải quyết, trừ chủ ngục chỉ biết đánh chết người! Khi được cho ra là ngày 2-11-1977, hai năm rưỡi không hề được xét xữ. Còn Hùynh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy thì yên ổn làm quan lớn với XHCN.

Toại viết rằng mất 863 ngày tù, chỉ mặc một cái quần từ khi vô cho đến lúc ra, ống quần rách từ dưới lên đến đầu gối, còn đáy quần vì phải ngồi nên lũng nhiều lỗ, chỉ vá chùm vá đụp vậy thôi. Toại kể cơm tù TP HCM chỉ toàn là cát, phải bỏ tất cả chén cơm vào ly nước để cát lóng xuống, vớt những hột cơm ít ỏi nổi lên mà nhai từ từ cho thấm mùi gạo mà no bụng chứ không dám nuốt, vì nó tuột xuống lẹ quá, mau đói!

Khi đó Toại mới nhớ những ngày tù thời Thiệu. Chao ôi, hoàn toàn trái ngược, thức ăn không hết, còn làm khó chính phủ, là cơm tù không đủ “tiêu chuẩn” nên trả lại! Quần áo thì thay đổi liền liền; sự rộng rải của phòng giam Sàigon bằng 40 lần nhà tù mang tên HCM. Toại vẽ tên mình lên tường nên biết rõ. (Đoàn Văn Toại ghi sanh năm là 1946, không biết tử vi có cung gì mà cũng vào phòng số 5 một mình, thì ai biểu 5 năm sau trở lại còn thấy tên mình, thấy tù Thiệu rộng quá, còn tù Tp Hồ Chí Minh nghẹt thở! Nhà tù Cảnh Sát quận Nhất cũng vậy; không hiểu Đoàn Văn Toại có đẻ ra óc tưởng tượng không vậy? Sao có sự trùng hợp ly kỳ vậy?

Đoàn Văn Toại viết: Tôi bị tống vào một xà lim 1m x 2m, tay trái bị xiềng vào chân phải và tay phải xiềng vào chân trái. Thứ ăn của tôi là cơm trộn với cát. Khi tôi khiếu nại về cát trong cơm, các quản giáo đã giải thích rằng cát được cho vào cơm để nhắc nhở các tù nhân về các tội ác mà họ đã phạm. Tôi đã khám phá ra khi đổ nước vào tô cơm có thể tách cát ra khỏi cơm và lắng nó xuống đáy. Nhưng phần nước chỉ có 1lít cho một ngày dùng cho uống và tắm rửa, do vậy tôi phải dùng nó hết sức tiết kiệm.(….)

Tôi nhận lãnh trách nhiệm về những thảm kịch xảy ra cho đồng bào của tôi. Và nay tôi chỉ còn cách đóng vai nhân chứng cho sự thật này hầu các người đã từng ủng hộ Việt Cộng trước kia có thể cùng chia sẻ trách nhiệm với tôi. (Hết trích)

Đoàn Văn Toại và Ngô Vương Toại

Ngô Vương Toại sanh 1947 ở Thanh Hóa, nên kinh nghiệm nhiều về Cộng Sản. Nhà báo Ngô Vương Toại vừa từ trần ở Mỹ ngày 3 tháng 4 năm 2014.

Số sau xin tiếp chi tiết thành tích dựng cờ Vàng tại Hoa Thịnh Đốn năm 1976 trong đó có Nhà báo Ngô Vương Toại.

Còn Đoàn Văn Toại sanh 1946 ở miền Nam nên như ông ta tự thú, là rất ngây thơ về Cộng Sản; bây giờ dù hối hận muộn màng, nhưng đây là lịch sử cho thế hệ trẻ thấy sự thật của hai chế độ, mà sự tàn ác của CS bắt người không xét xử hay xử nhưng bản án hay quan tài đã định trước như Joan Baez có bằng chứng trong tay từ năm 1979 đến nay vẫn chưa thay đổi!

Phản chiến Mỹ cả Việt đều là đồng chí của CS nhưng đều sớm “tuyên án” Cộng Sản dã man như nhau, bằng văn bảng sách báo như nhau.

Hôm nay mùa Quốc Hận thứ 39, xin thành kính tưởng niệm những linh hồn Việt lẫn Mỹ đã hi sinh vì lý tưởng tự do. Thành kính cầu siêu cho những linh hồn đã chìm sâu dưới đáy biển như một tai nạn khủng khiếp xảy ra trên đảo Air Raya, như một đảo nhỏ cấp xả.

Lên đảo được chừng ba tháng, một hôm các tàu chở người đi đảo Quận mới có chợ để mua sắm tùy nhu cầu. Khi tàu qua một eo biển bị gió quật, vài tàu chìm, cả trăm người bị chết trôi mất xác. Có một anh đi với vợ con, khi bị nạn, anh nhảy xuống biển cứu được cả vợ lẫn con, còn anh chồng vì mệt quá nên hết lội nổi, kiệt sức phải chết chìm trước khi có tàu đến cứu!

Sau nầy mới biết anh là vô địch bơi lội của VNCH, nguyên là Đốc Sự Quốc Gia Hành Chánh Sàigon nên bị đi tù cải tạo, rồi đi vượt biên, lên bờ rồi, chỉ chờ đi định cư thì lại chết; và vợ con không biết lội thì lại sống, vô địch bơi lội mà chết!

Người vắn số đó tên Chiêm Thành Kỷ, khi nghe bài của nhạc sĩ Trường Hải, MƯA TRÊN ĐẢO AIR RAYA nhớ chú ý mộ bia có tên ấy để thấy con đường vượt biên vô cùng nguy nan và cảm thương nỗi lòng người xa xứ.

Nguyễn Việt Nữ
Theo Quỳnh Trâm Việt Nam blog

Những nghịch lý của dân chủ – Chết dưới tay Trung Quốc


Những nghịch lý của dân chủ

Người ta hình dung Dân Chủ, đặc biệt là dân chủ nghị trường, như sự kết thúc của lịch sử, như chân trời không thể vượt qua của trí tuệ, như một cái gì đương nhiên (…) Chúng ta thử suy nghĩ xem bên ngoài chân trời ấy, có còn một bầu trời nào khác nữa không?

Không gì nguy hiểm cho người trí thức bằng tự giam mình trong những định kiến của một giai đoạn lịch sử. Vì đó chính là giết chết vai trò trí thức trong bản thân mình, bóp nghẹt mọi suy tư vượt trên những khuôn khổ thời thượng. Trên bình diện xã hội, thái độ ấy đưa đến khóa cửa chối từ những luồng gió mới, kềm hãm bánh xe lịch sử, ngăn cấm sự tiến hóa của xã hội một cách hài hòa trên con đường trí tuệ . Để rồi, sẽ chỉ còn những con đường đột biến, đầy khủng hoảng và tang thương …
Chúng ta đang sống trong một giai đoạn trong đó người ta hình dung Dân Chủ, đặc biệt là dân chủ nghị trường, như sự kết thúc của lịch sử (1), như chân trời không thể vượt qua của trí tuệ, như một cái gì đương nhiên. Như thể xã hội mang tính nhị nguyên. Hễ ra khỏi độc tài thì là dân chủ. Không còn gì khác ! Thực tế là xã hội con người không nhị nguyên. Mọi tương lai đều khả hữu. Marx (2), Popper (3), và ngay cả Sartre (4) trên những quan điểm khác nhau, đều đã nhìn ra điều ấy. Chúng ta cũng nhận thấy sự thật này một cách cụ thể từ năm 1989, lúc người ta tuyên dương sự chiến thắng vĩnh cửu của chính thể dân chủ đại diện và kinh tế thị trường (1). Từ thời điểm ấy, những xã hội thoát khỏi thế giới lưỡng cực đã dấn bước lên nhiều con đường khác nhau, trong đó dân chủ không phải bao giờ cũng là mối quan tâm chính yếu.
Thật ra, điều quan trọng nhất của suy nghĩ chính trị hiện nay không ngoài việc hướng đến giải đáp cho ba vấn nạn quan trọng nhất của thời đại chúng ta : nguy cơ khánh tận tài nguyên, nguy cơ chìm trong ô nhiễm, và hố sâu chênh lệch giàu nghèo (2). Nếu thật sự dân chủ nghị trường là điểm đến của mọi suy tư, thì nó có khả năng giải quyết những nguy cơ sống còn ấy hay không ? Lý thuyết dân chủ cần những thay đổi, những cập nhật nào ? Và bên ngoài chân trời ấy, có còn một bầu trời nào khác không ?
Trong bài này chúng ta sẽ tự hạn chế trong việc duyệt qua một số nghịch lý của dân chủ. Không phải để bài bác, nhưng từ sự nhận thức các mâu thuẫn, chắc chắn bạn đọc sẽ có được những cái nhìn mới. Rất có thể những quan niệm mới này sẽ vẫn ở trong phạm vi dân chủ, nhưng ở một trình độ khác hơn. Dù sao, cần giữ cho cánh cửa suy tư luôn rộng mở …
Hai mâu thuẫn nền tảng giữa bầu cử và dân chủ
Nếu dân chủ là « người dân làm chủ », thì bầu cử chính là tước đoạt quyền làm chủ của người dân. Bầu cử mâu thuẫn với dân chủ. Trong phòng phiếu, khi để cho lá phiếu rơi khỏi tay, thì người dân mặc nhiên từ bỏ quyền làm chủ đất nước của mình, để đặt nó vào tay một người mà có khi mình chỉ được biết sơ sài qua vài màn trình diễn hay vài thông tin phiến diện được gạn lọc bởi những cơ sở truyền thông. Kết quả là quyền hành được chuyển nhượng cho một nhóm chính trị gia chuyên nghiệp, phân chia thành đảng phái để thay phiên nhau cai trị xã hội. Bầu cử, trong sự vận hành tốt đẹp nhất của nó, chỉ đưa đến một chính thể « thượng chủ » (oligarchie), với quyền hành luân chuyển trong tay một giới thượng lưu. Có lẽ vì thế mà Sartre đã cho rằng bầu cử là cạm bẫy dành cho bọn đần độn : « élection, piège à cons ! » (5) …
Mâu thuẫn nền tảng thứ hai giữa bầu cử và dân chủ đến từ một ngộ nhận phổ quát. Người ta nghĩ rằng khi mỗi cử tri phát biểu qua lá phiếu của mình thì đó là quyết định của « nhân dân », của dân tộc, của toàn xã hội, và cho đó là dân chủ. Điều này hoàn toàn là một ngộ nhận, vì lá phiếu chỉ phản ảnh sự chọn lựa của một cá nhân, và tổng hợp các lá phiếu chỉ cho biết quyết định của một tập hợp cá nhân. Một tập hợp cá nhân không phải là một dân tộc, không đồng nghĩa với « nhân dân », với xã hội. Xã hội, nhân dân, dân tộc, mang cá thể riêng biệt, khác hẳn với những cá nhân cộng lại. Chỉ cần nghĩ rằng : sự kín đáo của phòng phiếu chính là nơi mỗi cá nhân được dịp phản bội tập thể của mình …
 
