Trình độ học vấn của bộ trưởng Việt Nam – Có chăng một Nhà thơ Hồ Xuân Hương ?!


Trình độ học vấn của bộ trưởng Việt Nam

Mấy năm trước tôi có làm một cái đếm số thành viên nội các VN và trình độ học vấn, và kết quả cho thấy 13/26 người có bằng tiến sĩ (*tuanvietnam.net/2010-08-08-trinh-do-hoc-van-bo-truong). Từ ngày có nội các mới tôi chưa đếm, nhưng nay thì người làm danh sách, nên tôi đếm tiếp. Nội các năm nay có 27 người, trong số này có 11 (41%) người có bằng tiến sĩ, 5 thạc sĩ, và 11 người là cử nhân.

Trong số 16 người trong Bộ Chính trị, có 8 người (50%) có bằng tiến sĩ. Tính tương đối, trình độ học vấn của Bộ Chính trị còn cao hơn cả Nội các Chính phủ.

Nhiều người phàn nàn rằng VN có quá nhiều tiến sĩ, mà phần lớn họ không giảng dạy hay nghiên cứu. Những số liệu này cho thấy quả thật trong nội các cũng có nhiều tiến sĩ. Số bộ trưởng có bằng tiến sĩ cao gấp 2 lần số có bằng cử nhân! Tôi chưa so sánh với Mĩ, nhưng tôi nghĩ chắc số tiến sĩ không cao như ở VN. Nội các Úc lần này hình như không có ai là tiến sĩ. Rất có thể với cơ cấu này, trình độ học vấn của nội các VN là cao nhất nhì thế giới. Trình độ bộ trưởng cao mừng hay lo là chuyện khác.

====

Danh sách cụ thể dưới đây:
Danh sách thành viên nội các và trình độ học vấn (tôi chú thích BS = cử nhân, MS = cao học / thạc sĩ, PhD = tiến sĩ)
1. Nguyễn Tấn Dũng: BS
2. Nguyễn Xuân Phúc: BS
3. Hoàng Trung Hải: MS
4. Vũ Văn Ninh: MS
5. Phạm Bình Minh: MS
6. Vũ Đức Đam: PhD
7. Phùng Quang Thanh: BS
8. Trần Đại Quang: PhD
9. Hoàng Tuấn Anh: BS
10. Nguyễn Thái Bình: BS
11. Nguyễn Văn Bình: PhD
12. Phạm Hải Chuyền: BS
13. Hà Hùng Cường: PhD
14. Trịnh Đình Dũng: MS
15. Nguyễn Văn Nên: BS
16. Vũ Huy Hoàng: PhD
17. Phạm Vũ Luận: PhD
18. Cao Đức Phát: PhD
19. Giàng Seo Phử: BS
20. Nguyễn Minh Quang: BS
21. Nguyễn Quân: PhD
22. Nguyễn Bắc Son: PhD
23. Đinh La Thăng: PhD
24. Nguyễn Thị Kim Tiến: PhD
25. Huỳnh Phong Tranh: BS
26. Bùi Quang Vinh: BS
27. Đinh Tiến Dũng: MS
Danh sách uỷ viên Bộ Chính trị
1. Nguyễn Phú Trọng: PhD
2. Trương Tấn Sang: BS
3. Nguyễn Tấn Dũng: BS
4. Nguyễn Sinh Hùng: PhD
5. Lê Hồng Anh: BS
6. Phùng Quang Thanh: BS
7. Lê Thanh Hải: PhD
8. Tô Huy Rứa: PhD
9. Phạm Quang Nghị: PhD
10. Trần Đại Quang: PhD
11. Tòng Thị Phóng: BS
12. Ngô Văn Dụ: BS
13. Đinh Thế Huynh: PhD
14. Nguyễn Xuân Phúc: BS
15. Nguyễn Thị Kim Ngân: MS
16. Nguyễn Thiện Nhân: PhD

Nguyễn Văn Tuấn
  Theo FB Nguyễn Văn Tuấn

Có chăng một Nhà thơ Hồ Xuân Hương ?!

Đoàn Hữu Hậu

Trong làng thơ Nôm đã thể hiện bấy lâu những bài thơ tinh tế và sống động của một tác giả mà nhiều người vẫn gọi là : Bà Hồ Xuân Hương. Sự thật thì tiểu sử của tác giả vẫn chưa đủ căn cứ để thoả mãn chúng ta về sự hiện diện của người. Thơ nằm sờ sờ ra đấy mà tác giả là ai?

Ta hãy nghe Dương Quảng Hàm giải bày trong Littérature Annamite: “ …Bà là con gái ông Hồ Phi Diễn, người làng Quỳnh Đôi, huyện Huỳnh Lưu, xứ Nghệ An. Nhân ông Diễn dạy học ở Hải Dương. Lấy người thiếp ở đấy sinh ra bà…” Có đúng vậy không? Nhiều sách viết khác nhau, nhiều giai thoại khác nhau về bà.

Thân thế của bà không có sách nào chép rõ. Người ta chỉ xét thơ của bà mà biết được đại khái. Phần đông người ta tin rằng tiểu sử bà như thế này: Bà ở về đời Lê mạc, Nguyễn Sơ. Cha mất sớm, mẹ cho đi học. Học giỏi, thường lấy các văn thơ thử tài các văn nhân thi sĩ thời bấy giờ. Có lẽ vì sự thách thức kén chọn ấy, nên duyên phận long đong. Sau bà lấy lẽ một ông Thủ khoa làm quan đến Tri Phủ Vĩnh Tường ( Vĩnh Yên). Nhưng được ít lâu thì ông Phủ mất ( Khóc ông Phủ Vĩnh Tường) Sau vì gia cảnh nên lấy người cai Tổng, tục danh là Cóc. Không bao lâu ông Tổng cũng chết ( Khóc ông Tổng Cốc). Từ bấy giờ hình như bà chán nản nỗi số phận hẩm hiu nên thường đi chơi các nơi thắng cảnh và ngâm vịnh thơ ca để khuây khỏa nổi buồn. Có lần hình như bà cũng muốn đi tu, nhưng một người tài tình như bà không thể giam mình chốn thâm sơn cùng cốc nên bà lại thôi. Trong Việt Nam văn học sử yếu có viết: “ Bà sinh vào khoảng Lê mạt cùng thời với Phạm Đình Hồ tức Chiêu Hổ ( 1768 – 1839)…”

Chúng ta thấy về bà Hồ Xuân Hương vẫn còn mơ hồ. Không ai khẳng định rõ ràng, mà chỉ xét thơ văn mà viết đại khái, với những từ nghi vấn“ có lẽ” “hình như”…Điều nầy khiến chúng ta không thể quả quyết rằng Hồ Xuân Hương có một cuộc đời như thế.

Trong Nam Thi Hợp Tuyển tác giả Nguyễn văn Ngọc viết rằng : “ Nàng sinh vào đầu nhà Nguyễn không chắc rõ quê quán ở đâu? Có kẻ truyền tụng rằng nàng gốc tích ở Nghệ An…” Đã không chắc rõ mà lại còn nghe theo lời truyền tụng thì làm sao tránh được những sai lạc?!

Tiếp sau là những giai thoại: “…Nàng định kén chồng, nhân gặp khoa thi, nàng mở một ngôi hàng nước để tiếp các danh sĩ vào làm thơ, người nào “trúng tuyển” thì mới chịu kết hôn. Nhiều người làm thơ đều thất bại cả. Sau kỳ thi, người đỗ Thủ khoa, đi cùng người em trai xin được vịnh thơ nàng,. Nàng ra đề là Thạch Liên Thiên. Ong Thủ khoa ngậm bút hồi lâu nmới viết được bốn chữ “ Tiên thạch nguyên lai” rồi lại ngẫm nghĩ mãi không ra được chữ gì nữa. Nàng sai thị tỳ ra bảo: “ Không làm được thì về sao lại cứ ngồi ngậm bút mãi” Ong Thủ khoa nghe nói chết cứng cả người…Nghe đâu chính ông nầy sau làm Tri Phủ Vĩnh Tường, tên gì không rõ” (?!)

Một người đàn bà,có can đảm mở ngôi hàng để kén chồng thì không phải là tay vừa. Về tài của bà thì không thấy nói tới, chẳng lẽ bà lại làm toàn những bài “thơ tục” hiện đang truyền tụng hay sao? Còn về sắc thì cụ Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến tả trong Giai Nhân Dị Mặc như sau: “ Hồ Xuân Hương mặt hơi rỗ hoa, da hơi ngâm đen, không đẹp mà có duyên thầm… có thiên tài lại giàu tình cảm…” Không hiểu cụ căn cứ vào đâu để tả thực như thế? Có điều như thế nghĩa là không đẹp? Mà xấu thì câu chuyện cụ Nguyễn văn Ngọc đã kể trên cũng vô lý nốt.

Xem đó, tiểu sử tác giả, những tài liệu lờ mờ trên không đủ để minh xác sự hiện diện của một người đàn bà tên thật là Hồ Xuân Hương.

Thế nhưng, trong khi tiểu sử chưa xác định, nhiều học giả chủ quan đã vội vàng bình luận với thiên kiến của mình. Chẳng hạn như ông Nguyễn văn Hanh người đầu tiên áp dụng phương pháp bệnh lý vào việc khảo cứu văn học, khi đọc qua thuyết Tâm phân học của Freud, ông viết: “ Người ta ai cũng có sẳn tình dục. Nếu để tự nhiên theo sự nảy nở của cơ thể thì không sau, nhược bằng vì một lý do nào đó mà phải kiềm chế, thì có thể xảy ra bệnh lý gọi là “ẩn ức tình dục”, khiến con bệnh sinh ra những ý nghĩ, ngôn ngữ, hành động đặc dục tình…” Rồi khi đọc những giòng tả Hồ Xuân Hương: “….Mặt hơi rỗ hoa,da ngăm đen, không đẹp mà có duyên thầm…”thì ông vội tin ngay là người con gái kia vốn đa tình nhưng vì kém sắc nên không được chuộng đến phải ẩn ức mà phát ra cái loại thơ kinh khủng “đặc dục tình kia” (?!) Đó là giải thìch về nguồn gốc, còn về công dụng thì học giả Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm căn cứ vào vào lời thơ có vẻ “đàn bà” và dựa trên lập trường đấu tranh giai cấp, ông đã khoát cho thi sĩ một chiếc áo cách mệnh. Ong cho rằng thơ Hồ Xuân Hương là lợi khí của phụ nữ chống chế độ phong kiến, chống nam quyền. Đàn bà chống đàn ông thống trị và áp bức. Khẩu hiệu nghe thì hay lắm. Nhưng bà chống ở điểm nào? Chống ở chổ Nho giáo phong kiến bắt người ta phải cưới xin hẳn hoi rồi hãy có chửa. Thật là vô lý. Cái vô lý đó bị nhân dân xỉ vả:

“ Không chồng mà chửa mới ngoan
Có chồng mà chửa thế gian sự thường”

Cái sự thường đó đã thể hiện qua bài thơ:

Cả nể cho nên sự dỡ dang
Nỗi niềm chàng có biết hay chăng?
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc?
Phận liễu sao đà nảy nét ngang.
Cái tội trăm năm chàng chịu cả.
Mảnh tình một khối thiếp xin mang!
Quản bao miệng thề lời chênh lệch
Những kẻ không mà có, mới ngoan”
(Chửa hoang)

Hồ xuân Hương cách mệnh, Hồ Xuân Hương cải tạo xã hội, Hồ Xuân Hương chống nam quyền bằng cách cổ động cái hành vi sinh lý lên trên đạo lý. Không biết con đường cách mệnh ấy sẽ đưa nhân loại tới đâu?

Tóm lại, một khi tài liệu chưa đầu đủ để minh xác cuộc đời của tác giả, thái độ cần thiết là nên sưu cứu để chứng minh hay phủ nhận chứ không thể căn cứ vào thơ văn để tô son điểm phấn hay lợi dụng.

*

Phải nhìn nhận rằng “thơ Hồ Xuân Hương” hiển hiện như một hào quang trong bóng tối đọa đày của một nền văn học ngoại dịch. Không ai chối cãi về sự sự hiện diện của loại thơ đã được hầu hết các giới hoan nghênh và suy tụng. Thơ Hồ Xuân Hương nằm ngang ra đó. Nhưng ai là tác giả? Ai đã phóng “ám khí” vào văn học?

Rất có thể đó là “Nho sĩ”. Nghĩa là đàn ông làm ra chứ không phải là của một bà tên gọi là Hồ Huân Hương, dù là bà đó ẩn ức tình dục, bị ám ảnh bởi cái giống, hay cách mệnh cũng thế.

CHỨNG CỨ: VỀ PHƯƠNG DIỆN TÂM LÝ, TA TÌM GẶP LÒNG TỰ TÔN VÁ TÍNH XỎ XIÊNG CỦA NHO SĨ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ.

Trong Việt Sử và khẩu truyền, các công nghiệp của nam giới thường được các cụ tô điểm bằng những nét thật hùng tráng và anh dũng. Nhưng khi viết về phụ nữ thì có ý xem nhẹ hơn, thiên kiến vai trò phụ nữ. Đại Nam quốc sử diễn ca đã chép nguyên do cuộc khởi nghĩa của bà Trưng:

“ Bà Trưng quê ở Phong Châu
Giận người tàn bạo thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân…”

Trưng Vương vì thù chồng mà đứng lên…Chứ không phải vì yêu nước, thương non… Đến như bà Triệu Ẩu các cụ viết đau lòng hơn. Khi Tướng Ngô là Lục Dận mang quân dày xéo non sông, không có lấy một người đàn ông lo việc đối kháng, để cho nhi nữ phải ra tay. Vị nữ anh hùng đem thắng lợi cho nước nhà đã được các cụ ghi vào lịch sử với một chi tiết tiếu lâm: “ Bà vú dài ba thước” ! Thêm vào đó cái chết của bà không kém phần bi thảm, nhục nhã. Số là Lục Dận bị thua mãi cho điều tra cái danh Triệu Trinh Nương ( người con gái trong trắng họ Triệu) và thiết kế cho ba trăm tên quân loã thể ra trận. Thoạt trông thấy cảnh nhơ bẩn, bà bưng mặt chạy dài, và rút gươm tự vận. Vị nữ tướng bách chiến giai thành, lại thảm bại trong trường hợp dễ dàng và đơn giản như thế?! Không tin được. Rỏ ràng có sự xuyên tạc của người chép sử.

Đấy là lịch sử về Nữ Tướng, còn trong văn chương?

Vua Quang Trung và Ngọc hân

Ai đọc qua bài thơ Tự thán của Ngọc Hân Công chúa em vua Chiêu Thống, vợ vua Quang Trung, đều kính phục lòng thâm thiết của nữ thi sĩ. Trang quốc sắc ấy vâng mệnh Phụ hoàng là vua Cảnh Hưng kết duyên cùng với Bắc Bình Vưong Nguyễn Huệ khi ngài ra bắc diệt Trịnh phù Lê. Khi vua Quang Trung băng hà, Gia Long đoạt lấy cơ đồ Tây Sơn. Việc đầu tiên của Gia Long là trị tội bọn” Ngụy triều”, đào mã Quang Trung lấy sọ xiềng xích đem giam vào ngục tối, lại dùng thốc độc giết chết ba con nhỏ của Công chúa với Quang Trung. Lúc bấy giờ Công chúa cải trang làm thường dân trốn vào Quảng nam, để không gặp mặt kẻ giết chồng hại nước.

“ Trằn trọc suốt đêm sâu ngày tối
Biết cùng ai dập nỗi bi thương
Trông mong luống những mơ màng
Mơ hồ bằng mộng bàng hoàng như say
Khi trận gió hoa bay thấp thoáng
Ngỡ hương trời bãng lãng còn đâu
Vội vàng sửa áolên chầu
Thươngôi quạnh quẻ trược lầu nhện giăng
Khi bóng trăng là inlấp lánh
Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi
Vội vàng dạo bước tới nơi
Thương ôi, vắng vẽ giữa trời tuyết sa…”

Một mối tình tha thiết như vậy mà từ lâu, sử cũ vẫn chép là bà đã kết duyên với vua Gia Long sau khi y đã quật mộ chồng và giết hết con mình. Sự ám muội đó phải đợi tới năm 1949 mới được Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm cải chính trong “Văn học Tây Sơn”. Đó là những chứng cứ rõ ràng trong lịch sử. Nó biểu hiện khuynh hướng trọng nam khinh nữ của các cụ thời ấy.

Trong giới văn học ta có được bao nhiêu văn nhân khả dĩ dám so với bà Đoàn Thị Điểm? Ngay như tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn cũng không được phổ biến bằng bản dịch của nữ sĩ HồngHà. Tác phẩm dịch không cô động được cả một vươn lên của văn nôm toàn thịnh mà cuộc đời dịch giả cũng biểu lộ một nếp sống tài đức kiêm toàn. Thế mà vị nữ sĩ đó lại được ghép đi đôi với Trạng Quỳnh, tên Nho sĩ vô hạnh,phản ảnh tinh thần phóng túng, vô đạo của các cụ. Ví dụ vài chi tiết: Một hôm bà Điểm tắm, Trạng Quỳnh đòi vào bà ra câu đối khi nàoTrạng đối được thì cho vào : “ da trắng vỗ bì bạch”. Trạng không đối được bỏ đi. Lần khác,vua tiếp sứ tàu. Vì muốn bịp sứ giả,Vua sai Trạng giả làm lái đò và bà Điểm làm cô hàng nước. Chuyện Sứ tàu địt rồi nói… lái đò đái xuống sông, rồi nói… giữa sứ tàu và Trạng Quỳnh chắc ai cũng biết. Khi vào quán, thấy đôi mắt cô hàng đong đưa, tình tứ, có ý lả lơi, Sứ tàu ghét ra câu đối: “An nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh” bà Điểm liền đối ngay : “Bắc quốc đại trượng phu, giai do thử đồ xuất” Sứ tàu sợ quá, cho rằng tên lái đò, cô hàng nước còn giỏi như thế, đến bọn nho sĩ còn giỏi tới đâu! Trước đây, đọc truyện trên, tôi phục về tài mẫn tiệp của bà Đoàn thị Điểm hết sức. Nhưng bây giờ nghỉ lại mới ngán cái lối xỏ ngọt đàn bà của các cụ. Mỗi khi đọc những câu:

“ Hoa giải nguyệt, nguyệt in một tấm
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng
Trước hoa, dưới nguyệt trong lòng xiết đau”

Ta vẫn thấy lời thơ tình tứ thật, nhưng đâu đến nổi “ đong đưa, lả lơi” như khi tiếp Sứ Tàu!

Xem đó ta thấy các cụ đã tự tô vẽ với những nét thật tươi và kể chuyện đàn bà với những lời thật ác. Từ đó mà suy, ta có thể nghĩ rằng trong khi các cụ cố thiên về lý trí ( tư vô tà) cố không nghĩ tới điều xằng bậy, thì tình cảm và bản năng đã khiến hiện ra loại thơ tục, và vì sợ mang tiếng tiểu nhân, các cụ gán luôn cho đàn bà với cái biệt hiệu là Hồ Xuân Hương. Vậy Hồ Xuân Hương là tên một loại thơ, thể thì rất luật mà hơi thì rất ca dao, chứ vị tất là tên của người đàn bà?!…

MỘT CHỨNG CỨ THỨ HAI NỮA LÀ CÁC NHO SĨ THƯỜNG TRỌNG HÁN MÀ KHINH NÔM MỘT CÁCH QUÁ ĐÁNG

Trong khi khảo cứu văn học Việt Nam, một vị linh mục người ngoại quốc có phát biểu: “ Văn học Việt Nam mà bỏ hết phần Hán văn thì thật không còn gì nữa” Đứng trên địa vị một người ngoài, vị linh mục kia đã cho ta thấy một nhận xét tuy quá đáng nhưng không phải là hoàn toàn vô lý. Nếu ngày trước những học giả yêu tiếng Việt vào thư viện trường Viễn Đông Bác Cổ – Hà Nội hay Quốc Tử Giám – Huế để tìm tài liệu thì hẳn đều nhận thấy những tác phẩm nôm rất lơ thơ và vô căn cứ. Ngày xưa , bao nhiêu tâm lực của các ccụ đều phóng cả vào việc từ chương khoa cử, nếu không thì cũng dồn toàn lực vào sáng tác bằng chữ Hán. Văn Nôm chỉ là một lối chơi trong lúc trà dư tửu hậu. Trong lịch sử chỉ có hai triều đại văn nôm được trọng dụng là đời Hồ Quý Ly và Quang Trung, nhưng tiếc cả hai triều đại trên đều quá ngắn ngủi, cho nên việc phổ biến cũng chỉ le lói rồi tắt phụt.

Mang danh “ nôm na là cha mách qué” các cụ không bỏ được mặc cảm khinh rẽ chữ nôm. Đã không ưa thì dù có sự thúc giục của bản năng dân tộc, các cụ có làm ra thì cũng chối bỏ. Không mấy khi tên tác giả được ghi theo tác phẩm, cho nên có việc sách ghi “ Nôm khuyết danh” .Và xảy ra cái việc thường xuyên là “ tam sao thất bổn” đem râu ông nọ cắm càm bà kia. Mãi cho tới cuộc quật khởi năm 1789 của Quang Trung văn nôm mới khá được để ý và bộc phát chói lọi trong thời Nguyễn sơ cho tới ngày nay.

Xét đó mà biết, vậy thì cái loại thơ “tục tĩu” của Hồ Xuân Hương, hay thì hay thật nhưng thử hỏi Nho sĩ có dám đặt tên mình vào đó chăng? Đã chối bỏ, đã lợi dụng đề tài và địa vị của đàn bà để sáng tác cho dễ, thì Nho sĩ còn ngại ngùng gì mà không đặt cho loại thơ ấy một tên hiệu có vẽ đàn bà là Hồ Xuân Hương?!.

CÁI CHỨNG CƠ THỨ BA ĐỂ TRẢ LẠI LOẠI THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG CHO NHO SĨ LÀ SỨC ĐÀN ÁP CỦA LUÂN LÝ NHO GIÁO

Tâm hồn cá nhân được xây dựng trên 3 yếu tố căn bản : bản năng, tình cảm và lý trí. Đạo Nho lấy lý trí vụ luân lý ( Trai : tam cương, ngũ thường, Gái: tam tòng , tứ đức) để chế ngự bản năng và hướng dẫn tình cảm cho hợp với đạo thánh hiền. Ai theo lý trí Nho giáo là quân tử, ai theo bản năng, tình cảm là tiểu nhân. Thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói trung thành của tình cảm dồi dào của dục vọng sôi nổi, xây dựng trên một đề tài nhất trí là sinh lý, cái phần mà Nho sĩ cho là tệ hơn cả trong dục vọng loài người. Đã thế bản năng và tình cảm là hai “thằng giặc” khó trị, thường hay xuất phát bất ngờ. Chiến thắng nghìn vạn quân địch dễ, tự thắng ta mới khó. Thế nên trong một phút xiềng xích lý trí Nho giáo lỏng lẽo, tình năng đã hiển hiện ra huy hoàng trong loại thơ kia. Sực tỉnh cơn mê thì sự đã rồi, Nho sĩ liền chối bỏ vì không muốn tiểu nhân, vì rằng:

“Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân cũng muốn trèo”

Sống theo tình cảm bản năng là sống theo tự nhiên, sống theo luân lý là sống theo khuôn khổ. Tất nhiên không chịu sự thái quá nào đó của tâm hồn. Thiết nghỉ ba chứng cứ trên cũng đủ cho ai tin tưởng về chủ nhân của loại thơ Hồ Xuân Hương. Nhưng ở đây một vấn đề khác được đặt ra là: Tác giả loại thơ nầy là một hay nhiều người?

Đã là một loại thơ thì phải là của nhiều người. Nhưng có một điều lạ, là tính cách nhất trí về đề tài khiến ta lại có ảo tưởng là sản phẩm của một cá nhân, một Nho sĩ nào đó. Thơ Hồ Xuâ Hương có loại tự tình khóc than vì thiếu chăn gối; loại xã hội chế diễu là những kẻ ngứa nghề, những tay đạo đức giả không dám để sinh lý trên luân lý;loại hoạt cảnh tả thú vui vật chất,loại tĩnh vật và loại phong cảnh thì chuyên tả cái hình ảnh “kín đáo” của phụ nữ. Dù đề tài có khác từ một vật vô tri giác như “ cái quạt” cho tới phong cảnh như “ Đèo ba dội” ý tưởng trong thơ đều biến hoá, thoát hình để trở về với đề tài vô trung sinh thữ mà thôi. Thế nhưng lý lẽ nầy không vững khi ta đọc bài Vịnh cánh hoa đào sau đây:

“ Trời đẻ trời muông trời phải dạy
Dẫu rằng bé bỏng khéo kiêng khem
Trải bao đêm vắng cùng mưa móc
Vẫn một màu son với chị em
Cười trận gió đông hăng hái thổi
Thương con bướm trắng phất phơ thèm
Xin ai thương đến đừng ham mó
Hể mó tay vào ố nhọ nhem”

Giọng thơ đặt Hồ Xuân Hương nầy chính là của Tản Đà. Đấy, sau bao nhiêu năm, một nhà nho thất thế còn làm được bài thơ trên, thử hỏi ngày trước trong không khí ngột ngạt của Nho giáo thì sao? Có người nói: “ Thơ Hồ Xuân Hương là sản phẩm thời Lê mạt, pản ảnh thời đại cực loạn trong lịch sử Việt Nam. Chính trị thối nát, đất nước bị xé ra dưới bàn tay của các lãnh chúa: Trịnh, Nguyễn, Mạc, Tây Sơn , Lê, Trương Phúc Loan, Kiêu binh…Cả một hệ thống tổ chức xã hội cũ đão lộn, trí thức lẫn nho sĩ phân tán tinh thần, xu hướng đến cực độ. Chính hoàn cảnh trên đã đã đẻ ra loại thơ “ quỹ quái” đó”

Vâng cũng đúng một phần. Nhưng chúng ta đừng quên rằng: “ Với thần trí và hồn tính vững vàng dân tộc Việt đã trào phúng thường xuyên, bất chấp thời loạn, hay thời bình ” Hãy đọc vài vế trong bài “ Ngã Ba hạc phú” của Nho sĩ Nguyễn Bá Lân ( 1701 – 1785)

“ Vui thay Ngã ba hạc vui thay! Ngã ba hạc
Dưới họp một giòng trên chia ba ngác
Ngóc ngách khôn đo rộng hẹp; dòng biếc lẫn dồi dào
Lênh láng dễ biết nông sâu; nước đen pha nước bạc
…Ba góc bờ chia vành vạch, huyệt kim quy hẻm đá rộng hông hênh

Hai bờ cỏ mọc lâm râm, hang Anh vũ giữa giòng huyếch hoác

Mọi thú mọi vui, mỗi chiều một khác
Lơ thơ đầu ông Lã thả cần, trần trụi mặc Chữ Đồng ngâm nước
Bè khách thương hạ bến, cắm neo quỳ gối lắc cày xuôi

Thuyền ngư phủ thuận giòng, giương nách khom lưng chèo tếch ngược

Dùi điểm thùng thùng trống gọi, cửa tuần rộn rã khách chen vai; chày đâm văng vẳng chuông đưa, nền phật tự lao xao người rén bước…

Ai hữu tình ngắm lại mà coi; kể làm cực nhân gian chi khoái lạc.

*

Duyệt qua những hoài nghi, những chứng cớ, những lý do trên, mục đích chúng tôi không gì hơn là kêu gọi các học giả uyên thâm xúc tiến việc minh định văn học cho hoàn bị và đặt ra những giả thuyết trên cũng để mong được xét lại, riêng cho Hồ Xuân Hương và chung cho cảVăn học sử Việt Nam./.

© Đoàn Hữu Hậu

Đoàn Hữu Hậu,


Đoàn Hữu Hậu
Là nhà văn, nhà báo được đào tạo tại Phân viện Báo chí và Tuyên truyền TP Hồ Chí Minh, hiện đang sống và làm việc tại Rạch Giá – Kiên Giang, Việt Nam….

Có nên hân hoan trước “Trận pháp Putin”? – Bàng hoàng vì chuyện “chỉ có ở Việt Nam”


Hà Văn Thịnh – Có nên hân hoan trước “Trận pháp Putin”?

Những đảo lộn dữ dội, nhanh chóng và tiềm chứa vô số hệ lụy của “bàn cờ” Crimea – Ukraina trong mấy tuần qua đã và đang đặt sự tiến bộ của nền văn minh hiện đại trước những thách thức nghiêm trọng. Thế nhưng, trong rất nhiều bình luận của báo chí nước ta gần đây, có không ít những bài viết tỏ ra “khách quan” một cách nông nổi khi hân hoan, vui mừng thật sự trước “thắng lợi” của TT Nga Putin và thất bại thảm hại(?) của Mỹ và phương Tây trước cái gọi là “cuộc trưng cầu dân ý” ở Crimea và ngay sau đó là việc TT Putin ký sắc lệnh công nhận Crimea độc lập!!!

Điển hình trong loạt quan điểm trên là bài báo của tác giả Đặng Vương Hạnh (ĐVH) trên Tienphong Online, 06:31 ngày 18.3.2014.

Tác giả bài báo đã dùng những ngôn từ mà chỉ cần đọc lướt qua, ai cũng biết tác giả rất sung sướng, hả hê vì Putin đã làm cho Mỹ, EU “bối rối, bị động” đến mức không biết làm gì khác hơn ngoài chuyện “gỡ gạc thể diện”. Đi xa đến mức liều lĩnh, ĐVH còn gợi ý (sung sướng thật sự) cho TT Nga cách thức phá hủy công lý và nền độc lập, sự toàn vẹn lãnh thổ của Ukraina bằng thứ ngôn từ không ai hiểu nổi: “Dùng chính vũ khí phương Tây đã sử dụng ở Kiev, đẩy các khu vực thân Nga rơi vào động loạn, bị chia cắt, thậm chí nội chiến và nước Ukraine thống nhất sẽ vỡ vụn trước mắt phương Tây. Không nước EU nào, kể cả Mỹ sẵn sàng đổ máu vì sự toàn vẹn của Ukraine”?!

Đọc câu “gợi ý” đắc chí trên, không một người có lương tâm nào không đặt câu hỏi rằng, tại sao tác giả bất chấp các giá trị luân thường đạo lý, cho rằng chính phủ Nga có toàn quyền hành động để “bảo vệ lợi ích chiến lược” ích kỷ của mình?

Tại sao tác giả không chịu hiểu rằng hành động của Putin là một tiền lệ nguy hiểm mà phần thắng luôn thuộc về những nhóm nhỏ khát khao quyền lực độc tài bất chấp đến sự sống an lành của hàng triệu người dân vô tội? Ngày mai, ngày kia trong tương lai xa và gần, chẳng lẽ bất cứ cường quốc nào cũng tự cho mình quyền kéo xe tăng, đại bác tới bất kỳ vùng lãnh thổ có chủ quyền nào để “bảo vệ” công dân nước mình bị đe dọa? Cái cớ để tạo nên sự “đe dọa” (ví dụ lu loa lên rằng 6.000 công nhân TQ – đa phần lao động chui bất hợp pháp – ở Vũng Áng bị phân biệt đối xử) dễ lắm, ĐVH có biết không? Hoặc giả, người ta tổ chức cho hàng trăm dân thường TQ “trưng cầu dân ý” ở Hoàng Sa về chủ quyền – giống như một giả định tinh tế trong một bài viết trên mạng hôm qua, 17.3) thì nỗi đau này thuộc về 90 triệu người dân Việt Nam và, chắc chắn rằng, không có tên ĐVH!

Là một nhà báo, lương tâm của người cầm bút để đâu khi ĐVH lờ đi sự thực lịch sử cách đây 60 năm: Dưới thời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Liên Xô Nhikita Khrushov, năm 1954, Krimea đã chính thức được chuyển giao cho nhân dân Ukraina quản lý, đúng như thực tiễn hàng ngàn năm trước? Nếu ca ngợi Putin hôm nay là chính nghĩa(!), tại sao ĐVH không xỉa xói “sai lầm nghiêm trọng” của đảng CS Liên Xô? Không thể có chuyện cả hai đều đúng, nhất là, quyết định năm 1954 đã được toàn thể các đảng viên CS trong Xô Viết Tối cao Liên Xô thông qua? Chẳng lẽ cộng sản Liên Xô đúng và Putin cũng không sai sao?

Ít người không biết sự phụ thuộc nặng nề về dầu khí (hơn 30%) và than (gần 25%) của EU từ nguồn cung là Nga; thị trường lớn thứ tư thế giới của công nghiệp xe hơi Đức cũng là Nga…, đã làm cho EU lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan nhưng hả hê với ý muốn vô lý của độc tài ích kỷ của Putin là điều không thể chấp nhận. Ném sinh mệnh của hàng triệu dân thường vô tội, thậm chí hy sinh cả lợi ích dân tộc để tạo nên “nền móng” cho những cái ghế quyền lực là sự vô đạo đức không thể biện minh. ĐVH không chỉ là một nhà báo (thật xót xa khi phải dùng hai chữ ‘nhà báo’) hoang tưởng a dua theo quyền lực mà còn phạm tội hoang ngôn a dua với quyền lực khi bất chất căn cứ xác thực, tự mình khẳng định khơi khơi rằng “Có thể phương Tây đã tạm “dẫn bàn” bằng việc lật đổ ông Viktor Yanukovych”(!) Căn cứ vào đâu để ĐVH khẳng định phương Tây lật đổ TT tham nhũng vô liêm sỉ Yanukovych? Phải chăng cái máu sợ “diễn biến” làm tội nghiệp cho chủ nghĩa độc tài đã làm ĐVH xót xa?

Vì nhiều lý do, đã lâu lắm rồi tôi không viết, nhưng hôm nay, do không thể chịu nổi sự vô lương tâm của một bài viết xúc phạm đến hàng triệu con người đang phải rên xiết dưới ách độc tài của Putin (cựu đảng viên ĐCSLX, cựu KGB khét tiếng), buộc tôi phải lên tiếng. Rất mong ông ĐVH tranh luận vì biết đâu tôi đã sai?

Thay lời kết, xin dẫn ra đây đoạn văn đầy đe dọa (đối với thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng) của ĐVH trong bài “Trận pháp Putin”: “Ai cấm Nga hợp tác với Trung Quốc sản xuất vũ khí siêu thanh tấn công toàn cầu, cung cấp các loại vũ khí công nghệ cao và giúp nước này hoàn thiện chiến lược “chống tiếp cận”, đánh thẳng vào chiến lược “xoay trục” châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ?” (tôi nhấn mạnh chữ ĐÁNH THẲNG và TẤN CÔNG TOÀN CẦU vì hình như ý của ĐVH là là ủng hộ sự đánh thẳng – tức là cổ xúy, phát động chiến tranh thế giới, không chỉ vào Mỹ mà là bất cứ dân tộc nào khát khao công lý, dân chủ, tự do?).
Huế, 09h, 18.3.2014.

  Hà Văn Thịnh
 (Quê choa)

Bàng hoàng vì chuyện “chỉ có ở Việt Nam”

Được đăng tải trên một tờ báo vào sáng làm việc đầu tuần, đoạn clip dài chưa đầy 5 phút đã gây bàng hoàng cho bất cứ ai xem.

1. Mỗi người chui vào một bao nilon, ngồi lọt thỏm trong đó cho miệng bao trùm kín quá đầu. Rồi những thanh niên biết bơi sẽ túm gọn miệng bao và kéo chiếc bao “đựng” người bơi vượt qua con suối mùa lũ đang băng băng chảy xiết.

Một cảnh tượng có thể nói là thót tim.

Nhưng không phải từ một cuộc thi Vượt qua thử thách, hay một trò chơi mạo hiểm kiểu nuốt kiếm, phun lửa… nào. Mà đó là cách thầy trò ở bản Sam Lang, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên vượt suối để đến trường.

Được đăng tải trên một tờ báo vào sáng làm việc đầu tuần, đoạn clip dài chưa đầy 5 phút đã gây bàng hoàng cho bất cứ ai xem. Bởi có lẽ chẳng đâu trên thế giới này lại có cách vượt suối “độc nhất vô nhị” đến thế. Biết bao nguy hiểm rình rập mà giá phải trả có thể là cả tính mạng: nếu cái túi thủng, nếu ngồi trong túi ngạt, nếu nước lũ cuốn trôi, nếu v.v…

cầu treo, thác lúc, Việt Nam

Đu dây qua sông Pô Kô để đến trường. Ảnh: Tuổi trẻ

Tất cả vì thiếu một cây cầu kiên cố, chống chịu được nước lũ.

Ở thành phố, có thầy cô kể lại khi chưa hết bồi hồi rằng, đã đưa ngay đoạn clip đó cho học trò mình xem. Để các em biết rằng, bạn bè đồng lứa không phải ai cũng có được may mắn “hôm qua em tới trường, mẹ dắt tay từng bước” – được cha mẹ đưa đón, chăm lo từ cái nhỏ nhất.

Nhưng có lẽ, chính những thầy cô đứng trên bục giảng ở thành phố, hay những khu vực có “điều kiện” cũng rất cần xem đoạn clip này. Để bớt đi những “sân, si” trong nghề, khi giờ đây không ít những lời than phiền về sự xuống cấp trong nghiệp trồng người, cả về đạo đức cũng như lòng yêu nghề.

Nhưng có lẽ, chính những thầy cô đứng trên bục giảng ở thành phố, hay những khu vực có “điều kiện” cũng rất cần xem đoạn clip này. Để bớt đi những “sân, si” trong nghề, khi giờ đây không ít những lời than phiền về sự xuống cấp trong nghiệp trồng người, cả về đạo đức cũng như lòng yêu nghề.

“Qua sông thì phải lụy đò”, còn ở đây, những cô giáo mang trọng trách “chở đò” lại đang phải lụy… túi nilon để qua được suối. Mà đâu chỉ “lụy”, họ đang đặt cược cả sinh mệnh để mang được con chữ khó nhọc vào thôn bản xa xôi.

Nhớ lại, hồi tháng 5 năm 2010, chúng ta cũng từng sửng sốt khi báo chí đăng tải hình ảnh những người dân ở một làng không tên tại Đắk Nông, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum vượt sông Pô Kô bằng cách… đu dây.

Khi ấy, tại nghị trường, trả lời chất vấn của đại biểu Nguyễn Minh Thuyết, Bộ trưởng GTVT Hồ Nghĩa Dũng cho rằng, việc người dân “đu dây” qua sông Pô Kô là sáng tạo “không ngờ tới”. Bộ trưởng cũng nhận khuyết điểm ở khía cạnh không phát hiện được sự việc, do địa phương thì không đề cập, còn sau này khi ông hỏi, tỉnh cũng không nắm được.

Kiểu “sáng tạo” đó giờ dường như càng vượt xa ngoài tưởng tượng, từ đu dây đã chuyển sang ngồi trong túi nilon. May mắn là phản ứng của lãnh đạo ngành đã kịp thời hơn trước. Ngay trong sáng nay, trao đổi với Tuổi trẻ, lãnh đạo Bộ GTVT cho hay “sẽ cho xây cầu treo để phục vụ dân”.

Song, vẫn tiếc nuối, giá như ông hay các cán bộ dưới quyền là những người phát hiện ra sự việc chứ không phải báo chí. Mặt khác, các chính sách cần có tầm phổ quát, thay vì mỗi khi “lộ” ra một sự vụ nào đó mới rốt ráo tìm cách giải quyết.

2. Ngày hôm qua,  rất nhiều người hảo tâm đã lựa chọn kêu gọi và đóng góp để có quỹ xây cầu cho bản Sam Lang. Nỗi bàng hoàng, xót xa đã nhanh chóng biến thành nghĩa cử.

Người viết chợt nhớ đến một bài báo cũng dịp tháng 3 năm ngoái, về nghĩa cử rất đẹp của một người đàn ông đã bỏ số tiền định dành xây nhà để… xây cầu cho dân làng qua lại. Người đàn ông tên Lê Tất Dũng ấy chẳng phải đại gia, tài sản vung vinh, thừa tiền sắm siêu xe, siêu giường thì xây cầu chơi.

Suốt 20 năm quần quật của ông đã góp hết vào cây cầu. Gia tài còn lại chỉ là căn chòi lợp tôn, tứ bề dột nát, cùng chiếc tivi nội địa và bộ đồ nghề sửa xe máy.

Có những người “rút ruột” từ những cây cầu để sống vương giả cho đời mình, đời con cháu mình. Nhưng cũng có những con người – dù hiếm hoi – lại tự “rút ruột” chính mình để xây cầu cho người khác.

Những tấm lòng như ông Dũng hay bao người hảo tâm đang cùng chung tay đóng góp dựng cầu thật đáng trân quý. Đó là sự tương thân, tương ái, giúp đỡ những đồng bào thiệt thòi, khó khăn mà thời nào đất nước cũng cần.

cầu treo, thác lúc, Việt Nam

Vượt qua nước lũ dữ bằng cách chui vào… nilon. Ảnh: Tuổi trẻ

Đó là đạo lý, tình cảm của “người trong một nước” với nhau. Song, trách nhiệm đầu tiên và quan trọng nhất để lo cho những người dân như ở Sam Lang  hay ở bất cứ nơi nào khác còn khó khăn, thì vẫn phải thuộc về Nhà nước, mà đại diện là các nhà lãnh đạo và chính quyền các cấp.

Bởi được sống an toàn là quyền của người dân nơi đây, họ không thể phải phụ thuộc vào lòng hảo tâm, phải kêu gọi để được thực hiện quyền của mình.

Chúng ta có thể nói rằng đất nước còn khó khăn nên chưa thể lo an sinh tốt nhất cho người dân, chưa thể xây cầu ở tất cả những nơi cheo leo hiểm trở để những “sáng kiến” túi nilon, dây đu… “hết đất” sống.

Nhưng cách giải thích đó liệu có đủ làm an lòng, khi mà người dân vẫn đang chứng kiến những vụ việc kiểu công trình ngàn tỷ phơi sương, vài trăm tỷ đắp chiếu, vali cho 1 lần hối lộ chứa cả nửa triệu đô-la, v.v…

Năm 2010, theo tính toán, để xây một cây cầu cho người dân qua sông Pô Kô tốn khoảng 1,5 tỷ đồng. Đối với những người dân bình thường, chắc hẳn không nhiều người được “chạm” đến tiền tỷ để hình dung nó nhiều ít ra sao. Nhưng, cứ thử nhẩm tính, chỉ một công trình phơi sương, chỉ số tiền trong một vụ tham nhũng… đủ xây bao nhiêu cây cầu như thế.

… Vậy mà ở đâu đó tiền vẫn “phơi” sương hoặc âm thầm chảy vào những cái túi không đáy. Còn ở đâu đó, như bản Sam Lang này, sinh mệnh con người lại “phơi” dưới trời. Bập bềnh cùng nước lũ.

Chỉ vì thiếu một cây cầu kiên cố…

Hải Tâm

Gặp người lính ở bên kia biên giới

Dean Peng, một nhà báo với 17 năm cầm bút và là bloger rất nổi tiếng ở Bắc Kinh nhắn: “Trong 3 ngày 5, 6, 7 tháng 3 này, cựu binh Trung Quốc sẽ tưởng niệm những người bạn đã chết của họ ở chính nơi xảy ra trận chiến, có thể chúng ta sẽ nói chuyện được với vài người trong số đó.
 

Nghĩa trang Bình Biên, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc
 

“Tôi sẽ đi từ Bắc Kinh xuống, chúng mình đón nhau ở biên giới. Tiểu đoàn này tham chiến từ ngày 5/3/79 và chỉ trong 3 ngày đó gần 2/3 bị chết và thương vong,” ông Peng nhắn tôi.
Tính chất bi thảm này lập tức làm tôi chú ý, họ bị chết 10 ngày trước khi cuộc chiến chấm dứt, chỉ có ba ngày chuẩn bị, tôi vội vàng gọi điện cho một bạn trẻ sinh năm 1978, giỏi tiếng Anh và ham tìm hiểu lịch sử, đặc biệt là cuộc chiến tranh hầu như bị quên lãng này.

Vội vàng lên sứ quán Trung Quốc làm visa “khẩn cấp” và hai anh em vác ba lô lên đường.

Dean đón chúng tôi với vẻ mặt thất vọng, anh nói: “Đến phút cuối cả chính quyền và cựu chiến binh đều rút lui, một vài người nói họ chưa chuẩn bị tinh thần để gặp cựu chiến binh Việt Nam, tôi cũng đang bế tắc”.

Chúng tôi kéo nhau đến địa điểm xảy ra cuộc chiến. Không có ai, cây cầu nhỏ dẫn xuống bãi đất ven sông Hồng nơi tiểu đoàn đó tập trung trước khi đổ bộ sang Việt Nam có mấy cảnh sát Trung Quốc đứng gác ngăn cản không cho người đi xuống.

Quay về khách sạn Dean bàn, “hay từ ngày mai chúng ta đi đến các nghĩa trang, biết đâu lại gặp cựu binh nào đó đến tưởng niệm đồng đội của họ”.

Sáng sớm hôm sau, chúng tôi đến một nghĩa trang tại Hà Khẩu. Nghĩa trang rộng lớn với hàng ngàn ngôi mộ, được chăm sóc cẩn thận nhưng vắng tanh không một bóng người.

Dean nói: “Đi Bình Biên, nơi đó có một khu tưởng niệm khá lớn”. Chúng tôi lại lên đường.

Nghĩa trang Bình Biên
 

 

Các nghĩa trang liệt sĩ ở tỉnh Vân Nam khá vắng lặng 

Hà Nội vẫn đang mưa rét, nhưng cao nguyên Vân Nam đã bừng ánh nắng và hoa nở khắp nơi, nhất là cây hoa gạo người Trung Hoa gọi là “mộc miên” dọc con đường sắt Hà Nội – Vân Nam tung lên bầu trời những đóa hoa đỏ như máu. Nó làm tôi nhớ lại mùa hoa này những ngày tháng 2/79 cũng nở dọc đường Cao Bằng đón chúng tôi trên đường ra trận.

Bình Biên là thị trấn thanh bình nằm trong một thung lũng nhỏ.

Dean dẫn chúng tôi đến nghĩa trang, anh chỉ tấm biển ghi tên con đường dẫn đến nghĩa trang nói, “nó được đổi tên thành “Đường Vệ Quốc” sau tháng 2/79″.

Nghĩa trang nằm ở cả hai bên con đường lớn, trập trùng bia mộ nằm khắp triền đồi. Có 4, 5 người đàn ông đang đứng nghe chim họa mi hót trong những chiếc lồng treo trên cây.

Hỏi chuyện họ chúng tôi được biết họ chính là những người trông coi, chăm sóc nghĩa trang. Một người đứng tuổi nói ông ta đã làm ở nghĩa trang này từ năm 79, ông kể, “có những ngôi mộ không có hài cốt, chúng tôi chỉ chôn xuống đó một bộ quần áo và tấm biển tên người đã chết”.

Chúng tôi hỏi có biết những người này chết ở đâu và vì sao lại chết thì họ trả lời: “Chết ở Việt Nam và không biết vì sao họ chết”.

Có mấy bạn trẻ cả nam và nữ đứng quanh đó, một bạn lên tiếng, “họ sang giúp Việt Nam đánh Mỹ và hy sinh ở đó”. Một bạn khác chen vào: “Họ đánh nhau với Việt Nam”.

Dean hỏi có biết vì sao lại đánh nhau với Việt Nam không thì bạn đó lắc đầu. Dean hỏi tiếp: “Nếu bây giờ lại đánh nhau với Việt Nam, bạn có sẵn sàng cầm súng?”. Bạn trẻ lắc đầu kiên quyết: “Pú tả” (không đánh) vì chúng ta đâu có hận thù”.

Khi biết chúng tôi là người Việt Nam họ ồ lên và đồng ý chụp ảnh chung.

Lên đến gần đỉnh đồi, có một ngôi mộ được dán tờ giấy ép plastic, đó là bài thơ đề ngày 17/1/2014.

Dean dịch cho chúng tôi nghe bài thơ đó, tim tôi như bị bóp lại, vinh quang hay anh hùng phải trả với giá xương máu thế này sao?

Tôi nhớ lời kể của một cựu tù chính trị ở Việt Nam nói với tôi:”Chú là tù chính trị nên bị giam ở xà lim riêng, một lần có người gửi cho chú một điếu thuốc lá, trong đó có mẩu giấy nhỏ ghi dòng chữ “Người ta nghiêng mình trước một người anh hùng đã chết, nhưng một tráng sỹ còn sống đáng quý hơn.””

Cả đêm đó chúng tôi thao thức, tôi và anh bạn trẻ bàn nhau sáng sớm hôm sau quay lại nghĩa trang gỡ bài thơ trên mộ mang theo cuộc hành trình.

Từ chối gặp 
 

Bài thơ bằng tiếng Trung trên một nấm mộ ở nghĩa trang Bình Biên 

Hôm sau chúng tôi quyết định đi Mã Lật Pha vì nơi đó gần Lão Sơn nơi chiến tranh kéo dài đến 10 năm.

Trên đường đi tình cờ một kỹ sư trẻ đang công tác tại đường cao tốc Côn Minh đồng ý tìm giúp chúng tôi những người cựu binh sống ở Mã Quan (quê của anh), chúng tôi dừng ở Mã Quan chiều hôm đó, nhưng rồi cũng không gặp được.

Anh bạn kỹ sư lại giới thiệu tiếp người thợ ảnh tại Mã Lật Pha, anh nói, “anh ấy là cựu binh và nhiều năm nay chuyên chụp ảnh các cựu chiến binh đưa lên mạng internet”.

Dean gọi điện cho người thợ chụp ảnh, người thợ đồng ý sẵn lòng gặp chúng tôi và sẽ giới thiệu các cựu binh khác bạn của anh. Chúng tôi bàn nhau khi xong việc ở Ma li pho tôi sẽ về Việt Nam (cách biên giới Hà Giang – Việt Nam hơn 30km) còn Dean sẽ quay về Bắc Kinh.

Tối hôm đó, khi đến nhà người thợ ảnh, anh lại cho biết những người cựu chiến binh khác gửi lời xin lỗi vì không gặp chúng tôi được, họ sợ và “chưa chuẩn bị cho tình huống này”.

Anh thợ ảnh tặng tôi một cuốn sách tường thuật cuộc chiến năm 79 có rất nhiều ảnh tư liệu và nói: “Bây giờ chưa bàn đúng sai, tôi nghĩ những người lính cả hai bên đã nằm xuống cần được nhớ tới và tưởng niệm, nếu có dịp đến Việt Nam tôi cũng sẽ đến các nghĩa trang liệt sỹ để tường niệm họ”.

Tối đó khoảng 2200 (giờ địa phương) chúng tôi bị một nhóm cảnh sát vũ trang đến tại phòng kiểm tra giấy tờ.

Sáng hôm sau khi xuống sảnh khách sạn, một nhóm người mặc thường phục đã chờ sẵn, họ hỏi tôi vài câu nhưng vì tôi không biết tiếng Trung nên không hiểu, một người rút máy ảnh chụp tôi rất ngang nhiên, khi Dean xuống anh tranh cãi với họ một hồi rồi quay sang tôi: “Họ bảo nếu hôm nay muốn đi đâu họ sẽ có xe chở chúng ta đi”.

Tôi đồng ý và bảo chờ chừng 10 phút để tôi lên phòng mang theo máy quay và máy ảnh. Khi quay lại thì họ đã bỏ đi, Dean cười, “khi biết anh mang theo máy quay phim, họ bỏ đi rồi, tôi bảo họ: ”Sao lại bỏ đi, các ông làm chúng tôi mất một cơ hội tiết kiệm tiền taxi hôm nay rồi””.

Chúng tôi đều cười vui vẻ. Dean nói: “Ra nghĩa trang thôi, ông quản lý nghĩa trang nói mẹ ông ta sẵn sàng cho chúng ta phỏng vấn, bà làm ở đây từ năm 79”.

Theo dõi 
 

Bức tượng tưởng nhớ lính Trung Quốc bên ngoài nghĩa trang Mã Lật Pha
 

Không ngờ khi đến nơi nhóm người buổi sáng đã chờ sẵn nhưng có thêm 2 cô gái, khi tôi chụp ảnh cô nói bằng tiếng Việt “Quản lý nghĩa trang chỉ cho phép tham quan mà không được chụp ảnh” và họ đi theo chúng tôi chỉ cách vài chục mét.

Đây là nghĩa trang rộng lớn, địa thế đẹp và được chăm sóc kỹ lưỡng, nó giống một công viên hơn là một khu nghĩa trang, khi hỏi về số lượng mộ, người của nghĩa trang cho chúng tôi một con số giật mình: 9.060 người.

Tiến về phía cô gái tôi hỏi:

– Bọn anh có giống người xấu không?

-Không giống đâu.

– Vậy tại sao anh lại có cảm giác đang bị theo dõi?

Cô xua tay nói lớn:

– Không phải thế đâu, không phải thế anh ơi!

– Vậy em giải thích cho anh xem tại sao lại có hiện tượng này?

Cô ngập ngừng một chút rồi nói:

– Lần đầu tiên có người Việt Nam đến đây.

À ra vậy, tôi nói mình là bộ đội Việt Nam có tham gia chiến tranh tháng 2/79 và lý do tìm đến đây.Cô gái nói:

– Hai nước giao lưu thì tốt mà, nhưng anh em trong nhà cũng có lúc cãi nhau, đánh nhau mà? – Cô khoa tay chỉ một vòng và tiếp:

– Nhắc lại làm gì, đau lòng lắm.

Tôi gặng:

– Tại sao không nhắc, anh nghĩ nhắc lại để cho con cháu chúng ta không bao giờ làm những việc đau lòng như vậy nữa càng tốt chứ sao? Còn hơn là giả vờ quên.

Cô cười và trả lời thật thú vị:

– Em không biết đâu, việc đó là để cho đàn ông làm thôi.

Chúng tôi cùng cười và trao đổi thêm mấy câu riêng tư về gia đình nghề nghiệp.

Rồi cô quay lại nhóm mấy người đàn ông, chắc là kể lại cuộc trao đổi với tôi. Khi chúng tôi ra về thì họ không theo nữa.

Cậu em đi cùng cười khùng khục: “Em lén ghi âm lại cuộc nói chuyện của anh với cô bé đó rồi”. Cách làm này không đẹp nhưng sự quyến rũ có được những tư liệu đó cũng khó cưỡng.

Anh bạn Bắc Kinh thông báo, “có mấy cựu chiến binh đồng ý gặp nhưng chúng ta phải quay lại Văn Sơn, anh tính sao?”

Trời! Ông ma xó này, còn chần chờ gì nữa, chúng tôi lập tức lên đường.

Hố sâu lịch sử 
 

Từ trái sang: Dean Peng, Tian Yue (từng là lính bộ binh), Ngô Nhật Đăng, Xie Yong Gui (lính pháo binh) 

Chúng tôi đến Văn Sơn vào buổi chiều, hai cựu binh Trung Quốc đến khách sạn tìm, một là lính pháo binh và người kia là bộ binh, một người nói, “người bạn quân y xin lỗi không đến được, anh ấy chứng kiến quá nhiều cái chết và thương tật của bạn bè, rất sợ gợi lại những ký ức kinh hoàng ấy”.

Như mọi người lính, chúng tôi ôm nhau rất chặt như từng đã quen biết. Anh bạn bộ binh mở cho chúng tôi xem blog của anh ấy, có ảnh thời mới nhập ngũ, một chàng trai trẻ khoác trên người cả một băng đạn đại liên. Và thật thú vị có cả ảnh anh tham dự Buổi gặp mặt truyền thống trung đoàn của Việt Nam.

Chúng tôi rủ nhau đi thăm thành phố, chụp ảnh lưu niệm và trong bữa cơm chúng tôi nói với nhau rất nhiều. Từ chuyện chúng tôi được nghe những gì từ truyền thông vì sao chúng tôi lại bắn giết nhau đến mức tàn nhẫn như thế, bạn bè nào của nhau đã ngã xuống vĩnh viễn. Toàn những chuyện kinh khủng nhưng nói ra được cũng làm nhẹ lòng.

Chúng tôi được nghe về sự xâm lăng tàn bạo của Trung Quốc, giết người, hãm hiếp, tàn phá… Tôi cũng được chứng kiến những đống hoang tàn của các thành phố, làng mạc Việt Nam sau khi Trung Quốc rút quân.

Các bạn đều được tập trung hai ngày trước khi ra trận để xem những cuốn phim về “Việt Nam bài xích người Hoa”, được nghe các chính trị viên kể họ đã trực tiếp chứng kiến từ bên kia biên giới cảnh bộ đội Việt Nam tàn sát Hoa kiều man rợ ra sao. Tất cả đều khóc ròng và căm thù sôi sục.

Chúng tôi đã cầm súng lao vào nhau như đối với kẻ thù không đội trời chung như vậy đó.

Chúng tôi kể chuyện gia đình, kể việc mưu sinh sau khi giải ngũ, khoe nhau ảnh gia đình, vợ con, cháu ngoại, người lính bộ binh thì đã ly dị, anh trầm ngâm uống rượu.

Anh bạn pháo binh nói, “chúng ta đang sống, nói cười như người bình thường, chỉ một tiếng kèn hiệu ta bỗng biến thành người khác.

“Chúng ta đã bị lừa dối, bị biến thành công cụ. Không có ai khao khát hòa bình như những người lính. Vạn nhất sau này có xảy ra chuyện đó một lần nữa, chúng ta là những người phải kiên quyết chống lại dù phải hy sinh mạng sống của mình.”

Chúng tôi đứng nghiêm chào nhau theo tư thế người lính một cách trang trọng.


Câu thơ của Âu Dương Tu viết lại bằng tiếng Trung được chụp ảnh ‘lia lịa’ 

Chưa bao giờ trong đời tôi uống nhiều rượu như thế, tôi đọc câu thơ của Âu Dương Tu: “Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu” (tri kỷ gặp nhau uống ngàn chén còn ít).

Anh bạn Bắc Kinh viết lại câu đó bằng tiếng Hoa, đặt trước ngực hai chúng tôi chụp lia lịa.

Anh bạn bộ binh nâng cốc nói, “có những thằng chết đi mà chưa từng nắm tay phụ nữ. Hãy uống cho những thằng may mắn còn sống sót”.

“Chúng tôi muốn sang Việt Nam đi thăm nghĩa trang Trường Sơn. Chúng ta hãy lập một công ty toàn là cựu chiến binh hai nước, hãy cùng nhau kiếm tiền, bất cứ thằng nào trong chúng ta mà làm bậy thì…”

Anh uống cạn chén rượu, bàn tay chặt mạnh vào không khí, mồm kêu: “Pập”.

Trên đường về Việt Nam trong đầu tôi cứ vương vất câu nói của anh kỹ sư trẻ trên đường cao tốc Côn Minh, “với tình hình căng thẳng hiện nay giữa hai nước, chiến tranh khó có thể xảy ra nhưng trở thành bạn bè thì cũng khó”.

Một nhà Sử học Việt Nam cũng coi cuộc chiến năm 79 là “một vết hằn lịch sử trong quan hệ hai nước”.

Tôi thì nghĩ, đó không chỉ là một vết hằn mà là một hố sâu, thay vì quên nó đi (mà chắc gì quên được) tại sao ta không nghĩ cách lấp nó lại. Vâng, rất khó nhưng chẳng lẽ lại không làm.

  Ngô Nhật Đăng
  (BBC)

Nguyễn Du với Từ Hải trong Truyện Kiều

Đoàn Hữu Hậu

Một danh nhân người Pháp nói: “Ở một nhà văn, ước vọng là hiện thân của tính khí thực, bị dồn ép không được quyền phát triển.” Căn cứ vào nguyên tắc ấy, ta thử xem xét cái mộng Từ Hải của Nguyễn Du đã tố giác những yếu tố nào của tính khí Nguyễn Du – Đại thi hào.

Từ Hải có lẽ là nhân vật Nguyễn Du yêu thích nhất trong tieu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân.

Nguyên Từ Hải trong lịch sử trung Quốc chỉ là một tên giặt bể. Theo sách Ngu-Sơ Tân Chí của Dư Hòai thì Từ Hải rủ bọn ngụy nô vào cướp đất Giang Nam vào năm Gia tỉnh triều Minh. Trong lúc kéo quân vào Giang Nam, Từ Hải có bắt được mấy người con hát trong đó có Thúy Kiều. Thúy Kiều là một người con gái đẹp, đàn giỏi hát hay. Từ Hải yêu Kiều và lấy làm vợ. Sau vì muốn về quê nhà nên Kiều xúi Từ Hải ra hàngquân Triều đình. Bị mắt mưu Hà Tôn Hiến, Từ chết giữa trận tiền. Kiều không bằng lòng lấy HàTôn Hiến nên tự tử ở sông Tiền đường.Còn một vài truyền thuyết khác, nhưng nhìn chung đều xem Từ Hải là một tên giặc làm loạn.