Mâu thuẫn giữa dân chủ và tiến bộ
Như thế, mô hình dân chủ nghị trường, đặt căn bản trên bầu cử, tức trên bài toán cộng của những chọn lựa cá nhân, rốt cuộc chỉ đưa đến một chế độ « thượng chủ », với quyền hành nằm trong tay một giai cấp thượng lưu luôn cố bám lấy quyền lợi của mình bằng cách duy trì xã hội trong nguyên trạng của nó. Chữ « State » hay « Etat », thường được dịch là « Quốc Gia », thật ra có nghĩa gốc là « nguyên trạng ». Giai cấp nắm quyền tự cho mình cái bổn phận phải duy trì « Quốc Gia », tức « nguyên trạng », nói cách khác, là kềm giữ xã hội trong một trạng thái nhất định, được gọi là « ổn định ». Điều này đương nhiên là mâu thuẫn với nhu cầu tiến hóa của xã hội. Vì thế, những tiến bộ quan trọng của xã hội thường phải vận dụng đến những hình thức dân chủ khác với dân chủ nghị trường, tức những cao trào quần chúng đấu tranh quy mô.
Cần biết là những người dân mong muốn xã hội tiến hóa một cách tha thiết nhất chính là tầng lớp nghèo khổ. Quyền bầu phiếu không là gì cả khi bụng đói, khi rách rưới, khi nhà cửa dột nát hay không có nhà cửa … Xã hội tư sản không dành cho những người này một định chế hữu hiệu nào để bảo vệ quyền lợi của họ. Thật vậy, không có nghiệp đoàn người thất nghiệp. Thống kê cũng cho biết những người thực sự nghèo khổ, với công ăn việc làm bấp bênh, thường không tham gia công đoàn (và ít tham gia bầu cử). Các nghiệp đoàn đều là nghiệp đoàn của những người có công việc. Những người thực sự nghèo khổ chỉ có một phương tiện duy nhất để ngoi lên, đó là : đấu tranh tập thể ! Dân chủ đối với họ, cũng như những tầng lớp thiếu thốn nói chung, buộc phải thông qua việc tổ chức thành công cao trào tập thể đấu tranh. Đó là những lóe sáng của dân chủ thực sự, trong những xã hội « thượng chủ » bị gò ép trong tay một giai cấp chính trị gia chuyên nghiệp.
Quyền từ ̣ do ngôn luân và dân chủ hình thức
Người ta thường nói đến tự do ngôn luận như một trong những thành tố quan trọng nhất của xã hội dân chủ. Thật ra, điều quan trọng là : quyền quyết định nằm trong tay ai ? Chứ không phải quyền nói năng, phát biểu ! Churchill từng nói (đùa) rằng : “chúng ta sống trong một xã hội dân chủ, nên quý vị có toàn quyền phát biểu trước khi phục tùng quyết định của tôi ». Khi quyền hành được tầng lớp ưu thắng nắm chắc trong tay, thì tự do ngôn luận không còn một giá trị quyết định nào. Người ta có thể có tự do, đồng thời vẫn bị lệ thuộc.
Trên một bình diện quy mô hơn, trong các xã hội Tây Phương, ngôn luận được tập trung trong tay các nhà kỹ nghệ. Tại Pháp, một tổ hợp xây cất, cùng với hai tổ hợp sản xuất vũ khí thân cận với chính quyền, hiện nắm giữ những phương tiện truyền thông đại chúng quan trọng nhất, bao gồm những đài truyền hình đại chúng, đài phát thanh, báo giấy, báo mạng, nhà xuất bản sách v.v… Patrick Le Lay Giám đốc đài truyền hình TF1, được nhiều người xem nhất tại Pháp, thuộc tổ hợp Bouyghes, gốc là một công ty xây cất, từng tuyên bố : « điều mà chúng ta bán cho Coca Cola – hay bất cứ thương hiệu nào khác – là thời gian trí não của khán giả, để họ sẵn sàng đón nhận các thông điệp quảng cáo » (6). Truyền thông trở nên lệ thuộc vào thế lực tiền bạc và gắn bó chặt chẽ với quyền lực chính trị. Khán giả các phương tiện truyền thông đại chúng, tức đại đa số dân chúng, bị điều kiện hóa để không còn biết tự mình suy nghĩ. Họ trở thành một bầy cừu với những thái độ và phản ứng đồng loạt được « quy trình » sẵn (7). Ý kiến cá nhân, vốn là cột trụ quan trọng nhất của dân chủ, từng được các triết gia như Aristote đề cao từ thời cổ Hy Lạp, bị đặt trước nguy cơ tàn lụi, bởi sự tập trung phương tiện ngôn luận dưới sự cai trị của thị trường.
Vấn đề nhân quyền
Nhân quyền vốn vẫn được coi như sự biện minh của dân chủ. Người ta hình dung nhân quyền như một cái gì đương nhiên, không cần bàn cãi. Thật ra khái niệm nhân quyền rất mong manh. Nó lệ thuộc vào sự hiện hữu của ba yếu tố: một bản chất con người cách biệt với thiên nhiên một cách rõ rệt, một giá trị hiển nhiên của con người vượt hẳn mọi giá trị khác, và sự cảm thông rộng rãi giữa mọi con người với nhau. Các yếu tố này sẽ được phân tích trong một bài viết sắp phổ biến. Tạm thời, chúng ta có thể nhận xét là trong xã hội tân tiến hiện tại, cả ba yếu tố kể trên đều rất lung lay, chao đảo.
– Bản chất con người cách biệt với thiên nhiên ? Không gì mơ hồ hơn, khi những chứng minh về liên hệ chặt chẽ giữa con người và thiên nhiên trên tiến trình tiến hóa càng ngày càng rõ nét, trên mặt vật lý cũng như tâm lý. Thậm chí văn hóa của con người cũng phải tuân theo những quy luật cấu trúc khách quan (8). Quan niệm chỗ đứng của con người như một chủ thể độc lập, tự do, vượt trên các thành tố khác của thiên nhiên, hiện phải bị xét lại.
– Giá trị hiển nhiên của con người ? Sau những tội ác mà con người đã làm cho đồng loại của mình suốt thế kỷ 20, từ chế độ Gulag, Auschwitz, đến Srebenisca, qua sự tiêu diệt một phần ba của chính dân tộc mình tại Campuchia rồi cuộc thảm sát ở Rwanda, người ta có quyền có đôi chút nghi ngờ về « giá trị » nhân bản ấy.
– Sự cảm thông rộng rãi giữa con người với nhau ? Với phản ứng co cụm của từng cộng đồng trong phạm vi văn hóa của riêng mình, để bài bác, thậm chí tấn công bằng bạo lực các cộng đồng khác, chiều hướng thông cảm giữa người với người cũng đang trên đà sút giảm … Thật ra, đã bao giờ người ta coi những con người thuộc văn hóa hay tôn giáo khác như mang cùng bản chất với mình hay chưa ? Chỉ cần nghĩ đến việc đa số tôn giáo thường hứa hẹn cho đa số đồng loại của mình một sự đày đọa muôn đời trong địa ngục …
Kết quả của sự khó khăn trong ý thức Nhân Quyền, là tại nhiều nơi người ta buộc phải áp đặt nó, có khi bằng bom đạn, có khi bằng áp lực kinh tế hay chính trị, khiến Nhân Quyền rất dễ bị coi như một phương tiện thống trị của chủ nghĩa thực dân mới.
Tính ấu trĩ của con người dân chủ
Platon, trong quyển 8 của sách Cộng Hòa (la République), mô tả con người dân chủ với một tâm lý bấp bênh, khi này, khi khác, phất phơ vô định. Hành vi của họ lệ thuộc vào những thèm muốn, những sợ sệt trái ngược hẳn nhau, lần lượt xuất hiện và biến thái trong tâm tư dao động của họ.
Tocqueville, khi phân tích nguy cơ độc tài và suy thoái trong dân chủ, đã cho rằng dân chủ có khả năng ru ngủ con người, duy trì người dân trong một tình trạng ấu trĩ. Con người trong xã hội dân chủ có khuynh hướng thu mình trong một phạm vi cá nhân, gia đình, hay bè bạn rất hạn chế, và chỉ quan tâm đến những nhu cầu và thú vui nhỏ nhoi riêng tư của họ, bất chấp mọi người, mọi việc chung quanh. Những kẻ này có thể gặp gỡ người khác, nhưng không nhìn thấy bất cứ ai. Họ có thể có nhiều tiếp xúc nhưng không hề ý thức sự hiện diện của tha nhân … Họ chỉ hiện hữu cho chính họ. Tocqueville cho rằng những người ấy nhìn xã hội qua khung cảnh hạn hẹp của gia đình mình. Tâm lý này dễ biến xã hội thành một tập hợp những sự ích kỷ, khó có được một hướng tiến, một đề án, một viễn tượng chung. Tâm lý ấy cũng thuận lợi cho những kẻ mị dân, lừa gạt dư luận bằng những lời nói vỗ về đường mật, để đưa xã hội vào độc tài toàn trị.
Vấn đề dư luận
Dư luận vừa là một con quái vật hung hãn có khả năng nuốt sống bất cứ ai, bất cứ chương trình, tư tưởng nào, đồng thời cũng là một người đẹp được mọi người theo đuổi, chiều chuộng … Chấp nhận sự thống trị của dư luận là một nguy cơ cho xã hội. Một nhà lãnh đạo, theo định nghĩa, không thể đóng vai trò lãnh đạo nếu luôn chiều theo dư luận. Các quyết định lịch sử trọng đại thường đi ngược lại ý muốn của dư luận, như việc sát nhập Đông và Tây Đức của Thủ Tướng Kohl, hay việc xóa bỏ án tử hình của Tổng Thống Mitterrand … Những nhân vật được coi như vĩ nhân của nước họ, như Tổng Thống de Gaulle hay Thủ Tướng Churchill, đều có rất nhiều lúc phải chống lại dư luận trong cuộc đời chính trị của họ. Tuy nhiên không ai dám quả quyết là một nhà cầm quyền có thể đối đầu với dư luận. Max Weber phân biệt đạo lý trách nhiệm với đạo lý giựa trên lập trường, trên niềm tin vào lẽ phải. Người cầm quyền có thể tin rằng một quan điểm nào đó là đúng, nhưng vẫn phải chiều theo dư luận, nhân danh « đạo lý trách nhiệm » …
Trong nhiều trường hợp, dư luận trở nên quan trọng hơn bầu cử. Cả Nicolas Sarkozy lẫn Ségolène Royal đều được đưa lên đỉnh cao của cuộc tranh cử Tổng Thống Pháp năm 2007 nhờ các cuộc thăm dò dư luận. Tại Pháp, nhiều chính phủ vừa được thùng phiếu đưa lên đã nhanh chóng bị giải tán cũng chỉ vì tụt dốc trong các thăm dò dư luận. Quyền hành của dư luận khiến cho giới chính trị gia chuyên nghiệp luôn tìm mọi cách để quyến rũ người đẹp hiểm ác này. Được đào luyện bởi những văn phòng tư vấn về truyền thông, họ tập tành chú trọng đến các yếu tố phù phiếm bên ngoài, cách ăn mặc, nói năng, bộ điệu, những thứ không liên hệ gì đến khả năng quản lý quốc gia, chỉ để dụ dỗ người đẹp « dư luận ». Đồng thời họ tận lực khai thác những thị hiếu thấp kém của dư luận để tấn công các đối thủ của họ trên các lãnh vực riêng tư, như tình ái, thậm chí tình dục, các khó khăn gia đình v.v… Chính trị trở thành một đấu trường hạ cấp, với những đòn phép bỉ ổi, không ăn nhằm gì đến ưu tư ích quốc lợi dân.
 