Dưới ngọn bút của Thanh Tâm Tài Nhân, Từ Hải đã biến ra vị anh hùng hào kiệt tài hoa , đương đầu với triều đình nhà Minh. Cốt cách là bậc trượng phu cái thế mà tâm hồn lại đa tình như một thi nhân. Khi đọc được Kim-Vân- Kiều truyện, Nguyễn Du có tình cảm ngay với viên danh tướng phong tình Từ Hải. Đã có một thời gian chìm nổi, Nguyễn Du cũng muốn sống một tình yêu cuồng phóng như thế. Nên đến lượt mình, Đại thi hào Nguyễn Du đã xây dựng hình tượng Từ Hải lên một bước mới, một vị anh hùng trong tưởng tượng, thể hiện nguyện vọng thầm kín của mình. Vị anh hùng ấy, ngòai thói đa tình kia lại còn hai đức tính đặc biệt khác nữa là, lòng kiên hãnh, chí độc lập ngang tàng. Không ai có thể tự phụ và kiên hãnh hơn được Từ Hải trong truyện Kiều. Tính tự phụ thái quá nầy do đức tự tin thái quá sinh ra. Từ Hải sớm biết mình là vị anh hùng ngay từ lúc còn trong bước phong trần. Từ tin rằng thế nào mình cũng thắng trong cuộc chiến với triều đình, cho nên cái ý thức của Từ Hải về tài năng và vận mệnh mình rất là phong phú, sáng sủa.

Lúc gặp Thúy Kiều lần đầu, Từ Hải đem ngay cái tự phụ của mình đối chọi với cái tự phụ của người kỹ nữ, vốn nổi tiếng là hay bắt bậc làm cao trong việc “chọn đá thử vàng”.

Lời mở đầu câu chuyện của Từ với Kiều mạnh và sắc như một mũi kiếm bậc thầy đâm thẳng vào họng đối phương:

Từ rằng tâm phúc tướng cờ
Phải người trăng gió vật vờ hay sao?
Bấy lâu nghe tiếng má đào
Mắt xanh chẳng để ai vào đó không?
Một đời được mấy anh hùng
Bỏ cho cá chậu chim lồng mà chơi.
Rõ là khẩu khí của một người hiểu rõ mình, Kiều đáp:
Thưa rằng lượng cả bao dung
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen

Kiều có ngụ ý mong mỏi và tin tưởng Từ Hải sẽ được hiền hách như Đường Cao Tổ hưng vương ở Tấn Dương.

Từ Hải hòan tòan là hiện thân của tính kiêu hãnh. Nhưng đây là thứ kiêu hãnh xứng đáng, đang hòang, thứ kiêu hãnh của những người tự tạo ra cuộc đời hiển hách của mình, thứ kiêu hãnh giúp con người vượt lên ý tưởng ” túi cơm giá áo”. Thứ kiêu hãnh giúp cho tính thần vượt lên những “bụi bặm” của cuộc đời ô trọc.

Không phảiTừ Hải chỉ tự phụ lúc chưa hiển đạt, không phải Từ Hải chỉ kiêu hãnh lúc thành công, Từ Hải còn kiêu hãnh cả lúc nguy biến, lúc sa cơ, lúc chết:

Tử sinh liều ở trận tiền
Dạn dày cho biết gan lì tướng quân
…Khí thiêng khi đã về thần
Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng
Trơ như đá, vững như đồng
Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời

Từ Hải thất bại nhưng đã chiến đấu. Từ Hải chết nhưng chết đứng – chết với lòng kiêu hãnh khôn cùng. Chết mà vinh hơn kẻ thành công mà nhục. ” Từ Hải chết đứng” là một pho tượng hào hùng tiết ra một luồng sáng vụt ngang mày kẻ phản trắc. Cái chết gan lì của kẻ anh hùng chiến đấu đến phút cuối cùng, cái chết yên lặng không một tiếng kêu, không một giọt lệ, không một cái thở dài. Cái chết phi thường ấy là sự kết liễu tất nhiên của một con người có tâm hồn đầy dũng khí, đầy tin tưởng, đầy thành thật. Cái chết đứng của Từ Hải là một lời nguyền rủa ngàn đời ném vào mặt những kẻ sống bằng lừa lọc, bằng mưu mô xảo trá.

Từ Hải là một tượng trưng rất trong trẻo của tính đa cảm, của đức tự tin của lòng kiêu hãnh tuyệt đối. Có thể nói suốt cả truyện Kiều, Nguyễn Du miêu tả các nhân vật, không ai đẹp bằng Từ Hải, dễ quyến rũ bằng Từ hải. Từ Hải tự phụ mà ta kính yêu, Từ Hải kiêu ngạo mà ta mến phục. Lâm vào cái chết đáng thương mà ta không được phép thương, mắc vào lưới mưu kẻ thù mà ta không được phép chê. Vì thử hỏi trong chúng ta, đã dễ mấy ai tự phụ được chết như Từ Hải?!…Đó là cái chết vì “tình yêu”. Hãy đọc kỹ mà thấy, trong ái tình, trong sự nghiệp, trong biến cố, Từ Hải lúc nào cũng thẳng thắn hồn nhiên như một sức sống thuần túy giữa trời đất.

Được như vậy là bởi Từ Hải có một đặc tính mà không phải bất kỳ ai cũng có được. Đó là chí độc lập ngang tàng. Bình sinh Từ Hải vẫn không chịu được sự khuất phục:

Giang hồ quen thói vẫy vùng
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo

Tính độc lập của Từ Hải chỉ có thể thua một sức mạnh tinh thần khác cũng ở trong tâm hồn. Sức mạnh ấy là ái tình.

Từ Hải chết có phải mắc mưu Hồ Tôn Hiến đâu. Từ Hải chết vì quá yêu Thúy Kiều, quá tin Thúy Kiều. Từ Hải chết vì cái say sưa của trái tim mình. Từ Hải chết vì tình. Chí độc lập của Từ Hải chỉ có thể siêu đổ được vì … tình. Lúc chết đứng giữa trận tiền, cái chân cứng đờ của Từ Hải cũng chỉ ngã xuống vì tình. Cái thân mà ” ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời” đó chỉ rơi xuống vì tiếng khóc của Kiều mà thôi.

Khóc rằng: ” trí dũng có thừa
Bởi nghe lời thiếp đến cơ hội nầy
Mặt nào trông thấy nhau đây
Thà liều sống chết một ngày với nhau”
… Lạ thay! oan khí tương triền
Nàng vừa phục xuống, Từ liền ngã ra

Chí ngang tàng, lòng kiêu hãnh, tình yêu say đắm đó là ba tính cách nền tảng của tâm hồn Từ Hải. Đó cũng là ba tính cách nền tảng của tâm hồn thi sĩ Nguyễn Du. Có điều ở nguyễn Du, ba tính cách ấy không được phát triển dồi dào như ở Từ Hải. Ở nguyễn Du ba tính cách ấy bị kiềm chế, dốn ép… Trong đời Nguyễn Du, chỉ được lóe ra một phút rồi bị dập tắt ngay. Biết mình bất lực, đành chấp nhận làm một kẻ thất chí, ông đành xếp kiếm cung vào một gánh, xếp chí ngang tàng vào một túi, rồi một bóng một hình ” nghêu ngao vui thú yên hà, Mai là bạn cũ, hạc là người thân” . Tuy thất bại nhưng Nguyễn Du vẫn tự cao, tự đại về địa vị quý tộc của mình. Ông vẫn tin rằng ông thanh cao gấp trăm gấp ngàn lần những kẻ cong lưng quỳ gối đề mua chút vinh hoa phú quý lúc đương thời. Nguyễn Du miêu tả khí tiết Từ Hải cũng là để nói lên quan điểm của mình:

Phong trần mài một lưỡi gươm
Những phường giá áo túi cơm ra gì.

Nói lên sự suy nghỉ của Từ hải, lúc Hồ Tôn Hiến dụ hàng, Nguyễn Du nói lên tâm sự của mình:

Bó thân về với triều đình
Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu
Áo xiêm trói buộc lấy nhau
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi?

Nguyễn Du khinh bỉ bọn nho sĩ, không liêm sĩ, ra làm quan cho”ngụy triều” ( Triều đại Tây Sơn) . Ở cái khinh bỉ ấy, nảy nở ra sự kiêu hãnh của kẻ “cô trung độc tỉnh”.

Khi Gia Long lên ngôi Hòang đế cho mời ông ra làm quan thì ông lại không giữ nổi thái độ cô trung lúc trước. Ông ra làm quan cho triều Nguyễn và bị nhóm Nho sĩ khinh bĩ chê bai thậm tệ. Người ta liệt ông vào hạng Bá Di, Thúc Tề vì đói quá không ăn được rau đắng ở núi, phải bò ra ăn gạo nhà Chu. Suốt thời gian phục vụ triều đình nhà Nguyễn ( 18 năm) lòng kiêu ngạo của ông bị dồn ép, bị đè nén, bị chà đạp… cho đến khi ông đọc được Từ hải trong cuốn tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Từ đó Nguyễn Du liền phóng cái kiêu ngạo thầm kín ấy vào con người, vào khẩu khí, vào hành động của Từ Hải.

Nguyễn Du bằng lòng để Từ Hải chết là để thỏa mãn được ước vọng thầm kín của trái tim ( muốn chết như Từ Hải để trọn danh tiết một kẻ thất thế) vừa thỏa mãn được bản ngã trí thức, hợp với thời đại và đẳng cấp. Từ Hải chết cũng như tinh thần cô trung của Nguyễn Du chết. Cho nên trong cái sống vinh hoa của phần cuối đời, ông luôn hòai niệm đến chí ngang tàng thuở cũ… Hòai niệm để ân hận và để xót xa …

Ở cái chết vì tình của Từ Hải, thể hiện sự ao ước được chết hơn là sống trong cảnh giàu sang của Nguyễn Du. Tôi nghỉ, theo ông, chỉ có cái chết mới tinh khiết hóa được con người. Ông đã sống sung sướng bằng cái chết của vai trò. Ông đã tiết ra hết được cái ước vọng,khí chất của mình bằng cái cử chỉ oanh liệt của nhân vật Từ Hải.

Tôi thích nhân vật Từ Hải, kính phục, thông cảm với Nguyễn Du, nên viết lên những dòng này, góp vui cùng bạn đọc./.

© Đoàn Hữu Hậu,


 

Đoàn Hữu Hậu
Là nhà văn, nhà báo được đào tạo tại Phân viện Báo chí và Tuyên truyền TP Hồ Chí Minh, hiện đang sống và làm việc tại Rạch Giá – Kiên Giang, Việt Nam….

NGHIÊN CỨU “TUYÊN BỐ VỀ LÃNH HẢI CỦA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA” NĂM 1958 –


NGHIÊN CỨU “TUYÊN BỐ VỀ LÃNH HẢI CỦA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA” NĂM 1958

(Có nguyên văn Tuyên bố chữ Trung Hoa ở sau  – Công bố này ngày 4/9/1958)

Davang

Đôi lời: Dịch giả Quốc Trung gửi đến và Da Vàng Blog xin trân trọng giới thiệu đến quý độc giả một bài viết rất quý giá. Bản dịch này nói về “Tuyên bố lãnh hải” của TQ.  Động cơ của tôi (ND) là cung cấp tư liệu cho ai muốn nghiên cứu về bối cảnh ra đời của bản Tuyên bố này, nhằm giúp ích cho việc bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông.

Ngoài ra, từ nghiên cứu này cho thấy quan niệm và cách làm từ phía TQ rất chu đáo, có tính toán trước sau kỹ càng. Cách làm đáng để các nhà nghiên cứu trong nước xem xét, suy nghĩ.

Đề dẫn nội dung

Căn cứ theo nguyên tắc chủ quyền quốc gia, trên cơ sở tổng kết lí luận và thực tiễn về quản lí lãnh hải TQ, kết hợp với thực tế quốc tế và những nguyên tắc của luật quốc tế đã được công nhận, năm 1958, chính phủ TQ đã ra “Tuyên bố về  lãnh hải của chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”

Chính văn

Lãnh hải chỉ chủ quyền của các nước ven  biển cùng một vùng biển liền kề nằm ngoài lãnh thổ đất liền và nội thủy của các nước đó. Nó là phần kéo dài trên biển của lãnh thổ quốc gia, giống như mọi bộ phận khác thuộc lãnh thổ quốc gia, các nước ven biển được hưởng thẩm quyền độc quyền về tất cả mọi người và mọi vật trong vùng lãnh hải. Trung Quốc nằm bên bờ tây Thái Bình Dương, các vùng biển lân cận đại lục và đảo của Trung Quốc thuộc thẩm quyền và quyền sử dụng hết sức rộng. Để thừa hành một cách có hiệu quả chủ quyền và thẩm quyền lãnh hải, bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ lợi ích biển, căn cứ theo thực tiễn quốc tế và các nguyên tắc của Luật quốc tế, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Ủy ban thường vụ Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc khóa 1 đã họp Hội nghị lần thứ 100 để phê chuẩn “Tuyên bố về  lãnh hải của chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” (dưới đây gọi tắt là “Tuyên bố lãnh hải”).

I.  Bối cảnh lịch sử và thời đại công bố “Tuyên bố lãnh hải”

Sau năm 1840, trước sự công kích ác liệt của pháo hạm Phương Tây, các quyền lợi về biển như  mở cửa biển ngoài khơi, quyền vận chuyển ven biển, quyền quản lí cảng, quyền vận chuyển trên sông nội địa… đều bị tước đoạt sạch: “Các cường quốc đế quốc đã căn cứ vào bản Điều ước bất bình đẳng để không chế tất cả mọi cảng thông thương,… trọng yếu của TQ. Chúng khống chế cả hải quan và buôn bán với nước ngoài của TQ, khống chế cả giao thông (trên biển, trên đất liền, trên sông, và trên không) của TQ.  ” [1]  Trước sự xâm nhập trên biển của các cường quốc Phương Tây, TQ cũ tuy có có chú ý đến vấn đề lãnh hải, song chưa hề xây dựng chế độ lãnh hải độc lập một cách thực sự. Như bản “Điều ước thông thương hữu hảo” được kí kết giữa nhà Thanh với Mêhicô qui định: “ Hai bên đều lấy đường bờ biển đi lại là 3 lectra (tức 9 hải lí) làm thủy giới, lấy mốc thủy triều hạ làm chuẩn”.  “Thủy giới” ở đây xét về chừng mực nào đó là mang ý nghĩa lãnh hải, song mục đích của nó là: “Thủy giới được thực hiện bám theo điều lệ hải quan của nước đó, đồng thời tìm mọi cách luồn lách để buôn lậu, trốn thuế”,  [2] Điều này có phần khác với lãnh hải hiểu theo nghĩa hiện đại. Ở thời kì Dân Quốc thì bệ nguyên si độ rộng lãnh hải và phép phân chia của các nước Anh, Mĩ… mà qui định phạm vi lãnh hải của  TQ là 3 hải lí, tổng số dặm chống buôn lậu (tức vùng tiếp giáp) là 12 hải lí, phạm vi lãnh hải được tính từ đường nước đáy (tức đường căn bản thông thường). Độ rộng lãnh hải hẹp như vậy trên thực tế là bất lợi đối với TQ, bởi vì một quốc gia nghèo nàn lạc hậu như TQ quyết không thể đi xâm phạm lãnh hải của một cường quốc, còn các cường quốc thì lại có thể trắng trợn mặc sức muốn làm gì thì làm ở vùng biển gần TQ. Hơn nữa, do các nhà thống trị TQ cũ thối nát bất tài , ngay cả quyền vận chuyển trên sông cũng dâng cho các cường quốc Phương Tây, để đến nỗi các đoàn thương thuyền  và quân hạm của nước ngoài không chỉ có thể tự do ngang ngược vào ra vùng lãnh hải của nước ta, mà còn có thể đi thẳng vào đường sông của TQ. Tình trạng TQ cũ có biển mà không biết giữ, vùng lãnh hải và vùng tiếp giáp vô tác dụng đã để lại cho chúng ta một bài học đau xót.

Sau khi nước TQ mới được thành lập năm 1949 đã rất coi trọng chủ quyền lãnh hải, đã phế bỏ bản Điều ước bất bình đẳng thời cận đại, đã bước vào một giai đoạn lịch sử mới về phương diện khai thác, sử dụng, quản lí lãnh hải…, đã ban bố một loạt chế độ qui định có liên quan đến vấn đề lãnh hải: (1) Về vấn đề quản lí cảng và giám sát cảng vụ, năm 1954 đã công bố  “Điều lệ tạm thời về quản lí hải cảng”;  (2)  Về vấn đề quản lí tàu thuyền, năm 1957 đã ban bố “Biện pháp quản lí ra vào cảng của các tàu thuyền có quốc tịch nước ngoài”;  (3) Về vấn đề quản lí eo biển, năm 1956, để bảo đảm sự an toàn cho sự đi lại ở eo biển Bột Hải, đã ban bố “Qui định về các thương thuyền đi qua đường thủy Lão Thiết Sơn”;  (4)  Về vấn đề bảo vệ nguồn tài nguyên thủy sản và quản lí nghề cá trên biển, năm 1955 đã công bố “Mệnh lệnh về khu cấm đánh bắt cá nghề ngư lưới kéo bánh xe ở Bột Hải, Hòang Hải và Đông Hải”;  (5)  Về vấn đề quản lí hải quan, năm 1951 đã ban bố “Luật hải quan tạm thời của nước CHND Trung Hoa”;  (6) Về vấn đề chủ quyền các đảo ven biển, năm 1951 Chu Ân Lai đã nhấn mạnh trong “Tuyên bố về Bản phác thảo Hòa ước của Mĩ Anh đối với Nhật và Hội nghị Cựu Kim Sơn”:  “Quần đảo Tây Sa (tức Hòang Sa-ND) và đảo Nam Uy cũng giống như tòan bộ các quần đảo Nam Sa (tức Truờng Sa-ND), quần đảo Trung Sa, quần đảo Đông Sa, xưa nay là lãnh thổ của TQ”. Vì thế, nước TQ mới có chủ quyền bất khả xâm phạm đối với đảo Nam Uy và quần đảo Tây Sa (tức Hòang Sa-ND). Nhân dân TQ cũng quyết không cho phép chính phủ Mi xâm chiếm lâu dài Đài Loan lãnh thổ của TQ;  “đồng thời bất cứ lúc nào cũng không hề từ bỏ trách nhiệm thiêng liêng giải phong Đài Loan và quần đảo Bành Hồ”. Năm 1956, người phát ngôn Bộ ngọai giao nước ta đã nêu rõ trong “Tuyên bố về vấn đề chủ quyền quần đảo Nam Sa (tức Truờng Sa-ND):   “Chủ quyền hợp pháp của TQ đối với  quần đảo Nam Sa (tức Truờng Sa-ND) quyết không cho phép bất kì quốc gia nào xâm phạm với bất cứ cớ gì và sử dụng bất cứ hình thức nào”.  [3]  Ngòai những chế độ qui định và tuyên bố đề cập đến vấn đề lãnh hải đó ra, các học giả chuyên gia khi ấy cũng đã bắt đầu nghiên cứu nghiêm túc về vấn đề lãnh hải, như chuyên gia về luật hàng hải Ngụy Văn Hán nhấn mạnh độ rộng lãnh hải của chúng ta “cần đưa ra quyết định sau khi đã có sự xem xét  tổng hợp mọi tình hình về tình trạng cụ thể, quốc phòng và an ninh, phúc lợi nhân dân…ở vùng ven biển nước ta”, ông cho rằng TQ cần sử dụng Luật về đường căn bản trực tuyến để họach định độ rộng lãnh hải, độ rộng này không nên ít hơn 12 hải lí. Tháng 12 năm 1957, trước ngày khai mạc Hội nghị lần thứ nhất của Liên Hợp Quốc tại Giơnevơ, tờ “Nhân dân nhật báo” đã đăng bài viết có nhan đề “Chủ quyền lãnh hải và tự do công hả”, bác bỏ luận điệu của Mĩ, Anh chủ trương lấy độ rộng lãnh hải 3 hải lí làm qui phạm chung cho luật quốc tế, nhấn mạnh thực tiến của tuyệt đại đa số các nước cho thấy, độ rộng lãnh hải cần do các nước ven biển căn cứ theo tập quán lịch sử, lợi ích kinh tế và an ninh quốc gia của mình mà tự do quyết định”. [4] Các biện pháp quản lí về lãnh hải ở thời kì đầu dựng nước và thành quả nghiên cứu về vấn đề lãnh hải của các học giả chuyên gia đã cung cấp những cơ sở lí luận nhất định cho việc phát biểu “Tuyên bố lãnh hải” của nước ta năm 1958.

Xét từ những nguyên nhân trực tiếp trong hiện thực, sau khi nổ ra cuộc Chiến tranh Triều Tiên, nước Mĩ đã quyết định dùng vũ lực để ngăn cản TQ đại lục giải phóng Đài Loan, đã ra lệnh cho Hạm đội 7 hải quân tiến vào eo biển Đài Loan. Khi cuộc Chiến tranh Triều Tiên kết thúc, nước Mĩ không những vẫn tiếp tục nằm ỳ lại ở Đài Loan, mà còn liên tục phái quân hạm xâm nhập trắng trợn vào các khu vực ven biển như Hạ Môn…, đồng thời đìều máy bay chiến đấu hải quân xâm nhập vùng trời lãnh hải của các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông…, mở rộng phạm vi xâm lược đối với nước ta. Sự khiêu khích quân sự lộ rõ này của nước Mĩ là hành động xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh hải của nước ta, về việc này, chính phủ nước ta đã nhiều lần đưa ra lời cảnh báo và khiển trách nặng nề. Có thể thấy, bản “Tuyên bố lãnh hải” do TQ công bố năm 1958 chủ yếu là nhằm vào việc Mĩ đã dùng vũ lực để xâm chiếm Đài Loan một cách phi pháp, tạo nên cục diện căng thẳng ở eo biển Đài Loan, để tỏ rõ thêm cho tòan thế giới biết thái độ và lập trường về vấn đề lãnh hải của chính phủ TQ mới. Ngòai ra, một số ngư thuyền hiện đại của các nước như Nhật Bản… khi ấy còn thường xuyên tới đánh bắt cá bất hợp pháp ở ngư trường TQ, chính phủ TQ tuy đã lên án, nhưng họ vẫn nhắm mắt làm ngơ. Do chưa có căn cứ luật pháp, nên rất khó trừng phạt cho thật thích đáng.

Xét từ phương diện quốc tế, một mặt, một vài cuộc hội nghị quốc tế khi ấy đã định ra các văn bản luật pháp về vấn đề lãnh hải, như Hội nghị pháp điển hóa  Luật quốc tế  La Hay năm 1930 đã đưa ra bản báo cáo về “Địa vị luật pháp của lãnh hải”, Hội đồng Luật quốc tế từ năm 1950-1956 đã sọan ra bản dự thảo cho Công ước Luật biển, đặc biệt là bản “Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp” được thông qua tại Hội nghị về biển lần thứ nhất của Liên Hợp Quốc tổ chức ở Giơnevơ từ tháng 2-4 năm 1958 đã xác nhận quyền kiến lập lãnh hải của các nước bằng hình thức điều ước quốc tế, điều này đã cung cấp một căn cứ luật quốc tế nhất định cho việc công bố bản “Tuyên bố lãnh hải” của TQ. Mặt khác, các nước Thế giới thứ 3 khi ấy đã triển khai cuộc đấu tranh đòi mở rộng chủ quyền lãnh hải, năm 1947, lần đầu tiên các nước Chilê, Braxin đã nổi dậy đấu tranh giành lại và bảo vệ chủ quyền biển 200 hải lí, tiếp đến là các nước Côxta Rica, Xanvađo … cũng lần lượt đưa ra các yêu cầu tương tự, đã xuất hiện một trào lưu lịch sử đòi mở rộng chủ quyền và quyền quản lí của các nước ven biển ra phía biển. Năm 1954, các nước Êcuađo, Mêhicô… còn áp dụng một lọat các biện pháp thực tế để bảo vệ lãnh hải và tài nguyên cá của nước mình, kiên quyết lên án, bắt giữ và  phạt tiền ngư thuyền của các cường quốc biển tự ý đột nhập vào vùng lãnh hải và phạm vi qủan lí của nước mình, tất cả những điều này đã cung cấp kinh nghiệm quí báu cho việc công bố bản “Tuyên bố lãnh hải” của TQ.

II.  Nội dung chủ yếu của “Tuyên bố lãnh hải”

Bản “Tuyên bố lãnh hải” năm 1958 chủ yếu đưa ra mấy qui định cơ bản cho chế độ lãnh hải của TQ mới như sau:

Thứ nhất, về vấn đề độ rộng lãnh hải.

Độ rộng lãnh hải là chỉ cự li nằm trong khỏang từ đường căn bản đo lường lãnh hải cho đến đường tối ngọai vi của nó. Về điều này, “Tuyên bố lãnh hải” qui định: Độ rộng lãnh hải của nước CHND Trung Hoa là 12 hải lí. Qui định này áp dụng cho tòan lãnh thổ nước CHND Trung Hoa, bao gồm phần đất TQ trên đất liền và các hải đảo ngòai khơi, Đài Loan tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả cùng các đảo phụ cận, quần đao Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (tức Hòang Sa-ND), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa-ND) khác thuộc TQ. “Qui định này là thể hiện chủ quyền quốc gia, hòan tòan phù hợp với lợi ích của nhân dân TQ, và cũng phù hợp với chuẩn tắc của Luật quốc tế đã được công nhận khi ấy. Song, một vài nước đế quốc lúc đó lại cho rằng độ rộng lãnh hải 12 hải lí của nước ta là “không thể chấp nhận được”, chẳng hạn như Mĩ cương quyết không thừa nhận “Tuyên bố lãnh hải” của nước ta, cho rằng luật quốc tế chỉ thừa nhận độ rộng 3 hải lí, TQ không có quyền qui định độ rộng 12 hải lí. Anh cũng bày tỏ không thừa nhận lãnh hải trên 3 hải lí, đồng thời đã gửi công hàm tới chính phủ nước ta để biểu thị sự bất đồng. Cách nói và cách làm này của các nước Anh, Mĩ là không có chút đạo lí, là can thiệp thô bạo vào chủ quyền TQ.

Bất cứ quốc gia nào cũng có quyền xác định độ rộng lãnh hải của mình:  (1)  Với tư cách là một hành vi chủ quyền của quốc gia, độ rộng lãnh hải được các nước ven biển xác định một khi đã tuyên bố là liền lập tức có hiệu lực, không cần phải có sự thừa nhận của các nước, các nước cũng không có quyền giải  thích, chủ trương này thực tế là dựa trên quan điểm như sau:  Chủ thể của luật quốc tế chủ yếu là các quốc gia có chủ quyền, bất cứ ai cũng không có quyền hạn ché chủ trương này.  (2)  Lãnh hải của một nước rút cục nên rộng bao nhiêu, khi ấy giữa các nước chưa hề đi đến hiệp thương thống nhất, lâu nay luật quốc tê cũng chưa có qui định thống nhất về độ rộng lãnh hải, các nước xưa nay cũng đều tự chủ xác định độ rộng lãnh hải cho nước mình. (3)  Điều kiện tự nhiên ở ngòai khơi các khu vực trên thế giới là không giống nhau, tình trạng tiếp giáp vùng biển của các nước cũng hết sức đa dạng, nhu cầu phát triển kinh tế và an ninh quốc gia của các nước cũng có sự khác biệt, vì thế, đòi hỏi tất cả các quốc gia đều có độ rộng lãnh hải như nhau cũng chẳng khác nào như nói điều kiện địa lí của tất cả các quốc gia là như nhau, đây là điều cực kì nhảm nhí.  (4)  Các nước ven biển có quyền xác định hợp lí độ rộng lãnh hải của mình trên cơ sở xem xét các nhân tố lịch sử, địa lí, kinh tế, xã hội, quốc phòng…cùng lợi ích hợp pháp của các quốc gia lân cận và sự tiện lợi trong vận chuyển quốc tế.

3 hải lí không phải là giới hạn duy nhất cho độ rộng lãnh hải như Mĩ, Anh đã rêu rao, và cũng không phải là qui chuẩn được luật quốc tế tiếp nhận phổ biến.  (10) Trong lịch sử, có rất nhiều các thuyết phap khác nhau về độ rộng lãnh hải, như thuyết lộ trình hàng hải, thuyết tầm nhìn, thuyết tường vây cửa khẩu,  thuyết tầm bắn đại bác…, độ rộng 3 hải lí trong đó được bắt nguồn từ thuyết tầm bắn đại bác. Năm 1703, nhà luật học Hà Lan Bynkershoek  đề xuât khống chế độ rộng ngòai khơi cho các nước ven biển theo giới hạn là tầm bắn đại bác, tầm bắn đại bác khi ấy là 3 hải lí, vì thế, năm 1782, nhà luật học Italia Galindo Jani  kiến nghị lấy 3 hải lí làm độ rộng lãnh hải. Về sau, các nước Anh, Mĩ đã dựa theo ý tưởng này mà lần lượt thực hiện độ rộng lãnh hải 3 hải lí. Song, vũ khí hiện đại đổi mới từng ngày, ngày càng phát triển theo hướng tinh vi, tầm xa và thông minh hơn. Ngòai ra, sự phát triển kĩ thuật trong phương diện vận chuyển hàng hải cùng những tiến bộ kĩ thuật trong các phương diện khác không thể không có sự ảnh hưởng lớn đến qui chuẩn 3 hải lí, vì thế thuyết 3 hải lí đã lỗi thời từ lâu.  (2)  Do tình trạng bờ biển cùng các lọai lợi ích của từng nước không giống nhau, cho nên đồng thời tồn tại với giới hạn độ rộng lãnh hải 3 hải lí khi ấy còn có mấy lọai sau:  Thực hành độ rộng lãnh hải 3 hải lí ở các nước như Đan Mạch…;  thực hành độ rộng lãnh hải 6 hải lí ở các nước như Hi Lạp…; thực hành độ rộng lãnh hải 9 hải lí ở các nước như Mêhicô…; thực hành độ rộng lãnh hải 12 hải lí của các nước như Liên Xô…;  thực hành độ rộng lãnh hải 15 hải lí ởt các nước như Êcuađo…;  thực hành độ rộng lãnh hải 200 hải lí ở các nước như Xanvađo… Qua đây có thể thấy, độ rộng lãnh hải ở các nước hết sức thiếu thống nhất, độ rộng 3 hải lí chỉ là một lọai chủ trương của các cường quốc biển, không thể lấy đó để phủ nhận hoặc phản đối tính hợp pháp của các độ rộng lãnh hải trên 3 hải lí.  (3)  Sau khi Đại chiến thế giới II kết thúc, các nước mới nổi giành được độc lập dân tộc thường chủ trương lãnh hải rộng hơn, nhằm đạt mục đích bảo vệ an ninh của nước mình, bảo về nguồn tài nguyên biển, phát triển nền kinh tế cho nước mình. Trước tình tình ấy, số nước chủ trương lãnh hải 3 hải lí đã dần dần giảm bớt, còn số nước chủ trương 12 hải lí lại đang tăng lên. Tính đến thời điểm TQ công bố “Tuyên bố lãnh hải” năm 1958, đã có 15 nước trêb thế giới tuyên bố 12 hải lí như Liên Xô, Inđônêxia…, vì thế chính phủ nước ta dĩ nhiên cũng có quyền lợi và căn cứ đầy đủ để qui định độ rộng lãnh hải cho mình là 12 hải lí.