Nguyên tác tự do
Bên cạnh đó, sự gắn bó thái quá vào những nguyên tắc nền tảng của dân chủ cũng có thể đưa đến phủ định chính dân chủ.
Sự gắn bó quá đáng vào nguyên tắc Tự Do khiến con người có cảm tưởng mình có thể làm mọi thứ, khai phóng mọi ham muốn, gợi lên những ước vọng không giới hạn, để rồi phải thất vọng khi đụng chạm với các giới hạn của thực tế và bất mãn quay lại chống phá xã hội dân chủ đã cưu mang mình.
Mặt khác, nếu lý tưởng tự do cá nhân có thể được diễn dịch một cách đơn giản là mỗi người tự mình đạt đến một cuộc sống thoải mái, có ý nghĩa, thì khi vượt qua một giới hạn nào đó, nó lại trở thành tìm mọi cách để làm sao để có thể tiêu thụ nhiều nhất, đạt đến địa vị cao nhất … Tương tự như một thể tháo gia, thay vì chơi thể thao cho thân thể khỏe mạnh, thì lại dùng thuốc kích thích có hại cho sức khỏe để tăng hiệu năng đánh bại các đối thủ. Chính với tâm lý này mà người ta luôn tìm mọi cách để vượt trên người khác, đè bẹp người khác, với hậu quả tai hại cho sự hòa đồng, hợp tác, không thể thiếu được trong xã hội.
Nguyên tắc bình đẳng
Nguyên tắc Bình Đẳng được đẩy mạnh khiến con người luôn nhìn thấy bất công, luôn phẫn uất, và rốt cuộc cũng bất mãn với xã hội. Bình đẳng khiến con người không còn nhận thấy chỗ đứng của mình trong cấu trúc xã hội. Một cấu trúc không khi nào là một mặt phẳng ! Bình đẳng là một mặt phảng. Nói đến cấu trúc xã hội là mặc nhiên phủ nhận hình ảnh xã hội như một mặt phẳng bình đẳng. Thời xưa, chỗ đứng của mỗi người được ban bố bởi Thiên Chúa, Mệnh Trời, Nhà Vua, giòng tộc … Ngày nay, với lý tưởng bình đẳng, những yếu tố ấy không còn nữa, đưa đến việc người ta bị thôi thúc phải chinh phục một chỗ đứng, gây nên một trạng thái cạnh tranh toàn diện có thể gay gắt đến mức làm hại cho xã hội, như vừa nói.
Thật ra, con người, dù là con người dân chủ, cũng rất khó mà chấp nhận được lý tưởng bình đẳng. Một thí dụ dễ nhận ra là việc thừa kế. Thừa kế đương nhiên là bất công, bất bình đẳng. Người được hưởng một gia sản không tài ba gì hơn người khác. Hắn chỉ được sinh ra trong một gia đình giàu có. Tưởng thưởng yếu tố « sinh ra » , tức yếu tố « dòng dõi », chính là trở về với những giá trị của chế độ phong kiến, quý tộc ! Tuy nhiên, nếu một xã hội dân chủ nhân danh lý tưởng bình đẳng của mình để xóa bỏ việc thừa kế, hay chỉ tăng thuế thừa kế, thì tuyệt đại đa số công dân ham mộ « dân chủ » của xã hội ấy sẽ đứng lên chống đối một cách mạnh mẽ, mặc dù họ luôn sẵn sàng hô hào bảo vệ lý tưởng bình đẳng trên các lãnh vực khác !
Con người dân chủ chỉ trưởng thành khi có được những lập trường chống lại chính mình. Điều này được thể hiện qua con người của Tocqueville, một trong những cha đẻ của tư tưởng dân chủ hiện đại. Thật vậy, Tocqueville tự đĩnh nghĩa mình là một nhà quý tộc trong tâm hồn, nhưng một người dân chủ trong trí não …
Dân chủ tự giết chết dân chủ
Lịch sử cho thấy những nền dân chủ luôn phải đối đầu với nguy cơ suy thoái hay viễn tượng đưa đến độc tài. Athena đã tàn lụi, Roma đẻ ra một chính thể độc tài rất tệ hại trước khi cũng bị nhận chìm trong giòng lịch sử. Lý tưởng dân chủ của cách mạng Pháp dẫn đến giai đoạn Kinh Hoàng trước khi nhường quyền lại cho đế quốc Napoleon. Những chủ trương cao quý của cách mạng vô sản Nga đưa đến địa ngục Staline, trước khi từ từ lún xâu vào độc tài Tư Bản. Các nền dân chủ Đức, Ý, Pháp, đã đặt lên đỉnh cao quyền hành những Hitler, Mussolini, và đám tay sai của họ.
Nguyên do của viễn tượng này đã được bàn qua ở trên : đó chính là tính khai phóng của dân chủ, đưa đến sự ích kỷ, không còn biết nghĩ đến quyền lợi chung nữa. Ngày xưa, dân chủ bị coi rẻ vì lý do ấy. Platon, trong sách Cộng Hòa (Republique), quyển 8, cho thấy tương lai của một chế độ dân chủ chính là tình trạng hỗn loạn. Từ hỗn loạn sẽ nảy sinh ra một nhân vật được coi như cứu tinh của xã hội, che chở và bảo vệ người dân, trước khi trở thành nhà độc tài sắt máu. Tâm hồn của nhà độc tài vốn là một tâm hồn « dân chủ » trước khi mọi ham muốn, tham vọng của hắn được « khai phóng » triệt để bởi lý tưởng tự do, khiến hắn không còn tự kềm hãm được nữa. Thế là dân chủ dẫn đến độc tài !
Thật ra, độc tài cũng có thể ẩn náu trong dân chủ dưới những hình thức kín đáo, như sự độc tài của trí thức khoa bảng. Người trí thức biểu dương nhãn hiệu bằng cấp, được tôn thờ như những người nắm độc quyền suy nghĩ trong một số lãnh vực và mặc nhiên tước quyền ấy của mọi người khác. Dư luận cũng có thể trở thành độc tài như đã được bàn đến ở trên. Hậu quả của hai sự « độc tài » vừa nói đương nhiên là không sắt máu như các thể chế độc tài toàn trị, và dễ được chấp nhận bởi đa số người dân.
Vấn đề văn hóa
Xã hội dân chủ, với các nguyên tắc tự do và bình đẳng, thường gặp khó khăn trong việc hòa hợp các nền văn hóa. Nhất là khi văn hóa biến thái thành các « sản phẩm văn hóa » được gói ghém trong những bao bì hoa mỹ để kích thích người ta tiêu thụ chúng. Nhiều xã hội dân chủ tìm cách hội nhập các nền văn hóa khác biệt trong khuôn khổ một văn hóa ưu thắng được lấy làm tiêu chuẩn, với nguy cơ trở thành « phản văn hóa », và … phản dân chủ ! Phản ứng của các cộng đồng có văn hóa không ưu thắng trước áp lực hội nhập này có thể gây nhiều nguy hại, nhất là khi các điều kiện kinh tế khó khăn đào xâu hố ngăn cách giữa các cộng đồng.
Nói chung, người ta thường có khuynh hướng đề cao những khác biệt của cộng đồng mình, tự hãnh diện coi mình như « hơn » thành viên của những cộng đồng khác. Việc thuộc về một cộng đồng, một tôn giáo hay một chủng tộc, thường được coi như một giá trị tự thân, được đặt cao hơn cả giá trị của xã hội trong đó người ta đang sống. Trong một số điều kiện nào đó, thái độ này có thể trở thành quá khích, bạo lực, đối với những cộng đồng khác hay đối với toàn xã hội …
Dân chủ và kinh tế thị trường
Từ nhiều năm nay, với xác quyết : « kinh tế thị trường sẽ đưa đến dân chủ, tôn trọng nhân quyền », người ta đưa kinh tế thị trường lên hàng giá trị đạo đức, trong khi trong bản chất kinh tế thị trường không liên hệ gì đến đạo đức ! Tuy nhiên, sau khi trải qua thử thách của năm 1989, xác quyết ấy, từ một niềm tin thần thánh, đã nhanh chóng trở thành một giả thuyết, rồi một giả thuyết bị ngờ vực, trước khi dần dần bị phủ nhận. Nga, Trung Quốc, Việt Nam, và nhiều nước khác, đều đã không dân chủ hóa như người ta mong đợi, mặc dù vững tiến trên con đường « thị trường hóa ». Người dân Nga vừa bằng lòng với nền kinh tế thị trường, nhưng cũng bằng lòng với triều đại độc tài Poutine. Người dân Trung Quốc cũng sẵn sàng đứng sau chính phủ của họ, ngay cả trong những vấn đề tế nhị như Tây Tạng.
Thật ra, ngộ nhận đưa đến việc gắn liền kinh tế thị trường với dân chủ là một quan niệm của Tư Bản Chủ Nghĩa kinh điển, đặt căn bản trên mâu thuẫn giữa Lao Động với Tư Bản. Ngày nay, nhiều mâu thuẫn khác đã nảy sinh. Thí dụ như mâu thuẫn với môi trường, bao gồm ô nhiễm và suy kiệt tài nguyên thiên nhiên, đi kèm với mâu thuẫn nước giàu, nước nghèo, kinh tế thực, kinh tế ảo v.v…
Thật vậy, những lãnh vực kinh tế mới đã tạo ra những yếu tố « ảo », được coi như đang xoi mòn nền móng của Tư Bản Chủ Nghĩa. Kinh tế « ảo » mang những mâu thuẫn với nền kinh tế sản xuất và dịch vụ thông thường. Hàng hóa cũng như dịch vụ « ảo » được trao đổi tự do và miễn phí qua mạng internet, mâu thuẫn không chỉ với quyền tư hữu, mà cả với định lý nền tảng của Tư Bản Chủ Nghĩa gán cho mỗi hàng hóa, mỗi dịch vụ, một giá trị tiền bạc.
Bên cạnh đó, qua cuộc khủng hoảng ngân hàng gây ra bởi vụ Société Générale, người ta thấy một nhân viên ngân hàng cấp thấp có thể trong vài phút quyết định sự được mất hàng chục tỷ đô la tiết kiệm của những người dân thường. Điều ấy sở dĩ xảy ra được vì những món tiền vĩ đại kia chỉ là những con số, được quản lý bằng vài phát nhấn chuột trên máy vi tính. Khủng hoảng « subprimes » tại Hoa Kỳ cũng cho thấy mâu thuẫn giữa những phương tiện làm tiền có thể được, và thực tại của thị trường, khi thực tại này bị xóa nhóa trong bức tranh trừu tượng của nền kinh tế « ảo » (có người cho rằng tỷ lệ kinh tế « thực » trên kinh tế « ảo » là một trên 50 !). Một thực tế đã không được nhìn nhận đúng mức, ngày nay hiển lộ ra, là : nếu cứ để cho kinh tế thị trường được tự nó quyết định quá nhiều, thì nó sẽ đưa đến những lạm dụng tai hại, có thể kéo theo sự tự hủy diệt chính nó. Sự kiện chính quyền Hoa Kỳ tung ra những món tiền khổng lồ để cứu những công ty đang sụp đổ không là gì khác hơn một hình thức « quốc hữu hóa » quy mô, quay lưng lại với lý thuyết thị trường tự do.
Vấn đề đô thị hóa trong Tư Bản Chủ Nghĩa hiện đại cũng hàm chứa những mầm mống bất công khó giải quyết, có khi đưa đến bạo loạn, như thường xảy đến ở Pháp. Trong khi đó, nông thôn không còn nông dân, chính quyền hạn chế canh tác để giữ giá nông phẩm, mặc cho nông phẩm thiếu hụt gây nghèo đói …
Dân chủ và toàn cầu hóa
Một trong những chướng ngại lớn nhất của dân chủ là khuynh hướng toàn cầu hóa của Tư Bản Chủ Nghĩa. Dân chủ trong sự hoạt động của nó, cần đến những cấu trúc lệ thuộc vào một biên giới rõ rệt, thông thường nhất là biên giới quốc gia. Thị trường, ngược lại, không biết đến ranh giới. Môi trường hoạt động của nó rốt rào là toàn cầu. Những quyết định của thị trường có thể mâu thuẫn với những quyết định « dân chủ » của người dân. Thị trường có thể áp đặt quy luật của mình trên luật lệ an sinh xã hội, luật lao động, luật tài chánh, thuế khóa, hối đoái v.v… của một nước. Áp lực của thị trường có khuynh hướng ngày càng gia tăng. Ngược lại, ảnh hưởng điều chế của dân chủ trên áp lực của thị trường thì lại ngày càng suy giảm, ngay cả tại các nước tiền tiến. Một chính phủ, dù hữu khuynh hay tả phái, tại Pháp, Đức, Ý, hay Tây Ban Nha, rốt cuộc cũng vẫn phải chọn một con đường thực tế, tức là phải chiều theo những đòi hỏi của thị trường trong cái thế toàn cầu không thể tránh được. Rốt cuộc thị trường làm chủ, tước quyền làm chủ của người dân.
Áp lực « siêu quốc gia » của thị trường cũng thúc đẩy việc hình thành các khối quốc gia. Trong trường hợp Liên Hiệp Âu Châu, tất cả đã bắt đầu bằng một thị trường chung, trước khi cố gắng tiến dần đến một quy chế càng ngày càng gần với quy chế liên bang. Liên Hiệp Âu Châu có quyền áp đặt những điều luật trên người dân của một quốc gia thành viên. Rồi khi những người dân này phát biểu sự chống đối của họ qua các cuộc trưng cầu dân ý, thì giới cầm quyền liền tìm cách chuyển các vấn đề bị chống đối ấy sang cho các Quốc Hội, tức cho giới chính trị gia chuyên nghiệp, thông qua. Trong điều kiện ấy, thử hỏi ai nắm quyền làm chủ ? Có còn là người dân nữa hay không ?
Viễn tượng dân chủ?
Trước những mâu thuẫn vừa được liệt kê, một cuộc khủng hoảng cấu trúc sẽ khó mà tránh được. Khi thị trường hoàn toàn làm chủ, các chính quyền sẽ mất dần quyền hành và bị lấn át bởi những tổ hợp kinh tế siêu quốc gia hoạt động như những băng đảng, bất kể luật pháp. Thế giới sẽ đi đến tình trạng tranh chấp toàn diện. Hỗn loạn, khánh tận tài nguyên, ô nhiễm trầm trọng, sẽ đưa đến sự sụp đổ của nhiều cấu trúc mà chúng ta hiện thấy. Vấn đề là làm thế nào để quan niệm một nền dân chủ sau đó ? Lề lối quản lý xã hội phải dựa trên những căn bản nào ? Xin tạm đề nghị vài chiều hướng suy nghĩ, với một số ý kiến có thể được áp dụng ngay trong hiện tại :
– Khái niệm dân chủ dựa trên một hình thức dân chủ nhất định cần được xét lại : vấn đề không phải là hình thức dân chủ, mà là một phương thức quản lý xã hội VÌ DÂN.
– Cần đi đến một sự dung hòa giữa « dân chủ đại diện » và « dân chủ trực tiếp », để một chính trị VÌ DÂN cũng thực sự DO DÂN, thay vì nằm gọn trong tay một giới thượng lưu chuyên nghiệp. Mạng lưới internet có thể giúp người dân phát biểu một cách lập tức và trực tiếp. Vấn đề là làm sao hệ thống hóa những phát biểu ấy và cho nó thể hiện được trong việc quản lý quốc gia, tức đem lại cho nó một quyền hành thực sự. Trong khi chờ đợi sự hệ thống hóa này, cần tạo ra những diễn đàn dư luận mạnh mẽ, với phương tiện thu góp rộng rãi, sắp xếp rõ ràng, các ý kiến của người dân, trên các công việc cụ thể, các quyết định hàng ngày, của việc quản lý quốc gia, của việc điều hành các địa phương, và cả việc điều hành các xí nghiệp có tầm ảnh hưởng quan trọng trong xã hội.
– Vượt trên những phương tiện trưng cầu dân ý như vừa nói, dân chủ trực tiếp có thể được áp dụng ngay lập tức ở trình độ địa phương cấp thấp, qua các ủy ban làng xóm, khu phố, xí nghiệp … với sự tham gia trực tiếp của mọi người chứ không qua trung gian đại diện. Nó giúp người dân mau chóng trưởng thành hơn hình thức dân chủ đại diện, được coi như duy trì họ trong tình trạng ấu trĩ như đã phân tích ở trên. Khi biết tự lập, tự quản, người ta cũng phải thoát khỏi tháp ngà ích kỷ, để chấp nhận ý niệm tự lập, tự quản nơi người khác, đưa đến sự sẵn sàng tham gia vào những dự án chung ở một tầm mức rộng lớn hơn, như tầm mức quốc gia.
– Cần từ bỏ quan niệm độc tôn của mô hình dân chủ tư bản tây phương. Người tây phương và giới thân tây phương ở các quốc gia đang phát triển cần khiêm nhượng chấp nhận sự phức tạp của các xã hội, của các vấn đề được đặt ra cho các xã hội ấy, và sự hiện hữu của nhiều phương cách giải quyết các vấn đề này. Cần chấp nhận dân chủ như một tập hợp kinh nghiệm lịch sử, tùy thuộc cấu trúc của mỗi xã hội và các con đường lịch sử mà xã hội ấy đã trải qua. Tại nhiều nơi, cấu trúc xã hội cũng như các kinh nghiệm lịch sử khiến cho sự tham gia của người dân vào việc quản lý quốc gia đi qua những con đường cá biệt. Cần tránh phê phán các xã hội khác với những tiêu chuẩn của nền văn hóa của mình hay những tiêu chuẩn vay mượn của một nền văn hóa ưu thắng nào đó.
– Tinh thần dân chủ thực sự là chấp nhận sự khác biệt, tìm hiểu sự khác biệt ấy, và san sẻ những kinh nghiệm lịch sử giữa các xã hội với nhau. Sự chia sẻ này sẽ khiến cho con người ở những xã hội rất khác biệt vẫn có thể kết hợp trong cùng một dự án, vượt trên các ranh giới quốc gia, với khả năng trở thành một đối lực trước áp lực đè nặng trên các quốc gia của thị trường tự do.
Tóm lại,
Một hình thức tự quản và dân chủ trực tiếp có thể quan niệm được ngay lập tức ở trình độ địa phương cấp thấp. Động cơ cũng như phương tiện của nó có thể đến từ các phương thức quản lý kinh tế gần với người dân, như « tiểu tín dụng », thường được lồng trong khái niệm « kinh tế xã hội » (9).
Khi ý tưởng VÌ DÂN không còn bị ràng buộc bởi những gò bó quanh các hình thức dân chủ cố định, lệ thuộc vào giới chính trị gia chuyên nghiệp, thì mọi con người đều có thể suy tư và làm việc theo cùng một chiều hướng. Một sự hợp tác toàn cầu thực sự VÌ DÂN sẽ có thể quan niệm được. Hệ thống hóa và tổ chức sự hợp tác ấy sẽ đưa đến một cấu trúc quyền hành VÌ DÂN trên toàn thế giới, có khả năng đối đầu với xã hội hàng hóa toàn cầu.
Nguyễn Hoài Vân
_____
Chú Thích :
(1) Francis Fukuyama – The End of History – 1989
(2) Những ngộ nhận về Học thuyết Marx – Nguyễn Hoài Vân hay : http://pagesperso-orange.fr/nguyen.hoai.van/Marx-nhung-ngo-nhan.htm
(3) Karl Popper : Misères de l’Historicisme (1945) – La Société Ouverte et ses ennemis (1945)
(4) Suy từ quan điểm về Tự Do (L’existentialisme est un Humanisme – Jean Paul Sartre – 1945)
(5) Tựa một bài báo viết năm 1973, trên « Les Temps Modernes »
(6) … à la base, le métier de TF1, c”est d”aider Coca-Cola, par exemple, à vendre son produit. […] Or pour qu”un message publicitaire soit perçu, il faut que le cerveau du téléspectateur soit disponible. Nos émissions ont pour vocation de le rendre disponible : c”est-à-dire de le divertir, de le détendre pour le préparer entre deux messages. Ce que nous vendons à Coca-Cola, c”est du temps de cerveau humain disponible … P. Le Lay – 2004.
(7) Stiegler : de la Croyance en Politique và Đại Hội Truyền Thông thế Giới
(8) Claude Lévy Strauss – Anthropologie Structurale – 1958
(9) Cát Khuê – Truyền Thông , số 11 – 2004
(Tạp chí Phía trước)

Cà phê, đắng ngắt với bắp – đậu nành – ký ninh

Không biết tự bao giờ, người Việt có thói quen thích uống một ly cà phê phải đậm, đắng, sánh, bọt, thơm và rẻ tiền, và, các chủ quán loại cà phê này chiều ý khách, hay cái gu trên được nhà sản xuất cà phê mặc định?
Có khá nhiều xí từ để gọi tên loại cà phê “rất ít hoặc không có cà phê”: cà phê dỏm, giả, cà phê bắp, hóa chất, cà phê bẩn…nhưng tựu trung, ngay tên gọi đã chỉ ra những cách thức làm cà phê thành phẩm tràn lan trên thị trường hiện nay.
Đắng ngắt với bắp – đậu nành – ký ninh
Trao đổi với chúng tôi- ba chủ cơ sở làm cà phê thành phẩm, hai ở Sài Gòn và một ở Ban Mê Thuột- mỗi người đều đưa ra mấy “bí quyết” làm cà phê – không – cà phê, tức là, không cần hạt cà phê nguyên liệu vẫn có cà phê bột hoặc hạt (đã rang tẩm).
Ký ninh mới chỉ là một trong chuỗi gia vị để sản xuất cà phê dỏm
Có những điểm chung, cả ba cơ sở này đang tham gia vào thị trường sản xuất, cung cấp cà phê được gọi là “sạch” hay “nguyên chất” và các ông chủ thường xuyên nhận được những lời mời hấp dẫn từ những nhà buôn bán cà phê bột: cung cấp nguyên liệu (bắp, đậu nành, hóa chất), bao tiêu sản phẩm 4 – 5 tấn/tháng, mức lợi nhuận hấp dẫn.
Ông Đạt, chủ cơ sở ở Ban Mê Thuột cho biết, chỉ riêng phần tạo độ đắng cho cà phê dỏm, cũng đã có muôn vàn cách. Lời đồn đại về dùng thuốc ký ninh (quinin – một loại kháng sinh chữa bệnh sốt rét) pha trộn vào cà phê tạo độ đắng chỉ là một cách.
Vì để biến một ký bắp, đậu nành thành cà phê cần tới 0,15 kg caramel. Caramel, ngoài chức năng tạo màu, vị, còn để át mùi đậu, bắp. Cộng thêm trộn đường hóa học giá rẻ của Trung Quốc. Lúc này, cà phê sẽ rất ngọt, nên phải dùng ký ninh để cân bằng vị vì ký ninh rất đắng. Hoặc, có thể thay ký ninh bằng một số hóa chất tạo độ đắng bán sẵn.
Một chủ cơ sở khác ở Sài Gòn, đề nghị giấu tên, nói thêm, ký ninh mới chỉ là một trong chuỗi gia vị để sản xuất cà phê dỏm. Muốn tạo độ béo, họ dùng bơ công nghiệp, để cô đặc dùng một chất gọi là CNC (chất hóa học dùng trong quá trình hồ vải), chất tạo bọt dùng trong sản xuất xà bông tẩy rửa, chất tạo mùi thơm (sữa, ca cao, cà phê)…
Tất cả đều không nguồn gốc hoặc từ Trung Quốc, được bày bán công khai ở chợ Kim Biên, quận 5. Nhiều cơ sở sản xuất cà phê dỏm được người đặt hàng cung cấp luôn bắp, đậu và một một can 18 lít hỗn hợp hóa chất đã pha trộn sẵn (giá 3 triệu đồng). Can hóa chất này pha ra 1 tấn cà phê bột.
Nếu không có những chất đó thì không bao giờ bắp, đậu nành có thể thành cà phê. Đầu tư công nghệ chế biến cà phê dỏm ở những cơ sở nhỏ lẻ chỉ tốn vài chục triệu đồng: một cái chảo rang bắp, đậu nành, chiếc cối xay dăm bảy triệu, một ngày sẽ có được vài trăm kg cà phê
Thật giả qua giá
Bán được một ký cà phê bột, ông Trần Văn Ngãi – người chuyên đi bỏ cà phê cho một cơ sở cà phê chồn ở quận Tân Phú – kiếm được 15.000 đồng. Giá chủ giao 45.000 đồng/kg, ông bán 60.000 đồng/kg. Đây là giá phổ biến của một kg cà phê đang được rất nhiều quán xá dùng để pha và ông Ngãi vẫn nghĩ rằng đây là cà phê thật.
Ông Đạt đưa ra công thức: để làm ra một kg cà phê thật mất từ 1,6 – 1,8kg hạt cà phê nguyên liệu, giá hiện tại loại rẻ nhất (độ dài hạt hơn 5mm) cũng gần 40.000 đồng/kg. Cộng thêm chi phí rang xay, đóng gói, vận chuyển…, và cho dù lậu thuế, một kg cà phê thành phẩm đã ở mức từ 100 – 110 ngàn đồng. Dưới mức này một chút là pha trộn (thêm bắp, đậu) và dưới nữa là không cà phê.
Năm ngoái, chủ một chuỗi cà phê rang xay tại chỗ ở Sài Gòn cũng chung nhận định, nhiều cơ sở đang bán cà phê bột với giá từ 45 – 60 ngàn/kg với hoa hồng từ 15 – 20%, chỉ là cà phê bẩn (bột ngũ cốc tẩm hóa chất). Để làm ra một ký cà phê nguyên chất (hạt) loại rẻ, chi phí đã lên đến khoảng 120 ngàn đồng (gồm: giá nguyên liệu, tỷ lệ hao hụt khi rang tẩm 30 – 40%, chi phí chế biến 10%, phân phối 20%…).
Ngược lại, theo ông Đạt, chi phí cho một kg cà phê dỏm khoảng 30.000 đồng. Nếu rang khoảng 700g đậu nành, 500g bắp, 100g hạt cà phê (nếu không cà phê thì tăng đậu nành) cộng với hóa chất sẽ được 1kg cà phê bột. Với giá thành từ 45 – 60 ngàn đồng/kg, loại cà phê này bán dễ hơn – lợi thế cạnh tranh – so với cà phê thật. Tất nhiên, từ nhà sản xuất đến nhà phân phối kiếm lợi nhiều hơn.
Thả trôi chất lượng
Đắc Lắc được coi là “thủ phủ” của cà phê Việt Nam, nhưng trong một đợt “truy quét” cà phê dỏm vào đầu năm 2013, cơ quan thanh tra chuyên ngành của sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh này đã kiểm tra, phát hiện 14 cơ sở sản xuất, chế biến cà phê bột trên địa bàn tỉnh không đạt tiêu chuẩn chất lượng như đã công bố.
Hàm lượng cafein trong hầu hết các mẫu sản phẩm kiểm tra chỉ đạt 0 – 0,47%, quá thấp so với mức chuẩn quy định tối thiểu từ 1% trở lên. Trong số đó, có tên tuổi của nhiều cơ sở sản xuất cà phê bột đang được người Sài Gòn uống, như: Thanh Thủy, Ý Việt, Nguyên Lâm, Mê Việt, Đất Việt…
Cho đến nay, việc quản lý chất lượng cà phê theo luật chỉ đơn giản quy định tỷ lệ cafein (bao nhiêu trong một trọng lượng sản phẩm) mà không quan tâm tới nguồn gốc hoặc quá trình chế biến. Chưa kể, việc kiểm tra, kiểm soát, nếu có cũng chỉ xảy ra ở các cơ sở sản xuất cà phê thành phẩm bán trên thị trường. Còn cà phê trên thị trường pha chế giải khát thì thuộc về các đơn vị kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhưng các đơn vị này không có khả năng kiểm tra chất lượng cà phê , nhất là không thể kiểm tra hàng trăm nghìn quán bán cà phê ở mọi ngóc ngách.
Đắc Lắc được coi là “thủ phủ” của cà phê Việt Nam, nhưng trong một đợt “truy quét” cà phê dỏm vào đầu năm 2013, cơ quan thanh tra chuyên ngành của sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh này đã kiểm tra, phát hiện 14 cơ sở sản xuất, chế biến cà phê bột trên địa bàn tỉnh không đạt tiêu chuẩn chất lượng như đã công bố.
Mặt khác, từ lâu, việc quản lý, kiểm tra, công nhận hoặc xử phạt các sản phẩm liên quan đến ăn uống đều do chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm của tỉnh thành chủ trì. Các đơn vị như quản lý thị trường, thanh tra ngành… chỉ tham gia khi lập đoàn kiểm tra liên ngành.
Mãi đến năm 2012, chức năng kiểm tra, quản lý chất lượng đối với sản phẩm nông – lâm – thủy sản mới được giao cho cục Quản lý chất lượng thuộc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Quy trình nôm na như sau: hạt cà phê (và các sản phẩm nông nghiệp khác) từ vườn về tới nơi rang tẩm, chế biến ra thứ bỏ vô miệng là do ngành nông nghiệp chịu trách nhiệm. Từ nơi chế biến ra thị trường là do ngành công thương quản lý. Khi lên miệng thuộc về ngành y tế.
Nhưng liệu chừng ngần ấy khâu và cơ quan, với không ít chồng chéo và rối rắm, có kiểm soát nổi cà phê dỏm? Câu trả lời đang nằm ở chất lượng cà phê thành phẩm trên thị trường, một thứ nước uống không chỉ là giải khát mà đa phần người Việt mê mẩn và thiếu hiểu biết.
Có cần sớm phải buộc quán cà phê, công bố nguồn gốc, chất lượng, thành phần cà phê mà mình đang pha chế, đồng thời, các cơ sở sản xuất cà phê thành phẩm phải đăng ký chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và chịu sự kiểm tra kiểm soát thường xuyên? Đó là con đường bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và là câu hỏi cho nhà quản lý.
Doãn Khởi
(Người Đô Thị)