Việc các nước Mĩ, Anh vẫn giữ nguyên độ rộng lãnh hải 3 hải lí chật hẹp thực chất là sự phản ánh của chính sách thực dân cũ. Đa số các nước giữ nguyên độ rộng lãnh hải 3 hải lí trên thế giới khi ấy đều là những cường quốc hải quân có lực lượng hải quân hùng hậu, từng tiến hành những họat động rộng lớn trên biển, địa bàn của những cường quốc biển này nguời khác không thể tới và cũng không dám tới, còn địa bàn của người khác thì các hạm đội của họ lại muốn tới lúc nào cũng được. Ngòai ra, họ có được lợi ích trên biển đã có, nên cần phải duy trì hết mức có thể độ rộng lãnh hải hạn hẹp nhằm bảo đảm giữ những vùng biển cả lớn nhất làm nơi cho tàu tuần tiễu trên biển của mình. Vì thế, việc Mĩ, Anh phản đối các nước khác mở rộng độ rộng lãnh hải tuyệt đối không hề xuất phát từ điều gọi là lợi ích vận chuyển quốc tế, mà là có mưu đồ tiếp cận ở hạn độ lớn nhất với bờ biển của nước khác, cướp đọat tài nguyên thiên nhiên dưới nước của những nước này, tiến hành khiêu khích quân sự cùng những hành động đối địch khác. Nước Mĩ khi ấy liên tục điều các quân hạm và máy bay xâm nhập lãnh hải và vùng trời lãnh hải của TQ, tiến hành chiến tranh khiêu khích và mở rộng phạm vi xâm lược, chính là họ đã dùng tôn độ rộng lãnh hải 3 hải lí làm sự chú giải tốt nhất cho luật vàng.

Thứ hai, về vấn đề đường căn bản lãnh hải.

Để định rõ phạm vi lãnh hải, thường phải xác định một đường khởi điểm để đo độ rộng lãnh hải, tức đường căn bản lãnh hải (cũng chính là giới hạn trong của độ rộng lãnh hải). Đường căn bản lãnh hải đo hướng vào đất liền là nội hải của quốc gia, còn đường căn bản lãnh hải đo hướng ra biển là vùng biển. Đường căn bản lãnh hải có đường căn bản bình thường và đường căn bản trực tuyến. Hai phương pháp này phản ánh sự khác biệt về tình trạng địa lí bờ biển:  Nếu bờ biển có phân giới bỉen và đất liên rõ, đường bờ biển tương đối bằng phẳng, thì thường áp dụng phương pháp đường căn bản bình thường, tức lấy đường đáy nước làm đường căn bản. Nếu bờ biển quá khúc khủyu, ven bờ lại có nhiều đảo thì thường dùng cách lựa chọn một vào điểm căn bản trên đất liền ven biển và trên các đảo, cứ từng 2 điểm căn bản lại vạch thành từng đường trực tuyến, nối các đường trực tuyến này lại sẽ tạo thành đường căn bản, đó cũng chính là phương pháp đường căn bản trực tuyến. Bản “Tuyên bố lãnh hải” của nước ta năm 1958 tuyên bố không dùng đường đáy nước (tức đường căn bản bình thường) của TQ làm đường khởi điểm, mà áp dụng phương pháp đường căn bản trực tuyến: “Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, phần biển 12 hải lý tính từ các đường căn bản là lãnh hải của TQ”. Phương pháp đường căn bản trực tuyến này phù hợp với tình trạng thực tế bờ biển gập ghềnh khúc khủyu, nhiều đảo ngòai khơi của TQ là hết sức hợp lí.

Do điều kiện địa lí của từng quốc gia không giống nhau, không thể định ra một phương pháp tính tóan thống nhất để dùng cho tất cả mọi quốc gia, cho nên mỗi quốc gia cũng có thể quyết định phương pháp tính tóan cho mình giống như khi quyết định độ rộng lãnh hải. Chúng ta áp dụng phương pháp đường căn bản trực tuyến không chỉ thừa hành một cách hợp lí chủ quyền không thể tước đọat của mình, mà còn phù hợp với cả thực tiễn quốc tế và luật quốc tế. Ngay từ năm 1812, Na Uy đã xem xét đến tình trạng bờ biển đặc biệt khúc khủyu của nước mình, đã xác nhận luôn phương pháp tính này này trong “Thông báo Hòang gia”, đồng thời năm 1935, trong Nghị định Hòang gia, quốc vương đã áp dụng phương pháp đo này để xac định phạm vi vùng cá của Na Uy. Do vùng biển bao quanh đường căn bản trực tuyến là vùng dánh cá trước đó của Anh, cho nên Anh đã ra sức phản đối phương pháp tính này. Sau đó, hai nước đã đưa tranh chấp ra Tòa án quốc tế, nưm 1951 Tòa án quốc tế phán quyết phương pháp họach định vùng đánh bắt cá của Na Uy là không vi phạm luật quốc tế, điều này đã xác nhận tính hợp pháp của phương pháp đường căn bản trực tuyến. Kể từ đó, các nước Aixơlen, Inđônêxia… cũng lần lượt áp dụng phương pháp tính này. Do phương pháp tính này tương đối thuận tiện, hơn nữa lại được các nước áp dụng ngày càng nhiều hơn so với phương pháp đường căn bản bình thường để mở rộng diện tích nội hải và lãnh hải thuộc chủ quyền quản lí quốc gia. Năm 1958, bản “Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp” được thông qua tại Hội nghị biển lần thứ nhất của Liên Hợp Quốc đã khẳng định phương pháp tính này dưới hình thức điều ước quốc tế: Gặp phải những chỗ sâu thụt lồi lõm ở đường bờ biển hoặc những bờ biển sát đảo, thì khi vạch đường căn bản làm điểm khởi đầu tính độ rộng lãnh hải có thể áp dụng phương pháp các điểm thỏa đáng nối liền các đường căn bản trực tuyến. Dĩ nhiên TQ cũng có thể căn cứ theo nhu cầu và diện mạo địa lí ven biển của mình để sử dụng phương pháp đường căn bản trực tuyến để họach định độ rộng lãnh hải cho mình.

Thứ ba, về vấn đề nội hải của TQ.

Nội hải còn gọi là nội thủy, chỉ vùng biển nằm bên trong đường căn bản lãnh hải của một nước, cũng giống như lãnh thổ trên đât liền, nội hải là một bộ phận câu thành của các nước ven biển, có địa vị luật pháp tương đòng với lãnh thổ đất liền. “Tuyên bố lãnh hải” của nước ta năm 1958 qui định: “Vùng biển nằm bên trong đường căn bản, bao gồm vịnh Bột Hải, eo biển Quỳnh Châu, đều là nội hải của TQ. Các đảo nằm bên trong đường căn bản, bao gồm các đảo Đông Dẫn, đảo Cao Đăng, đảo Mã Tổ Liệt, đảo Bạch Khuyển Liệt, đảo Chim, đảo Đại Tiểu Kim Môn, đảo Đại Đảm, đảo Nhị Đảm, đảo Động Đính, đều là đảo nội hải của TQ.” [5] Ở đây có hai vấn đề cần thuyết minh rõ:

Về vấn đề vịnh Bột Hải:  (1)  Luật quốc tế cho rằng các vịnh biển mà bờ biển thuộc lãnh thổ của một nước có thể được coi là nội hải của nước ven biển, như bản “Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp” được thông qua tại Hội nghị biển lần thứ nhất của Liên Hợp Quốc năm 1958 qui định: Nếu độ rộng cửa vịnh của vịnh biển không quá 24 hải lí, thì vùng biển được đường phong bế cửa vịnh bao quanh là nội hải; nếu độ rộng cửa vịnh quá 24 hải lí, thì vùng biển được đường căn bản trực tuyến bao quanh rộng 24 hải lí trong vịnh mới là nội hải, song qui định này không phù hợp với những “vịnh mang tính lịch sử”.  (2)  Vịnh biển mang tính lịch sử là chỉ những vịnh biển mà bờ biển thuộc về một nước, nước ven biển ấy thừa hành chủ quyền lâu dài với vịnh biển này, đồng thời được các nước khác chấp thuận hoặc mặc nhiên công nhận, bất kể độ rộng cửa vịnh đó có quá 24 hải lí hay không cũng đều được coi là nội hải của các nước ven biển, như năm 1957 Liên Xô tuyên bố vịnh Đại Pite (Большой Питер) là vịnh biển mang tính lịch sử, độ rộng cửa vịnh tới 110 hải lí. Vịnh Bột Hải chính là vịnh biển mang tính lịch sử của TQ, điều này có thể chứng minh bằng một sự thực lịch sử:  Năm 1864, khi nước Phổ đánh nhau với Đan Mạch ở Châu Âu, công sứ Phổ là Von Rehfues đã đáp quân hạm  bắt 3 thương thuyền của Đan Mạch tại vịnh Bột Hải. Khi ấy, triều nhà Thanh cho  rằng sự việc này xảy ra ở “nội dương do TQ trực tiếp quản lí” (tức nội hải của TQ), “không phải là mặt biển công cộng của các nước”, “là tước đọat lộ liễu chủ quyền của TQ”, đồng thời dẫn chứng luật quốc tế khi ấy đã dịch ra tiếng Trung để đưa ra kháng nghị, đây “không thuộc trách nhiệm của Đan Mạch, mà thực ra là TQ bảo vệ quyền lợi của mình”. Trước sự uy híếp của bản kháng nghị lấy luật quốc tế làm nguyên tắc cùng việc triều đình nhà Thanh không chịu tiếp đãi công sứ Đan Mạch, Von Rehfues đã gửi công hàm “Tự nhận tội tại nước Phổ”, rồi phóng thích 3 thương thuyền của Đan Mạch. [6] Sự việc này đã thuyết minh một cách đầy đủ vịnh Bột Hải từ xưa đến nay là thuộc chủ quyền của nước ta, chịu sự điều khiển và quản lí hữu hiệu của chính phủ TQ, từ lâu đã được công nhận là nội hải của TQ.  (3) Xét từ đặc điểm địa lí của vịnh Bột Hải, cửa vịnh của nó tuy tới 45 hải lí, nhưng cửa vịnh lại có một lọat đảo sắp xếp thành quần đảo đền đảo…, tạo thành 8 cửa vào, một cửa vịnh trong số đó cung rộng không quá 22,5 hải lí, trong vòng 24 hải lí, ngay cả có căn cứ theo qui định về đường phong bế 24 hải lí trong “Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp” được thông qua tại Hội nghị biển lần thứ nhất của Liên Hợp Quốc năm 1958, toàn bộ vùng nước vịnh Bột Hải cũng cần được coi là nội hải của nước ta. Ngoài ra, nước ta áp dụng phương pháp đường căn bản trực tuyến, dùng những đảo này làm điểm căn bản để hoạch định đường căn bản trực tuyến cũng có nghĩa là hoạch định luôn vịnh Bột Hải là nội hải của nước ta, vì thế bất luận là xét về mặt luật pháp, về mặt lịch sử hay về mặt địa lí, vịnh Bột Hải cũng vẫn là nội hải của nước ta.

Về vấn đề eo biển Quỳnh Châu:  (1) Xét từ mối quan hệ giữa các vùng biển eo biển với các nước ven biển, eo biển được chia thành các loại eo biển nội hải, eo biển lãnh hải và eo biển phi lãnh hải. Eo biển nội hải chỉ eo biển có hai bờ cùng thuộc về lãnh thổ đất liền của một nước, đồng thời nằm vào bên trong đường căn bản lãnh hải của nước ấy. Eo biển nội hải, cũng giống như các vùng biển khác nằm bên trong đường căn bản, là nội thủy của một nước, nước ấy có quyền quản lí và quyền chi phối độc quyền đối với nó, eo biển Quỳnh Châu chính là thuộc loại eo biển nội hải như vậy.  (2)  Eo biển Quỳnh Châu về mặt lịch sử luôn nằm dưới chủ quyền quản lí của Trung Quốc và  trở thành một bộ phận cấu thành không thể chia cắt của lãnh thổ Trung Quốc, hơn nữa quyền quản lí này xưa nay chưa từng gây tranh cãi. Sau khi nước Trung Quốc mới được thành lập, eo biển Quỳnh Châu luôn được quản lí với tư cách là eo biển nội hải, trong “Tuyên bố lãnh hải” năm 1958 đề cập đến eo biển này chỉ là muốn nhắc lại một sự thật:  Với tư cách là một đường thủy hẹp (rộng khoảng 9,8-19 hải lí) có hai bờ hoàn toàn thuộc về lãnh thổ Trung Quốc, eo biển Quỳnh Châu là đường thủy thuận tiện của nội hải Trung Quốc, Trung Quốc có quyền cấm tàu thuyền nước ngoài, đặc biệt là tàu quân sự nước ngoài đi qua . Nhưng khi ấy một số cường quốc biển lại thường viện dẫn phán quyết của Toà án quốc tế năm 1949 đối với  “Corfu Channel Incident” để làm căn cứ luật pháp cho các tàu quân sự có quyền đi qua eo biển Quỳnh Châu, điều này là hết sức vô căn cứ. Eo biển Corfu là eo biển nằm giữa Anbani và Hi Lạp được sử dụng làm eo biển vận chuyển hàng hải quốc tế, năm 1946, quân hạm Anh  khi đi qua bờ phía Anbani đã bị phía Anbani cho là chưa được sự phê chuẩn trước, vì thế đã bắn đạn pháo vào quân hạm Anh. Sau sự việc này, hai nước đã đệ trình tranh chấp lên cho Tòa án quốc tế phán quyết, năm 1949, trong bản phán quyết của mình, Tòa án quốc tế đã cho rằng vào thời bình, các nước có quyền đưa tàu quân sự của mình đi qua không phạm tội các eo biển được dùng làm đường vận chuyển hàng hải quốc tế ở giữa hai vùng biển mà không cần phải được phê chuẩn trước.  Qua đây có thể thấy, eo biển Corfu là eo biển được dùng làm đường vận chuyển hàng hải quốc tế nối liền vùng biển giữa hai quốc gia, còn cả hai bờ của eo biển Quỳnh Châu thì đều thuộc về Trung Quốc, đồng thời nằm bên trong đường căn bản lãnh hải, thuộc về nội hải, địa vị pháp luật của cả hai bờ là như nhau, không thể đánh đồng làm một. Ngoài ra, vị trí của eo biển Quỳnh Châu không tạo thành yếu lộ hoặc đường thông duy nhất cho giao thông trên biển quốc tế, phía ngoài eo biển có đường hàng hải cũng thuận tiện về hàng hải và đặc điểm thủy văn, vì thế, eo biển này về bất cứ ý nghĩa nào cũng đều không thể tạo thành eo biển được dùng làm đường vận chuyển hàng hải quốc tế.  (3)  Để chăm lo cho sự thuận lợi về vận chuyển hàng hải của đất nước, đồng thời lại phải bảo đảm được sự an toàn về mặt quốc phòng, Trung Quốc cho phép tàu buôn nước ngoài được đi qua eo biển theo những điều kiện và sự quản lí nhất định. Tháng 6 năm 1964, Quốc vụ viện đã công bố “Điều lệ về quản lí tàu thuyền phi quân dụng có quốc tịch nước ngoài được đi qua eo biển Quỳnh Châu”, nhấn mạnh “căn cứ theo Tuyên bố về lãnh hải của chính phủ nước CHND Trung Hoa, eo biển Quỳnh Châu là nội hải của Trung Quốc, tất cả mọi tàu thuyền quân dụng có quốc tịch nước ngoài đều không được đi qua. Tất cả mọi tàu thuyền quân dụng có quốc tịch nước ngoài nếu như cần đi qua, đều buộc phải xin phép theo qui định trong bản Điều lệ này.” [5]  (pp. 89~90) Qui định này đã có tác dụng tích cực trong việc bảo vệ chủ quyền nội hải, củng cố quốc phòng, phát triển buôn bán quốc tế của nước ta.

Thứ tư, về vấn đề qua lại lãnh hải.

Tàu thuyền nước ngoài không có quyền đi vào nội hải của một nước, tàu thuyền nước ngoài được hưởng quyền đi qua không phạm tội ở cả trong và ngoài lãnh hải. “Tuyên bố lãnh hải” năm 1958 của nước ta qui định: “Tất cả các máy bay và tàu quân dụng của nước ngoài, chưa được phép của chính phủ nước CHND Trung Hoa, đều không được đi vào lãnh hải và vùng trời lãnh hải của Trung Quốc. Bất cứ tàu thuyền nước ngoài nào đi vào vùng lãnh hải của Trung Quốc cũng đều phải tuân thủ các pháp lệnh có liên quan của chính phủ nước CHND Trung Hoa”. ”[5] (pp. 1~2) cũng có nghĩa là Trung Quốc thừa nhận và tôn trọng qui định về đi qua không phạm tội trong lãnh hải của Luật biển quốc tế, nhưng phải ứng xử khác nhau tùy theo tính chất không giống nhau của tàu quân sự và tàu buôn.

Vì lợi ích của vận chuyển hàng hải quốc tế, các tàu buôn nước ngoài có thể tự do đi qua không phạm tội lãnh hải của Trung Quốc theo thông lệ Luật quốc tế, đi qua không phạm tội chỉ việc tàu buôn nước ngoài, với điều kiện không gây tổn hại đến hòa bình, an ninh và trật tự của các nước ven biển, đồng thời tuân thủ các mọi luật pháp và qui định có liên quan, có quyền tiếp tục dừng lại để đi qua thật nhanh lãnh hải của một nước, mà không cần phải được sự chấp thuận của nước ấy.

Việc đi lại của tàu quân sự không hề là cần thiết cho vận chuyển hàng hải vì sự nghiệp hòa bình nói chung, cho nên, các tàu quân sự đi qua lãnh hải không phạm tội không hề là đòi hỏi cho “lợi ích chung” của sự giao lưu quốc tế. Nhưng tàu quân sự Mĩ khi ấy lại tự động xâm nhập vào lãnh hải nước ta dưới sự che đậy của điều gọi là “quyền đi qua không phạm tội” giống như với tàu buôn, đồng thời tuyên truyền một cách lừa bịp rằng “quyền đi qua không phạm tội” phù hợp với cả tàu quân sự. Thực ra luận điệu này là hết sức sai lầm, là hùn sức cho việc thực thi bá quyền trên biển của họ:  (1)  Tàu quân sự đi qua lãnh hải gây hiểm họa tiềm tàng cho an ninh của các nước ven biển, không thể đánh đồng với việc đi qua lãnh hải của tàu buôn thông thường, sao có thể nói đến chuyện đi qua “không phạm tội”, vì thế, việc muốn cho các nước có liên quan không có phản ứng  trước việc có thể có những hạm đội nước ngoài mang lòng thù địch đi qua ngoài khơi của mình là không công bằng, ngay cả những tàu quân sự nước ngoài được một số nước cho phép đi qua không phạm tội ở vùng lãnh hải của họ cũng là dựa trên sự nhân nhượng quốc tế,  không hề giống với thông lệ quốc tế của các tàu buôn đi qua lãnh hải, nên không thể lấy việc tàu buôn được quyền đi qua lãnh hải nước khác là lí do để biện giải cho quyền tàu quân sự được đi qua.  (2)  Theo nguyến tắc chủ quyền quốc gia, nước bên bờ hoàn toàn có quyền quyết định xem có cho phép tàu quân sự nước ngoài được đi vào lãnh hải nước mình hay không. Thực tế, rất nhiều nước (như Bungari…) đã phản đối quyền tàu quân quân sự  được đi qua không phạm tội, mà chủ trương thực hành chế độ phê chuẩn hoặc thông báo trước.  (3)  Xét từ góc độ luật quốc tế, người ta thường cho rằng tàu quân sự đi qua lãnh hải cần phải được sự chấp thuận trước của nước ven biển, như Hội nghị La Hay về pháp điển hoá Luật quốc tế năm 1930 và Ủy ban Luật quốc tế năm 1956 đều nhấn mạnh việc tàu quân quân sự nước ngoài đi qua lãnh hải phải được sự chấp thuận hoặc thông báo trước của nước bên bờ, nhưng “Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp” được thông qua tại Hội nghị biển lần thứ nhất của Liên Hợp Quốc năm 1958 thì lại qui định mù mờ rằng tất cả mọi tàu thuyền đều có quyền đi qua không phạm tội ở các vùng lãnh hải. Một số quốc gia cho rằng từ “tàu thuyền” bao gồm cả tàu thuyền quân dụng để ủng hộ cho việc các tàu quân sự được hưởng quyền đi qua không phạm tội, một số quốc gia khác thì cho rằng từ “tàu thuyền” chỉ chỉ tàu buôn, còn tàu thuyền quan sự thì khi đi qua lãnh hải phải được sự chấp thuận trước của nước bên bờ. Dĩ nhiên sự khác nhau trong các cách giải thích này chủ yếu là trong nội bộ các nước đã kí kết, còn đối với các nước không kí kết là vô hiệu, Trung Quốc không tham gia Hội nghị lần ấy. Hơn nữa, tham gia Hội nghị biển lần thứ nhất năm 1958 lại là các cường quốc biển, phần lớn các nước đang phát triển thuộc Thế giới thứ ba khi ấy lại chưa độc lập, vì thế mà số các nước Á-Phi-Mĩ latinh tham gia Hội nghị lần này chưa được một nửa. Trước tình hình ấy, qui định được đưa ra trong Hội nghị này đã phản ánh lợi ích của các cường quốc biển, không thể đại diện được ý kiến, nguyện vọng, yêu cầu và lợi ích của đại đa số các nước, và cũng không nên mở rộng sự ràng buộc đối với các nước đang phát triển. Trong số các nước kí kết có không ít nước (như Rumani…) tuyên bố bảo lưu qui định này, cho nên không thể nói đó là một nguyên tắc luật quốc tế phổ biến. Ngoài ra, Hội nghị lần này cũng thừa nhận tàu quân sự nước ngoài phải tuân thủ mọi pháp lệnh và điều lệ có liên quan đến lãnh hải đã được nước bên bờ chế định, đương nhiên những điều lệ này cũng có thể bao gồm cả yêu cầu phải được sự cho phép trước.  (4)  “Tuyên bố lãnh hải” năm 1958 của nước ta qui địnhtàu quân sự nước ngoài phải được phép trước  thì mới được đi vào hoặc đi qua lãnh hải nước ta, qui định này vừa xem xét đến nhu cầu an ninh quốc gia, lại vừa lưu ý đến cả mức độ có thể tiếp nhận về mặt quốc tế, đồng thời cũng hoàn toàn phù hợp với luật quốc tế và thực tiễn quốc tế, vì thế là tương đối phù hợp.

III.  Đánh giá bản “Tuyên bố lãnh hải”

Thiết lập chế độ lãnh hải là biện pháp tốt nhất để nhà nước thực thi được sự điều hành và quản lí một cách có hiệu quả vùng biển duyên hải của mình, “Tuyên bố lãnh hải” của Trung quốc năm 1958 được chế định căn cứ trên nguyên tắc chủ quyền quốc gia, dựa trên nền tảng lí luận và thực tiễn quản lí lãnh hải của nước ta và kết hợp với thực tiễn quốc tế, việc công bố nó đánh dấu sự thiết lập bước đầu chế độ lãnh hải của nước Trung Quốc mới, có một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc bảo vệ chủ quyền lãnh hải thiêng liêng của nước ta.

Bảo vệ chủ quyền lãnh hải của nước ta là một nguyên tắc chủ yếu nhất, cơ bản nhất trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, đặc biệt được lãnh hải 12 (mới sửa lại, ban đầu là số 2) hải lí là một đại chính sách có liên quan đến lợi ích căn bản của dân tộc quốc gia. Một mặt, “Tuyên bố lãnh hải” lựa chọn chính giữa thời điểm quân ta pháo kích vào Kim Môn để công bố là việc đã được xem xét cân nhắc kĩ lưỡng, điều này là tỏ rõ cho thế giới biết rằng chiến sự xảy ra  bên trong đường lãnh hải của Trung Quốc khi ấy hoàn toàn là chuyện nội bộ của Trung Quốc, tất cả các nước đều không có quyền can thiệp. Mặt khác, khi tàu quân sự và máy bay quân dụng Mĩ lợi dụng chuyện Đài Loan … liên tục xâm nhập vùng duyên hải Trung Quốc đểtiến hành các hoạt động gây hấn, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh nước ta, việc nước ta cho công bố “Tuyên bố lãnh hải” lại càng hết sức đúng đắn, kịp thời, điều này chứng tỏ nhân dân Trung Quốc quyết không cho phép bất kì hành vi nào có mưu đồ can thiệp vào chủ quyền nước ta. Như ngày 7 tháng 9 năm 1958, tàu  Mĩ bắt đầu hộ tống cho tàu thuyền của  Quốc Dân  Đảng đến Kim Môn. Người phát ngôn Bộ ngoại giao lần đầu tiên đã căn cứ vào nguyên tắc của “Tuyên bố lãnh hải” để nghiêm khắc cảnh cáo tàu Mĩ xâm nhập lãnh hải trung Quốc. Ngày 29 tháng 9 năm 1958, Bộ ngoại giao gửi công hàm cho Đại biện lâm thời Anh tại Trung Quốc nhấn mạnh “Tuyên bố lãnh hải” của Trung Quốc được áp dụng đối với với tất cả mọi máy bay, tàu thuyền và cá nhân nước ngoài. “Tuyên bố lãnh hải” hoàn toàn phù hợp với lợi ích kinh tế và quốc phòng của nước ta, phản ánh đúng đắn ý chí của nhân dân Trung Quốc, đồng thời cũng phù hợp với thông lệ các nước và chuẩn tắc của luật quốc tế, vì thế mà đã giành được sự ủng hộ nhiệt thành của dư luận công tâm trên thế giới. Ngày 9 tháng 9 năm 1958, chính phủ Liên Xô đã gửi công hàm cho chính phủ nước ta biểu thị hoàn toàn tôn trọng quyết định về lãnh hải của nước ta, đồng thời “tuân thủ chặt chẽ giới hạn lãnh hải của nước CHND Trung Hoa là 12 hải lí theo như qui định của chính phủ nước CHND Trung Hoa”.  [7] (p. 2340)  Ngày 14 tháng 9 Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng cũng đã gửi công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, trịnh trọng biểu thị chính phủ   Việt Nam “thừa nhận và tán đồng” với bản “Tuyên bố lãnh hải” của nước ta, đồng thời “tôn trọng quyết định này”.  [8] (p. 180)

Song do hạn chế bởi nhiều nhân tố mà  “Tuyên bố lãnh hải” năm 1958 chỉ là bản tuyên bố mang tính nguyên tắc, vẫn thiếu đi những qui định cụ thể:

Thứ nhất, phạm vi lãnh hải cần phải đợi để minh xác thêm. “Tuyên bố lãnh hải” tuy đã công bố độ rộng cùng phương pháp hoạch định lãnh hải, nhưng các điểm căn bản của đường căn bản được dùng để hoạch định lãnh hải vẫn chưa được xác định và công bố với bên ngoài, từ đường căn bản lãnh hải của nước ta cho đến giới hạn vùng ngoài lãnh hải vì thế cũng chưa được hoạch định và có công bố cuối cùng. Khi ấy, chính quyền trung ương đã xem xét đến cuộc đấu tranh ở vùng biển Đông Nam là rất phức tạp, nếu như vạch dấu cụ thể đường lãnh hải thì sẽ lại trói buộc mất chân tay mình. Không công bố thì chúng ta sẽ có thể tiến mà cũng có thể lùi khi xử lí các vấn đề cụ thể, sẽ linh hoạt thuận tiện hơn nhiều về mặt chiến thuật và về mặt sách lược. Điều này khi ấy là hoàn toàn cần thiết, nhưng đồng thời cũng đã để lại những vấn đề nhất định. Sự thiếu chính xác về phạm vi cụ thể của lãnh hải gây bất lợi cho việc phân biệt những phương tiện lưu thông trên biển và trên không, tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến sự thừa hành bình thường quyền quản lí lãnh hải của nước ta., do giới hạn vùng ngoài lãnh hải nước ta chưa được công bố với bên ngoài, nên thường trở thành cái cớ để các tàu thuyền vi phạm  nước ngoài chối bỏ trách nhiệm. Cho đến tháng 5 năm 1996, nước ta mới chính thức công bố bản “Tuyên bố của chính phủ nước CHND Trung Hoa về đường căn bản lãnh hải  nước CHND Trung Hoa”, và cuối cùng đã xác định được phạm vi cụ thể của lãnh hải.

Thứ hai, trong “Tuyên bố lãnh hải” không công bố đồng thời vùng tiếp giáp lãnh hải, mà khu vực này lại là hết sức quan trọng cả về bảo vệ an ninh biển quốc gia lẫn về bảo vệ lợi ích biển của nước ta. Vùng tiếp giáp là vùng biển riêng biệt có độ rộng nhất định tiếp liền lãnh hải của một nước, là vùng biển nhà nước thừa hành chủ quyền. Ở trong vùng tiếp giáp này, các nước ven biển có thể ché định ra các pháp lệnh và chế độ điều lệ để thừa hành một quyền quản lí riêng biệt nào đó để bảo vệ nghề cá, quản lí hải quan, kiểm tra ngăn cấm buôn lậu, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, quản lí di dân, và để bảo vệ cả nhu cầu về an ninh. Qua đây có thể thấy, vùng tiếp giáp chủ yếu đóng vai trò là “vùng đệm” hoặc “vùng kiểm tra”, loại trừ ra bên ngoài đất nước mọi hành vi phạm pháp và bất lợi cho an ninh quốc gia, nhằm bù đắp cho sự quản lí khó lòng đạt hiệu quả bởi độ rộng lãnh hải không đủ. Vì thế, ở các nước đồng thời với việc định ra chế độ lãnh hải thường đều vạch luôn cả vùng tiếp giáp một cách tương ứng để có thể quản lí lãnh hải cho tốt hơn. Như tháng 7 năm 1956, Vênêxuêla trong Luật lãnh hải của mình ngoài việc qui định lãnh hải 12 hải lí ra, còn qui định cả vùng tiếp giáp 15 hải lí, để quản lí mọi công việc về hải quan, y tế…; vùng tiếp giáp lần đầu tiên được đưa vào trong “Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp” được thông qua tại Hội nghị biển lần thứ nhất của Liên Hợp Quốc năm 1958, cỏn nướac t thì cho đến năm 1992 mới đưa ra qui định rõ ràng về vùng tiếp giáp lãnh hải.