Đại án Bầu Kiên: Luật sư đồng loạt đề nghị hoãn xử

Bầu Kiên cùng các cá nhân nguyên Thường trực Hội đồng quản trị ACB đã bị truy tố về hành vi ủy thác gửi tiền trái pháp luật vào Vietinbank.


Hành vi ủy thác này gây thiệt hại 718 tỷ đồng, bị Huỳnh Thị Huyền Như chiếm đoạt. Cùng số tiền này, ACB đã yêu cầu Vietinbank phải chịu trách nhiệm trả tiền trong vụ án Huỳnh Thị Huyền Như. Vụ án Huyền Như hiện đang trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm.
 
Chưa xử đã “nóng”
 
Sau khi Tòa án nhân dân TP.Hà Nội có lịch xử sơ thẩm vụ Bầu Kiên, các luật sư Bùi Quang Nghiêm, Luật sư Kiều Vũ Thụy Uyên, Luật sư Hoàng Đôn Hùng (cùng Đoàn LS TP.HCM), Luật sư Vũ Xuân Nam, Luật sư Vũ Ngọc Chi (cùng Đoàn LS Hà Nội), Luật sư Lưu Văn Tám (Đoàn LS Vũng Tàu) đã đồng loạt cùng đề nghị Tòa án nhân dân TP.Hà Nội, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân TP.Hà Nội hoãn phiên xử để chờ kết quả xét xử phúc thẩm vụ án Huỳnh Thị Huyền Như.
 
Theo các luật sư, vụ bầu Kiên cần chờ kết quả phiên tòa phúc thẩm vụ án Huyền Như
Theo các luật sư, vụ bầu Kiên cần chờ kết quả phiên tòa phúc thẩm vụ án Huyền Như  


Đề nghị này của các luật sư đồng thời cũng được gửi cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Cố ý làm trái chưa xác định được thiệt hại?
 
Cáo trạng của VKSND Tối cao xác định bầu Kiên cùng các cá nhân có hành vi cố ý làm trái khi ủy thác cho 19 nhân viên ACB gửi tiền vào Vietinbank, thiệt hại gây ra là bị  Huỳnh Thị Huyền Như (nguyên quyền Trưởng phòng giao dịch Điện Biên Phủ thuộc Vietinbank HCM) giả chứng từ để rút tiền chiếm đoạt 718 tỷ đồng.
 
Ngày 06/01/2014, TAND TP HCM đã xét xử sơ thẩm vụ án Huyền Như và quyết định: Huyền Như phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, phải bồi thường cho ACB 718 tỷ đồng nhưng tòa cũng đồng thời buộc Vietinbank chuyển trả lại cho ACB số tiền 24 tỷ đồng vẫn còn trong tài khoản của các nhân viên ACB tại Vietinbank.
 
Theo các luật sư, như vậy, án sơ thẩm vụ Huyền Như chưa xác định được chính xác số tiền Huyền Như chiếm đoạt là bao nhiêu. Là toàn bộ số tiền 718 tỷ đồng hay trừ đi số tiền 24 tỷ đồng Vietinbank phải trả.


 Hiện vụ án Huỳnh Thị Huyền Như chưa xét xử phúc thẩm. Các kháng cáo, trong đó có ACB, về việc yêu cầu Vietinbank phải trả tiền sẽ được xem xét tại phiên tòa phúc thẩm. Như vậy, việc ACB có bị thiệt hại trong vụ án Huỳnh Thị Huyền Như hay không vẫn chưa được xác định.

Hậu quả của hành vi cố ý làm trái quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (nếu có) cũng chưa xác định được chính xác.

Sau phiên tòa sơ thẩm, hầu hết các cá nhân, tổ chức gửi tiền tại Vietinbank trong vụ án Huyền Như đã kháng cáo yêu cầu Vietinbank trả số tiền mà các cá nhân, tổ chức này gửi tại Vietinbank.

Trong đó, ACB kháng cáo yêu cầu Vietinbank phải trả toàn bộ 718 tỷ và lãi phát sinh.

Hiện vụ án Huỳnh Thị Huyền Như chưa xét xử phúc thẩm. Các kháng cáo, trong đó có ACB, về việc yêu cầu Vietinbank phải trả tiền sẽ được xem xét tại phiên tòa phúc thẩm. Như vậy, việc ACB có bị thiệt hại trong vụ án Huỳnh Thị Huyền Như hay không vẫn chưa được xác định.

Cần chờ phúc thẩm vụ Huyền Như

Các luật sư nêu, việc xác định thiệt hại của ACB trong vụ án Huyền Như có ý nghĩa quyết định khi xác định tội danh cố ý làm trái quy định nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, xác định trách nhiệm dân sự của bầu Kiên và các bị cáo khác trong vụ án này.

Nếu kết quả phiên tòa phúc thẩm vụ án Huyền Như buộc Vietinbank phải trả tiền cho ACB, thì ACB không có thiệt hại. Khi đó, tội cố ý làm trái quy định nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng không đủ yếu tố cấu thành.

Trường hợp vụ bầu Kiên xử sơ thẩm trước khi xử phúc thẩm vụ Huyền Như, kết luận bầu Kiên và các cá nhân liên quan phạm tội cố ý làm trái quy định Nhà nước, gây thiệt hại cho ACB 718 tỷ (bị Huyền Như chiếm đoạt), sau đó khi xử phúc thẩm vụ án Huyền Như nếu Tòa buộc Vietinbank phải trả tiền cho ACB thì kết quả hai vụ án sẽ mâu thuẫn nhau.

Cùng một quan hệ, được xét xử hai lần ở hai vụ án khác nhau. Nếu Tòa án ND TP. Hà Nội kết luận bầu Kiên cùng các cá nhân liên quan gây thiệt hại cho ACB tức gián tiếp xử Vietinbank không phải trả tiền trong phần trách nhiệm dân sự ở vụ án Huyền Như, mà việc này thuộc thẩm quyền của Tòa phúc thẩm TAND Tối cao.

Để tránh gây oan sai, các luật sư đề nghị TAND Tp. Hà Nội xem xét hoãn phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ bầu Kiên để chờ kết quả phiên tòa phúc thẩm vụ án Huyền Như nhằm xác định chính xác thiệt hại của ACB và trách nhiệm dân sự trong vụ án.


 Nếu kết quả phiên tòa phúc thẩm vụ án Huyền Như buộc Vietinbank phải trả tiền cho ACB, thì ACB không có thiệt hại. Khi đó, tội cố ý làm trái quy định nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng không đủ yếu tố cấu thành.

(Đất Việt) 

Thạc sĩ, cử nhân ồ ạt học… trung cấp

Tại các trường trung cấp, số thạc sĩ, cử nhân theo học ngày càng đông. Quá trình “liên thông ngược” này cho thấy một sự lãng phí rất lớn trong đào tạo ĐH hiện nay
Lê Thu Hòa, quê Nghệ An, tốt nghiệp hệ CĐ ngành kế toán tại một trường ĐH ở TP HCM nhưng sau nhiều tháng chờ việc, cô quyết định đăng ký học ngành quản trị nhà hàng của Trường Trung cấp Du lịch và Khách sạn Saigontourist. Cũng dự tuyển vào trường này, thí sinh Nguyễn Hồng Phước cho biết đã tốt nghiệp hệ CĐ ngành quản trị kinh doanh tại một trường ĐH, tuy  đã nộp hồ sơ vào nhiều công ty nhưng không có hồi âm nên quyết định chuyển hướng.

30% liên thông ngược

Ở Trường Trung cấp Du lịch và Khách sạn Saigontourist, trong số 2.000 học sinh trường tuyển mỗi năm, khoảng 600 người có bằng ĐH, CĐ, thậm chí thạc sĩ – chiếm khoảng 30%. Ông Trần Văn Hùng, hiệu trưởng nhà trường, cho biết hầu như những người đã có bằng ĐH, CĐ quay lại học trung cấp đều đang thất nghiệp và không thiếu ngành nghề nào.

Thí sinh tham gia phỏng vấn trong đợt tuyển sinh của Trường Trung cấp Du lịch và Khách sạn Saigontourist
Thí sinh tham gia phỏng vấn trong đợt tuyển sinh của Trường Trung cấp Du lịch và Khách sạn Saigontourist
Tại nhiều trường trung cấp khác, tỉ lệ những người đã có bằng ĐH, CĐ cũng chiếm 20%-30%. Ông Lê Lâm – Chủ tịch HĐQT, nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cấp Đại Việt – cho biết năm 2011 có 1.812 học sinh thì 308 người đã tốt nghiệp ĐH, CĐ và thạc sĩ. Năm 2012 có 1.607 người học thì 304 có bằng ĐH, CĐ.

Ông Đặng Văn Sáng, Hiệu trưởng Trường Trung cấp Ánh Sáng, cho biết mỗi năm, trường chỉ tuyển 1.000 học sinh nhưng tới 30% trong số đó đã có bằng ĐH, CĐ. Họ đã tốt nghiệp ở đủ ngành nghề và rất nhiều học viên tốt nghiệp các trường ĐH công lập…

Đại diện nhiều trường cho biết những người đã tốt nghiệp ĐH, CĐ chưa có việc làm quay lại học trung cấp ở những ngành nghề phù hợp hơn, dễ tìm việc làm hơn.

Hiện chưa có thống kê cụ thể từ phía ngành chức năng nhưng thực tế, những người đã có bằng ĐH, CĐ quay lại học trung cấp, học nghề ngành càng nhiều. Hiện tượng này được ví von là quá trình “liên thông ngược” hoặc “học viên sau ĐH”.

Hệ quả của đào tạo ĐH, CĐ tràn lan

Theo công bố của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, quý IV/2013, cả nước có thêm 72.000 lao động trình độ ĐH, CĐ thất nghiệp. Trong khi đó, chỉ tiêu vào ĐH tăng theo từng năm. Thực tế này khiến không ít người xót xa.

Ông Đặng Văn Sáng tính toán chi phí cho một người học ĐH bình thường không dưới 100 triệu đồng, bao gồm học phí và các chi phí khác. Bốn năm đèn sách ra trường thất nghiệp rồi lại tiếp tục học một nghề để mưu sinh là sự lãng phí rất lớn. Nhiều người trong số đó đang ôm theo cả một khoản nợ lớn mà chưa biết khi nào mới trả được.

Sở dĩ có tình trạng trên, nhiều ý kiến cho rằng hệ ĐH, CĐ tăng quy mô tuyển sinh khiến số lượng người theo học hệ này ngày càng nhiều nhưng không cần tính đến nhu cầu nhân lực thật sự mà xã hội đang cần. Ông Đỗ Hữu Khoa, Hiệu trưởng Trường Trung cấp Công nghệ thông tin Sài Gòn, chỉ ra rằng năm 2014, chỉ tiêu vào ĐH là trên 400.000, CĐ trên 280.000 và hệ TCCN dự kiến 300.000. Nếu tính thêm chỉ tiêu các hệ vừa làm vừa học, liên thông ở các trường ĐH, CĐ và chính quy trong các trường CĐ, trung cấp nghề… thì có gần 1,1 triệu chỉ tiêu. Như vậy, với tỉ lệ 70% ĐH, CĐ và TCCN 30% thì tỉ lệ cơ cấu này hoàn toàn không hợp lý, dẫn đến tình trạng thừa thầy thiếu thợ.

Ngoài ra, tâm lý chuộng bằng cấp và công tác hướng nghiệp chưa hiệu quả cũng là nguyên nhân của sự lệch hướng. Ông Lê Lâm cho rằng chính công tác hướng nghiệp thời gian qua chưa tốt nên trong việc chọn ngành nghề, học sinh vẫn chạy theo ngành “hot”, ngành dễ học chứ không phải chọn theo năng lực. Tình trạng ngồi nhầm ĐH xảy ra nhiều năm, với nhiều sinh viên nên chuyện những cử nhân, kỹ sư thất nghiệp rồi quay lại học trung cấp với quyết tâm làm lại cuộc đời ngày càng phổ biến và trở thành vấn đề nhức nhối.

Ông Đặng Văn Sáng nhìn nhận ở tầm vĩ mô, trong tương lai gần phải xây dựng được cơ cấu nhân lực, từ đó xác định chỉ tiêu  các ngành nghề, loại hình để Bộ Giáo dục và Đào tạo căn cứ xây dựng chiến lược nguồn nhân lực cho phù hợp, tránh sự lãng phí như hiện nay.

“Học tập là chuyện suốt đời nhưng việc có đến hàng chục triệu người tốt nghiệp ĐH, CĐ thất nghiệp rồi quay lại học trung cấp, học nghề hẳn chỉ có ở Việt Nam” – một chuyên gia giáo dục nhận định.
Bài và ảnh: HUY LÂN
(Người Lao động)

Ngày 22/4, xét xử phúc thẩm vụ Dương Chí Dũng

Dự kiến, ngày 22/4, vụ án Dương Chí Dũng sẽ được đưa ra xét xử phúc thẩm theo đơn kháng cáo của các bị cáo.

Trao đổi với VietNamNet, ông Trần Đại Thắng, một trong ba luật sư bào chữa cho Dương Chí Dũng cho hay, phiên xét xử phúc thẩm vụ Dương Chí Dũng sẽ diễn ra vào ngày 22/4 tới.

Trước đó, trong các ngày 12, 13, 14 và 16/12/2013, ông Dương Chí Dũng cùng 9 người khác bị TAND Hà Nội đưa ra xét xử tội Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng và Tham ô tài sản.

xét xử, phúc thẩm, Dương Chí Dũng, tham ô, Vinalines
Dương Chí Dũng và các đồng phạm trong phiên xét xử sơ thẩm.
HĐXX cấp phúc thẩm đã tuyên phạt Dương Chí Dũng và Mai Văn Phúc mức án tử hình vì hai tội Tham ô tài sản và Cố ý làm trái về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.
Ông Trần Hải Sơn nhận: 22 năm tù; Trần Hữu Chiều: 19 năm; Bùi Thị Bích Loan: 4 năm tù; Mai Văn Khang: 7 năm tù; Lê Văn Dương: 7 năm tù; Huỳnh Hữu Đức: 8 năm tù; Lê Ngọc Triện: 8 năm tù; Lê Văn Lừng: 8 năm tù.
Cho rằng mình không phạm tội tham ô và mức án tử hình là quá nặng, bị cáo Dương Chí Dũng đã làm đơn kháng cáo lên TAND Tối cao.
Tôi không tham ô mà nói tôi tham ô thì tôi không nhận được. Kể cả đánh chết trong tù tôi cũng không nhận. Đó là danh dự của tôi, của gia đình tôi. Tòa kết án tử hình, tôi phải chịu nhưng vợ tôi, gia đình tôi sẽ phải kêu oan suốt đời”, bị cáo Dũng trình bày ở phiên sơ thẩm.
Ngoài ông Dương Chí Dũng, hầu hết các bị cáo khác cũng làm đơn kháng án lên tòa phúc thẩm với nội dung bản án sơ thẩm kết tội chưa thỏa đáng, thiếu căn cứ và mong muốn được giảm nhẹ hình phạt.
T.Nhung
  (VNN)

Chết dưới tay Trung Quốc

Thịnh thân mến,
Tôi phải xin phép Thịnh [1] ngay cho tôi được mượn tựa đề quyển sách do Thịnh chủ trương phiên dịch vừa được in ra gần đây để tôi được nói về một cái chết khác dưới tay Trung Quốc. Xin nói ngay với các độc giả là tôi sắp nói về cái chết dần mòn gây ra bởi sự đốt than khí vô trách nhiệm rất trầm trọng của Trung Quốc, một sự đốt than đã đưa nước này vào danh sách của 7 nước có tội gây ô nhiễm không khí lớn nhất đối với quả đất thân yêu của nhân loại.

Trước khi đi vào thống kê của 7 nước vừa nói đến, chúng ta, dân Việt Nam trong nước, sẽ lãnh đủ vì hai lý do: 1. chúng ta nằm sát nách Trung Quốc và không khí (ô nhiễm) khi có gió thuận muốn bay sang nước ta, “chúng nó” sẽ không cần hộ chiếu hay thông hành gì cả, 2. việc đốt than để phát điện tại TQ có liên hệ trực tiếp đến sự vận hành của nền kinh tế, công nghệ, thương mại cũng như các doanh nghiệp tại Việt Nam.

Trước tiên xin các bạn đọc lại bài viết của tôi trên boxitvn [2] để biết tại sao quả đất đang bị hâm nóng. Sau khi hiểu được nguyên tắc vật lý của sự hâm nóng này, tôi mời quý vị đọc bài báo vừa được đăng trên mạng sáng nay của đại học Concordia. Một nghiên cứu có phẩm chất cao của Giáo Sư TS Damon Matthews của đại học Concordia đăng hôm 15 tháng 04 năm 2014 [3] đưa ra những kết luận mới cho thấy hai nước Trung Quốc và Hoa Kỳ đứng đầu 7 nước sản xuất 60% của tổng số thán chất CO2 gây ra sự hâm nóng quả đất.

Giáo Sư Matthews đã “lên án” thẳng thắn hai nước Mỹ và Trung Quốc [4] đứng đầu danh sách 7 nước này (gồm có Mỹ, Trung Quốc, Nga, Brazil, Ấn Độ, Đức, và Anh Quốc). Riêng đại cường quốc kinh tế đứng đầu thế giới là nước Mỹ lãnh trách nhiệm trong việc làm tăng nhiệt độ trung bình của quả đất tới 0.15 độ Celsius (xin đọc bài số [2] để hiểu rõ về nhiệt độ trung bình này). Trông thì ít đấy (0.15 độ C) nhưng con số này đại diện cho 20% của tổng số các chất gây ra sự hâm nóng toàn cầu.

Sau đó đến Trung Quốc. Với tổng số than khí CO2 đưa vào bầu khí quyển vì sự đốt than để phát điện khắp nơi trên nước này (cũng là cường quốc kinh tế đứng thứ nhì trên thế giới sau Mỹ), sự đốt than ở Trung Quốc chiếm 70% của tổng số nhiên liệu được chế tạo từ những nguồn khác nhau (như thủy điện, nhà máy dùng hạt nhân v.v…) tại Trung Quốc. Kết quả của nghiên cứu mới của đại học Concordia cho thấy trách nhiệm của Trung Quốc trong việc hâm nóng toàn cầu lên đến 8% và con số này xấp xỉ ngang với tỉ lệ đóng góp của nước Nga. Nhìn vào danh sách 7 nước, chúng ta có thể ngạc nhiên tại sao những nước như Brazil và Indonesia (hạng 9), có nền kinh tế còn yếu, mà lại có sự phá phách quả đất trầm trọng như thế. Giáo Sư Matthews và nhóm của ông quy “tội phá phách” này vào sự khai khẩn đất rừng và sự lấy cây cũng như đốt cây trầm trọng trong các khu rừng rậm rạp nổi tiếng như rừng Amazonie và rừng Indonesia (rừng ở Indonesia được coi như nằm trong cái gọi là lá phổi thứ ba của quả đất sau Brazil và các rừng ở Phi Châu). Riêng Canada xứ của bạn Thịnh hiện nay đứng hạng 10 trong danh sách “phá phách quả đất” trầm trọng này.

Vấn đề rất khẩn cấp. Các nước đứng đầu bảng có trách nhiệm rất lớn đối với an sinh của nhân loại. Dĩ nhiên là nếu chúng ta bớt tiêu thụ đi và tiêu thụ có ý thức hơn sẽ giúp cho quả đất rất nhiều (xin xem phần cha ăn mặn con khát nước trong bài [2]). Bớt tiêu thụ những sản phẩm của Trung Quốc cũng là một cách. Bớt mua xe cam nhông và xe gắn máy 2 bánh của Trung Quốc cũng sẽ làm giảm việc sản xuất than khí CO2 tại Trung Quốc.

Trung Quốc mà chết thì chúng ta sẽ ngất ngư vì nhiếu lý do. Trước tiên Trung Quốc sẽ vùng lên đi tìm những nguồn nhiên liệu mới tại các nước láng giềng (chẳng hạn như chiếm các đảo ngoài khơi ở biển Đông, hoặc đem quân sang nắm giữ Miến Điện để lấy nhiên liệu của xứ này…). Thứ hai nếu TQ chết thì bao nhiêu dự án của TQ ở Việt Nam sẽ tan tành và kinh tế Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng có thể đưa đến kiệt quệ. Và túng quá TQ có thể làm liều và xua quân sang chiếm Việt Nam như Nga đang làm ở Ukraine.

Nhưng hậu quả xa xôi nhất sẽ là sự dâng nước ngày càng cao của mực nước biển. Tưởng tượng chỉ 50 năm nữa thôi, nước biển có thể dâng cao lên đến từ 0.3 đến 1.0 thước, thậm chí có nhiều nhà nghiên cứu tuyên bố nước biển sẽ lên cao đến 1.5 thước. Vùng đồng bằng sông Cửu Long (như tôi đã nói đến trong bài [2]) sẽ bị xóa lấp với nước biển mênh mông bắt đầu vào năm 2060 một cách rất tiệm tiến (và cũng có thể sẽ rất đột xuất)…

Chúng ta cần nhiều nghiên cứu khoa học hơn về đề tài này. Việc tiếp tục đốt than và tiêu thụ sản xuất CO2 trên thế giới có khả năng làm tan hết những tẳng băng lớn ở Bắc và Nam Cực là chuyện chúng ta sẽ không tránh khỏi.

Những căn nhà đẹp của các đại gia Việt Nam xây ở vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ mất giá trong tương lai gần. Nhà của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ở miền Nam cũng sẽ không thoát khỏi thảm kịch thiên nhiên này.