Thứ ba, cả một thời gian rất dài sau khi công bố bản “Tuyên bố lãnh hải” năm 1958 vẫn chưa đưa ra được những qui định hoàn chỉnh, toàn diện về vấn đề quản lí trong vùng lãnh hải thông qua hình thức lập pháp trong nước, để bản “Tuyên bố lãnh hải” được cụ thể hóa về nguyên tắc. Những vấn đề chưa được qui định trong “Tuyên bố lãnh hải”, như quyền sở hữu và quyền độc quyền tài nguyên thiên nhiên, quyền độc quyền các nghiên cứu khoa học về biển, quyền quản lí bảo hộ và bảo toàn môi trường biển, quyền quản lí tư pháp…, nước ta thường giải quyết theo thông lệ quốc tế hoặc luật quốc tế, nhưng do chưa có khâu lập pháp trong nước tương ứng mà khi thực hiện thường có những độ khó nhất định, nhất là những mâu thuẫn trong các sự vụ có liên quan đến nước ngoài lại càng nổi rõ. Như “Tuyên bố lãnh hải” sau khi công bố đôi lúc vẫn phát sinh những hoạt động phạm pháp như tàu thuyền nước ngoài tùy tiện dừng đỗ, xả thải bất hợp pháp, ngang nhiên đi vào vùng lãnh hải nước ta đánh cá, dìm tàu, dìm các vật bất hợp pháp, buôn lậu vi phạm các qui định hải quan của nước ta, trốn tránh sự giám sát hải quan, trốn thuế… Những hành vi này đã xâm phạm chủ quyền lãnh hải và lợi ích biển của Trung Quốc, song do thiếu các qui định luật pháp rõ ràng và những thủ pháp chấp pháp cần thiết, các cơ quan hữu quan khó lòng mà đánh trả hoặc xử lí được một cách kịp thời, hữu hiệu những hành vi phạm pháp ấy, cuối cùng là chẳng được gì. Như với những tàu cá nước ngoài đánh bắt cá phi pháp trong lãnh hải Trung Quốc, Trung Quốc thường chỉ thông qua chấp pháp mà dùng tàu thuyền đuổi đi. Cho đến khi “Luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp của nước CHND Trung Hoa” được thông qua tháng 2 năm 1992, thì mới thực hiện việc quản lí biển bằng luật pháp một cách thực sự.

Cho dù vì những nguyên nhân khác nhau, “Tuyên bố lãnh hải” năm 1958 vẫn còn tồn tại một vài điểm đáng tiếc, song nhìn chung chế độ lãnh hải do nước Trung Quốc mới xác lập về cơ bản là thành công, những nguyên tắc cơ bản được qui định trong đó vè sau đều được kế thừa trong “Luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp của nước CHND Trung Hoa”, đã phát huy tác dụng tích cực trong các phương diện bảo vệ an ninh lãnh hải quốc gia, bảo vệ quyền lợi biển, phát triển giao thông trên biển…

Thư mục tham khảo:

[1]《毛泽东选集》第2卷,人民出版社1991年版,第628页。
[2]王铁崖:《中外旧约章汇编》第1册,三联书店1982年版,第936页。
[3]程晓霞:《国际公法学习参考资料》,中央广播电视大学出版社1985年版,第177~179页。
[4]周忠海:《国际法学述评》,法律出版社2001年版,第298页。
[5]国家海洋局政策法规办公室:《中华人民共和国海洋法规选编》,海洋出版社2001年版,第1~2页。
[6]杨泽伟:《宏观国际法史》,武汉大学出版社2001年版,第425页。
[7]《中华人民共和国国史全鉴》编委会:《中华人民共和国国史全鉴》第2卷,团结出版社1996年版,第2338页。
[8]赵理海:《当代国际法问题》,中国法制出版社1993年版,第180页。

NGUYÊN VĂN TIẾNG TRUNG:

1958年《中华人民共和国政府关于领海的声明》研究

【内容提要】根据国家主权原则,在总结中国领海管理的理论与实践的基础上,结合国际实践 和公认的国际法原 则,1958年中国政府颁布了《中华人民共和国政府关于领海的声明》,标志着新中国领海制度的初步建立,这对捍卫中国领海主权、维护海洋利益、发展海上交 往、巩固海防等都具有重大的意义。
【摘 要 题】共和国史研究
【关 键 词】领海/领海宽度/领海基线/内海/无害通过权
【正 文】
领海是指沿海国的主权及于其陆地领土及其内水以外邻接的一带海域,它是国家领土在海中的延续,与国家领土的其他部分一样,沿岸国对领海内的一切人和物享有 完全的、排他的专属管辖权。中国濒临太平洋西岸,有权管辖和利用的邻近我国大陆和岛屿的海域十分广阔。为了有效行使领海主权和管辖权,保证国防安全,维护 海洋利益,根据国际实践和公认的国际法原则,1958年9月4日,第一届全国人民代表大会常务委员会第100次会议批准通过了《中华人民共和国政府关于领 海的声明》(以下简称《领海声明》)。
一、《领海声明》发表的历史与时代背景
1840年之后,在西方列强坚船利炮的攻击下,中国海洋门户洞开,沿岸航运权、港口管理权、内河航行权等海洋权益丧失殆尽:“帝国主义列强根据不平等条 约,控制了中国一切重要的通商口岸,……它们控制了中国的海关和对外贸易,控制了中国的交通事业(海上的、陆上的、内河的和空中的)。”[1] 面对西方列强的海上入侵,旧中国虽然对领海问题有所注意,但是并没有真正建立起独立的领海制度。如1899年清朝与墨西哥缔结的《友好通商条约》规定: “彼此均以海岸去地3力克(即9海里)为水界,以退潮时为准”。这里的“水界”在一定程度上具有领海的意义,但它的目的是:“界内由本国海关章程切实施 行,并设法巡缉以杜走私、漏税”,[2] 这同现代意义上的领海有所不同。民国时期则照搬英、美等国的领海宽度和划法,规定中国领海范围为3海里,缉私里程(即毗连区)为12海里,领海范围自低潮 线(即正常基线)算起。这样狭窄的领海宽度实际上对中国不利,因为像中国这样贫穷落后的国家绝不会去侵犯一个强国的领海,而强国却可以肆无忌惮到中国近海 为所欲为。而且由于旧中国统治者腐败无能,连内河航行权都拱手让给了西方列强,以至于外国商船和军舰不仅可以自由地出入我国领海横行霸道,而且还可以在中 国内河长驱直入。旧中国有海无防、领海及毗连区形同虚设的状况给我们留下了惨痛的历史教训。
1949年新中国成立后高度重视领海主权,废除了近代不平等条约,在开发、利用、管理领海等方面进入了一个新的历史阶段,颁布了一系列涉及领海问题的规章 制度:(1)有关港口管理和港务监督问题,1954年发布了《海港管理暂行条例》;(2)有关船舶管理问题,1957年颁布了《对外国籍船舶进出港口管理 办法》;(3)有关海峡管理问题,1956年为保障渤海湾航行安全颁布了《关于商船通过老铁山水道的规定》;(4)有关海洋水产资源保护和渔政管理问 题,1955年发布了《关于渤海、黄海及东海机轮拖网渔业禁渔区的命令》;(5)有关海关管理问题,1951年颁布了《中华人民共和国暂行海关法》; (6)有关沿海岛屿主权问题,1951年周恩来在《关于美英对日和约草案及旧金山会议的声明》中强调:“西沙群岛和南威岛正如整个南沙群岛及中沙群岛、东 沙群岛一样,向为中国领土”,因此,新中国在南威岛和西沙群岛拥有不可侵犯的主权。中国人民也决不容许美国政府长期侵占中国的领土台湾,“并在任何时候都 不放弃解放台湾和澎湖列岛的神圣责任。”1956年,我国外交部发言人在《关于南沙群岛主权问题的声明》中指出:“中国对于南沙群岛的合法主权,绝不容许 任何国家以任何借口和采取任何形式加以侵犯”。[3] 除了这些涉及领海问题的规章制度和声明外,当时一些专家学者也开始认真研究领海问题,如海商法专家魏文汉强调我们的领海宽度“应该在综合考虑我国沿海的具 体情况、国防与安全、人民福利等情况之后做出决定”,他认为中国应使用直线基线法来划定领海宽度,其宽度不应少于12海里。1957年12月,联合国第一 次海洋会议在日内瓦开幕前夕,《人民日报》刊登了一篇题为《领海主权与公海自由》的文章,批驳了美、英等国所主张的3海里领海宽度为国际法一般规范的谬 论,强调“绝大多数国家的实践表明,领海的宽度应由沿海国根据其历史习惯、经济利益和国家安全自己自由决定”。[4] 建国初期有关领海的管理措施和专家学者关于领海问题的研究成果为1958年我国《领海声明》的发表提供了一定的理论基础。
从现实直接原因来看,朝鲜战争爆发后美国决定以武力阻止中国大陆解放台湾,命令海军第七舰队开进台湾海峡。朝鲜战争结束后美国不但继续赖在台湾不走,而且 还不断地派军舰明目张胆地侵入厦门等沿海地区,并派海军战斗机侵入福建、广东等省的领海上空,扩大对我国的侵略范围。美国这种露骨的军事挑衅是对我国领海 主权的严重侵犯,对此,我国政府曾一再提出严重警告和谴责。可见,1958年中国发表《领海声明》主要是针对当时美国以武力非法霸占台湾、造成台湾海峡紧 张局势的,以进一步向全世界阐明新中国政府在领海问题上的态度和立场。另外,当时日本等国家的一些现代化渔船还经常到中国的渔场进行非法捕捞,中国政府虽 提出抗议,人家却闭起眼睛装聋作哑。由于没有法律依据,很难达到有力惩处的目的。
从国际上来看,一方面,当时一些国际会议制订了有关领海问题的法律文件,如1930年海牙国际法编纂会议拟订了关于《领海的法律地位》的报 告,1950~1956年国际法委员会草拟了海洋法公约草案,特别是1958年2~4月在日内瓦举行的联合国第一次海洋会议通过的《领海与毗连区公约》以 国际条约的形式确认了各国建立领海的权利,这为中国《领海声明》的发表提供了一定的国际法依据。另一方面,当时第三世界开展了扩大领海主权的斗 争,1947年首先由智利和秘鲁掀起了争取和维护200海里海洋权的斗争,接着哥斯达黎加、萨尔瓦多等国也相继提出了类似的要求,出现了向海洋扩大沿海国 主权和管辖权的历史潮流。1954年厄瓜多尔、墨西哥等国还采取了一系列保卫本国领海和渔业资源的强有力的实际措施,对于擅自闯入本国领海和管辖范围内的 海洋大国渔船坚决抗议、拘捕和罚款,这些都为中国《领海声明》的发表提供了宝贵的经验。
二、《领海声明》的主要内容
1958年的《领海声明》主要对新中国的领海制度作了如下几项基本规定:
第一,关于领海宽度问题。领海宽度是指从测算领海的基线起至其最外沿线之间的距离。对此,《领海声明》规定:“中华人民共和国的领海宽度为12海里 (涅)。这项规定适用于中华人民共和国的一切领土,包括中国大陆及其沿海岛屿,和同大陆及其沿海岛屿隔有公海的台湾及其周围各岛、澎湖列岛、东沙群岛、西 沙群岛、中沙群岛、南沙群岛以及其他属于中国的岛屿。”这项规定体现了国家主权,完全符合中国人民的利益,也是符合当时公认的国际法准则的。但是,当时某 些帝国主义国家把我国12海里的领海宽度说成是“不能接受的”,如美国拒不承认我国的《领海声明》,认为国际法只承认3海里领海,中国没有权利规定12海 里的领海宽度。英国也表示不承认3海里以上的领海,并照会我国政府对《领海声明》表示异议。美、英这种说法和做法是毫无道理的,是对中国主权的粗暴干涉。
任何国家都有权确定自己的领海宽度:(1)作为国家的一种主权行为,沿海国家所确定的领海宽度一旦宣布便立即生效,无需别国的承认,别国也无权提出释义, 这一主张实际上是基于这样一种观点:即国际法的主体主要是主权国家,任何人都不能对其主张加以限制。(2)一国的领海究竟应当多宽,当时各国之间并没有一 致的协议,长期以来国际法也没有关于领海宽度的统一规定,各国从来都是自主确定本国的领海宽度。(3)世界上各地区沿海的自然条件各不相同,国家的海域接 界情况是多种多样的,各国经济发展和国家安全的需要也互有差别,因此,要求所有国家都有相同的领海宽度就等于说所有国家的地理条件是相同的,这是极为荒谬 的。(4)沿海国有权在考虑历史、地理、经济、社会、国防等因素以及相邻国家的合法利益和国际航行的便利的基础上合理确定自己的领海宽度。
3海里并不像美、英所标榜的是领海宽度的唯一界限,也不是国际法普遍接受的规则。(1)历史上关于领海的宽度有各种各样的说法,如航程说、视力说、海上要 塞围墙说、大炮射程说等等,其中3海里领海宽度起源于大炮射程说。1703年,荷兰法学家宾刻舒克提出沿海国控制近海的宽度以大炮射程为限,当时大炮射程 约为3海里,因此,1782年意大利法学家加林亚尼建议以3海里作为领海的宽度。后来,英、美等国家根据这一思想相继实行了3海里的领海宽度。但是,现代 武器日新月异,越来越向精确、远程、智能化方向发展,另外,在海运方面技术的发展和其他方面的技术进步对3海里规则不能不产生重大影响,因此,3海里说早 已过时。(2)由于各国的海岸情况不一样以及各种利益不一致,所以,与当时3海里同时并存的领海宽度还有以下几种:丹麦等国实行4海里的领海宽度;希腊等 国实行6海里的领海宽度;墨西哥等国实行9海里的领海宽度;苏联等国实行12海里的领海宽度;厄瓜多尔等国实行15海里的领海宽度;萨尔瓦多等国实行 200海里的领海宽度。由此可见,各国的领海宽度极不统一,3海里领海宽度只是海洋大国的一种主张,不能以此来否定或反对超过3海里以上领海宽度的合法 性。(3)第二次世界大战结束之后,取得民族独立的新兴国家一般主张较宽阔的领海,以达到维护本国的安全、保护其海洋资源、发展本国经济的目的。在这种情 况下,主张3海里领海的国家逐渐减少,而主张12海里的国家在增加。到1958年中国发表《领海声明》时,世界上宣布12海里的国家有苏联、印度尼西亚等 15个国家,因此,我国政府也自然有充分的权利和根据规定自己的领海宽度为12海里。
美、英等国坚持狭窄的3海里领海宽度实质上是旧殖民主义政策的反映。当时世界上坚持3海里领海宽度的国家多数是拥有庞大的海军力量、广泛进行海上活动的海 洋强国,这些海洋强国的地盘别人没有能力去也不敢去,而别人的地盘它们的舰队却可以随便去。另外,它们有既得的海上利益,需要维持尽可能狭窄的领海以确保 最大的公海区域作为其海上舰船游弋的场所。因此,美、英反对它国扩展领海宽度绝不是从所谓国际航行的利益出发,而是企图最大限度地接近别国海岸,掠夺这些 国家水中的自然资源,进行军事挑衅以及其他敌对行动。当时美国连续不断地派遣军舰和军用飞机侵入中国领海和领海上空,进行战争挑衅和扩大侵略范围,正是它 们把3海里领海宽度奉为金科玉律的最好注解。
第二,关于领海基线问题。为了明确领海范围,一般要确定一条测算领海宽度的起始线,即领海基线(也就是领海宽度的内部界限)。基线向陆一侧是国家的内海, 基线向海一侧则为领海水域。领海基线有正常基线和直线基线,这两种划法反映了海岸地理情况的差异:在海陆分界明显、海岸线比较平直的海岸一般采用正常基线 法,即以低潮线作为基线。在海岸非常弯曲、沿岸又多岛屿的情况下一般采用在沿海大陆上和岛屿上各选定一些基点,在每两个基点间划出直线,连接这些直线构成 基线,也就是直线基线法。1958年我国的《领海声明》宣布不再以旧中国的低潮线(即正常基线)为起始线,而采用直线基线法:“中国大陆及其沿海岛屿的领 海以连接大陆岸上和沿海岸外缘岛屿上各基点之间的各直线为基线,从基线向外延伸12海里(涅)的水域是中国的领海。”这种直线基线法符合中国海岸线蜿蜒曲 折、沿海多岛屿的实际情况,是非常合理的。
由于每个国家的地理条件不同,不可能制定统一的计算方法适用于一切国家,所以同决定领海宽度一样每个国家也可以决定自己领海宽度的计算方法。我国采用直线 基线法不但是合理地行使自己不可剥夺的主权,而且也是符合国际实践和国际法的。早在1812年,挪威考虑到它的沿岸特别曲折,在“皇室公告”中就确认了这 种划法,并在1935年国王敕令中采用这种划法来确定挪威捕鱼区范围。由于直线基线围入的水域是英国过去的捕鱼区,因此,英国竭力反对这种划法。后来两国 将争议提交国际法院,1951年国际法院裁定挪威划定捕鱼区的方法不违反国际法,这就确认了直线基线法的合法性。此后,冰岛、印度尼西亚等国也相继采用了 这种划法。由于这种划法比较方便,而且能够比正常基线扩大国家主权管辖下的内海和领海面积而为越来越多的国家所采用。1958年联合国第一次海洋会议通过 的《领海和毗连区公约》以国际条约的形式肯定了这种划法:遇有海岸线凹入甚深或岛屿紧接海岸,在划定领海宽度起算的基线时可采取直线基线连接适当的各点的 方法。当然中国也可以根据自己的需要和沿海地理面貌使用直线基线法划定自己的领海宽度。
第三,关于中国内海问题。内海也叫内水,是指一国领海基线以内的水域,如同陆地领土一样,内海是沿海国领土的组成部分,其法律地位与陆地领土相同。 1958年我国的《领海声明》规定:“在基线以内的水域,包括渤海湾、琼州海峡在内,都是中国的内海。在基线以内的岛屿,包括东引岛、高登岛、马祖列岛、 白犬列岛、乌岛、大小金门岛、大担岛、二担岛、东碇岛在内,都是中国的内海岛屿。”[5] 这里有两个问题需要说明一下:
关于渤海湾问题:(1)国际法认为对于沿岸属于一国领土的海湾可在一定条件下作为沿岸国的内海,如1958年联合国第一次海洋会议通过的《领海和毗连区公 约》规定:如果海湾的湾口宽度不超过24海里,则湾口封闭线所包围的水域为内海;如果湾口宽度超过24海里,则湾内24海里的直线基线所包围的水域才是内 海,但此项规定不适用于“历史性海湾”。(2)历史性海湾是指那些海岸属于一国,沿岸国对该海湾长时期行使主权,并且其他国家对此表示同意或默认的海湾, 无论其湾口宽度是否超过24海里,都被视为沿岸国的内海,如苏联1957年宣布大彼得湾为历史性海湾,其湾口宽达110海里。渤海湾就属于中国的历史性海 湾,这可以用一个历史事实证明:1864年,当普鲁士与丹麦在欧洲作战的时候,普鲁士公使李福斯乘军舰在渤海湾内捕获了3艘丹麦商船。当时清朝认为这件事 发生在“中国专辖之内洋”(即中国内海),“并非各国公共海面”,“系显夺中国之权”,并引证当时已译成中文的国际法提出抗议,这“非为丹国任其责,实为 中国保其权”。在以国际法原则为依据的抗议和清廷将不接待普鲁士公使的威胁下,普鲁士照会“自任咎在普国”,于是释放了3艘丹麦商船。[6] 这件事充分说明渤海湾自古以来就隶属于我国主权之下,受到中国政府的有效控制和管理,早已被公认为中国内海。(3)从渤海湾的地理特征来看,它的湾口虽然 宽达45海里,但湾口排列着庙岛群岛等一系列岛屿,形成了8个入口,其中最大的一处也不过22.5海里,在24海里以内,即使根据1958年联合国第一次 海洋会议通过的《领海和毗连区公

Công hàm Phạm văn Đồng 1958.

Wikipedia

(Trích trong mục DI SẢN)

Chính phủ Trung Quốc ra Tuyên bố về lãnh hải 12 hải lý ngày 4 tháng 9 năm 1958[17]. Phạm Văn Đồng sau đó đã viết một Công hàm gửi cho thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai vào ngày 14 tháng 9 năm 1958[17] và sau đó cho đăng trên báo Nhân Dân ngày 22 tháng 9 năm 1958, trong đó có đoạn:

Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Phạm Văn Đồng gửi thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Trung Quốc về hải phận.

Theo quan điểm của Trung Quốc, công hàm của Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà Phạm Văn Đồng đương nhiên “công nhận” chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo trên biển Đông vì trước đó trong số báo ngày 6 tháng 9 báo Nhân Dân “đã đăng chi tiết về Tuyên bố Lãnh hải của chính phủ Trung Quốc trong đó đường cơ sở để tính lãnh hải bao gồm bờ biển hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa trên biển Đông[17].

http://ttxcc6.files.wordpress.com/2014/02/0775f-conghambannuoc.jpg

 

 

 

http://tunhan.files.wordpress.com/2014/01/a0a4d-baohnhandan-chuquyen-danlambao2.png

 

https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTWF5sjDWW65eQs9KZ19hO5WeySGM2iW9RUtAyQleDNuCGTcbdI

 

Những hình ảnh trên chép trên Net từ Google dẫn.

Thư Nguyễn Khắc Viện gửi Trường Chinh về trường hợp Võ Nguyên Giáp, Hoàng Minh Chính

Boxitvn

image

Chuyện Hai Thiện làm nhà

Truyện ngắn
Đoàn hữu Hậu

Mấy hôm nay, trời oi bức lạ thường, không một tí gió, đến nỗi sợi tóc rơi ra cũng nặng nề rơi xuống đất. Kinh nghiệm dân chài cho biết sắp có mưa to gió lớn. Các ghe thuyền đánh cá tề tựu cập lên bãi cát, nơi mà thường khi họ vẫn đậu. Chiếc ghe cũ kỹ chứa đựng năm con người của gia đình Thiện không có cái ăn dự trữ. Người con trai cả tên Thiện, dắt đứa em gái 12 tuổi tên Chân, lên bờ xem có ai thuê mướn gì để kiếm cái ăn.

ảnh minh họa

Khoảng năm giờ chiều gió bắt đầu thổi mạnh, trời sẫm tối, mây đen cuồn cuộn, sấm chớp nổ vang rền… Gió thổi la liệt các ngọn cây dừa, cuốn theo những tấm lá của nhà bị tốc nóc… Mưa to như thác đổ … Hai Thiện nắm tay em gái chạy vào cái miếu bên đường trú ẩn. Gió càng lúc càng mạnh, mưa càng to. Chân ngồi co ro trong gốc miếu, run cầm cập, khóc:

– Anh ơi!… Ghe mình cũ quá… Ba má với con Út hổng biết có gì hông…Về đi anh ơi!…

– Không sao đâu… Bây giờ về không được đâu!

Tuy trấn an em như vậy, nhưng trong lòng Thiện xốn xang, rối bời. Anh có linh cảm điều không may sẽ xảy ra cho gia đình. Hai anh em mệt mỏi, ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

Trời vừa tảng sáng, người ta đã bu nghẹt ở bãi cát. Xác của cha mẹ Thiện sóng soài trên bãi, còn con Út không thấy chút dấu vết nào. Xung quanh là những thứ vật dụng sinh hoạt và những tấm ván của những chiếc thuyền bị sóng to đánh vở. Hai đứa trẻ nhào đến ôm xác mẹ cha kêu gào thảm thiết, gọi tên Út vang trời

Dân làng chài không ai bảo ai, cùng nhau nhặt những mảnh ván, đóng thành hòm, rồi mỗi người đóng góp vô một thứ cần thiết để mai táng và chôn cất tử tế cặp vợ chồng xấu số .

Hai cái mộ vừa đắp xong, Hai Thiện rưng rưng nước mắt quỳ trước mặt mọi người:

– Anh em con cảm ơn các bà con cô bác thương tình đã chôn cất tử tế cho cha mẹ con!…Con nguyện ghi ơn suốt đời!

Nói xong hai anh em lạy lia lại lịa.

Thấy hai đứa trẻ khốn nạn bơ vơ dân làng xót thương, nhưng không ai dám nhận về nuôi, vì ai cũng nghèo. Người ta vội quyên góp kẻ công người của dựng cho hai anh em một cái chòi gần mộ mẹ cha để trú mưa tránh nắng. Trong số những người giúp đỡ tích cực cho mình, Thiện chú ý đến một người đàn ông có đôi mắt sáng tên là Đang. Anh lớn hơn Thiện khoảng năm, sáu tuổi, có vẻ như là người đứng đầu của nhóm dân làng. Từ ngày ấy, anh ta thỉnh thoảng ghé thăm và cho anh em Thiện quà. Khi thì vài lon gạo, khi thì cái áo cũ…

Một đêm mưa tầm tã, nước dột lênh láng trong chòi, lạnh buốt thịt xương. Hai Thiện ôm đứa em gái đang run cầm cập mà đầu vang vang suy nghĩ: “Phải làm cho bằng đuợc căn nhà ngói ba gian”.

****

“Đùng đoành đoành”, nhiều tiếng súng nổ ở cuối làng, chiến sự ngày càng diễn ra ác liệt , chính quyền Ngụy tăng cường bắt lính. Trai tráng trong làng bị truy lùng, ruồng bắt, chạy tứ tán. Anh Đang, người Thiện kính mến, thường hay ghé thăm đã bặt vô âm tín.

Vừa sáng sớm, Thiện vác cuốc lên vai định đi cuốc mướn, tên Trưởng ấp dẫn theo hai tên lính cầm súng lăm le, chặn lại:

– Mầy tên gì? mấy tuổi?

– Tui tên Thiện …mười sáu tuổi!…

Chìa tấm giấy trước mặt Thiện, hắn nói tiếp:

– Mầy đí lính quốc gia…Nè cầm một ngàn đồng nầy…tiền thưởng đó…Từ đây về sau tên mầy là Hoàng văn Giang , 18 tuổi … nhớ chưa?.

Rút ra tấm giấy và cây viết, hắn viết ba chữ thật to“ Hoàng văn Giang ” rồi đưa cho Thiện:

– Nè tên mầy đó. Tập viết cho rành nghen để mai mốt ký tên lãnh lương!…Nghe rõ chưa!… Mai lên trụ sở hành chánh, có xe đưa đi. Mai mà vắng mặt mầy là mầy tới số đó con!…

Nói xong hắn hất hàm hai tên lính rồi bỏ đi. Thiện ngơ ngác nhìn theo.

Hai Thiện nhìn cái chòi thấy không ổn, sợ khi mình đi rồi, em gái gặp chuyện không may, liền đem tiền “bán thân” mua vật liệu dựng cho em căn nhà nhỏ rông tám thước vuông, cùng với một số vật dụng nấu ăn. Xong đâu đấy, anh gạt nước mắt vác ba lô lên vai, ra đi.

Ba tháng sau, vừa có lệnh lên đuờng ra mặt trận, Thiện vội trốn về nhà . Làm sao Thiện có thể hiến thân mình cho cái gọi là “quốc gia “ ấy được.

Năm sau, Trưởng ấp lại đến chòi. đưa cho anh tấm giấy viết ba chữ lớn ” Trần văn Xảo” : “ Đây là tên mới của mầy …tập viết đi …Tiền nè … Mai lên trụ sở tập trung” . Trước sau anh ta “bán mình” ba lần và lần nào thì cũng một vài tháng là lót tót trở về . Tiền bán mình lần thứ hai Thiện dùng để trả tiền đất nền nhà, tiền bán mình lần thứ ba thì dùng để trả tiền mộ địa cho mẹ cha.

Một đêm tối trời,Thiện vừa mò đến bên vách chòi em gái, thì nghe tiếng hai người con gái nói chuyện. Anh kề tai vào vách lắng nghe .

Tiếng cô em thao thao kể về người anh kính mến của mình…Nào là anh tôi rất đẹp trai…hiền lành, nhân hậu…Không kiềm nổi xúc động, mừng vui, Thiện buộc miệng kêu lên : “ Chân ơi ! Anh về nè ! ”. Cô em nghe tiếng anh trai, mừng quýnh vừa tốc dậy vừa kêu: ” Đó anh tui về đó !…”. Rồi mở cửa chạy ra, ôm choàng lấy anh, hai tay đấm vào lưng anh thình thịch. Hai anh em ôm nhau mừng mừng tủi tủi. Đếm ấy trong căn chòi chật chội bỗng ấm cúng hẳn lên. Cô em kể cho anh nghe về việc ở nhà quen cô gái mù chạng tuổi, ăn xin ,mồi côi cha mẹ từ thuở nhỏ… Cả hai giống nhau về hòan cảnh, thân phận nên kết làm bạn, rồi Chân rủ về nhà ở cho vui. Thiện nghe qua mừng lắm và bảo cô gái cứ ở lại đây, đừng ngại ngùng gì. Họ nói chuyện đến hơn nửa đêm mới nghỉ .

Sáng ra như thường lệ, cô gái mù cầm gậy ra đi. Thiện thấy vậy ngăn lại :

– Cô ở nhà đi…Không phải đi xin nữa !… tui sẽ lo cho cô !

– Nhưng em không muốn làm phiền anh chị !

– Mà sẽ làm phiền người khác !…cô không phải đi đâu nữa!…

Ngày qua ngày , rễ bén duyên sâu, một hôm Thiện bảo cô không cầm gậy mà hãy vịn vào vai anh . Thế rồi ngày lặi ngày qua họ thành vợ chồng với nhau hồi nào không hay. Sau đó cô vợ mù sanh cho Thiện đứa con trai bụ bẩm, kháu khỉnh, không thua bất kỳ con cái nhà ai ở xứ sở nầy.