Trung Quốc nếu khôn ngoan sẽ không coi thường những nước láng giềng. Chỉ có một sự cộng tác lương thiện và công bằng với các nước của ASEAN may ra mới đưa đến những giải pháp ôn hòa và có hiệu quả. Hiện nay các nước láng giềng của TQ đang bị kẹt cứng trong vấn đề ổn định kinh tế. Ai cũng chỉ mong làm giàu. Làm giàu vô tội vạ và vô trách nhiệm. Nạn tham nhũng lan tràn khắp các nước trong khối ASEAN. Từ Phi Luật Tân cho đến Indonesia, qua Việt Nam và Campuchia, không nước nào tránh khỏi nạn tham nhũng trầm trọng đang hoành hành.

Đảng Cộng Sản Việt Nam có trách nhiệm phải lên tiếng với đàn anh Trung Cộng về những khám phá khoa học mới của đại học Concordia. Các nhà lãnh đạo của Đảng và các trí thức kỹ thuật gia trong nước phải ngồi lại với nhau và tìm một cách giải quyết vấn đề phát triển kinh tế Việt Nam sao cho phù hợp với sự tôn trọng môi sinh của quả đất cũng như sự lo lắng cho vấn đề an sinh và sức khỏe của toàn dân.

Tương lai quá ư mù mịt vì các vị lãnh đạo VN hiện nay không có thì giờ và tâm huyết cho vấn đề này vì họ có nhiều vấn đề khác trầm trọng hơn phải giải quyết. Đó là chưa nói đến sự bất tài của các nhà lãnh đạo VN, mà họ lại ngoan cố không chịu thay đổi theo trào lưu tiến hóa của nhân loại. Thêm vào đó họ lại đang thần phục và quỵ lụy nước Tàu một cách vô cùng khó hiểu.

Thịnh ơi, thật nghĩ cho cùng, với tình cảnh hiện nay trong nước, trước sau chúng ta cũng sẽ chết về tay Trung Quốc. Hay nói như thi sĩ Nguyễn Bính: chỉ có Trời kíu (cứu) (we are doomed).

Nguyễn Duy Vinh (viết từ Phi Châu xa xôi đầu mùa xuân 2014)

——————-

Hoàng Đức Doanh – Ba tội đồ đã xếp hạng

Ba tội đồ đã xếp hạng

Thời đại của thông tin
Đầy ắp các sư kiện
Luôn đưa ra ý kiến
Tôn vinh bậc kỳ tài.

Thứ nhất rồi thứ hai
Bình chọn lên hơn nữa
Đến thứ mười hết cỡ
Được gọi là topten .

Đứng đầu là Lê nin
Học trò cưng của Mác
Rồi thêm hai người khác
Sta-lin, Mao Trạch Đông.

Không phải người có công ?
Tuyên xưng trong bình chọn
Ba tên thành một bọn
Phạm tội ác giết người.

Được xếp trong tốp mười
Tội đồ chống Nhân loại
Đã thẳng tay hủy hoại
Thành tựu của nhân gian .

Xếp vào loại tham tàn
Giết người không tính xuể
Đã giết mấy thế hệ
Phải khắc bia căm thù.

Ghi nhớ mãi thiên thu
Số người hơn trăm triệu
Cùng ghi trong lời điếu
Cộng sản là chủ mưu.

Vì đâu giết được nhiều
Bởi học thuyết Các Mác
Tập hợp nhiều kẻ khác
Đồng chí với sát nhân.

Ngày 07/4/2014
Hoàng đức Doanh


Hoàng Đức Doanh
(Cựu chiến binh)

Từ nhỏ đến 19 tuổi đi học, lao động tự do. Năm 20 tuổi (1/1966) đi bộ đội, chiến đấu ở Khe sanh (Quảng trị) 1968 – 1969. Năm 1970 – 1972 chiến đấu ở Xiêng khoảng, Sầm nưa (Lào). Năm 1973 chuyển ngành là cán bộ huyện Thanh liêm – Hà nam đến khi nghỉ hưu. Hiện là một dân oan bị cướp đất  và đang sinh sống tại thành phố Phủ lý tỉnh Hà nam.

Phản Biện Bài Viết Của Ông Bùi Tín Về Nhân Vật Hồ Chí Minh

“Không ổn! Không thể mở đầu chiến dịch bằng cách nổ súng vào một phụ nữ, mà người phụ nữ ấy lại là người từng nuôi cán bộ cộng sản, là mẹ một trung đoàn trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam đang tại chức !”
Trước khi phản biện bài viết của ông Bùi Tín với tựa đề “Cuộc Đánh Tráo Không Thể Có”, tôi là người quý trọng ông Bùi Tín như ông đã từng quý trọng mạng Thông Luận. Tôi công nhận ông Bùi Tín đã đóng góp nhiều bài viết có chất lượng, có giá trị trong việc đấu tranh dân chủ hóa đất nước, và tôi rất cám ơn ông về điều đó. Nhưng nói đến nhân vật Hồ Chí Minh, tôi nghĩ ông Bùi Tín nên giữ im lặng thì hay hơn. Vì sao tôi viết thế? Đơn giản, ông BT đã có 45 tuổi đảng, rồi mới nhận thức ra mình bị ĐCSVN lừa, và ra khỏi Đảng, thì những sự hiểu biết của ông về HCM trong quá khứ cũng vẫn có thể cũng bị lừa bởi Đảng.

Tôi có ý muốn nói, ông BT đã sai lầm suốt 45 năm rồi, thì không nên viết bài khẳng định mình không tiếp tục sai lầm về nhận xét nhân vật HCM này. Đúng ra là ông không nên viết bài một cách quá chủ quan để phê phán những người như ông Trần Bình Nam, ông Huỳnh Tâm, và mạng Thông Luận… Từ trước năm 2001, trước khi bộ phim 24 tập Trường Chinh ra đời, của đạo diễn Kim Thao, Đường Quốc Cường thủ vai Mao Trạch Đông, do đài VTV3 trình chiếu, có mấy ai biết được sự thật lịch sử: nguồn gốc lá cờ đỏ sao vàng đến từ tỉnh Phúc Kiến bên Tàu. Những ai đã từng xem phim cũng chưa phát hiện được sự thật lịch sử đó. Mãi đến 2005, người ta mới phát hiện ra, lá cờ đỏ sao vàng nằm trong trang mạng http://www.worldstatesmen.org/China.html (*1). Từ đó sự thật lịch sử mới được phô bày, lá cờ đỏ sao vàng là của Tàu. Gần đây, người ta vạch trần một sự thật lịch sử nữa: HCM với bút hiệu CB (bút hiệu này được dùng tại 147 tài liệu viết từ tháng 3 năm 1951 đến tháng 3 tháng 1957, trên báo Nhân Dân), đã là tác giả của bài viết “Địa Chủ Ác Ghê”. Đọc qua bài viết, chẳng cần phải suy nghĩ, cũng biết ngay đây là một bài viết vu khống bà Trần Thị Năm (Cát Thanh Long) đã “giết chết ngót 260 đồng bào”, nhằm để HCM phát động phong trào Cải Cách Ruộng Đất, sát hại 172.008 người (*3). Đểu cán của HCM là mượn bút danh CB giết bà Năm xong, rồi HCM giả vờ thương xót: “Không ổn! Không thể mở đầu chiến dịch bằng cách nổ súng vào một phụ nữ, mà người phụ nữ ấy lại là người từng nuôi cán bộ cộng sản, là mẹ một trung đoàn trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam đang tại chức !” (Trích từ hồi ký Hoàng Tùng). Đểu cán thêm nữa, chính HCM phát động CCRĐ, rồi chính y lại giả vờ lau nước mắt, rồi đổ hết tội lỗi cho Trường Chinh, rồi huề cả làng, chẳng ai bị xử tử hay bị ở tù. Tôi viết những điều trên để chứng minh chế độ CS là vua lừa bịp và thay đổi những sự thật lịch sử, trước khi phản biện bài viết của ông BT.
Quý vị cũng nên đọc thử qua bài viết của ông BT, tôi hoàn toàn không tìm thấy một bằng chứng xác thực nào để chứng minh ông HCM tức là Nguyễn Ái Quốc bị giam tại Hồng Kông năm 1931-1932. Bài viết của ông chỉ nhằm phản bác lại bà Vera Vasilieva và cuốn sách “HCM Sinh Bình Khảo” của GS Đài Loan Hồ Tuấn Hùng, vì ông Hùng cho rằng, cháu ruột ông, Hồ Tập Chương đã giả mạo HCM. Ông BT phản biện một cách yếu ớt, mơ hồ, nếu không muốn nói là ấu trĩ. Yếu ớt khi ông BT cho rằng: “hơn 5 năm nay, các cơ quan ngôn luận chính thức của đảng CS VN cũng như của đảng CS TQ đều im hơi lặng tiếng, không xác nhận mà cũng không phủ nhận nội dung cuốn sách quan trọng này.” Tại sao ông BT không nghĩ ngược lại, vì nó là sự thật nên phủ nhận sẽ bị lôi ra thêm bằng chứng, còn xác nhận sẽ lòi chành ra sự gian dối, lừa gạt bấy lâu nay. Mơ hồ ở chỗ ông viết: “Ông biết chăng, hồi năm 1960 ông Hồ Chí Minh mời vợ chồng luật sư Frank Loseby sang Hà Nội, khách vẫn nhận ra ông bạn cũ của gần 30 năm trước, đâu có phải là ai khác?” Trong khi đó, tờ L’Humanité của Pháp, số ra ngày 9 tháng 8 năm 1932 đưa tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong trạm xá nhà tù tại Hồng Kông và tờ Daily Worker của Đảng Cộng Sản Anh cũng đăng tin “ông Hồ đã chết vì bịnh lao trong khám đường Hồng Kông”, trang 79, trong cuốn “Từ Thực Dân Đến CS của ông Hoàng Văn Chí”. Mơ hồ vì luật sư Frank Loseby cãi cho Tống Văn Sơ, chứ có phải cho Nguyễn Ái Quốc đâu. Tống Văn Sơ có phải là bí danh của Nguyễn Ái Quốc, vẫn còn là một câu hỏi? Cá nhân luật sư Frank Loseby vẫn còn là một dấu hỏi? 30 năm một người ngoại quốc nhận ra một người Việt Nam, cũng rất mơ hồ. Báo chí VC đăng về ông Frank Loseby cũng là một việc không đáng tin được. Biết bao nhiêu dấu hỏi trong vụ này. Một thằng chuyên môn lường gạt, nó có đủ mọi cách để lường gạt, quá dễ mà. Nó có thể ngụy tạo một luật sư nào đó bào chữa cho nó để được ra khỏi tù Hồng Kông, dễ thôi mà. Còn về ấu trỉ, khi ông BT dám viết rằng: “Điều rất kỳ lạ là hơn 5 năm nay, các cơ quan ngôn luận chính thức của đảng CS VN cũng như của đảng CS TQ đều im hơi lặng tiếng, không xác nhận mà cũng không phủ nhận nội dung cuốn sách quan trọng này.” “nội dung cuốn sách chỉ là một điều hoang tưởng, theo kiểu tiểu thuyết trinh thám rẻ tiền, có thể là do động cơ vụ lợi kèm theo động cơ chính trị ám muội kiểu nước lớn đang nuôi dưỡng dã tâm thôn tính lâu dài nước ta theo kiểu gặm nhấm dần.” Cái ấu trỉ của ông BT là đợi sự trả lời của 2 đảng CS chuyên môn nói dối, và ông ta lại tin tưởng rằng Tàu Cộng không có dã tâm thôn tính lâu dài nước ta theo kiểu gặm nhấm dần đâu. Có lẽ ông BT đã quên lịch sử 1000 năm Bắc thuộc của nước VN ta rồi.
Nói ngay, tôi chỉ đọc lướt cuốn HCM Sanh Bình Khảo, không nắm vững, nên không muốn phản biện về cuốn sách này cũng như nhân vật Hồ Tập Chương. Ở đây, tôi chỉ muốn phản biện phần ông BT viết: (Rồi năm 1946 khi bà Thanh chị cả ông Hồ Chí Minh ra Hà Nội, bà nhận ra ngay “thằng Coong, có cái sẹo ở tai trái do đi câu cá bị nạn khi còn nhỏ”, đâu có ngỡ ngàng gì. Ông Cả Khiêm cũng vậy, ông đã nhận ra ngay em ruột mình không chút băn khoăn.) Tôi giả sử rằng câu chuyện này là có thật, (nghĩa là vào năm 1946, bà Thanh có ra Hà Nội, và có gặp ông HCM và có nói câu: “thằng Coong, có cái sẹo ở tai trái do đi câu cá bị nạn khi còn nhỏ”, còn ông Khiêm cũng đã nhận ra em ruột mình không chút băn khoăn.) thì sẽ lòi ra việc “không tin” hay “nghi ngờ” trong lòng của bà Thanh trước khi gặp HCM, nên phải nhìn cái sẹo ở tai trái. Không phải đợi đến cuốn sách HCM Sanh Bình Khảo ra đời, người ta mới bắt đầu nghi ngờ HCM không phải là Nguyễn Ái Quốc. Mà từ trước đó, việc nghi ngờ này đã được ghi trong sách “Từ Thực Dân Đến Cộng Sản”, xuất bản năm 1964, của ông Hoàng Văn Chí (tham gia Kháng Chiến Chống Pháp từ đầu đến cuối (1946-54), giữ chức vụ đúc tiền, làm giấy in bạc, chế tạo hóa chất cho quốc phòng, và từng được HCM tuyên dương công trạng trên toàn quốc), ở trang 54 và trang 79 như sau:


Cho tôi đặt câu hỏi với ông BT, tại sao có sự “nghi ngờ” đó của bà Thanh? Chị em sao 35 năm gặp lại, cũng bình thường thôi. Thường thì người ta sung sướng rồi ôm nhau mà khóc, mà kể lể, chẳng ai cần phải tìm cái “sẹo” hay “nốt ruồi sau gáy” (phần này ông Bùi Tín nói trên Paltalk.com trong Chương Trình TalkShow với phóng viên Chim Quốc Quốc VNCH) để mà nhận diện ra nhau. Tôi tin rằng ông BT không nói láo khi ông đã đọc được trên sách báo của CS, hay nghe CS kể về cái “sẹo” hay “nốt ruồi sau gáy” của HCM, nhưng tôi vẫn có cái suy luận của riêng tôi:
a) 45 năm tuổi đảng của ông BT mới nhận ra sự lường gạt của Đảng, phải bỏ Đảng, giờ lại tin vào sách báo của CS, hay tin lời CS đã kể cho ông nghe, vậy có phải ông BT rất ấu trỉ?
b) Thường những tên bịp bợm (như HCM) tìm mọi cách để chứng minh mình không bịp bợm, mới tạo ra câu chuyện “cái sẹo”, “cái nốt ruồi sau gáy”. Nếu đường đường chính chính, chẳng ai cần ba cái thứ này.
Bà Thanh, ông Khiêm, hay tất cả chúng ta, nếu là con người bình thường, đều phải nghi ngờ nhiều sự kiện bất bình thường đã xảy ra đối với nhân vật HCM này:
1) Có ít nhất 4 văn kiện nói về Nguyễn Ái Quốc bị bịnh ho lao, mang vi trùng Koch, một trong “tứ bịnh nan y”. Thời đó, chưa có phát minh ra thuốc Streptomycine để trị vi trùng này, nên ai mang bịnh đều phải chết. Riêng phần này, ông BT biện luận rằng, nguyên văn: “anh Nguyễn Khắc Viện, bị lao từ năm 26 tuổi, 28 tuổi bị cắt hẳn một bên phổi, một bên phổi ép chỉ còn có 2/3 thôi, ảnh nghĩ rằng chỉ còn sống được 6 tháng và năm 1963 ảnh về nước, ảnh nói cũng may lắm, sống thêm được 3 năm, nhưng mà ảnh sống đến năm 82 tuổi, 45 năm sau, đấy là lao phổi chính cống đấy. Cho nên, người ta có đủ thuốc ngay từ những năm 1930 để hạn chế vi trùng Koch, để người ta có thể mổ phổi, ép phổi, cắt phổi, để nó không lây lan qua các bộ phận khác…” Chúng ta biết Streptomycin là thuốc trị bịnh lao, được giới thiệu bởi Albert Schatz vào 19/10/1943, nhưng mãi đến năm 1946-1947 mới bắt đầu thử nghiệm. Ông bác sĩ Viện sinh năm 1913, tức năm 1939, ông bị bịnh ho lao, lúc đó chưa có thuốc Streptomycin mà ông vẫn có thể tiếp tục sống được, phải công nhận đây là một câu chuyện hiếm có, hy hữu, chuyện khó tin nhưng có thật. Nhưng đem sự có thật hy hữu này để chứng minh HCM cũng thoát chết giống y bác sĩ Viện, chẳng khác nào câu chuyện may mắn trúng số độc đắc, thưa ông BT. Biện luận của ông kiểu này, hoàn toàn không thuyết phục được người nghe, chẳng khác gì cãi bừa.
2) Cá nhân tôi đọc nhiều tin trái ngược với ông BT về chuyện bà Thanh lên Hà Nội. Nhiều nguồn tin cho rằng bà Thanh nào có được gặp HCM, vì ông ta rất bận việc nước, nên không có thì giờ tiếp xúc, rốt cuộc bà Thanh ở khách sạn và bị giết chết một cách mờ ám. Tôi tin điều này hơn “cái sẹo” và “cái nốt ruồi sau gáy”. Theo như ông BT, ông nói vào năm 1957, ông có tháp tùng với HCM về Làng Sen, lúc đó bà Thanh đã qua đời năm 1954, ông Khiêm cũng qua đời năm 1950. Một tên vô tình, quên nguồn gốc như HCM, bỗng nhiên thức tỉnh, đợi đến anh chị mình qua đời, làm chủ tịch nước những 12 năm, rồi mới trở lại thăm quê của mình, thì làm gì có vụ tiếp bà Thanh ở Hà Nội để biết “vết sẹo” và “nốt ruồi sau gáy”.
3) Một người hồi nhỏ đến lúc ra đi mang họ Nguyễn, giờ lên chủ tịch nước, bỗng dưng đổi sang họ Hồ, rất bất bình thường. Bởi thế thiên hạ đẻ ra câu chuyện Hồ Sĩ Tạo gì đó để cho ăn khớp với họ Hồ. Rồi còn ép cả nước phải gọi mình bằng “Bác”, bằng “cha già dân tộc”, rất bất bình thường. Nhưng xem ra rất bình thường đối với giặc Tàu, vì tránh được sự loạn luân.
4) Một chính khách nổi tiếng như Nguyễn Ái Quốc, trong suốt 9 năm dài, từ 1932 cho tới khi xuất hiện ở hang Pắc Pó năm 1941 với tên mới là HCM, chẳng ai biết ông ta ở đâu, làm gì, là chuyện rất bất bình thường.
5) Vào ngày 3 tháng 2 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc triệu tập các đại biểu cộng sản để thành lập ĐCSVN. Nhiều đời Tổng Bí Thư đã trải qua như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, … Ông NAQ coi như là cột trụ của ĐCSVN, ấy thế mà chưa từng giữ chức vụ Tổng Bí Thư ĐCSVN, cho mãi đến 1945, khi cướp được chính quyền. Đây cũng là việc rất bất bình thường.
6) HCM được gọi là một nhà yêu nước vĩ đại, lại sử dụng lá cờ Tàu của tỉnh Phúc Kiến làm cờ nước, và lại ký kết Hiệp Định Geneve để chia đôi lãnh thổ VN, rồi còn dâng cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho giặc Tàu với công hàm bán nước Phạm Văn Đồng ký. Quả thật đây là những việc rất bất bình thường.
7) Một Nguyễn Ái Quốc đấu tranh cứu nước suốt mấy chục năm trời, với hàng ngàn bài viết, đã từng học trung học, hôm nay mang danh HCM lại viết di chúc sai chính tả, rồi gạch xóa tùm lum. Trong bài viết đầy ký hiệu phiên âm không có trong tự điển như: f, z, j, w, thí dụ như fương fáp, zũng, jì đó, trung wơng. Đây cũng là việc rất bất bình thường.
8) Từ lúc HCM làm chủ tịch nước cho tới lúc chết đi, chưa một lần ông ta bận quốc phục Việt Nam với áo dài khăn đóng, như cụ TT Ngô Đình Diệm, hay cụ TT Nguyễn Văn Thiệu trong những dịp lễ, mà toàn là bận đồ đại cán của Tàu 4 túi. Đây cũng là việc rất bất bình thường.
9) Trong lúc HCM làm chủ tịch nước, lại chỉ thị cho văn nô Tố Hữu viết ra những vần thơ bắt học sinh, sinh viên phải học thuộc mà chúng ta không thể tưởng tượng được:

– Thương biết mấy khi con tập nói,
Tiếng đầu lòng con gọi Xi’t Ta Lin…

– Thương cha thương mẹ thương chồng,
Thương mình thương một thương ông thương mười…

– Giết giết nữa bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch thờ Xít Ta Lin bất diệt…

Những bài thơ như thế này làm băng hoại tinh thần tự tin, tự chủ, tinh thần kính mến tiền nhân. Rất xấu hổ cho dân tộc Việt Nam, bị ép đi thờ những tên ngoại bang Mao Trạch Đông và Stalin giết người không gớm tay. Chuyện này cũng quá đổi bất bình thường.
10) Việt Nam có gần 5000 năm văn hiến, bản chất của người Việt Nam rất nhân hậu, hiếu hòa, hiếu học, tôn trọng tinh thần theo thứ tự ”sĩ nông công thương“. Sĩ là người có học được đứng đầu danh sách. Cớ sao, HCM lại phát động “trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ“. Trí cũng là Sĩ lại bị tiêu diệt hàng đầu. Thử hỏi, thành phần trí thức bị tận diệt thì tương lai nước VN sẽ ra sao? Nước VN sẽ không còn nhân tài thì chuyện gì sẽ xảy ra? HCM là một nhà yêu nước mà sát hại hàng trăm ngàn dân qua Cải Cách Ruộng Đất là một chuyện quá đổi bất bình thường.
11) HCM ký ngay Hiệp Định Sơ Bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 với thực dân Pháp để hợp thức hóa việc trở lại chiếm đóng của quân đội Pháp, rồi thừa cơ, sai Võ Nguyên Giáp tiêu diệt tất cả những người Việt Nam yêu nước nằm trong Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng, 2 đảng phái lớn nhất thời bấy giờ. HCM là một nhà yêu nước mà tiêu diệt 2 đảng phải yêu nước, cùng chống Pháp, là bạn đồng hành với mình, cũng là một việc bất bình thường.
Còn biết bao nhiều điều bất bình thường nữa, khi nói về nhân vật HCM này. Nhưng 11 sự kiện trên cũng đã quá đủ để chứng minh ông ta không phải là Nguyễn Ái Quốc của trước năm 1932, mà là một tên gián điệp Tàu. Nói như thế, lại có một số người tàn nhẫn phán ngay: “Thế là Mỹ Linh chạy tội cho Đảng CSVN”. Họ còn phán thêm: “HCM giả hay thiệt việc đó không quan trọng.” Đây là những lời phán thiếu suy nghĩ của một số người. Họ thiếu nhận thức, và họ không hiểu tại sao ĐCSVN vẫn còn tiếp tục tồn tại? Họ không hiểu rằng dân trong quốc nội đã bị đầu độc hàng chục năm qua về hình ảnh một HCM đẹp đẽ, vĩ đại, đạo đức, yêu nước… và ĐCSVN đang sống nhờ vào xác chết HCM ấy, như tấm bình phong che chở chúng. Tội ác của ĐCSVN chất cao như núi rồi, Mỹ Linh chạy tội cho nó được hay sao? Tại sao chúng ta không vạch ra những bằng chứng lịch sử để mọi người đều hiểu sự thật về sự bịp bợm của HCM? Tại sao chúng ta không cùng nghĩ để kéo sập Lăng Ba Đình vì đang thờ thằng gián điệp Tàu nằm trong đó? Tôi có thể khẳng định, nếu mọi người đều hiểu sự thật về sự bịp bợm, giả trá của HCM, ĐCSVN sẽ sụp đổ ngay.
Vào đoạn kết, ông BT có viết: “một việc làm cần thiết lúc này, để cho mọi sự được công bằng, minh bạch, lịch sử trở lại đúng như nó có thật, chính là thái độ mọi công dân yêu nước cần có.” Cũng bởi có câu viết này của ông BT, nên tôi đã viết bài phản luận này. Tôi cũng cần sự thật lịch sử y như ông BT.
Ngày 5 tháng 4 năm 2014
Mỹ Linh
Mylinhng@aol.com
Theo Mỹ Linh blog
Ghi chú:
(*3) “truy bức để đôn tỷ lệ địa chủ lên 5% như một qui định bắt buộc” (trang 86, Tập II của Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam). Lúc đó, dân số miền Bắc có 10 triệu, nên con số chính xác có thể lên tới 500.000 người bị sát hại, chứ không phải chỉ có 172.008 người như trong sách, đã thừa nhận.
(*4) Bài viết của ông Bùi Tín