****

Một ngày, từng đoàn người trong làng lũ lượt cầm băng rôn, khẩu hiệu diễu hành hô vang “ Việt Nam độc lập muôn năm !…” . Trong số những người hân hoan đón mừng, có anh em Thiện. Anh nghe người ta nói với nhau rằng miền Nam được giải phóng, mọi người sẽ được tự do … Ai cũng được giàu có… Chưa biết thực hư ra sao, nhưng đối với Thiện điều chắc chắn là sẽ không có chuyện bán mình đi lính thuê như trước nữa.

Chính quyền cách mạng chia ruộng đất cho những ai không có đất; trong đó có vợ chồng, anh em nhà Thiện. Anh mừng lắm và tin tưởng một cách chắc mẽm rằng căn nhà ngói ba gian mà mình mơ ước từ lâu sẽ thành hiện thực . Một người nghèo khổ đã vùng dậy, lại lấy việc dựng nhà làm mục tiêu phấn đấu thì quả là một việc tất nhiên hoàn toàn hợp lý .

Được ruộng đất, cả nhà Thiện cật lực làm ăn và thực hiện chính sách “triệt để tiết kiệm”.

Từ sáng tinh mơ, họ đã kéo nhau ra đồng. Vợ anh tuy mù nhưng không kém cô em bất cứ việc gì. Ra ruộng, sau khi cho con bú, chị để đứa bé ngủ trên bờ ruộng, rồi theo chổ chỉ của chồng, chị cuốc từng mãng đất to. Cứ theo hướng đó mà làm hoài tới, cho tới khi chồng bảo sang hướng khác… Cô em vất vả lắm mới cuốc theo kịp chị. Họ dùng dụng cụ đơn giản nhất để lao động chí chết, giành giật từng hạt thóc. Dùng phương thức kinh doanh nguyên thủy nhất là tích cóp từng đồng. Mỗi ngày họ kiếm đuợc rất ít, nhưng họ hiểu được rằng những cái lớn lao nhất đều đựợc tích cóp từ cái nhỏ nhất. Lúc không kiếm ra tiền, cả nhà quyết nhịn đói mà làm, mỗi người, mỗi bữa bớt đi một chén cháo, coi bốn chén dư ra là lãi. Cả năm nuôi gà mà không hề biết thịt gà ra sao, thậm chí trứng gà còn không thèm rớ tới. Tất cả được đem đi bán lấy tiền, để mua vật liệu, khi thì vài chục viên gạch, khi thì một bao xi măng. Mỗi khi rãnh rỗi, Thiện lại nhớ cái nghề… hốt thuốc nam. Anh ra đồng, men theo các bờ ao bứt cỏ mực, đào rễ tranh, hái lá thúi địt, ô rô , cóc kèn …tất cả đem phơi khô. Hôm sau quãy qua các xóm lân cận, “xem mặt”, bốc thuốc. Không biết anh học lóm cái nghề nầy ở đâu, nhưng rõ ràng cái nghề nầy rất hay. Vì ba cái thứ ấy bệnh gì cũng uống được, không bệnh uống cũng không sao, chả có chết thằng tây nào. Bệnh nhân nào thơm thảo trả tiền lấy tiền, trả gạo lấy gạo, thậm chí đổi lấy cái áo rách cũng chơi luôn…

****

Cô Chân đã lên tuổi hai mươi ba, nhưng vẫn chưa chịu lấy chồng. Cô hiền lành, thực thà, dáng vấp xinh đẹp lạ thường. Nhìn kỷ cô giống anh như đúc, có điều cái mũi nhỏ hơn, môi mỏng hơn. Riêng chỉ việc ấy cũng đủ thấy tạo hóa quả là vĩ đại đến dường nào. Việc nầy cũng đúng với ý nguyện ông anh. Vì nếu lấy chồng thì nhà chẳng những mất đi một lao động chính,mà còn bị địa phương cắt nhân khẩu, coi như mất toi một suất ruộng… Trong Chân, luôn có tâm niệm sẽ giúp anh trai xây cho được căn nhà. Cô làm sao có thể quên một đêm mưa gió bão bùng, ông anh nói như hét rằng “ Phải làm nhà ngói ba gian !…”. Cô tự nguyện hiến dâng những năm tháng tươi đẹp nhất của tuổi xuân cho ý nguyện của ông anh.

“Tích tiểu thành đại”, rồi thì gia đình Thiện cũng đã tích mót đủ vật liệu để xây dựng căn nhà ngói ba gian. Bây giờ thì cô em gái đã 29 tuổi. Theo gợi ý của ông anh , cô đồng ý lấy một anh chàng 30 tuổi ở làng bên. Ông em rễ, cũng dạng nghèo rớt mồng tơi, phải nuôi ông bà gìa và cô em gái tật nguyền do chiến tranh để lại. Biết cuộc sống chờ mình vẫn là gian nan khổ ải, nhưng Chân không để tâm đến chuyện ấy.

Lo xong chuyện chồng con cho em gái, Thiện nằm vắt tay lên trán xem xét lại mình còn thiếu cái gì để dựng nhà:

– À ! chưa đủ tiền thuê thợ mộc… thợ nề, cơm nước !… Thôi thì đợi thêm năm nữa vậy !…
Mắt lim dim nhìn những tia nắng xuyên qua nóc nhà, anh cảm thấy nôn nóng muốn làm ngay cái nhà ba gian . Bỗng có người bước vào báo có lệnh mời anh lên trụ sở gặp Tập đoàn trưởng .

Vừa bước vào trụ sở anh nhận ra ngay người đang ngồi loáy hoáy viết cái gì trên bàn, chính là anh Đang, người đã từng giúp đỡ anh lúc trước. Thiện vừa khép nép bước vào, anh ta hất hàm nói ngay :

– Nghe nói anh đã dự trữ vật tư vật liệu xây dựng nhiều lắm phải hông ?!…Để làm gì !?… đầu cơ tích trữ à?…Hay để bán chợ đen, phá hoại thị trường !?…

– Dạ!… Dạ chỉ có gạch ngói, cây cối để làm nhà!… Thiện vừa gãi đầu vừa nói.

– Muốn là tư sản hả?!… Chúng ta đang đánh đổ tư sản !…. Anh bỏ ngay tư tưởng tư sản đó đi!…. Chính quyền cách mạng do giai cấp công nông lãnh đạo !… là bảo vệ lợi ích cho giai cấp …Chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mà muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa .

Ngừng một lát anh ta nói tiếp: “ Chúng ta xây dựng hoàn toàn là vì mọi người, cho nên mọi người phải giúp đỡ việc xây dựng của chúng ta… Bất kỳ sự tính toán cá nhân nào cũng không cần thiết. Tương lai cuộc sống của mọi người sẽ mĩ mãn như nhau. Một chút của riêng nho nhỏ đáng thương có đáng là gì, đóng góp nó cho sự nghiệp vĩ đại mới là hành động vinh quang… Tui nói gì anh hiểu hông ?!…Ừ tốt !…Chẳng cần lo lắng gì hết, tất cả sung công sử dụng, mọi người ai cũng như ai chẳng ai bị lừa dối cả!…
Thiện ngồi chết trân, thỉnh thoảng anh gật đầu .

****

Về tời nhà, Thiện nằm vắt chéo gìò trên giường tre, gác tay lên trán, phì phà điếu thuốc, cố nhớ lại những gì Tập đoàn trưởng nói. Thiện không rõ hết anh ấy nói gì, nhưng cảm thấy hay hay . Bỗng mắt anh vụt sáng lên, rồi vỗ đùi nghe cái chát, rồi bật ngồi dậy, bước xuống đất chấp tay sau đít đi đi lại lại trong căn nhà bốn thước…

Không ngờ lý luận của Tập đoàn trưởng được anh quán triệt một cách sâu sắc. Không nghi ngờ gì nữa!…Đúng là xuất phát từ công tâm!…Thiện nói lép nhép một mình , lòng thấy vui vẻ, nhẹ nhõm.

Anh đem chuyện nầy ra bàn với vợ. Vợ anh, cô gái mù năm xưa, nói cho thật đúng thì cái tâm còn tốt hơn anh. Chị có thiết gì tới căn nhà ba, bốn gian. Với chị, dẫu nhà có mấy gian đi nữa cũng chẳng có nghĩa lý gì. Vì vậy, không những vật liệu định xây nhà mà nếu tập thể cần cái giường tre xục xịch của hai vợ chồng, cô cũng sẳn sàng hiến dâng không tiếc.

Vài ngày sau, trong khi Thiện đang tính toán khiêng những thứ vật liệu dành dụm ấy cho tập thể bằng cách nào, thì có lệnh gọi lên trụ sở Tập đoàn trưởng để trả lời các câu hỏi :

– Quê hương bản quán ở đâu? Gia đình vốn thành phần gì?

– Ba lần đi lính ngụy , là những loại lính gì ? cải tạo chưa ?…

Thiện tối tăm mày mặt,tưởng đã tàn đời, hai chân như muốn sụm xuống. Ấp úng ,ê a Thiện nói không đầu không đuôi, câu nghe được câu không. Nhưng hình như tập đoàn trưởng không quan tâm đến các câu trả lời của anh. Thiện không hiểu sao ông ta đổi ý chuyển đề tài mau chóng, khi nghe anh nói là làm cách nào chuyển ba cái vật tư cho tập thể.

Các vật liệu xây nhà của Thiện được tập kết về một khu đất rộng rãi vốn trước đây là đồn giặc. Và tại đây người ta cho xây dựng …chuồng bò thật to thật dài cho hợp tác xã. Đàn bò được huy động từ bà con trong ấp, từ nào giờ quen lối sống thả lan, giờ bị nhốt vào chuồng, chúng nó cắn phá dữ dội để thoát ra. Không biết vì chuồng đẹp quá, hay bò chê chuồng không đúng kiểu mẫu, mà chúng nó không chịu ở. Nhưng hể lùa nó ra gốc cây bên cạnh là chúng nó lại nằm êm.

Ruộng Hợp tác xã năm nào cũng thất bát. Xã viên thờ ơ chẳng buồn ngó tới. Thiếu người chăm sóc, ruộng nương, ao hồ cỏ dại thi nhau mọc um tùm… Trong làng dân chúng lần lượt kéo nhau đi làm ăn nơi khác. Thiện, một trong số ít nông dân vẫn kiên gan bám trụ , sống chết cùng tập đoàn,cùng làng xóm, chiều chiều lùa bò hợp tác xã vào chuồng. Nhưng Thiện vừa quay lưng đi, là chúng nó phá chuồng bứt dây niệt, kéo nhau ra gốc cây.

Năm ấy tập đoàn lại tiếp tục thất mùa, một số người từ đầu quyết bám trụ, bây giờ lại có ý định ra đi…

*****

Chính sách đổi mới của Nhà Nước như luồng gió mát thổi vào lòng người dân trong làng sau bao năm trời ngột ngạt. Dân làng hân hoan chời đợi một cái gì tươi đẹp hơn, ngon lành hơn.

Tập đoàn trưởng tập họp bà con thông báo chủ trương chính sách mới:

-E hèm!…Bây giờ Đảng ta chủ trương đổi mới rồi !… Không phải làm như tui đâu. Bà con hãy yên tâm làm ăn. Cứ tự do mà làm… Không có làm tập đoàn nữa … Còn tui …tui sẽ …từ chức !…
Tiếng mọi người nhao nháo lên :” Ừ !… Từ đi …từ hắt cái chức của cha đi!…cha dỡ ẹt!…”

Thiện ngồi đấy,có chút bàng hoàng, nhưng hình như anh đang mỉm cười.
Bà con trong làng ra đi từ trước, nay lần lượt trở về.

Thiện được thông báo là sẽ có chính sách đền bù. Chính sách đền bù của Chính phủ rất được lòng người. Nhưng người lấy sạch vật liệu làm nhà của Thiện không phải là Nhà nước mà là tập thể. Cái tập thể ấy dĩ nhiên cũng phải thi hành chính sách đền bù. Nhưng tập thể đã nghèo xác nghèo xơ lấy đâu ra vật liệu đền bù…Thôi thì cũng không sao. Thiện lấy làm hài lòng vì người lãnh đạo đã ân cần bảo rằng “đã thấy sai và quyết định sửa sai…”

Cuối cùng hai bên bàn bạc, chiếu cố khó khăn của nhau, quyết định không dỡ chuồng bò. Cứ để vậy ngăn làm ba gian cho gia đình Thiện làm nhà ở. Các căn còn lại giao cho những người khác cũng thuộc dạng có “công đóng góp vật liệu” vào đây như Thiện.

****

Chuồng bò, sau khi được dọn dẹp cũng trang hoàng như ai.. Gia đình Thiện dọn về đây ở. Dẫu sao cũng ngon hơn căn nhà bốn thước của anh, từ hồi đi lính thuê đến nay đã xiêu vẹo, mục nát. Thiện vịn vai đứa con trai lên mới lên 10: ” Con ơi mau lớn lên cùng ba làm lại cái nhà nầy!…Mặc sức mà làm…không ai cản nữa!…Đến đời con là ngon rồi đó!…”. Vợ anh hai tay quờ quạng, bước nhiều bước đi mà chưa lần tới vách. Cô em gái sang mừng nhà mới của anh nước mắt lưng tròng. Có lẽ họ quá vui sướng ./.
Đoàn Hữu Hậu

Sĩ khí rụt rè – Đáp án khoá mõm bọn phản động


Sĩ khí rụt rè


Ngô Nhân Dụng


Ðọc một bài trên mạng Bô Xít Việt Nam về câu chuyện vạch ra những lầm lẫn trong hai cuốn từ điển, bỗng nhớ đến hai câu thơ của Tú Xương tả cảnh các nhà Nho trong thời Pháp thuộc:

Sĩ khí rụt rè gà phải cáo
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi

 

Nhiều vị độc giả có thể chưa đọc bài “Hai quyển từ điển rất có hại cho tiếng Việt” của tác giả Lê Mạnh Chiến, cho nên xin phép tóm tắt lại. Hai cuốn từ điển được nói tới trong bài này là của Giáo Sư Nguyễn Lân, đã tạ thế năm 2003. Cuốn đầu là “Từ điển từ và ngữ Hán Việt” đã in nhiều lần, từ năm 1993, dài 867 trang (chắc tổng số trang phải là một số chẵn, 868?). Cuốn thứ nhì là “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” in lần đầu năm 2000, dùng phần lớn nội dung cuốn trước, cộng thêm phần tiếng Việt nên dài hơn, tới 2112 trang, cũng đã xuất bản lại nhiều lần.

Năm 2004, tác giả Lê Mạnh Chiến đã viết một bài nhận xét về cuốn đầu, Từ điển Hán Việt, ông nêu ra 170 chỗ giải nghĩa sai lầm. Khi viết bài, chính ông chưa biết tên tác giả và cũng không thấy tên đầy đủ của cuốn từ điển, vì tập sách ông có trong tay đã bị rách mấy trang đầu. Nghe chi tiết đó, chúng ta có thể thương cảm các học giả độc lập sống trong một nước nghèo. Nhưng ông Lê Mạnh Chiến vẫn viết bài, để giúp các giáo sư và học sinh cả nước dùng cuốn từ điển này biết mà tránh những sai lầm trong đó. Ông gửi bài cho tạp chí Thế Giới Mới để đăng nhiều kỳ. Nhưng tờ báo của Bộ Giáo Dục chỉ đăng được sáu kỳ (từ số 582 đến số 587, giữa năm 2004), thì loạt bài bị ngưng lại, không đăng nữa; các độc giả mới được thấy 67, 68 thí dụ, dưới một nửa số sai lầm mà ông Lê Mạnh Chiến tìm ra.

Tác giả sau đó có dịp gặp một nhà biên tập trong tờ báo trên, được nghe những lời giải thích. Mặc dù độc giả Tạp chí Thế Giới Mới chưa biết tên tác giả cuốn từ điển đó, nhưng những người trong cuộc biết đây là tác phẩm của Giáo Sư Nguyễn Lân, người được trao tặng giải thưởng nhà nước năm 2001 về khoa học và công nghệ. Người ta cho biết “Bài này được độc giả hoan nghênh nhiệt liệt vì đã vạch rõ những cái sai nghiêm trọng trong một cuốn từ điển từng được nhiều người ‘có tiếng’ ca ngợi.” Nhưng họ phải ngưng đăng vì Giáo Sư Nguyễn Lân được coi là một ngôi sao sáng của ngành giáo dục Việt Nam, còn tạp chí Thế Giới Mới là cơ quan thuộc Bộ Giáo dục, cho nên, nếu “vạch áo cho người xem lưng” một cách kỹ quá thì cũng có phần “bất tiện.” Ông Lê Mạnh Chiến kể: “Nghe vậy, tác giả rất thông cảm và biết ơn tạp chí Thế Giới Mới.”

Sau khi bài báo bị chấm dứt, ông Lê Mạnh Chiến kể ông đã viết những bài ngắn hơn, mỗi bài khoảng 4,000 chữ, nêu ra khoảng 20 chỗ sai lầm làm thí dụ, cho đăng trên những tờ báo khác, như báo Ðại biểu Nhân dân, tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, tạp chí Văn hóa Nghệ An, vào năm 2005. Ông Lê Mạnh Chiến cũng tiết lộ rằng ngay khi báo Ðại biểu Nhân dân đăng kỳ đầu tiên, đã có người đến phản đối; đó là một giáo sư tiến sĩ, đại biểu Quốc hội, liên hệ mật thiết với Giáo Sư Nguyễn Lân. Ông ta đến tòa báo nói rằng Giáo Sư Nguyễn Lân là một nhân vật nổi tiếng đã “thành danh,” sao dám làm mất uy tín của ông?

Giáo Sư Nguyễn Lân đã qua đời trước khi những bài báo của ông Lê Mạnh Chiến xuất hiện, cho nên chúng ta không thể biết nếu còn sống ông cụ sẽ phản ứng ra sao. Lúc in hai cuốn từ điển trên, Nguyễn Lân đã gần 80 tuổi (cụ sinh năm 1906). Ở tuổi đó, ngồi biên soạn những cuốn từ điển một, hai ngàn trang giấy, khó tránh khỏi lỗi lầm. Thường ở các nước văn minh, không ai một mình soạn từ điển, mà lúc nào cũng có hàng chục, hàng trăm người cộng tác, nhiều người chỉ làm một công việc là tìm những chỗ sai lầm mà thôi. Chỉ ở những nước nghèo khó như nước ta mới có cảnh những tác giả “một mình một ngựa” làm từ điển! Theo thói quen của những người Việt Nam được giáo dục theo lối cổ truyền, chúng ta không nên vì câu chuyện này mà xúc phạm một người đã khuất. Nhưng điều đáng nói trong cả câu chuyện trên là thái độ và cách suy nghĩ, cách nói năng của những người trong chuyện.

Thứ nhất là một tờ báo của Bộ Giáo Dục phải tránh không vạch ra những sai lầm do “một ngôi sao sáng của ngành giáo dục” vấp phải! Ðó cũng là lối lý luận của một đại biểu Quốc hội, nói rằng “một nhân vật nổi tiếng đã ‘thành danh,’ sao dám làm mất uy tín của ông?”

Thái độ và lối suy nghĩ đó sẽ làm cho nước ta chậm tiến; không bỏ đi thì sẽ lạc hậu mãi mãi. Nhất là khi câu nói xuất phát từ miệng một giáo sư tiến sĩ, một nhà khoa học, đứng đầu một cái viện nghiên cứu to lớn có tầm vóc quốc gia. Khoa học tiến bộ chính là vì người lớp sau dựa trên các công trình của người lớp trước rồi tìm cách vượt lên trên tìm ra những điều “đúng” với thực tại hơn. Nếu Newton cứ sợ sệt, không dám nói những điều trái ngược với nhân vật nổi tiếng đã ‘thành danh’ là Aristote, thì vật lý học vũ trụ đã giậm chân tại chỗ từ thế kỷ 16! Nếu Einstein sợ không dám làm mất uy tín của Newton thì loài người chắc vẫn chưa biết rằng trọng khối và năng lượng chỉ là hai hình thức biểu hiện của một thực tại. Chính Newton, vào lúc cuối đời, cũng công nhận rằng suốt đời ông coi thường lý thuyết vật lý lượng tử (quantum) là sai lầm.

Thứ hai, là hành động “tự kiểm duyệt” của một tờ tạp chí thuộc Bộ Giáo Dục, che lấp những sai lầm của “một ngôi sao sáng của ngành giáo dục” là một thói quen đáng xấu hổ. Bao nhiêu người đang tranh đấu đòi tự do ngôn luận, tự do báo chí, có ai chấp nhận những hành động “tự kiểm duyệt” như vậy hay không? Chắc hẳn những người phụ trách tờ báo Thế Giới Mới đã nhận được nhiều cú điện thoại gây áp lực, họ cũng lo sợ cho nồi cơm của gia đình mình, cho nên tự đục bỏ một bài viết có giá trị và rất ích lợi cho xã hội. Ðó chính là cảnh “sĩ khí rụt rè gà phải cáo” mà Tú Xương đã mô tả.

Tại sao “sĩ khí” lại “rụt rè” như gà phải cáo?

Chúng ta cũng không nên chê trách riêng những người biên tập báo Thế Giới Mới. Họ là sản phẩm của một nếp sống, một thứ “văn hóa” của thời đại; họ tập được thói quen đó vì những kinh nghiệp cuộc đời. Cho nên họ phản ứng theo những điều kiện trước mặt, như một phản xạ Pavlov. Nền nếp “văn hóa” đó được diễn tả qua câu tục ngữ “vạch áo cho người xem lưng.”

Không nên vạch áo cho người xem lưng. Nhưng nếu cái lưng đó có bệnh, cần phải chữa trị, thì có thể nào cứ khăng khăng không vạch áo cho người xem lưng mãi được chăng? Nhất là căn bệnh đó không phải chỉ tai hại cho một cá nhân, người có cái lưng cần vạch ra, mà còn tác hại trên hàng triệu sinh viên, học sinh sử dụng những cuốn từ điển đầy sai lầm. Một, hai thế hệ sử dụng các cuốn từ điển đó sẽ học sai, hiểu sai, tương lai tiếng Việt Nam sẽ ra sao?

Ðây là hậu quả của lối sống trong một chế độ độc tài chuyên chế, tác hại đến cả xã hội. Ðảng Cộng sản luôn luôn bưng bít các lỗi lầm. Ðảng có cả một bộ máy công an và tuyên truyền để che đậy, giấu giếm những sai lầm. Các cuộc họp đều bí mật, bên trong chửi bới nhau, kể tội nhau những gì người ngoài không được biết. Các lãnh tụ không bao giờ sai lầm cả, chỉ có các cấp dưới thi hành sai mà thôi. Các cán bộ không được nói đến sai lầm của cấp trên.

Tất cả chỉ vì một chế độ độc tài chắc chắn phải đi đôi với bạo lực và gian trá. Bao giờ nước Việt Nam thoát khỏi ách độc tài thì mới thoát khỏi lối sống giả dối, xóa tan nền “văn hóa” che đậy, bưng bít.

Năm 1974, nhà văn Aleksandr Solzhenitsyn đã viết một bài có tựa đề “Ðừng Sống Dối Trá” (Live Not By Lies) đúng vào ngày ông bị mật vụ đến bắt đem đi. Sau đó ông bị trục xuất, sống lưu vong cho đến ngày chế độ cộng sản sụp đổ mới về nước. Cố Tổng Thống Tiệp Khắc Václav Havel (1936-2011) viết trong cuốn “Quyền lực cho những người Bất lực” (The Power of the Powerless,) năm 1978, đã mô tả nước ông là nơi các công dân bị bắt buộc phải “sống trong một trò giả dối” (live within a lie). Năm 1984, chính ông đã kêu gọi đồng bào ông: “Hãy sống thật!” Năm năm sau, ông được mời làm tổng thống một quốc gia bắt đầu lên đường dân chủ hóa.

Nhiều nhà trí thức Việt Nam như Hà Sĩ Phu cũng đang kêu gọi đồng bào hãy “biết hổ thẹn,” hãy ngẩng đầu lên nói sự thật. Một đảng viên cộng sản lâu năm như Lê Hiếu Ðằng cũng can đảm công khai từ bỏ đảng để được sống thật. Những tấm gương đó cho thấy trong đất nước chúng ta vẫn còn rất nhiều người có sĩ khí. Hy vọng những tấm gương đó sẽ được nhiều người bắt chước. Ðể người Việt Nam có thể chúc nhau, nhân dịp Tết sắp đến, như lời Tú Xương đã chúc đồng bào phải sống ra sao để:

Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước
Sao được cho ra cái giống người.

 

Báng đầu thằng trọc phải nể lòng ông sư

unnamedChu Mộng Long – Thành ngữ, tục ngữ không dễ giải thích, mặc dù ta vẫn dùng (dùng đúng hoặc không ít trường hợp dùng tùy tiện, sai) trong nói năng, viết lách, chưa kể những khó khăn khi gặp nhiều thành ngữ, tục ngữ  đã thành cổ ngữ, tử ngữ. Nhưng cách giải thích của tiến sĩ ngữ học Nguyễn Đức Dương (được các giáo sư, tiến sĩ tên tuổi ca ngợi, biểu dương mới lạ?) là không thể chấp nhận, đúng là “làm hỏng di sản tục ngữ”.

Vì chủ quan, kiêu ngạo, thiếu thực tế, và quan trọng hơn, kém hiểu biết về ngôn ngữ và văn hóa Việt, cho nên tác giả cuốn từ điển đồ sộ này đã giải thích thô thiển, dung tục, sai lệch nhiều câu tục ngữ sinh động trong đời sống dân gian Việt.

Đa phần các mục trong quyển từ điển này, Nguyễn Đức Dương diễn nôm nghĩa đen của tục ngữ bằng cách đệm thêm từ ngữ cho rõ câu theo cách hiểu rất trẻ con, dung tục chứ người kinh nghiệm, từng trải chẳng ai hiểu thế.

Bài phản biện của Hoàng Tuấn Công tôi cho là giải thích xác đáng những câu tục ngữ mà Nguyễn Đức Dương đã giải thích một cách ngớ ngẩn. Rất tiếc, để tăng sức thuyết phục và thú vị của cách giải thích này, tác giả chỉ dựa vào giải nghĩa từ và suy luận theo hiểu biết kinh nghiệm mà không bắt đầu từ cấu trúc và ngữ dụng của từng câu tục ngữ. Bởi vì chính hình thái cấu trúc tạo nên lôgic ngữ nghĩa, và ngữ cảnh sử dụng rất rộng làm cho đa phần tục ngữ tồn tại sinh động không dưới một nghĩa.

Riêng câu Báng đầu thằng trọc phải nể lòng ông sư, Hoàng Tuấn Công giải thích chưa hết nghĩa, thậm chí chưa ổn:

“-Từ “báng” cũng có một nghĩa là “cốc”. Tuy nhiên, trong câu tục ngữ trên, “cốc” không thể hiểu là “cốc (vào) sọ” được. Nếu “cốc” vào đầu kẻ trọc thì kẻ trọc chịu đau, đâu ảnh hưởng gì đến ông sư ? Báng ( ) là từ Hán-Việt có nghĩa là: báng bổ, mỉa mai,lên tiếng chê bai, xúc phạm đến hình ảnh hoặc những điều đối với người khác là linh thiêng. Câu này có ý khuyên mọi người nên thận trọng khi ăn nói, nhất là những lời có ý báng bổ, xúc phạm kẻ khác.” (Hoàng Tuấn Công)

Đây là câu tục ngữ có cấu trúc đặc biệt. Giữa thằng trọcông sư có quan hệ tương đồng về hình dạng: đầu trọc, nhưng lại tương phản về tính cách: thằng (khinh bỉ) và ông (tôn trọng). Nghĩa đen: báng bổ thằng đầu trọc coi chừng động chạm, mất lòng ông sư vì đơn giản ông sư cũng có đầu trọc (chứ chẳng phải linh thiêng gì). Nghĩa bóng: câu này khuyên nên ăn nói cẩn thận, tế nhị, chê bai, phỉ báng người này nhưng lại mất lòng người khác vì liên quan đến một đặc điểm hình thức nào đó. Với nghĩa này, ngữ cảnh sử dụng của nó rất rộng, cho hàng trăm trường hợp khác nhau, chẳng cần phải đem đầu trọc ra phỉ báng mà đem lé, lùn, sẹo, thọt, chột, què, mù…, kể cả những cách nói/ viết không dám gọi đích danh mà chung chung, xỏ xiên, vơ đũa cả nắm như một số phóng viên báo chí hèn mạt hiện nay: hiệu trưởng loạn dâm, thầy giáo gạ tình, công an ăn hối lộ, cán bộ tỉnh ủy ngoại tình, kiều nữ hiếp dâm… đều có thể gây động chạm đến nhiều người.

Tất nhiên, đây là bài viết thể hiện trình độ ngôn ngữ – văn hóa đáng kính phục so với quyển từ điển được xem là kinh điển kia. Biết là báng thằng đầu trọc phải nể lòng ông sư, nhưng phải nói tác giả bài viết này xứng đáng là bậc thầy của nhiều thầy ngữ học mà mình đã học, xin được đăng lại để mọi người cùng học.

 

——————————-

Ai làm hỏng ” Di sản tục ngữ”?

Hay là những sai lầm của Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương trong Từ điển tục ngữ Việt

  Hoàng Tuấn Công 

Trong bài “Giới 8X, 9X với di sản tục ngữ” trên báo Lao động cuối tuần (số 10-8/3/2013) Nhà ngữ học, TS Nguyễn Đức Dương viết: “Không ít ý kiến cho rằng giới trẻ ở độ tuổi 8X, 9X ngày nay đang quá thờ ơ với tục ngữ [TN]. Một cô giáo dạy văn ở THCS tôi quen đã không chia sẻ nhận định ấy, mà thậm chí còn gay gắt bác lại. Theo cô, các em chỉ thờ ơ khi chưa thấu hiểu nội dung thôi, chứ một khi đã nắm được rồi, các em còn tỏ ra thích thú là đằng khác”.

Thế rồi, được sự giúp đỡ của cô giáo nọ, Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương đã làm một cuộc trắc nghiệm thú vị: Đưa ra 10 câu tục ngữ, mỗi câu kèm 2 cách giải thích trong 2 cuốn sách để các em chọn “thích” hoặc “không thích”: một cách giải thích trong Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân (NXB Văn Hóa – 1989); một của chính Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương (trong Từ điển tục ngữ Việt-NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh-2012). Kết quả (theo bài báo): cách giảng giải của Nguyễn Đức Dương được các em học sinh đánh dấu “thích” chiếm tỉ lệ áp đảo so với GS Nguyễn Lân. Nguyễn Đức Dương (NĐD) đi đến kết luận: “Nhận xét cuối cùng xin để bạn đọc tự đưa ra. Riêng về phần mình, chúng tôi chỉ có một nhận xét nhỏ: Làm cho nội dung của các đơn vị tục ngữ vốn vô giá của chúng ta sai lệch đi tới mức ấy thì ít người ưa và lắm người ghét âu cũng là chuyện thường. Chẳng phải vô cớ mà người xưa hay dặn: “Tiên trách kỷ; hậu trách nhân”(Nên tự trách mình trước khi trách người)”.

  Việc làm trên của TS Nguyễn Đức Dương thể hiện tâm huyết, trách nhiệm cao của một Nhà ngữ học lão thành đối với thế hệ trẻ. Nhưng tiếc thay, chính ông lại quên mất lời “người xưa hay dặn”. Bởi GS Nguyễn Lân giải thích sai đã đành, đến lượt mình, Nguyễn Đức Dương lại mắc phải cái sai kiểu khác, không kém phần nghiêm trọng. Sau đây là một phần nhỏ những sai lầm trong cuốn Từ điển tục ngữ Việt của Nguyễn Đức Dương, kể cả những câu được nhà ngữ học xem là chuẩn mực, đem ra làm mẫu cho các em học sinh, qua đó phê phán GS Nguyễn Lân.

 Những câu in đậm, in nghiêng của Nguyễn Đức Dương. Nội dung gạch đầu dòng là trao đổi lại của Hoàng Tuấn Công:

Ăn khi đói; nói khi say

 Ăn là chuyện hay diễn ra khi bụng đói; nói là chuyện hay diễn ra khi đã ngà ngà say.

-Đối với loài vật, chúng chỉ ăn khi đói (theo bản năng). Nhưng với con người, chúng ta còn ăn để thưởng thức, ăn cho vui, ăn để giao lưu, kết tình bạn bè… Ba ngày Tết, bụng không đói, mồm chẳng thèm, thế mà người ta vẫn ăn. Thậm chí ăn rất nhiều món, nhiều thứ. Còn khi “đã ngà ngà say” có người nói nhiều, nhưng không ít người lại im thít, hoặc lăn ra ngủ tít thò lò ! Cái “chân lý” mà Nhà ngữ học đưa ra thật khó đứng vững. Vả lại, giải thích như vậy thì còn gì là tục ngữ nữa ? Thử hỏi ta học được gì qua cách giải thích của N.Đ.D ? Tục ngữ là tri thức, là kinh nghiệm cơ mà ?

Câu tục ngữ đang bàn khuyên người ta cần thận trọng trong ăn và nói, đặc biệt là lúc đói và lúc say. Ăn lúc đói có thể không làm chủ được bản thân, ăn hỗn, ăn tham làm mất tư cách con người (Miếng ăn là miếng nhục-Tục ngữ); hoặc khi đói ăn không kịp nhai, ăn uống bậy bạ, dễ sinh bệnh tật. Nói lúc say (Rượu vào lời ra, Nói với người say như vay không trả-Tục ngữ) dễ sinh ra nói càn, nói bậy, phạm sai lầm, mắc lỗi đáng tiếc. Cách giải thích “tự nhiên chủ nghĩa” của Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương khiến câu tục ngữ bị mất đi giá trị vốn có của nó là giáo dục, răn đời sâu sắc.

Ăn vụng không biết chùi mép

Đã ăn vụng lại còn chẳng biết chùi mép (thì quả là dại dột hết chỗ nói). Hay dùng để nhắc mọi người hãy nhớ chùi kỹ mép sau khi ăn vụng xong (cho khỏi bị phát giác).

-Cứ theo cách lý giải này, tục ngữ khuyên dạy “mọi người” (trong đó chắc hẳn có tôi, chúng ta và cả… nhà ngữ học ?!) “nhớ chùi kỹ mép sau khi ăn vụng xong” (!) để sao cho trót lọt, “cho khỏi bị phát giác” (!) Hóa ra tục ngữ cũng dạy kinh nghiệm ăn vụng thế nào cho khéo ư ?

 Thực ra, đây là một câu chửi, câu phê phán, chế giễu, mỉa mai kẻ làm chuyện vụng trộm, bất chính nhưng lại hớ hênh, để lại chứng cứ, dấu vết quá rõ ràng khiến người đời cười chê.

Ba tháng con sẩy, bẩy tháng con sa

Mới ba tháng mà đã sinh (thì gọi là) con sẩy, mới bẩy tháng mà đã sinh (thì gọi là) con sa.

-Dân gian không có ý dùng tục ngữ để giải nghĩa từ vựng “con sẩy”“con sa” trong tiếng tiếng Việt.

“Ba tháng con sẩy, bẩy tháng con sa” là câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm dưỡng thai, an thai của dân gian (mà đến nay đã được khoa học chứng minh): trong ba tháng đầu thai kỳ, người mẹ thường dễ bị sẩy thai nhất. Bởi vậy trong thời kỳ này, chuyện đi đứng, sinh hoạt, thai phụ phải kiêng khem cẩn thận. (Đông y có bài thuốc “an thai”, Tây y cũng có liệu pháp điều trị chống sẩy thai). Vượt qua được thời kỳ 3 tháng đầu, thai nhi sẽ ổn định hơn. Tuy nhiên đến tháng thứ 7, thai phụ lại rất dễ bị đẻ non (con sa). Do đó từ tháng thứ 7 người mẹ cũng phải cẩn trọng trong đi đứng, sinh hoạt để tránh bị sinh non. Ba tháng con sẩy, bảy tháng con sa là vậy đó.

Báng đầu thằng trọc phải nể lòng ông sư

Cốc (vào) sọ những kẻ đầu trọc thì phải nể lòng ông sư (vì đầu ông sư cũng trọc).

-Từ “báng” cũng có một nghĩa là “cốc”. Tuy nhiên, trong câu tục ngữ trên, “cốc” không thể hiểu là “cốc (vào) sọ” được. Nếu “cốc” vào đầu kẻ trọc thì kẻ trọc chịu đau, đâu ảnh hưởng gì đến ông sư ? Báng ( ) là từ Hán-Việt có nghĩa là: báng bổ, mỉa mai,lên tiếng chê bai, xúc phạm đến hình ảnh hoặc những điều đối với người khác là linh thiêng. Câu này có ý khuyên mọi người nên thận trọng khi ăn nói, nhất là những lời có ý báng bổ, xúc phạm kẻ khác.

Bạng duật tương trì ngư  ông đắc lợi

Trai và cò mà tranh ăn với nhau thì kẻ được hưởng lợi thường là ông đánh cá (vốn được mời đứng ra phân xử vụ tranh chấp). Hay dùng để khuyên mọi người chớ có tranh ăn với nhau mà dễ bị kẻ ngoài cuộc đoạt mất.

-Sẽ thật không phải nếu dám coi thường nhà ngữ học – TS Nguyễn Đức Dương chưa hề biết đến điển cố“Bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”.Tuy nhiên, việc TS giải thích sai câu tục ngữ này lại nói lên điều đó.

Ở đây không có chuyện “trai và cò tranh ăn với nhau”, càng không có chuyện ông đánh cá “vốn được mời đứng ra phân xử vụ tranh chấp”. Điển cố này tóm tắt: Theo Chiến quốc sách, một hôm con trai mở miệng phơi nắng trên bãi cát, cò đi kiếm mồi, mổ ngay vào ruột con trai, trai liền khép chặt hai mảnh vỏ lại. Cò và trai cùng giằng nhau mãi, không con nào chịu nhường con nào, lão đánh cá đi qua thấy vậy liền chộp được cả hai (Điển Cố văn học – Nhà XB Khoa học xã hội – Hà Nội 1977).“Tương trì” nghĩa là níu giữ, giằng co nhau, không phải là “tranh ăn”như  soạn giả giải thích. Lẽ nào nhà ngữ học không biết đến cả mấy câu ca dao diễn dịch rất hay câu chuyện này: “Cái cò mà mổ cái trai, Cái trai quặp lại lại nhai cái cò, Ngư ông bước tới lò dò, Giơ tay chộp lấy cả cò lẫn trai” ?!)

Cà làng Hạc ăn gãy răng; khoai làng Lăng ăn tắc cổ

Cà làng Hạc (rắn tới độ) có thể làm gãy cả răng khi nhai; khoai làng Lăng (cứng tới độ) có thể làm tắc cả cổ khi nuốt.

-Lẽ nào nhà ngữ học lại không hiểu lời ăn tiếng nói của dân gian ? “Gãy răng”“tắc cổ” chỉ là cách nói ngoa dụ mà thôi. Cà làng Hạc (nay thuộc TP Thanh Hoá) là thứ cà màu trắng, ăn rất giòn. Khi cắn, âm thanh quả cà vỡ ra, giòn tan, khiến người ta tưởng như hàm răng người ăn cà cũng gãy ra, vỡ theo đánh “đốp”. (Còn có giống cà quả nhỏ, mầu trắng, ăn giòn tan như “pháo” nên gọi là cà pháo). Làng Lăng (làng Linh Lộ-xã Quảng Hợp-Quảng Xương- Thanh Hóa) có giống khoai tên là Ô Xập, lá chia nhiều thùy hình chân vịt, củ tròn, bột trắng xóa từ ngoài vào trong nên khi ăn thường bị nghẹn, cảm tưởng như cổ bị tắc lại. Câu tục ngữ này ngợi ca hai sản vật cà và khoai đều ngon, quý, không phải chê“rắn”“cứng tới độ” ăn “gãy răng khi nhai”“tắc cả cổ khi nuốt” như soạn giả lầm tưởng.

Chiêm khê; mùa thối

(Tình trạng hay gặp ở vùng chiêm trũng là đất gieo trồng) trong vụ chiêm hay bị khê; trong vụ mùa hay bị thối.

-Từ “khê” được Nguyễn Đức Dương giải thích “Khê (Đất phơi ải) chẳng tài nào khô nỏ và tơi xốp nổi (do ít được dãi dầu cùng nắng gió)”. Và chữ “Thối (Đất làm dầm) chẳng tài nào nhuyễn ra nổi (do nước mất hết khả năng ngấm sâu vào đất).

Loại đất cày ải không đủ thời gian hoặc điều kiện thời tiết làm cho khô nỏ, người ta gọi là ải thâm, không ai gọi đất “khê”(Ải thâm không bằng dầm ngấu) Nếu đất “không tài nào nhuyễn ra nổi” nguyên do “nước mất hết khả năng ngấm sâu vào đất” thì sao gọi là “thối” được ?

Câu tục ngữ trên nói về khó khăn của vùng đất không chủ động được tưới tiêu.Vụ chiêm (gắn với mùa khô) chỉ trông chờ vào nước trời, nên đất đai, cây trồng thường bị “khê” – khô cháy (“khê” – trong từ cơm khê – cơm bị cháy khét). Vụ mùa (gắn với mùa mưa lũ) hệ thống tiêu nước kém nên đất đai và cây trồng bị ngâm đến thối trong nước lũ. Bởi thế đối tượng mà tục ngữ nói đến ở đây không chỉ là đất gieo trồng (như NĐD giải thích) mà bao gồm cả cây trồng trên đất ấy (cụ thể là cây lúa nước).

Thực ra câu tục ngữ “Chiêm khê, mùa thối” chỉ là cách nói hình tượng hơn câu “Chiêm khô; mùa úng mà nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương dẫn ra ngay sau đó. Tuy nhiên, soạn giả lại tìm ra một cách giải thích khác, kèm thêm một cái sai khác: “Chiêm khô; mùa úng(Tiết trời hay gặp) khi làm chiêm là hanh khô (vì ít mưa); khi làm mùa là úng ngập (vì mưa nhiều)”. Theo cách giải thích này, Nhà ngữ học đã biến câu tục ngữ nói về nỗi khổ cực của người trồng lúa trên vùng đất canh tác khó khăn thành câu tục ngữ có nội dung nhận xét về đặc điểm “thời tiết hay gặp” của vụ chiêm và vụ mùa.

Đám cưới chọn ngày; đi cày chọn hướng

(Làm) đám cưới thì nhớ chọn ngày (lành); cho trâu ra đồng đi cày thì nhớ chọn hướng (vượng).

-Làm đám cưới “chọn ngày (lành)” thì đúng rồi. Nhưng “cho trâu ra đồng đi cày” cũng phải “nhớ chọn hướng (vượng)” mới cày thì nghe kỳ dị quá ! Nếu vậy, muốn trở thành thợ cày, người ta phải đi học thày phong thủy trước đã; và khi ra đồng, ngoài con trâu, cái cày, bác nông dân còn phải kè kè thêm cái la bàn ? !

Sản xuất nông nghiệp Việt Nam manh mún, nhỏ lẻ. Ruộng thì vuông, ruộng hình chữ nhật, ruộng xéo, gẫy góc, đủ mọi hình thù. Đường cày đầu tiên sẽ là đường quyết định cho tất cả đường cày, luống cày tiếp theo. Do đó, phải chọn hướng để cày, sao cho có được nhiều đường cày dài, trâu ít phải quay đầu, đồng nghĩa ít phải cuốc bờ, cuốc góc. “Đi cày chọn hướng” chỉ đơn giản vậy thôi.

Đất sỏi có chạch vàng

Đất chỉ toàn là sỏi với đá, nhưng sinh sống bên dưới lại là những con chạch bằng vàng.

-“Chạch vàng” ở đây không phải là “những con chạch bằng vàng” mà là những con chạch béo vàng-thứ chạch thường sinh sống dưới đất bùn có nhiều màu mỡ.

Đóm ăn ra; tim la ăn vào

Đóm là thứ hay cháy theo hướng từ trong ra: tim la là chứng hay ăn theo hướng từ ngoài vào.

-Có thể dễ dàng nhận ra soạn giả chép nhầm từ “đom” thành “đóm” rồi giải nghĩa từ vựng, diễn giải nội dung tục ngữ rất khiên cưỡng. Tại sao bỗng đâu đem chuyện đóm cháy so sánh với bệnh tim la ? Mặt khác khi cố tình lý giải “đóm là thứ hay cháy theo hướng từ trong ra ngoài” cho hợp với từ chép nhầm khiến đã sai càng thêm sai. Khi đóm cháy, ngọn lửa lan dần từ ngoài vào phía trong (phía tay người cầm đóm) đâu có cháy từ phía trong tay người cháy ra ngoài ? Sai sót này xuất phát từ chỗ soạn giả không hiểu quy luật cấu trúc từ của tục ngữ, thành ngữ dân gian. (Giống trường hợp câu Áo cứ tràng, làng cứ xã bị GS Nguyễn Lân chép nhầm thành Áo cứ chàng, làng cứ xã , mà chính Nguyễn Đức Dương đã từng phê phán trong phần phụ lục Từ điển tục ngữ Việt).

 Đom (là cách gọi tắt bệnh lòi đom hay lòi dom)  cũng là tên gọi khác của bệnh trĩ. Bệnh này là chứng sa trực tràng, phát triển theo chiều hướng “ăn ra”, tức ngày càng lòi (lồi) ra ngoài hậu môn. Còn bệnh “tim la” (hay tiêm la hoặc xiêm la, bệnh lậu) lại xâm nhập (chủ yếu qua đường tình dục, đường máu…) rồi ăn sâu vào lục phủ ngũ tạng, không nhìn thấy được. Như vậy lòi đom tim la đều là hai chứng bệnh. Câu Đóm cháy ăn ra; tim la ăn vào” (thêm chữ “cháy”) Nguyễn Đức Dương dẫn ra ngay sau đó và cho rằng đồng nghĩa với“Đóm ăn ra; tim là ăn vào”, chẳng qua chỉ là một dị bản ngụy tạo, mục đích cố chứng minh cho cái vô lý của “Đóm ăn ra, tim la ăn vào” mà thôi.

Đói giỗ cha; no ba ngày tết

Hay bị đói là vào dịp giỗ cha (vì đâu còn lúc nào mà nghĩ tới chuyện ăn trong khi đang mải lo chuyện cúng giỗ); hay được ăn no là vào dịp ba ngày Tết (vì đó là một thông lệ vốn có tự ngàn xưa)

-Không phải “hay đói là vào dịp giỗ cha”. Chẳng có ở đâu phong tục làm giỗ cha lại theo quy luật như thế. Giỗ cha là dịp lễ trọng (Trâu bò được ngày phá đỗ, cón cháu được bữa giỗ ông – tục ngữ). Nếu “đói vì mải lo chuyện cúng giỗ” thì cúng xong cũng phải được ăn chứ ? Tục ngữ có câu “Trước cúng cha sau va vô miệng” cơ mà ? (Chữ va có tính chất hài hước, ý chỉ con cháu ăn uống thực sự sau khi cúng giỗ). Thực ra, câu tục ngữ “Đói giỗ cha, no ba ngày Tết” được hiểu như sau: Ngày giỗ cha rất quan trọng, nhưng không dứt khoát phải cỗ bàn thịnh soạn. Gặp năm mùa màng thất bát, đói kém, chiến tranh loạn lạc thì ngày giỗ cha có khi chỉ có nén hương, chén nước, bát cơm, quả trứng gọi là nhớ ngày kỵ. Như thế không có gì là trái đạo lý. Bởi tín ngưỡng thờ cúng của người Việt không câu nệ mâm cao cỗ đầy, “Bắt thiếu giỗ, không ai bắt cỗ lưng”. Thế nhưng ba ngày Tết lại là chuyện khác. Người ta có thể túng thiếu, quanh năm nhịn đói, nhịn thèm, nhưng ba ngày Tết cũng phải chạy vạy bằng được để ít nhất không được ăn ngon cũng phải ăn no. Thế nên có câu “Giàu hay nghèo, ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà”. Tết đến người ta không chỉ ăn cho no bụng mà còn ăn để lấy may cả năm. Ngày Tết được ăn ngon, ăn no, mặc đẹp, vui vẻ, nhàn hạ thì hy vọng cả năm cũng sẽ được như vậy. Tóm lại, câu tục ngữ đưa ra ngày quan trọng (giỗ cha) để so sánh, khẳng định một ngày khác quan trọng hơn: Tết là ngày quan trọng nhất trong tất cả những dịp lễ quan trọng trong năm; Có thể bị đói vào ngày giỗ cha nhưng ba ngày Tết dứt khoát phải được no. Ta còn bắt gặp cách nói này của dân gian trong câu “Cha chết không lo bằng gái to trong nhà”. Thực tế “cha chết” là đại tang, việc lớn lắm. Thế mà dân gian lại đem so sánh và cho rằng không bằng chuyện “gái to trong nhà”. Thủ pháp này cũng nhằm gửi đến một thông điệp, kinh nghiệm: có con gái lớn đến tuổi lập gia đình ở trong nhà là nỗi lo lắng lớn, (ví như lo quá lứa lỡ thì, lo chẳng may “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”, chửa hoang, tai tiếng…) Sẽ là việc làm khá hài hước nếu chúng ta thắc mắc và cố đi tìm nguyên nhân tại sao, ở đâu lại có chuyện coi thường việc “cha chết” như vậy.

Tham khảo: Về câu “Đói giỗ cha no ba ngày Tết”, trên Báo Lao động Cuối tuần (7/1/2012), mục “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” PGS TS Phạm Văn Tình cho biết: bản thân tôi nhiều lúc cũng không rõ nguyên do từ đâu dẫn đến câu tục ngữ này. Hầu hết các sách sưu tầm văn hoá dân gian chỉ thống kê chứ chưa giải thích kỹ câu đó (…). Đầu năm 2010, khi cuốn “Từ điển tục ngữ Việt” (Nguyễn Đức Dương, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2010) xuất bản, tôi vội vã tra ngay”. Theo PGS TS Phạm Văn Tình “cách cắt nghĩa như vậy (tức cách giải thích của Nguyễn Đức Dương-HTC) cũng chưa thật rõ ý”. Thế là PGS TS Phạm Văn Tình đã phải  đi làm cuộc “điền dã” không cần thiết theo cách “hỏi các cụ cao niên ở nhiều nơi tôi qua (Đông Cứu, Gia Lương, Hà Bắc; Yên Xá, Ý Yên, Nam Định; Quỳnh Côi, Quỳnh Phụ, Thái Bình…)” để được các cụ giải thích tại sao lại đói vào ngày giỗ cha rất dài dòng. Theo đó, cách giải thích của PGS TS Phạm Văn Tình công phu hơn nhưng cũng không ngoài một số nguyên nhân là phải lo chuyện lễ lạt, cúng cấp, tiếp khách…nên bị đói vào ngày giỗ cha như TS Nguyễn Đức Dương. Việc làm này khác nào cất công đi tìm hiểu xem ở đâu, tại sao lại có chuyện “Cha chết không lo bằng gái to trong nhà”.

Đói no vua bếp hay; đắng cay bà gừng biết

Cả khi đói lẫn khi no vua bếp đều biết tường tận; cả khi khỏe mạnh lẫn khi ốm đau bà gừng đều biết rõ hết. Hay dùng để ngợi khen lòng cảm thông sâu sắc của ông Táo và củ gừng đối với thân phận của người nghèo ở nông thôn hồi trước.

-Nguyễn Đức Dương chú thích: “Bà gừng. Tên dân gian hay dùng để gọi củ gừng theo lối ẩn dụ, vị thầy thuốc tài ba vẫn cứu giúp người dân quê nghèo trong việc chạy chữa mọi thứ bệnh tật“.

Cách giải nghĩa và chú thích nghe thật mùi mẫn. Thế nhưng, đó chỉ là lời “tán” vô căn cứ. Nghĩa đen của câu thành ngữ này là: Ông Bếp phụ trách việc bếp núc nên gia chủ đói hay no, nấu nướng ăn uống món gì đều không giấu được. Còn “bà Gừng” thường được dùng để “làm thang” cho ấm thuốc Bắc (cắt ba lát gừng bỏ chung với ấm thuốc để đun). Vì “nằm” ngay trong siêu thuốc suốt quá trình sắc nên thuốc đắng hay cay “bà gừng đều biết” cả, không thể giấu được. Và vai trò của “bà gừng” chỉ là phụ gia dẫn thuốc, để tăng công hiệu của thuốc. Không nên vì không hiểu mà tâng bốc “bả” thành “vị thầy thuốc tài ba vẫn cứu giúp người dân quê nghèo trong việc chạy chữa mọi thứ bệnh tật” (!) Nghĩa bóng câu thành ngữ này là: Không thể giấu giếm được sự thật; Sự thật sẽ được xác minh bởi những người trong cuộc.

 Đừng chờm mà có ngày chấn móng

Đừng (xây tường vách) chờm (ra quá xa chân móng đỡ nó) mà có ngày sẽ bị chấn móng.

-“Chấn móng” được Nguyễn Đức Dương chú thích: “(Tường vách) bị gãy gập lại ngay tại nơi tường, vách tiếp giáp với chân móng”. Thế nhưng như thế là tường bị đổ chứ móng đâu có chấn ? Hơn nữa, nếu giải thích theo hướng này thì “chờm” (vần ch) phải thay bằng “trờm” (vần tr) mới đúng. Việt Nam tự điển giải nghĩa: Trờm: Thừa ra, trùm lên cái khác. Tóc trờm quá tai, Vung trờm miệng nồi”. Đây là “chờm” kia mà ? Cách giải thích của Nguyễn Đức Dương không thể đứng vững, bởi nội dung tục ngữ chẳng liên quan gì đến chuyện xây dựng tường vách. Đại Nam Quấc âm tự vị (Huình Tịnh Paulus Của) giải thích từ chờm: “Chờmnhảy dựng, nhảy xơm mà chụp… Ngựa chờm– Ngựa dựng lên mà chụp”. Và xin tham khảo Việt Nam tự điểngiải nghĩa một số từ có trong câu tục ngữ đang bàn: Chờm: Cũng như chồm (…) Móng: Móng chân móng tay, móng lừa móng ngựa (…) Chấn: Xén, cắt bớt đi: Chấn móng ngựa”. Như vậy, từ chỗ lầm lẫn “chờm” (động từ) với trờm (tính từ) rồi lại giảng sai nghĩa từ vựng của “chờm”, Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương đã cho cái móng ngựa đi xa cả ngàn dặm rồi biến thành cái…móng nhà (!) Câu Đừng chờm mà có ngày chấn móng theo nghĩa đen là lời đe nẹt đối với con ngựa bất kham: Đừng nhảy chồm lên mà có ngày bị chấn (cắt, xén) bớt móng đi (do nhảy chồm nhiều móng bị bè, bẹt ra). Hiểu theo nghĩa bóng: đây là lời răn đe, cảnh cáo đối với kẻ ương bướng, ưa phá phách, sẽ có ngày tự mình làm hại mình.

Gà kị hổ mang; lúa kị màng rạp

Gà là giống rất kỵ rắn hổ mang (tới độ dễ bị chột đi sau khi bị giống rắn ấy “thổi”); lúa là giống rất kỵ màng rạp (tới độ khó mà trổ nổi sau khi bị lũ rầy ấy ập tới hút nhựa)

-Nguyễn Đức Dương chú thích: “Màng rạp dt. Tên dân gian hay dùng để chỉ giống rầy chuyên hút nhựa từ lá lúa khiến lá bị đen đi và không sao làm nổi đòng”.

Giải thích như vậy là không hiểu tập tính sinh trưởng và sự gây hại của con sâu rầy thế nào. Con rầy không bao giờ “hút nhựa từ lá lúa”. Vì nhựa (chất dinh dưỡng của lúa) không tập trung ở lá mà ở thân, bẹ lúa. Thứ hai “lũ rầy” không “đánh tập kích” kiểu “ập tới hút nhựa” giống như đàn chim mà chúng di trú ngay tại ruộng, đẻ trứng, sinh sôi nảy nở, lứa nọ gối lứa kia (gọi là rầy gối lứa) và thi nhau chích hút ở phần thân dưới gốc lúa. Thế nên khi phun thuốc diệt rầy, người ta phải rẽ lúa thành băng, đưa trực tiếp vòi phun xuống gốc lúa để thuốc tiếp xúc trực tiếp với con rầy chứ không phun trên bề mặt của lá lúa. Nếu bị rầy hại nặng ở thời kỳ nào, cây lúa sẽ bị chết khô giống như hơ vào lửa (gọi là cháy rầy). Đâu phải chỉ “khiến lá bị đen đi và không sao làm nổi đòng” hay  “khó mà trổ nổi” như cách giải thích của nhà ngữ học. Còn cái thứ hại mà “khiến lá bị đen đi” chính là do giống rệp muội đen chứ không phải rầy. Rệp chích hút nhựa cây, chất thải của chúng tiếp tục được một loại nấm cộng sinh tạo thành lớp phấn màu đen phủ kín lá cây, nên gọi là rệp muội đen. Và rệp muội đen thường gây hại trên cây trồng cạn như: cây ăn quả, mía, chuối, cam quýt …chứ không phải cây lúa nước.

Mài mực dỗ con: mài son đánh giặc

Mài mực (nho là việc dễ làm còn hơn cả) dỗ con; mài son (cục là việc khó làm còn hơn cả) cầm quân đánh giặc.

Mài mực ru con, mài son đánh giặc

Mài mực (nho là việc dễ làm còn hơn cả) ru con; mài son (cục là việc khó làm còn hơn cả) cầm quân đi đánh giặc.

-Nguyễn Đức Dương giải thích câu này không đến nỗi sai lạc nghiêm trọng  như GS Nguyễn Lân: Mài mực ru con, mài son đánh giặc. Nói các ông đồ ngày xưa ngày thường ngồi dạy học đồng thời giúp vợ làm việc vặt trong nhà, nhưng khi có giặc thì tham gia phục vụ quân sự” (Từ điển Thành ngữ tục ngữ Việt Nam-NXB Văn hóa thông tin-1989) Nhưng soạn giả Nguyễn Đức Dương  lại mắc phải cái sai kiểu khác.

Xin hỏi, trẻ nhỏ mà quấy khóc, dỗ được nó nín, ru cho nó ngủ đâu dễ tới mức có thể đem so sánh với những việc làm dễ nhất trên đời ? Tục ngữ cũng đâu nói “dễ làm còn hơn cả” ru con, hay “khó làm còn hơn cả” đánh giặc. Hơn nữa, mài mực nho đâu có dễ ?

Câu tục ngữ “Mài mực ru con, mài son đánh giặc” được diễn giải là: Mài mực phải mài nhẹ nhàng giống như ru con (hoặc dỗ con); mài son phải mài mạnh mẽ giống như đi đánh giặc. Bởi vì, mực tàu đóng thành thỏi rất rắn, nhưng khi mài lại không được phép mạnh tay. Nếu sốt ruột, mài mạnh tay cho nhanh, mực sẽ không mịn, sinh ra lắm hạt sạn nhỏ; khi viết ngọn bút bị xơ, nét bút không đẹp. Ngược lại, nếu mài nhẹ nhàng, từ từ, êm ái (như “ru con”) mực trong thỏi sẽ ngấm dần, hoà tan, quyện với nước, cho một thứ mực mịn màng, sóng sánh, khi viết đầu bút chụm lại, bút lông có độ đàn hồi tốt và nét bút không bị xơ, cứng, mặt chữ bóng, đẹp. Còn đối với mài son. Xưa kia, người ta thường lấy các loại đá có màu đỏ trong tự nhiên để làm son, rất rắn. Tuy nhiên, son không yêu cầu mịn như mực, bởi thông thường người ta không dùng son để viết chữ mà chỉ dùng để  phê, khuyên, đánh dấu hoặc đóng ấn, triện. Do đó, khi mài son được phép mài (và phải mài) mạnh tay mới được (mạnh mẽ như đi “đánh giặc” vậy). Việc mài mực rất quan trọng. Chuyện kể rằng, xưa có người ở làng Hạc Oa (nay thuộc TP Thanh Hóa) chuyên mài mực cho Tổng đốc Thanh Hóa Vương Duy Trinh, sau được hàm Cửu phẩm, gọi là ông Cửu Mặc (ông Cửu phẩm mài mực).

Mâm cao đánh ngã bát đầy

Mâm cỗ bày lắm món đặt chồng lên nhau bao giờ cũng đánh bại dễ dàng các mâm cỗ chỉ bày vài ba món dù đĩa nào cũng được đơm rất đầy. Hay dùng để chỉ rõ một lẽ thật: “Mâm cỗ bày lắm món bao giờ trông cũng bắt mắt hơn là mâm cỗ chỉ bày vài ba món được đơm đầy”.

-Giải thích như vậy câu tục ngữ trở nên tầm thường quá. Cần chú ý hai khái niệm: mâm caobát đầy. Mâm cao là mâm được dọn ra ở vị trí cao (sang) nhất thường dành cho các vị chức sắc, các cụ cao niên hoặc người được tôn trọng trong làng xã (hay đình đám). Còn bát đầy được hiểu là đồ ăn thức uống không được dọn thành mâm (cỗ) mục đích chỉ cốt ăn uống cho no bụng. Do đó, cái “mâm cao” sang trọng giữa làng vẫn được người ta thích hơn là cái bát đầy ở xó bếp. Vì “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp” kia mà ! Dân gian còn có câu: “Mâm cao, cỗ đầy”, nghĩa là được cả danh và lợi: vừa sang trọng về vị trí, vừa thịnh soạn về các món ăn. Chữ “mâm cao” ở đây chính là mâm cao trong câu “Mâm cao đánh ngã bát đầy” chứ không phải là “mâm cỗ bày lắm món đặt chồng lên nhau” như cách giải thích của nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương.

Mẻ không ăn cũng chết

Mẻ mà chẳng  ăn thì cũng chết (nên có để dành được đâu mà cố để giành) Hay dùng để khuyên mọi người chớ có dè sẻn những thứ không thể để giành được mà uổng công.

-Thực ra ở đây là mẻ không được ăn chứ không phải không ăn đến mẻ. Mẻ không phải là loại gia vị thiết yếu. Cho nên người ta chỉ nuôi mẻ bằng cơm nguội, cơm thừa, thậm chí cơm đã có mùi thiu mới đem cho mẻ (ngày xưa hiếm lương thực). Nếu thừa cơm thì cho mẻ ăn, không thừa thì thôi. Thế nên có câu thành ngữ Coi như mẻ (xem thường, xem khinh ai đó giống như mẻ). Có vẻ như mẻ thật dễ tính, ăn cũng được, không ăn cũng không sao. Tuy nhiên, thực tế, nếu mẻ không được ăn trong thời gian dài, lọ mẻ hết chất tinh bột để vi khuẩn gây men hoạt động thì mẻ cũng chết như thường. Câu tục ngữ trên đề cao tầm quan trọng nhu cầu ăn uống của tất cả mọi sinh vật. Ai cũng phải ăn uống mới duy trì được sự sống. Vì đến dễ tính như mẻ kia không ăn cũng chết cơ mà !                  

Mồ cha chẳng khóc khóc đống mối; mồ mẹ chẳng khóc khóc bối bòng bong.

Mồ cha chẳng khóc, lại khóc mấy nấm đất do mối đùn; mồ của mẹ chẳng khóc, lại khóc mấy cái búi bòng bong. Hay dùng để chê trách những kẻ quá tin vào lời đám thầy địa lý/thầy cúng tới độ chỉ đi than khóc các thứ vớ vẩn, mà chẳng thèm ngó ngàng gì tới mồ mả của cha mẹ mình.

-“Bòng bong” ở đây được nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương chú thích là “búi xơ vót ra từ các đôi đũa tre cắm trên bát cơm cúng đặt trên quan tài người mới chết”.

Nếu chỉ dừng ở việc diễn giải tục ngữ thì đúng. Nhưng thêm mấy dòng chú thích lại trở thành sai. Đũa tre cắm trên bát cơm cúng gọi là “đũa bông” chứ không phải là “bòng bong”. Có một loại gọi là bòng bong là phoi tre (kiểu như phoi bào nhưng dài mà mảnh hơn, quăn hơn) do người ta vót nan tre, nứa để đan đồ đựng rồi vò thành đống. Có câu “Rối như búi bòng bong” cơ mà ! Mấy cái xơ của đũa tre vót ra tuy cong tít nhưng một đầu vẫn dính vào chiếc đũa nên xơ nào ra xơ ấy chứ đâu có rối ? Còn bòng bong trong câu tục ngữ lại là một loại dây leo, hay mọc ở các bụi rậm, mầu nâu, mảnh như sợi miến mà dai, quấn nhằng nhịt vào nhau. Câu “Rối như bối bòng bong” cũng được dùng để chỉ loại bòng bong này.

Trở lại với câu tục ngữ. Cái tổ mối đùn nó lùm lùm gần giống như một nấm  mồ vô chủ. Còn cái bụi rậm nhằng nhịt những búi (bối) bòng bong cũng tựa như một ngôi mộ bịt thất lạc, lâu ngày hóa hoang rậm. Thế nên, ông thầy đi tìm mộ mới chỉ vào đó để người ta khóc lóc, khấn vái, vì cứ ngỡ mộ tổ tiên ông bà bấy lâu không ai chăm sóc. Còn nếu khóc búi “bòng bong”“búi xơ vót ra từ các đôi đũa tre cắm trên bát cơm cúng đặt trên quan tài người mới chết”, thì lúc này con cháu đang than khóc chung quanh làm sao có thể nhầm ra mộ tổ tiên mình bị thất lạc được ?

Một ngôi sao một ao nước Mỗi một ngôi sao hiện ra trên bầu trời đêm hôm trước (là điềm ngày mai trời sẽ trút xuống mặt đất) một ao đầy nước mưa.

Rất khó chấp nhận cách giải thích trên của Nguyễn Đức Dương. Bởi theo kinh nghiệm dân gian, nếu đêm hôm trước bầu trời đầy sao là dấu hiệu ngày mai trời sẽ không một gợn mây, nắng chang chang. Đâu có chuyện ngược đời, đêm hôm trước càng nhiều sao, ngày mai càng mưa lớn ?

Vậy, câu tục ngữ của Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương được hiểu như thế nào ? Nói như dân gian “đến trời cũng không thể hiểu nổi”. Bởi hình thức chính xác của câu tục ngữ là: Một sao, ao nước. Một sao nghĩa là không có ngôi sao nào. “Một” là từ Hán Việt có nghĩa như sau:

– “ Chìm đắm, bị nước tràn ngập gọi là một. Chết, mất rồi, có khi viết là 歿. Hết, như một thế 沒世 hết đời. || Không có, chế người không biết chữ gọi là một tự bi 沒字碑 ý nói trong lòng không có một chữ nào. Mất tích, như mai một 埋沒 vùi mất, dẫn một 泯沒 tan mất, v.v.” (Hán Việt tự điển-Thiều Chửu).

– “Một : Không, không có (một hữu 沒有) Chìm, lặn: một nhập thủy trung 沒入水中 Chìm xuống dưới nước;… Ẩn, mất: (xuất một 出沒n hiện” (Từ điển Hán Việt – Trần Văn Chánh, lược trích)

 Nghĩa của từ “một” trong Hán văn là như vậy. Thế nhưng trong ngôn ngữ hàng ngày, hoặc câu kết hợp Hán + Nôm, người ta có dùng “một” với nghĩa là không có, ẩn giấu, chìm lấp, mất  không ? Thưa là có:

Đại Nam quấc âm tự  vị của Huình Tịnh Paulus Của : “Một 歿. Chết, mất: (…) “Làm tờ một hạ: làm giấy khai về sự bị ăn trộm, ăn cướp, cho làng làm chứng”.

Việt Nam tự điển – Hội Khai Trí Tiến Đức : “Một mất (không dùng một mình) một tích, mai một. Một thú: mất thú: đi chơi không có bạn thật là một thú”.

Kết luận: từ “một” trong câu tục ngữ Một sao, ao nước được hiểu là vắng, không có, chìm mất, ẩn mất. Tục ngữ dùng “một” với ý là sao trời bị chìm lấp, bị che lấp đi bởi mây đen. Một sao, ao nước được hiểu:  Nếu sao đêm bị mây đen che lấp hết thì ngày mai mưa to, ao chuôm đầy nước. (Dị bản nhìn sao để đoán thời tiết: Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa; Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa).

Như vậy, do người sưu tầm (hoặc chính do Nhà ngữ học) không hiểu  tục ngữ “Một sao, ao nước” là gì nên tự ý chữa “một” (tính từ), thành “một” (số từ) và thêm ngôi cho “sao”: “Một ngôi sao, một ao nước”. Thế nhưng tục ngữ chẳng những không dễ hiểu mà trở nên bế tắc về cách hiểu. Cuối cùng soạn giả từ điển giải thích theo kiểu ngược đời, bất chấp thực tế khách quan.

Lắm thầy rầy ma

Càng có lắm thầy (cúng) bao nhiêu thì lũ ma càng kéo tới quấy rầy bấy nhiêu. Hay dùng để khuyên mọi người chớ có tin những lời nhảm nhí của đám thầy cúng về ma quỷ (vì đó đều là những trò lừa đảo chỉ cốt moi tiền).

Lắm thầy thối ma.

Càng có lắm thầy (lang) bao nhiêu thì các con bệnh càng dễ hóa thành ma thêm bấy nhiêu. Hay dùng để nhắc mọi người là chớ có tin vào các trò chữa chạy của đám lang băm mà dễ bị mất mạng.

Lắm thầy thối ma; lắm cha con khó lấy chồng

Càng có lắm thầy (lang) bao nhiêu thì các con bệnh càng dễ hóa thành ma thêm bấy nhiêu; càng có lắm bậc làm cha (dự phần vào việc chọn chồng cho con) bao nhiêu thì các con càng khó lấy chồng thêm bấy nhiêu.

-Hai dị bản “rầy ma”“thối ma” là đồng nghĩa. Nhưng thật khó hiểu, “rầy ma”(lưu ý: khác ma rầy) được soạn giả giải thích là do “thầy cúng”“lũ ma kéo tới quấy rầy”, còn “thối ma”lại được giải thích là do “thầy lang” nên“các con bệnh dễ hóa thành ma”. (Con bệnh dù nặng đến mấy, khi chưa chết cũng không thể gọi là ma được). Và điều quan trọng cả hai cách hiểu này đều sai.

      Câu Lắm thầy rầy ma, hay Lắm thầy thối ma đều liên quan đến cùng một “thầy” đó là thầy cúng. Nghĩa đen được hiểu: khi một người chết (không phải con bệnh như cách hiểu của NĐD) nằm đó, nếu để cho nhiều thầy cúng xem ngày giờ đưa ma, hay chọn huyệt để táng sẽ rất phiền hà. Vì thầy này nói được, thầy kia nói không, lắm ý kiến khác nhau, hậu quả người chết cứ nằm đó, muốn yên thân, mồ yên mả đẹp cũng không xong. Rầy ma là như thế. Thậm chí khi thầy phán chưa chọn được giờ tốt, ngày tốt thì người chết cứ nằm đó đợi, đến mức xác chết bắt đầu phân hủy (thối) còn chưa được chôn. Thối ma là như vậy.

Đất sỏi có chạch vàng

Đất chỉ toàn là sỏi với đá, nhưng sinh sống bên dưới lại là những con chạch bằng vàng.

-Có ai đúc chạch “bằng vàng” yểm dưới đất sỏi chăng ? Xin thưa“Chạch vàng” ở đây không phải là “những con chạch bằng vàng” mà là những con chạch béo vàng-thứ chạch thường sinh sống dưới đất bùn có nhiều màu mỡ. Ở đây, đất sỏi mà lại vẫn có chạch vàng như thường.Ý dân gian muốn nói đến vùng đất tuy khô cằn, nghèo khó nhưng lại sinh ra những nhân tài kiệt xuất, hoặc sản vật nổi tiếng.

Trong Từ điển tục ngữ Việt có những câu soạn giả suy diễn sai hoàn toàn. Ví dụ:

Kẻ ăn rươi người chịu bão

Kẻ muốn ăn rươi nhưng lại bắt người khác phải dầm mưa bão để vớt về cho mình. Hay dùng với ẩn ý: nh. Ngồi mát ăn bát vàng.

-Không ai đi “dầm mưa bão để vớt rươi” cả. Rươi là giống rất mẫn cảm với thời tiết, nên bao giờ nó cũng từ dưới bùn sâu chui lên trước khi thời tiết thay đổi. Giống rươi lại phải thật tươi ăn mới ngon. Thế nên, bắt đầu có rươi là dân đồng sác nhao ra đồng vớt ngay. Nếu gặp phiên chợ thì gánh chạy cho nhanh để kịp bán khi rươi còn sống, bò lúc nhúc. Bằng không cũng phải gánh vội đi bán ở các làng xã lân cận cho kịp. Khi rươi ươn, vỡ bụng, chảy gạch ra coi như hỏng. Thường người ta vớt được rươi lên, hoặc mua rươi về nấu ăn xong, nửa ngày, hoặc một ngày sau đó mới nổi mưa gió trái mùa như hiện tượng bão, gọi là “bão rươi” hoặc “mưa lấp lỗ rươi”. (Câu đố về rươi: Mỗi năm vài bận ra chơi, Làm cho lở đất long trời mới nghe). Chỉ ít dân đồng sác và mấy xã lân cận là được ăn rươi (do số lượng có hạn và rươi khó bảo quản để vận chuyển đi xa bán). Thế nhưng cả tỉnh, cả huyện phải chịu chung cảnh thời tiết mưa bão ấy. Kẻ ăn rươi người chịu bão là như vậy.

Quạ ăn dưa bắt cò dãi nắng

Quạ muốn ăn dưa nhưng lại bắt cò phải dãi nắng (để kiếm dưa về cho mình). Hay dùng với ẩn ý: nh. Kẻ ăn  rươi, người chịu bão.

-Trong thực tế nghĩa đen, làm gì có chuyện con quạ bắt con cò phải dãi nắng “để kiếm dưa về cho mình” ? Không nên suy diễn thay cho lời giải thích câu tục ngữ.

Quạ là giống chim đa thực. Ngoài gà con, xác thối…chúng còn rất thích ăn các thứ quả như mít, dưa hấu…(vào mùa mít rừng chín, chúng khoét vỏ, chui đầu vào ăn, con nào con nấy đầu trọc lóc do bị nhựa mít “vặt” hết lông). Chìa khóa để giải mã câu tục ngữ trên là “Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa”. Thời tiết nắng nhiều khiến quạ được chén những quả dưa ngọt lành. Trong khi đó, cò không ăn được dưa (loài chim này chỉ ăn tôm tép, cá con, côn trùng…) lại phải chịu chung đặc điểm thời tiết nắng nóng chang chang ấy (đôi khi làm cạn nước, chết hết cá tôm, ảnh hưởng đến môi trường kiếm ăn của cò).

Như vậy, hai câu “Kẻ ăn rươi, người chịu bão”“Quạ ăn dưa, bắt cò dãi nắng” ý nói: lợi ích hoặc hoàn cảnh thuận lợi của (nhóm) người này, đôi khi (vô tình) gây trở ngại, khó khăn đối với (nhóm) người khác. Ví như mùa hè nắng nóng kéo dài, dân kinh doanh du lịch biển “hốt bạc”. Trong khi người thường hoặc nông dân cày cấy lại  “lãnh đủ”. Không thể hiểu và dùng với ẩn ý “Ngồi mát ăn bát vàng” như Nguyễn Đức Dương giải thích.

Quan họ thịt gà; giỗ cha thịt ếch

(Thết các liền anh liền chị trong làng) quan họ thì nên dùng thịt gà; (làm giỗ cho cha thì nên dùng thịt ếch).

-Cách giải thích sai lầm nghiêm trọng. Trong các lễ vật dâng cúng, con gà được xem là con vật hiến tế rất quan trọng. Thế nên, không có gà cúng, người ta còn có thể thay bằng quả trứng gà. Gà hay xôi gà là lễ vật sang trọng đối với cả người sống và người chết. Trong khi đó mặc dù thịt ếch thơm ngon, trắng như thịt gà, dân gian hay gọi là gà đồng (gọi theo tên chữ của ếch là điền kê田雞). Nhưng thịt ếch đâu có được coi là loại đồ ăn “ra tấm, ra miếng”; càng không phải là phẩm vật dâng cúng thể hiện sự kính trọng đối với tiền nhân. Do đó, giảng rằng: “(làm giỗ cho cha) thì nên dùng thịt ếch” là cách giải thích liều, không hiểu gì về phong tục tập quán của người Việt. Mặt khác các liền anh, liền chị trong làng quan họ thì liên quan gì đến giỗ cha ?

Thực ra, câu tục ngữ này có hình thức là: Con họ thịt gà; giỗ cha thịt ếch. Cách phát âm của người Thanh Hóa, con phát âm gần giống như cu…ân (quân). Con họ tức là con cháu trong họ. Vì không hiểu con họ là gì nên người sưu tầm tục ngữ (hoặc soạn giả) chữa “quân họ” (con họ) thành “quan họ” rồi giảng sai hoàn toàn nội dung. Câu tục ngữ đang bàn nói cách cư xử trái với lẽ thường, đáng phê phán: Đối với hạng con cháu trong họ thì làm thịt gà thết đãi; đến khi giỗ cha mình (ngày rất quan trọng) lại làm thịt ếch để cúng. Dị bản: Có khách làm thịt kha (gà) giỗ cha làm thịt ếch.

Mưa rừng cọ; gió rừng thông

(Gặp) mưa trong rừng cọ cũng như gió trong rừng thông (thì chớ có lo ướt cũng như lo lạnh vì đã được cọ cũng như thông che chắn hết cho rồi).

-Giải thích như vậy là không hiểu.Thực ra, trong rừng cọ, chỉ cần mấy hạt mưa đã nghe tiếng lào rào, lộp bộp rất lớn do hàng ngàn giọt mưa rơi trên tàu lá cọ (lá cọ bản rộng, dày, cứng). Và trong rừng thông, chỉ cần thoảng làn gió đã nghe vi vút hoặc tiếng rít lên như muôn ngàn ngọn roi quật vào không khí, (do thông là cây lá kim). Thế nên thơ, nhạc hay ví thông reo, thông hát, thông ru là vậy. Câu tục ngữ trên đưa ra nhận xét: Tiếng mưa trong rừng cọ nghe rất lớn, tiếng gió trong rừng thông nghe rất mạnh (so với thực tế).

Nuôi lợn ăn cơm không; nuôi tằm ăn cơm nhộng

Nuôi lợn (chẳng mấy khó nhọc nên) chỉ được ăn cơm không có thức ăn; nuôi tằm (vốn khó nhọc) nên sẽ được ăn cơm với cả nhộng nữa.

-Ý dân gian không ám chỉ nghề nào vất vả, khó nhọc hơn nghề nào, mà ý nói sự khác biệt giữa hai nghề. Nghề nuôi lợn giống như ống tiết kiệm, dồn mãi tới lúc đầy (lợn béo) mới xẻ thịt hoặc bán một lần duy nhất, không thể mỗi bữa xẻo ra vài miếng thịt mà nấu ăn dần. Tuy nhiên, đối với nghề nuôi tằm, mỗi lứa tằm vài ba tháng, tằm kéo kén ươm tơ có nhộng ăn, người nuôi được thu sản phẩm phụ, trong khi nuôi lợn ngày xưa cả năm mới được một lứa. Nghĩa là mối lợi của nghề nuôi tằm có thể khai thác dần, rải rác mà không cần phải đợi đến lúc ươm, dệt thành tơ lụa mới có.

Rau cải làng Tiếu nấu nước điếu ăn cũng ngon

Rau cải (trồng ở ) làng Tiếu (vốn ngon tới độ chỉ) nấu với nước điếu thôi ăn vẫn cứ thấy ngon.

– Cách hiểu và diễn giải của soạn giả khi dùng “chỉ”, “thôi” trong câu khiến bạn đọc hiểu lầm “nước điếu” là loại nước lã bình thường (nấu món canh suông) nhưng khi có rau cải làng Tiếu để nấu thì ăn vẫn cứ thấy ngon. Tuy nhiên, nước điếu có mùi hôi, khắm, vị đắng chát rất khó tả. Lỡ đánh đổ chút ít ra nhà, đến cả người vốn nghiện thuốc lào cũng không chịu nổi cái mùi của nó. Nước điếu độc nên người ta còn dùng để tắm trừ ghẻ cho chó. Thế mà rau cải làng Tiếu thơm ngon, ngọt lành tới độ có thể hóa giải được cả nước điếu, khiến khi nấu canh rau cải với thứ nước “kinh khủng” đó, ăn cũng (vẫn) ngon. Như thế câu tục ngữ phải được diễn giải là: Rau cải làng Tiếu dẫu có nấu với nước điếu ăn vẫn ngon.

Thông thường, một câu tục ngữ có thể được hiểu theo nhiều nghĩa. Tuy nhiên, hiểu theo nghĩa nào cũng phải đảm bảo tính biện chứng. Trong Từ điển tục ngữ Việt, soạn giả Nguyễn Đức Dương có hẳn một hạng mục (được ghi ngoài bìa sách) là “dịch” một số câu tục ngữ gốc Hán. Soạn giả không đưa ra phần nguyên văn chữ Hán, cũng không chú thích nghĩa từ vựng trong câu dẫn đến sai sót khá nghiêm trọng bởi hiện tượng đồng âm, dị nghĩa; đồng tự, đa nghĩa.Ví dụ:

Kỵ hổ nan hạ

Tránh mặt hổ thì khó mà hạ sát được nó.

-Thay vì dùng chữ kỵ  cưỡi, soạn giả lại đưa ra chữ “kỵ” kiêng tránh, sợ; chữ hạ với nghĩa là xuống, lại được chọn hạ với nghĩa là “hạ sát”. Thoạt nghe cũng có lý. Thế nhưng, giết hổ mà chọn cách đối mặt với hổ là hạ sách, là bất đắc dĩ. Người ta có thể “tránh mặt hổ” mà vẫn giết được hổ dễ dàng bằng cách đặt bẫy, đánh bẫy, nấp bắn. Vậy soạn giả nghĩ sao ? Cần trả lại nghĩa vốn có (đã đi vào lời ăn tiếng nói hàng ngày của dân gian) là:Cưỡi lên lưng hổ thì khó xuống (hay nói Thế cưỡi hổ, hoặc Ở thế cưỡi hổ).

Lão bất tử thành tặc

Già rồi mà chẳng chịu chết đi cho yên phận thì dễ hóa thành giặc. Hay dùng để chê những kẻ đã già mà chẳng chịu sống yên phận, nên hay gây ra bao thứ rắc rối cho con cháu trong nhà.

-Thực ra chữ tặc ở đây không có nghĩa là “giặc” mà là ranh, tinh quái, gian xảo, xảo quyệt. Ví dụ “Lão thử chân tặc老鼠眞賊 = con chuột này ranh ma lắm” hoặc “Giá nhất khỏa nhân chân tặc 這一夥人眞賊= bọn này xảo quyệt lắm ( Xem Tự điển Hán Việt – Trần Văn Chánh -NXB Từ điển bách khoa-2011). Mặt khác chữ “lão” không chỉ có nghĩa người già, mà còn chỉ chung các giống loài khi sống lâu thường trở nên khôn ngoan, tinh quái. Câu này dịch nghĩa là: Già mà không chết sẽ thành kẻ tinh quái, dịch thoát thành tục ngữ là: Sống lâu thành xảo quyệt; gần nghĩa câu tục ngữ Việt Mèo già hóa cáo (con mèo sống lâu thường mang bản chất của một con cáo khôn ngoan, tinh quái). Giải thích như nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương “Già rồi mà chẳng chịu chết đi cho yên phận thì dễ hóa thành giặc” vô tình đi ngược lại tinh thần “Kính lão đắc thọ”, dễ khiến các cụ cao niên buồn lòng.

Lộng giả thành chân

Cái giả hễ cứ được mặt sức hành hoành thì dần dà rồi sẽ hóa thành cái chân.Hay dùng để nhắc mọi người đừng để cho cái giả mặc sức hoành hành nhằm tránh xảy ra tình trạng thực giả lẫn lộn.

–    Chữ lộng ở đây có nghĩa là giở thủ đoạn, lại được soạn giả hiểu nôm na là lộng hành rồi giải thích “Cái giả hễ cứ được mặt sức hoành hành thì dần dà rồi sẽ hóa thành cái chân”. Nghĩa này có thể chấp nhận được.Tuy nhiên, câu tục ngữ phải chữa lại là “Giả lộng thành chân” mới đúng với ngữ pháp tiếng Hán. Bởi vậy, câu tục ngữ “Lộng giả thành chân” phải được hiểu là: Dùng thủ đoạn biến giả thành thật. (Có khi chữ “lộng” cũng được dùng với nghĩa “đùa cợt”: Vờ đùa cợt để biến giả thành thật).

Lương y đa kỳ tật

Các viên thầy thuốc giỏi đa phần đều có lắm thói quen kỳ lạ.

– Chữ “tật” nghĩa là bệnh, “kỳ tật” 奇疾bệnh lạ, bệnh nặng, bệnh hiểm ác, nhưng bị soạn giả hiểu nôm na “kỳ tật”“thói quen kỳ lạ”.

Thực tế, có nhiều thầy thuốc giỏi, chữa bệnh cho nhiều người nhưng chính mình lại hay bị những chứng bệnh nan y, bệnh lạ mà bản thân không khám, chữa cho mình được. Thế nên, câu thành ngữ này phải được dịch là: Thầy thuốc giỏi hay bị chứng bệnh (lạ) hiểm ác, nói đến sự trớ trêu của nghề thầy thuốc, “Dao sắc không gọt được chuôi”.

Mệnh do ngã lập; phúc tự kỷ cầu

Số mệnh là do tự mình định đoạt lấy (chứ đâu phải do trời sắp xếp sẵn); phúc đức là do mình tự cầu xin lấy (chứ đâu phải do trời tự ý ban cho).

-Nếu nói “phúc đức là do mình tự cầu xin lấy” chỉ có nghĩa không cần người khác cầu xin hộ, nhưng vẫn có nghĩa là bản thân mình không tự quyết định được mà phải đi cầu xin người khác mới có.

Như vậy, chữ “cầu” ()ở đây phải được hiểu nghĩa là tìm, không thể  hiểu nghĩa là cầu xin như dịch giả nhầm lẫn. Câu tục ngữ được dịch là: Số mệnh tự ta định đoạt, hạnh phúc tự mình tìm lấy.

Nhìn chung, với sách biên soạn, (đặc biệt là lĩnh vực tục ngữ, thành ngữ) khó tránh khỏi sai sót. Tuy nhiên, tỉ lệ sai sót, mức độ sai sót, hạn chế (số lượng hàng trăm câu) như Từ điển tục ngữ Việt của Nhà ngữ học TS Nguyễn Đức Dương là quá lớn. Nếu đọc kỹ, chúng ta sẽ còn nhận thấy không ít lỗi về từ vựng, cách giải nghĩa, cách diễn đạt, từ ngữ,v.v…mà khuôn khổ bài viết này không thể nêu hết (*). Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương nhiều lần kêu gọi các nhà biên soạn sách giáo khoa đưa “di sản tục ngữ” vào nhà trường (xem Bài “Sao không đưa tục ngữ vào giảng dạy ở bậc tiểu học” – Báo Thanh Niên). Đề xuất này không có gì sai. Tuy nhiên, nếu các em học sinh tiếp thu “di sản tục ngữ” thông qua “kênh” Từ điển tục ngữ Việt của Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương với những “sai lệch” như trên thì thật nguy hại !

H.T.C

 

Một phần nội dung bài viết này đã đăng Tạp chí Văn hóa dân gian – Viện nghiên cứu Văn hóa số 4 tháng 8/2013). Bạn đọc có thể tham khảo thêm tại tuancongthuphong.blogspot.com.

Một số thông tin thêm:

Từ điển tục ngữ Việt tác giả Tiến sĩ Nguyễn Đức Dương – Trung tâm biên soạn từ điển Ngôi Sao – Ban biên soạn từ điển đơn ngữ – Nhà xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh – 2010.

Lời NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh: Từ điển Tục ngữ Việt của nhà ngôn ngữ học – Tiến sĩ  Nguyễn Đức Dương là một công trình biên soạn công phu, hoàn toàn dựa theo những tiêu chí mới về cách thu thập dữ liệu, cũng như cách diễn giải từng câu tục ngữ trong các đề mục. Với quy mô và phương pháp nghiên cứu khoa học, cập nhật nội dung, có thể nói đây là quyển Từ điển tục ngữ Việt hoàn chỉnh nhất hiện nay… một công trình nghiên cứu chuẩn hóa về tục ngữ Việt”. Lời người biên soạn: “Quyển Từ điển này khác với nhiều công trình cùng loại đã ra mắt bạn đọc trước đây ở hai điểm chính: (1) ở cách thức thu thập dữ liệu và (2) ở cách thức diễn giải dữ liệu…Quyển Từ điển này ra mắt bạn đọc được là nhờ sự giúp đỡ chí tình cả về tinh thần lẫn vật chất của GS. Cao Xuân Hạo, nhà khảo cứu An Chi, nhà giáo Hoàng Xuân Tâm, PGS Hoàng Dũng, PGS Bùi Mạnh Hùng”. Theo đó, Tiến sĩ Nguyễn Đức Dương cho rằng Từ điển tục ngữ Việt sẽ tránh được những sai lầm “phải trả giá, lắm khi rất đắt” của một số cuốn từ điển khác.

——————————

Những sách đã dẫn và tham khảo:

1,“Đại Nam quấc âm tự vị” (Dictionnaire ANNAMMITE) Huình Tịnh Paulus Của – Sài Gòn 1895.

2,Việt Ngữ Tinh nghĩa từ điển – Long Điền Nguyễn Văn Minh -NXB Quảng Vạn Thành- Hà Nội 6/1950.

3,Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam – GS Nguyễn Lân (NXB Văn Hóa – 1989)

4,Việt Nam tự điển – Hội Khai Trí Tiến Đức – Nhà in Trung Bắc Tân Văn – 1931 (bản Scan của vietnamtudien.org )

5, Từ điển An Nam-Lusitan-La tinh (Thường gọi Từ điển Việt – Bồ – La) Alexandre De Rhodes – Phiên dịch: Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính – NXB Khoa Học Xã Hội – 1991.

6, Tự điển Hán Việt – Trần Văn Chánh -NXB Từ điển bách khoa-2011).

7, Điển Cố văn học – Đinh Gia Khánh chủ biên – Nhà XB Khoa học xã hội – Hà Nội 1977.

8, Hán Việt tự điển – Thiều Chửu – NXB Thành phố Hồ Chí Minh – 2004.

9. Hán Việt Từ điển – Đào Duy Anh biên soạn – Hãn Mạn Tử hiệu đính – NXB Trường Thi – Sài Gòn 1957.

10. Khang Hy tự điển – 2002 (sách ngoại văn xuất bản tại Trung Quốc)

Theo Quê Choa

8 Điểm Chung Của Những Người THÀNH CÔNG